Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn này được xây dựng dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, cùng với tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật Nó phản ánh quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền.
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả còn sử dụng các phương pháp khác bao gồm:
Trong Chương 1, chúng tôi sẽ áp dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, diễn dịch và quy nạp để nghiên cứu các vấn đề lý luận liên quan đến kiểm sát điều tra vụ án vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm Nội dung nghiên cứu sẽ bao gồm khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và nội dung của kiểm sát điều tra trong bối cảnh này.
Trong Chương 2 và 3, bài viết áp dụng các phương pháp so sánh, đối chiếu, thống kê và tổng hợp để nghiên cứu thực tiễn kiểm sát điều tra các vụ án vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm tại các Viện kiểm sát nhân dân hai cấp trên toàn quốc trong giai đoạn 2018 - 2021 Dựa trên những phân tích này, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát điều tra các vụ án liên quan đến động vật nguy cấp, quý, hiếm.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của luận văn mang ý nghĩa quan trọng về lý luận và thực tiễn, là công trình nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên ở cấp độ thạc sĩ luật học về kiểm sát điều tra vụ án vi phạm quy định bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm Luận văn không chỉ làm sáng tỏ và phong phú thêm lý luận về công tác kiểm sát điều tra của ngành Kiểm sát mà còn là tài liệu tham khảo hữu ích cho nghiên cứu, giảng dạy và học tập của các nhà nghiên cứu lập pháp, cán bộ giảng dạy pháp luật, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Luật.
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được áp dụng thực tiễn để nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác kiểm sát điều tra vụ án hình sự, đặc biệt là trong các vụ án vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm tại Viện kiểm sát nhân dân các cấp trên toàn quốc.
Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về Kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm
Chương 2: Thực tiễn Kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA VỤ ÁN VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ BẢO VỆ ĐỘNG VẬT NGUY CẤP, QUÝ, HIẾM
Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của công tác kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm
án Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm
1.1.1 Khái niệm động vật nguy cấp, quý, hiếm Động vật là những sinh vật đa bào, nhân chuẩn thuộc giới Động vật.Hiện trên toàn cầu có nhiều loài động vật đang có nguy cơ tuyệt chủng, phần lớn do bị con người săn bắt quá mức hoặc phá hoại môi trường sống Một số loài khác có nguy cơ tuyệt chủng cục bộ, nghĩa là chúng trở nên nguy cấp, quý, hiếm ở một địa phương này nhưng lại có số lượng lớn ở địa phương khác Trong số các văn bản pháp luật hiện hành của Việt Nam, không có văn bản nào đưa ra định nghĩa cụ thể cho khái niệm “động vật nguy cấp, quý, hiếm” Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 của Chính Phủ quy định về Quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm có quy định: “Loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm là loài thực vật, động vật có giá trị đặc biệt về kinh tế, khoa học và môi trường, số lượng còn ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ bị tuyệt chủng, thuộc danh mục các loài thực vật, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm do Chính phủ quy định” [5], tuy nhiên văn bản này đã hết hiệu lực vào ngày 10/3/2019
Nghị quyết số 05/2018/NQ-HĐTP ngày 05/11/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 234 và Điều 244 của Bộ luật hình sự liên quan đến tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã và động vật nguy cấp, quý, hiếm Nghị quyết này không đưa ra định nghĩa cụ thể mà chỉ xác định các loài động vật được coi là nguy cấp, quý, hiếm, bao gồm các loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB theo quy định của Chính phủ và Phụ lục I Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp.
Động vật nguy cấp, quý, hiếm là những loài có giá trị đặc biệt về kinh tế, khoa học và môi trường, với số lượng ít ỏi trong tự nhiên hoặc có nguy cơ tuyệt chủng tại Việt Nam Chúng thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ theo quy định của Chính phủ, hoặc nằm trong Phụ lục I của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp.
