1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo trình quản lý nhà nước vềđất đai

200 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo trình quản lý nhà nước về đất đai
Tác giả Nguyễn Khắc Thái Sơn
Trường học Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Chuyên ngành Quản lý đất đai
Thể loại Giáo trình
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 200
Dung lượng 1,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. ĐẠI CƯƠNG VỀ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC (3)
    • 1.1.1. Một số vấn đề chung về quản lý hành chính nhà nước (3)
    • 1.1.2. Một số vấn đề cơ bản trong quản lý hành chính nhà nước Việt Nam 10 1.2. ĐẠI CƯƠNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NUỚC VỀ ĐẤT ĐAI (0)
    • 1.2.1. Khái niệm quản lý nhà nước về đất đai (18)
    • 1.2.2. Mục đích, yêu cầu của quản lý nhà nước về đất đai (21)
    • 1.2.3. Nguyên tắc của quản lý nhà nước về đất đai (21)
    • 1.2.4. Đối tượng của quản lý nhà nước về đất đai (22)
    • 1.2.5. Phương pháp quản lý nhà nước về đất đai (26)
    • 1.2.6. Các công cụ quản lý nhà nước về đất đai (29)
  • Chương 2: QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI Ở NƯỚC TA (0)
    • 2.1. SƠ LƯỢC VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI Ở NƯỚC TA DƯỚI CHẾĐỘ CŨ (32)
      • 2.1.1. Sơ lược về công tác quản lý nhà nước vềđất dai ở nước ta trong thời kỳ đầu lập nước (32)
      • 2.1.2. Sơ lược về công tác quản lý nhà nước vềđất đai ở nước ta trong thời kỳ phong kiến (32)
      • 2.1.3. Sơ lược về công tác quản lý nhà nước vềđất đai ở nước ta trong thời kỳ Pháp thuộc (34)
      • 2.1.4. Sơ lược về công tác quản lý nhà nước vềđất dai ở miền Nam trong thời kỳ Mỹ - Nguỵ tạm chiếm (1954 -1975) (36)
    • 2.2. CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI Ở NƯỚC TA TƯ NĂM 1945 ĐẾN NAY (38)
      • 2.2.1. Những nội dung cơ bản của công tác quản lý nhà nước về đất đai ở nước ta từ năm 1945 đến nay (38)
      • 2.2.2. Hệ thống cơ quan chuyên môn quản lý nhà nước về đất đai ở nước ta từ năm (58)
  • Chương 3: NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI (0)
    • 3.1. BAN HÀNH CÁC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC VĂN BẢN ĐÓ (90)
    • 3.2. XÁC ĐỊNH ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH, LẬP VÀ QUẢN LÝ HỒ SƠ ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH, LẬP BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH (94)
      • 3.2.2. Lập bản đồ hành chính (97)
    • 3.3. KHẢO SÁT, ĐO ĐẠC, ĐÁNH GIÁ, PHÂN HẠNG ĐẤT; LẬP BẢN ĐỒ ĐỊA CHÍNH, BẢN ĐỒ HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT VÀ BẢN ĐỒ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT (98)
      • 3.3.1. Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất (98)
      • 3.3.2. Lập bản đồ địa chính (99)
      • 3.3.3. Lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất (100)
      • 3.3.4. Lập bản đồ quy hoạch sử dụng đất (101)
    • 3.4. QUẢN LÝ QUY HOẠCH, KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT (102)
      • 3.4.1. Khái niệm và ý nghĩa của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (102)
      • 3.4.2. Một số quy định về lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (103)
      • 3.4.3. Quản lý và đánh giá quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (111)
    • 3.5. QUẢN LÝ VIỆC GIAO ĐẤT, CHO THUÊ ĐẤT, THU HỒI ĐẤT, CHUYỂN MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG ĐẤT (116)
      • 3.5.1. Khái niệm về giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất (116)
      • 3.5.2. Một số quy định về giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất (117)
      • 3.5.3. Một số quy định về thu hồi đất (126)
      • 3.5.4. Quản lý và đánh giá việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất chuyển mục đích sử dụng đất (139)
    • 3.6. ĐĂNG KÝ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, LẬP VÀ QUẢN LÝ HỒ SƠ ĐỊA CHÍNH, CẤP GIẤY CHứNG NHẬN QUYỂN SỬ DỤNG ĐẤT (141)
      • 3.6.1. Đăng ký quyền sử dụng đất (141)
      • 3.6.2. Lập và quản lý hồ sơ địa chính (143)
      • 3.6.3. Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (146)
    • 3.7. THỐNG KÊ, KIỂM KÊ ĐẤT ĐAI (167)
      • 3.7.1. Khái niệm, mục đích, nguyên tắc thống kê, kiểm kê đất đai (167)
      • 3.7.2. Một số quy định về thống kê, kiểm kê đất đai (168)
    • 3.8. QUẢN LÝ TÀI CHÍNH VỀ ĐẤT ĐAI (170)
      • 3.8.1. Quản lý giá đất (170)
      • 3.8.2. Quản lý các nguồn thu ngân sách nhà nước từ đất đai (0)
    • 3.9. QUẢN LÝ VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRONG THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN (175)
      • 3.9.1. Khái niệm và sự ra dời của thị trường quyền sử dụng đất (175)
      • 3.9.2. Các trường hợp và điều kiện đất dược tham gia thị trường bất động sản (176)
      • 3.9.3. Nội dung hoạt động của thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản (177)
      • 3.9.4. Quy định về đấu giá quyền sử dụng đất, đầu thầu dự án có sử dụng đất (178)
      • 3.9.5. Quản lý đất đai trong việc phát triển thị trường bất động san (179)
    • 3.10. QUẢN LÝ, GIÁM SÁT VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT (180)
      • 3.10.1. Các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất (180)