1.1.2 Khái niệm tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm
Pháp luật hình sự xác định tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong Bộ luật Hình sự Tội phạm có thể do cá nhân có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện, với ý thức cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến các quan hệ xã hội được bảo vệ theo quy định của Bộ luật này và phải chịu trách nhiệm hình sự.
Kể từ khi Việt Nam gia nhập Công ước CITES vào năm 1994, nước ta đã tích cực xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật nhằm bảo vệ động vật hoang dã nguy cấp Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, có hiệu lực từ 01/01/2018, đã quy định Điều 244 để hình sự hóa hành vi vi phạm quy định bảo vệ động vật quý, hiếm.
Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm bao gồm hành vi săn bắt, giết, nuôi, nhốt, vận chuyển và buôn bán trái phép các loài động vật thuộc danh mục được ưu tiên bảo vệ Những hành vi này không chỉ xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước mà còn gây mất cân bằng hệ sinh thái và đa dạng sinh học Để xác định một hành vi vi phạm có phải là tội phạm hay không, cơ quan tố tụng cần đánh giá các dấu hiệu pháp lý theo quy định tại Điều 244 BLHS, bao gồm dấu hiệu khách quan, chủ quan, khách thể và chủ thể.
Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ khỏi sự xâm hại, trong đó tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm liên quan đến việc quản lý của Nhà nước nhằm bảo vệ hệ cân bằng sinh thái và đa dạng sinh học Đối tượng tác động của tội phạm là các loài động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ theo quy định của Chính phủ và Công ước CITES Danh mục này được quy định trong Nghị định số 160/2013/NĐ-CP và đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 64/2019/NĐ-CP.
Danh mục thực vật rừng và động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm được quy định trong Nghị định số 06/2019/NĐ-CP ngày 22/01/2019 của Chính phủ Nghị định này nhằm quản lý và bảo vệ các loài thực vật, động vật hoang dã nguy cấp, đồng thời thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã Sau đó, Nghị định số 06/2019/NĐ-CP đã được thay thế bởi Nghị định số 84/2021/NĐ-CP.
Theo Nghị định số 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ ngày 22/9/2021, chỉ những loài động vật thuộc nhóm IB trong danh mục được liệt kê mới là đối tượng bị tác động bởi tội phạm này Điều này có nghĩa là các loài động vật rừng đang bị đe dọa tuyệt chủng, bị nghiêm cấm khai thác và sử dụng cho mục đích thương mại, cũng như các loài thuộc Phụ lục I CITES có phân bố tự nhiên tại Việt Nam.
Công ước CITES, ký kết năm 1973, nhằm bảo vệ các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp thông qua việc quản lý thương mại quốc tế để không đe dọa sự sống còn của chúng Công ước này có ba phụ lục: Phụ lục I liệt kê các loài bị đe dọa tuyệt chủng và cấm xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu, nhập nội từ biển và quá cảnh vì mục đích thương mại Chỉ những loài trong Phụ lục I mới bị tác động bởi các quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm.
Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện bên ngoài của hành vi tội phạm, bao gồm các hành vi gây thiệt hại cho xã hội và hậu quả của chúng Nó thể hiện mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, cùng với các điều kiện bên ngoài như công cụ, phương tiện, thời gian và địa điểm phạm tội.
Theo Điều 244 BLHS, người phạm tội có thể thực hiện một hoặc nhiều hành vi khách quan gây thiệt hại cho xã hội.
Săn bắt, giết, nuôi, nhốt, vận chuyển và buôn bán trái phép động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, cũng như động vật thuộc danh mục thực vật rừng và động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB hoặc Phụ lục I Công ước CITES, là hành vi vi phạm pháp luật Hành vi này bao gồm việc xử lý từ 03 đến 07 cá thể lớp thú, từ 07 đến 10 cá thể lớp chim, bò sát, hoặc từ 10 đến 15 cá thể động vật lớp khác.