Nội dung

ĐẠI CƯƠNG VỀ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

Một số vấn đề chung về quản lý hành chính nhà nước

Quản lý có nhiều cách giải thích, từ việc coi nó là cai trị đến điều hành và chỉ huy Quan niệm phổ biến nhất, được đưa ra bởi điều khiển học, định nghĩa quản lý là sự tác động định hướng lên một hệ thống nhằm trật tự hóa và phát triển theo những quy luật nhất định Định nghĩa này không chỉ áp dụng cho máy móc hay cơ thể sống, mà còn cho tập thể người, tổ chức và cơ quan nhà nước.

Hiểu theo góc độ hành động, quản lý là điều khiển và được phân thành 3 loại [15]

Các loại hình này giống nhau là đều do con người điều khiển nhưng khác nhau vềđối tượng quản lý

Loại hình hình thức nhất là việc con người điều khiển các sinh vật không phải con người để thực hiện ý đồ của mình, được gọi là quản lý sinh học, quản lý thiên nhiên và quản lý môi trường Ví dụ điển hình là việc con người quản lý vật nuôi và cây trồng.

Loại hình thứ hai là việc con người điều khiển các vật vô tri vô giác để thực hiện ý đồ của mình, được gọi là quản lý kỹ thuật Ví dụ, con người sử dụng và điều khiển các loại máy móc để đạt được mục tiêu cụ thể.

Lo ạ i hình th ứ ba: là việc con người điều khiển con người Loại hình này được gọi là quản lý xã hội (hay quản lý con người)

Quản lý xã hội, theo Mác, là một chức năng quản lý đặc biệt phát sinh từ tính chất xã hội hoá lao động Hiện nay, khi nhắc đến quản lý, người ta thường chỉ nghĩ đến quản lý xã hội Do đó, bài viết này sẽ tập trung nghiên cứu loại hình quản lý thứ ba, tức là quản lý xã hội.

Trong công tác quản lý có rất nhiều yếu tố tác động, nhưng đặc biệt lưu ý tới 5 yếu tố sau đây [15] :

Yếu tố xã hội, hay yếu tố con người, là một phần thiết yếu trong sự phát triển của xã hội, vì nó phản ánh bản chất con người thông qua các mối quan hệ xã hội Mọi tiến bộ trong xã hội đều phụ thuộc vào hoạt động của con người Do đó, các cơ quan và viên chức lãnh đạo cần phải xử lý các mối quan hệ xã hội một cách khoa học và hợp lý trong tất cả các lĩnh vực quản lý nhà nước.

Yếu tố chính trị trong quản lý yêu cầu người quản lý phải hiểu rõ tư tưởng và xác định giai cấp, nhà nước mà mình phục vụ, từ đó áp dụng các chủ trương và chính sách phù hợp.

Tổ chức là khoa học nghiên cứu cách thiết lập mối quan hệ giữa con người nhằm thực hiện công việc quản lý Nó bao gồm việc sắp xếp một hệ thống quản lý và quy định chức năng, thẩm quyền cho từng cơ quan trong bộ máy đó.