Việc tàng trữ, vận chuyển và buôn bán trái phép các cá thể, bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống của động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm là hành vi vi phạm pháp luật Điều này bao gồm các cá thể từ 03 đến 07 cá thể lớp thú, từ 07 đến 10 cá thể lớp chim, bò sát, hoặc từ 10 đến 15 cá thể động vật lớp khác Những hành vi này liên quan đến các loài thực vật rừng và động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm thuộc Nhóm IB hoặc Phụ lục.
Công ước CITES không áp dụng cho các loài không nằm trong danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ Ngà voi có khối lượng từ 2 kilôgam đến dưới 20 kilôgam, trong khi sừng tê giác có khối lượng từ 50 gam đến dưới 1 kilôgam.
Mối quan hệ giữa kiểm sát điều tra và thực hành quyền công tố
Kiểm sát điều tra và thực hành quyền công tố là hai chức năng quan trọng của VKSND trong tố tụng hình sự, bắt đầu từ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm cho đến khi khởi tố và điều tra vụ án Mặc dù khác nhau, hai chức năng này có mối quan hệ chặt chẽ trong việc bảo vệ lợi ích của Nhà nước và quyền lợi hợp pháp của tổ chức, cá nhân, đồng thời đảm bảo pháp luật tố tụng hình sự được thực hiện nghiêm chỉnh Thực hành quyền công tố đảm bảo phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi phạm tội, trong khi kiểm sát điều tra bảo đảm việc giải quyết nguồn tin và điều tra vụ án tuân thủ quy định pháp luật Sự kết hợp giữa hai chức năng này giúp nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, đảm bảo quá trình giải quyết vụ án diễn ra khách quan và toàn diện.
1.3 Nội dung kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm
1.3.1 Kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
Do tính chất phức tạp của hành vi vi phạm quy định bảo vệ động vật nguy cấp, việc giám định cá thể và mẫu vật thu giữ là cần thiết để xác định có phạm tội hay không Hầu hết các vụ việc có dấu hiệu tội phạm sẽ được tiếp nhận dưới dạng tố giác, tin báo hoặc kiến nghị khởi tố, được gọi chung là nguồn tin về tội phạm Nguồn tin này có thể do Viện Kiểm sát (VKS) trực tiếp tiếp nhận hoặc do Cơ quan Điều tra (CQĐT) tiếp nhận VKS cần kiểm sát chặt chẽ việc tiếp nhận, phân loại và giải quyết nguồn tin về tội phạm từ CQĐT đối với cả hai loại nguồn tin này.
Khi phát hiện nguồn tin về tội phạm được tiếp nhận và thụ lý không đúng thẩm quyền, Viện kiểm sát (VKS) cần gửi văn bản yêu cầu cơ quan đã tiếp nhận chuyển hồ sơ đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết Đồng thời, VKS cũng phải thông báo cho Viện kiểm sát có thẩm quyền để thực hiện việc kiểm sát Trong trường hợp có tranh chấp về thẩm quyền giải quyết nguồn tin, việc giải quyết sẽ tuân theo quy định tại Điều 150 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS).
Trong quá trình kiểm tra và xác minh nguồn tin về tội phạm, Viện Kiểm sát (VKS) cần phải giám sát chặt chẽ các biện pháp mà Cơ quan Điều tra (CQĐT) thực hiện Nếu cần thiết, VKS sẽ kiểm tra tính xác thực của nguồn tin, đồng thời thu thập và củng cố chứng cứ, tài liệu, đồ vật để làm rõ các tình tiết liên quan đến vụ án hình sự theo quy định tại Điều 85 và Điều 441.
Bộ luật Tố tụng hình sự, VKS phải kịp thời đề ra yêu cầu kiểm tra, xác minh
1.3.2 Kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự, không khởi tố vụ án hình sự
Kiểm sát viên cần thực hiện việc kiểm sát chặt chẽ kết quả giải quyết của cơ quan điều tra (CQĐT) theo quy định pháp luật Sau khi hoàn tất kiểm tra và xác minh, nếu CQĐT không đưa ra một trong các quyết định theo khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS), Viện kiểm sát (VKS) sẽ yêu cầu CQĐT ban hành một trong các quyết định đó.