Quyền uy trong quản lý là sự kết hợp giữa quyền lực và uy tín Quyền lực bao gồm hệ thống pháp luật, quy chế và kỷ luật, trong khi uy tín thể hiện qua phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị, kiến thức và năng lực tổ chức công việc Người quản lý cần có cả quyền lực lẫn uy tín để đạt hiệu quả trong công việc, bởi chỉ một trong hai yếu tố này là không đủ.

Thông tin là yếu tố then chốt trong quản lý, đóng vai trò là nguồn dữ liệu và căn cứ cho quyết định quản lý nhằm đạt hiệu quả cao Thiếu thông tin chính xác và kịp thời, người quản lý sẽ bị tụt lại phía sau và không thể theo kịp sự phát triển của xã hội.

Trong 5 yếu tố trên yếu tố xã hội, yếu tố chính trị là yếu tố xuất phát, là mục đích chính trị của quản lý; còn tổ chức, quyền uy, thông tin là 3 yếu tố biện pháp kỹ thuật và nghệ thuật quản lý công dân

Nhà nước quản lý toàn diện là hình thức quản lý bao quát tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, kết hợp giữa quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ Điều này có nghĩa là các cơ quan quản lý sẽ điều chỉnh mọi khía cạnh hoạt động của xã hội dựa trên các quy định pháp luật.

Nhà nước quản lý bằng pháp luật sử dụng pháp luật như công cụ để xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật theo quy định.

Quản lý nhà nước là hình thức quản lý xã hội dựa trên quyền lực của nhà nước, nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội và hành vi của con người Mục tiêu của quản lý nhà nước là duy trì và phát triển trật tự pháp luật, đồng thời thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước.

Quản lý xã hội là quá trình tổ chức nhằm tạo điều kiện cần thiết để đạt được mục tiêu trong hoạt động chung của con người Từ khi nhà nước ra đời, quản lý xã hội đã trở thành trách nhiệm của nhà nước, nhưng không chỉ riêng nhà nước mà còn bao gồm các bộ phận khác trong hệ thống chính trị như chính đảng và tổ chức xã hội Ngoài ra, trong lĩnh vực kinh tế và văn hóa - xã hội, gia đình và các tổ chức tư nhân cũng đóng vai trò quan trọng trong quản lý xã hội.

Quản lý nhà nước là các công việc do nhà nước thực hiện thông qua các cơ quan nhà nước, có thể bao gồm cả sự tham gia trực tiếp của nhân dân qua hình thức bỏ phiếu hoặc thông qua các tổ chức xã hội được nhà nước ủy quyền Đây là quá trình quản lý mang tính chất nhà nước, nhằm thực hiện các nhiệm vụ và chức năng của Chính phủ, hệ thống cơ quan chuyên trách trong hoạt động quản lý nhà nước.

* Khái ni ệ m v ề qu ả n lý hành chính nhà n ướ c [15]

Khái niệm quản lý nhà nước về đất đai

Các quan hệ đất đai là những mối quan hệ xã hội trong lĩnh vực kinh tế, bao gồm sở hữu đất đai, sử dụng đất đai và phân phối sản phẩm từ việc sử dụng đất.

Bộ luật Dân sự xác định quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật.

Kể từ khi Luật đất đai công nhận quyền sử dụng đất là tài sản dân sự đặc biệt vào năm 1993, quyền sở hữu đất đai thực chất trở thành quyền sở hữu một loại tài sản dân sự đặc biệt Nghiên cứu về quan hệ đất đai cho thấy quyền năng của sở hữu nhà nước bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt đất đai Nhà nước thực hiện các quyền năng này thông qua việc thiết lập các chế độ pháp lý về quản lý và sử dụng đất, không trực tiếp mà thông qua hệ thống các cơ quan nhà nước và các tổ chức, cá nhân sử dụng đất theo quy định và dưới sự giám sát của Nhà nước.

Các cơ quan nhà nước thực hiện nhiều hoạt động phong phú và đa dạng để bảo vệ và thực hiện quyền sở hữu nhà nước về đất đai, bao gồm 13 nội dung được quy định tại Điều 6, Luật Đất đai 2003.