Sau khi CQĐT quyết định không khởi tố vụ án hình sự, VKS cần kiểm tra tính hợp pháp và căn cứ của quyết định đó theo Điều 157 BLTTHS Nếu quyết định không hợp lệ, VKS sẽ yêu cầu cơ quan ra quyết định hủy bỏ và khởi tố vụ án hình sự Nếu cơ quan đó không thực hiện, VKS có quyền tự hủy bỏ quyết định không khởi tố và tiến hành khởi tố vụ án hình sự.
Khi kiểm tra tính hợp pháp của quyết định khởi tố vụ án hình sự, nếu VKS nhận thấy chưa đủ căn cứ, họ sẽ yêu cầu cơ quan ra quyết định bổ sung tài liệu và chứng cứ Nếu sau khi xem xét, không có căn cứ khởi tố, VKS sẽ yêu cầu hủy bỏ quyết định đó Trong trường hợp cơ quan không đồng ý, VKS có quyền tự ra quyết định hủy bỏ khởi tố vụ án hình sự.
Nếu VKS phát hiện tội phạm đã khởi tố không đúng với hành vi phạm tội hoặc có tội phạm khác chưa được khởi tố, VKS có quyền yêu cầu cơ quan ra quyết định khởi tố thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự Trong trường hợp cơ quan không đồng ý, VKS sẽ tự ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung Nếu quyết định thay đổi hoặc bổ sung của CQĐT không có căn cứ, VKS có thể yêu cầu CQĐT hủy bỏ quyết định đó Nếu cơ quan không hủy bỏ quyết định, VKS sẽ trực tiếp ra quyết định hủy bỏ.
1.3.3 Kiểm sát việc áp dụng các biện pháp điều tra
BLTTHS quy định hệ thống các biện pháp điều tra như hỏi cung bị can, lấy lời khai người bị hại, người làm chứng, khám nghiệm hiện trường, và trưng cầu giám định Biện pháp điều tra được hiểu là những thủ thuật liên quan do Điều tra viên và những người theo luật định thực hiện nhằm thu thập tài liệu, chứng cứ có ý nghĩa cho hoạt động điều tra và phòng ngừa tội phạm Tuy nhiên, trong vụ án vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm, không tiến hành biện pháp điều tra lấy lời khai người bị hại và khám nghiệm tử thi.
1.3.3.1 Kiểm sát việc hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Hỏi cung và lấy lời khai là những biện pháp điều tra quan trọng trong mọi vụ án, được thực hiện bởi người có thẩm quyền Những biện pháp này nhằm thu thập và mô tả lời khai của các bên liên quan như bị can, người bị hại, nhân chứng, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Mục đích là để làm rõ hành vi phạm tội và các tình tiết có liên quan, từ đó hỗ trợ cho hoạt động điều tra và phòng ngừa tội phạm.
VKS có thể thực hiện kiểm sát trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động liên quan Kiểm sát gián tiếp đối với việc hỏi cung và lấy lời khai được thực hiện thông qua biên bản và dữ liệu ghi âm, ghi hình KSV cần chú trọng kiểm sát cả về nội dung lẫn hình thức của biên bản để đảm bảo tính chính xác và hợp pháp.
Khi cần thiết, Kiểm sát viên (KSV) có thể tham gia trực tiếp vào việc hỏi cung bị can hoặc tự mình tiến hành hỏi cung, lấy lời khai từ người bị hại, nhân chứng, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trước khi thực hiện việc này, KSV cần nghiên cứu kỹ hồ sơ, nắm vững nội dung vụ việc và lập kế hoạch cho việc hỏi cung Trong quá trình hỏi cung, KSV phải tuân thủ đúng các quy định từ Điều 183 đến 188 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS).
1.3.3.2 Kiểm sát việc trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản
Trưng cầu giám định là biện pháp điều tra quan trọng trong các vụ án vi phạm quy định bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm Để xác định có hành vi phạm tội hay không, cần tiến hành trưng cầu giám định đối với cá thể động vật, bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống hoặc sản phẩm của động vật thu giữ Việc này thường được thực hiện ngay từ giai đoạn giải quyết nguồn tin về tội phạm, nhằm làm căn cứ khởi tố vụ án.
KSV có trách nhiệm kiểm sát nội dung và hình thức của quyết định trưng cầu giám định, bao gồm căn cứ, đối tượng, phạm vi, thời hạn và tổ chức thực hiện giám định Đối với mẫu vật động vật hoang dã, chỉ Cơ quan khoa học CITES Việt Nam được phép tiến hành giám định theo Điều 34 Nghị định số 06/2019/NĐ-CP Theo Quyết định số 2249/QĐ-BNN-TCLN ngày 17/6/2020 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các cơ quan có thẩm quyền giám định mẫu vật động vật hoang dã bao gồm Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật cùng Viện Nghiên cứu Hải sản.
THỰC TIỄN KIỂM SÁT ĐIỀU TRA VỤ ÁN VI PHẠM
Khái quát tình hình động vật nguy cấp, quý, hiếm và tội phạm liên
2.1.1 Tình hình động vật nguy cấp, quý, hiếm ở nước ta Động vật và thực vật hoang dã đóng một vai trò quan trọng trong việc duy trì các hệ sinh thái của Việt Nam, mang lại lợi ích trực tiếp cho cộng đồng địa phương Nền khí hậu nhiệt đới đã khiến Việt Nam trở thành một trong những quốc gia đa dạng về mặt sinh học nhất trên thế giới, đa dạng các hệ sinh thái tự nhiên, các loài động vật hoang dã và các nguồn gen đặc hữu Dựa theo Báo cáo quốc gia lần thứ sáu về Công ước Đa dạng sinh học, nước ta có khoảng 51.400 loài, bao gồm 7.500 vi sinh vật, 20.000 loài thực vật trên cạn và dưới nước, 10.900 loài động vật trên cạn, 2.000 loài động vật không xương sống và cá nước ngọt, và hơn 11.000 loài sinh vật biển khác [32] Một số loài có giá trị bảo tồn cao đã đặc biệt khẳng định tầm quan trọng toàn cầu của đa dạng sinh học Việt Nam, chẳng hạn như sao la (Pseudoryx nghetinhensis), cheo cheo Việt Nam (Tragulus versicolor), mang Vũ Quang
(Muntiacus vuquangensis)cùng với các loài linh trưởng, rùa biển, rùa cạn và rùa nước ngọt khác
Từ năm 1997, nhiều cuộc điều tra đã được tiến hành trên các vùng lãnh thổ khác nhau ở Việt Nam, dẫn đến việc phát hiện nhiều loài mới Theo thống kê của Tổ chức Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên (WWF), năm
Năm 2020, Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng đã phát hiện tổng cộng 224 loài mới, trong đó Việt Nam ghi nhận 91 loài, bao gồm 85 loài đặc hữu Tuy nhiên, số liệu thống kê cũng chỉ ra sự suy giảm nghiêm trọng về số lượng loài và quần thể hoang dã tại Việt Nam, với nhiều loài đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng cao, như rùa Hoàn Kiếm (Rafetus swinhoei) chỉ còn ba cá thể sống được biết đến trên toàn cầu.
Sao la, một loài động vật đặc hữu của dãy Trường Sơn, đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng Ngoài ra, các loài động vật có vú lớn như voi và các loài mèo lớn châu Á cũng cần được bảo vệ khẩn cấp để đảm bảo sự tồn tại của chúng.
Việt Nam hiện có 276 loài động vật nằm trong danh sách bị đe dọa của Sách Đỏ IUCN, bao gồm 59 loài động vật có vú, 57 loài chim, 75 loài bò sát, 51 loài lưỡng cư và 32 loài cá Tổng cộng, Sách Đỏ Việt Nam (2007) ghi nhận 882 loài, trong đó số loài động vật quý hiếm đã tăng từ 365 loài.
Từ năm 1992 đến 2007, số lượng loài trong Sách Đỏ đã tăng lên 418 loài, trong đó có 116 loài cực kỳ nguy cấp và 9 loài đã tuyệt chủng tại Việt Nam Kiểm kê loài năm 2016 đã đề xuất bổ sung 1.211 loài vào Sách Đỏ, bao gồm 600 loài thực vật và 611 loài động vật, cho thấy sự gia tăng đáng kể so với năm 2007 Tất cả những loài này cần được Nhà nước quan tâm và bảo vệ đặc biệt để duy trì số lượng cá thể.
2.1.2 Tình hình tội phạm về động vật nguy cấp, quý, hiếm ở nước ta
Việt Nam đang trở thành một điểm nóng về buôn bán và sử dụng sản phẩm từ động, thực vật hoang dã ở Đông Nam Á và trên toàn cầu Theo báo cáo của UNODC năm 2020, Việt Nam chiếm 42% các vụ buôn lậu ngà voi và 41% các vụ buôn lậu sừng tê giác trên thế giới Nhiều vụ án buôn bán xuyên quốc gia các sản phẩm từ động vật nguy cấp đã được phát hiện và xử lý bởi các cơ quan chức năng của Việt Nam.
Mặc dù đã có nhiều nỗ lực bảo vệ, tình trạng giết hại động vật quý hiếm để phục vụ cho một số nhà hàng và việc sử dụng ngà voi, sừng tê giác làm thuốc hay trang sức vẫn tiếp tục gia tăng Điều này đã trở thành thói quen tiêu dùng xấu của một bộ phận người dân, gây ra những hệ lụy nghiêm trọng cho sự đa dạng sinh học.
Chính phủ Việt Nam, với tư cách là quốc gia thành viên Công ước CITES, đã nỗ lực thực hiện nhiều giải pháp nhằm bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ động vật nguy cấp Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, đã cụ thể hóa các hành vi vi phạm và quy định khung hình phạt nghiêm khắc hơn, đồng thời lần đầu tiên quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại Ngày 17/9/2016, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 28/CT-TTg về các giải pháp cấp bách phòng ngừa tội phạm xâm hại động vật hoang dã Các cơ quan chức năng đã phát hiện và thu giữ nhiều cá thể động vật quý hiếm cùng các sản phẩm từ chúng, như ngà voi và sừng tê giác, đồng thời tiến hành điều tra và xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm.
Tình trạng tội phạm về động vật nguy cấp, quý, hiếm tại Việt Nam đang gia tăng do người dân vẫn tiêu thụ sản phẩm từ động vật hoang dã Những sản phẩm này thường được sử dụng làm thực phẩm, đồ trang trí, quà biếu, quà lưu niệm, hoặc sản phẩm tăng cường sức khỏe Nguyên nhân chính dẫn đến việc tiêu thụ này phần lớn xuất phát từ nhận thức của người dân, trong khi các yếu tố như địa vị, mức thu nhập, trình độ học vấn và giới tính cũng ảnh hưởng đến cơ cấu tiêu dùng.
Những kết quả đạt được, hạn chế, bất cập và nguyên nhân của hạn chế, bất cập trong công tác kiểm sát điều tra vụ án về động vật nguy cấp, quý, hiếm tại Việt Nam
2.2.1 Những kết quả đạt được
Từ năm 2018 đến năm 2021, VKSND toàn quốc đã thụ lý kiểm sát điều tra 634 vụ với 795 bị can liên quan đến tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm Kết quả kiểm sát điều tra được ghi nhận cụ thể qua từng năm.
Bảng 2.1 trình bày thống kê số vụ án và bị can mà các Viện kiểm sát nhân dân trên toàn quốc đã thụ lý để kiểm sát điều tra tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2021.
Giai đoạn điều tra Khởi tố mới Đề nghị truy tố Đình chỉ Tạm đình chỉ
(Nguồn: Cục Thống kê tội phạm và Công nghệ thông tin - VKSNDTC)
Thực tiễn giải quyết các vụ án vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm cho thấy công tác kiểm sát điều tra của các VKSND hai cấp trên toàn quốc đã đạt được nhiều kết quả tích cực.
Từ năm 2018 đến 2021, tỷ lệ các vụ án vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm kết thúc điều tra đề nghị truy tố luôn đạt từ 74% trở lên Cụ thể, năm 2018, tỷ lệ này là 74%, với 0,76% vụ án bị đình chỉ và 9,2% tạm đình chỉ Năm 2019, tỷ lệ kết thúc điều tra tăng lên 79%, trong khi tỷ lệ đình chỉ và tạm đình chỉ cũng tăng lên 3,1% và 13,3% Năm 2020, tỷ lệ kết thúc điều tra đạt mức cao nhất là 94%, với tỷ lệ đình chỉ và tạm đình chỉ lần lượt là 1,3% và 14,6% Đến năm 2021, tỷ lệ này giảm xuống còn 78%, nhưng vẫn cao hơn so với năm 2018, với tỷ lệ đình chỉ và tạm đình chỉ là 1,5% và 10,1%.
Từ năm 2018 đến năm 2021, số lượng vụ án vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm và số bị can bị khởi tố đều có xu hướng tăng, mặc dù có sự chững lại vào năm 2021.
Năm 2020, số vụ án đã tăng lên 67 vụ với 97 bị can Tỉ lệ vụ án kết thúc điều tra và đề nghị truy tố cũng tăng từ 97 vụ với 131 bị can.
2018 lên 154 vụ/219 bị can vào năm 2021
Các loài động vật nguy cấp, quý, hiếm thường bị phát hiện và bắt giữ dưới dạng cá thể (sống hoặc đã chết, đông lạnh), bộ phận cơ thể (xương, da) hoặc sản phẩm (sừng, ngà, vảy, thịt) Trong số đó, tê tê, rắn hổ mang chúa, voi, khỉ, hổ và rùa là những loài chiếm tỷ lệ cao Đối tượng phạm tội chủ yếu là nam giới từ 25-40 tuổi, và trong giai đoạn 2018-2019, có 05 vụ án liên quan đến pháp nhân thương mại.
(Nguồn: Cục Thống kê tội phạm và Công nghệ thông tin - VKSNDTC)
Trong giai đoạn 2018 - 2021, VKSND hai cấp đã thụ lý 634 vụ/795 bị can, trong đó khu vực đồng bằng sông Hồng chiếm 36% tổng số vụ án với 233 vụ/312 bị can Các tỉnh, thành phố lớn như Hà Nội (191 vụ/268 bị can), Nghệ An (43 vụ/56 bị can), và Quảng Ninh (32 vụ/41 bị can) dẫn đầu về số lượng vụ án Ngược lại, khu vực đồng bằng sông Cửu Long, bao gồm các tỉnh Long, lại không phát hiện nhiều vụ án tương tự.
Số liệu về tình trạng săn bắt, nuôi, nhốt, tàng trữ, vận chuyển và buôn bán động vật hoang dã tại các tỉnh An Giang, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Sóc Trăng, và Bạc Liêu chưa phản ánh đúng thực trạng Mặc dù cơ quan chức năng không phát hiện hay khởi tố vụ việc nào, điều này không có nghĩa là không tồn tại các vụ vi phạm trong thực tế.
Trung du miền núi phía Bắc Đồng bằng sông Hồng
Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung
Tây Nguyên Đông Nam Bộ Đồng bằng sông
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu tội phạm về động vật nguy cấp, quý, hiếm theo vùng
Trong giai đoạn 2018 - 2021, nhiều vụ án liên quan đến động vật nguy cấp, quý, hiếm đã xảy ra tại các địa phương, điển hình là vụ việc tại huyện Thường Tín, Hà Nội Cơ quan Cảnh sát điều tra đã bắt quả tang Đinh Thị Nhượng và Lều Xuân Lâm tàng trữ 114 khúc nghi là ngà voi với tổng trọng lượng 688,5kg và nhiều mảnh ngà khác nặng 282,5kg Kết luận giám định từ Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật xác nhận các mẫu vật này được chế tác từ ngà voi Châu Phi (Loxodonta Africana), loài được liệt kê trong Phụ lục I CITES Ngày 12/02/2018, cơ quan chức năng đã khởi tố vụ án và bị can đối với hai người này về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” theo Điều 244 của BLHS, đồng thời ra lệnh tạm giam trong 04 tháng để điều tra thêm.
Vào ngày 18/9/2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã ban hành Cáo trạng số 353/CT-VKSHS-P3, truy tố Đinh Thị Nhượng và Lều Xuân Lâm về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” theo điểm d khoản 3 Điều 244 của Bộ luật Hình sự Ngày 07/3/2019, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã tiến hành xét xử và tuyên phạt Lều Xuân Lâm về cùng tội danh này.
Đinh Thị Nhượng bị tuyên án 10 năm tù, trong khi đồng phạm nhận 6 năm tù Hội đồng xét xử quyết định tiêu hủy toàn bộ tang vật là ngà voi Hoạt động tiêu hủy được Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội thực hiện vào ngày 30/9/2020.
Công tác bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm đã được các cơ quan chức năng chú trọng, chủ động phát hiện và xử lý hành vi xâm hại Các loài động vật này thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ theo quy định của Chính phủ và Công ước CITES Các VKSND trên toàn quốc thực hiện tốt công tác kiểm sát điều tra các vụ án vi phạm quy định bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm, với KSV kiểm sát chặt chẽ hoạt động điều tra của CQĐT Khi có đủ dấu hiệu tội phạm, KSV sẽ phối hợp với CQĐT để thống nhất khởi tố vụ án hình sự Đối với các vụ buôn bán, vận chuyển trái phép động vật hoang dã, KSV phối hợp với các cơ quan chức năng như Hải quan, Kiểm lâm, và Cảnh sát môi trường ngay từ đầu để xác minh thông tin và quyết định khởi tố.
Trong quá trình kiểm sát điều tra, một số Viện kiểm sát địa phương đã chủ động báo cáo và thỉnh thị Viện kiểm sát cấp trên khi có sự khác biệt về định tội danh và khung hình phạt Điều này đã góp phần tạo ra sự thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra.
Trong giai đoạn 2018 - 2021, tỷ lệ vụ án đình chỉ và tạm đình chỉ không tăng mạnh, duy trì ở mức khoảng 1% và 10% so với tổng số vụ án khởi tố mới Năm 2020 và 2021, các vụ án đình chỉ đều không có bị can, trong khi các vụ án tạm đình chỉ chủ yếu do chưa bắt được bị can, bị can bỏ trốn, chết, hoặc bị tâm thần Công tác kiểm sát việc tạm đình chỉ và đình chỉ điều tra được thực hiện đầy đủ và thận trọng, đảm bảo tính hợp pháp Mặc dù có nhiều khó khăn trong việc giải quyết các vụ án vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, nhưng nhờ vào sự phối hợp tốt và chế độ báo cáo kịp thời, không xảy ra trường hợp đình chỉ điều tra do không phạm tội.
(Nguồn: Cục Thống kê tội phạm và Công nghệ thông tin - VKSNDTC)