1 Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó;

2- Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính;

3- Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất;

4- Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;

5- Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất; 6-Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

7- Thống kê, kiểm Kế đất đai;

8- Quản lý tài chính về đất đai;

9- Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản;

10- Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất; 1 1- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai;

12- Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai;

13- Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai

Mười ba nội dung trên nhằm bảo vệ và thực hiện quyền sở hữu nhà nước về đất đai, được tập trung vào 4 lĩnh vực cơ bản sau đây:

Nhà nước cần nắm vững thông tin về đất đai, bao gồm số lượng, chất lượng và tình hình quản lý, sử dụng đất Việc này đảm bảo rằng Nhà nước có cái nhìn chính xác về hiện trạng đất đai.

Nhà nước quản lý diện tích đất đai trên toàn quốc, bao gồm từng vùng kinh tế và đơn vị hành chính địa phương Họ nắm rõ diện tích của các loại đất như đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, và thông tin về diện tích của từng chủ sử dụng, cũng như sự phân bố đất đai trên bề mặt lãnh thổ.

Nhà nước quản lý các đặc điểm lý tính và hóa tính của từng loại đất, bao gồm độ phì, kết cấu và hệ số sử dụng đất, đặc biệt là đối với đất nông nghiệp.

Hiện trạng sử dụng đất hiện nay đang đặt ra câu hỏi về tính hợp lý và hiệu quả trong quản lý của Nhà nước Cần xem xét liệu việc sử dụng đất có tuân thủ đúng quy hoạch và kế hoạch đã đề ra hay không Để giải quyết các bất hợp lý trong sử dụng đất đai, cần có những phương hướng đánh giá và khắc phục cụ thể.

Nhà nước thực hiện phân phối và phân phối lại đất đai theo quy hoạch thống nhất, chiếm hữu toàn bộ quỹ đất nhưng giao cho tổ chức, cá nhân sử dụng Nhu cầu sử dụng đất đai của các ngành và tổ chức thay đổi theo từng giai đoạn phát triển của đất nước Với vai trò quản lý, Nhà nước phân phối đất cho các chủ sử dụng và điều chỉnh quỹ đất phù hợp với từng giai đoạn lịch sử Để thực hiện điều này, Nhà nước chuyển giao quyền sử dụng đất, điều chỉnh giữa các loại đất và vùng kinh tế, đồng thời thực hiện giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng, chuyển quyền sử dụng và thu hồi đất.

Nhà nước thực hiện quy hoạch và kế hoạch hoá sử dụng đất đai, đồng thời quản lý các hoạt động như giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất và thu hồi đất Ngoài ra, Nhà nước còn quản lý việc chuyển quyền sử dụng đất và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.

Nhà nước thực hiện thanh tra và kiểm tra thường xuyên về quản lý và sử dụng đất đai Hoạt động này được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước và người sử dụng đất Để đảm bảo việc phân phối và sử dụng đất phù hợp với lợi ích của Nhà nước, quá trình này cần được giám sát chặt chẽ Nếu phát hiện vi phạm hoặc bất cập trong việc phân phối và sử dụng đất, Nhà nước sẽ tiến hành xử lý và giải quyết kịp thời.

Nhà nước thực hiện quyền điều tiết các nguồn lợi từ đất đai thông qua các chính sách tài chính như thu tiền sử dụng đất, thuế sử dụng đất, thuế chuyển quyền sử dụng đất và thuế thu nhập từ việc chuyển quyền sử dụng đất Các hoạt động này nhằm điều tiết giá trị tăng thêm từ đất mà không do đầu tư của người sử dụng đất mang lại.

Các hoạt động liên quan đến quyền sở hữu Nhà nước về đất đai đều hướng tới mục tiêu bảo vệ và thực hiện quyền này Việc nắm bắt tình hình đất đai là cần thiết để tạo cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc phân phối và sử dụng đất đai hợp lý theo quy hoạch Đồng thời, kiểm tra và giám sát giúp củng cố trật tự trong phân phối và sử dụng đất, đảm bảo tuân thủ đúng quy định của Nhà nước.

Mục đích, yêu cầu của quản lý nhà nước về đất đai

Quản lý nhà nước về đất đai nhằm mục đích:

-Bảo vệ quyền sở hữu nhà nước đối với đất đai, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất;

-Đảm bảo sử dụng hợp lý quỹ đất đai của quốc gia;

Tăng cường hiệu quả sử dụng đất;

-Bảo vệđất, cải tạo đất, bảo vệ môi trường

Công tác quản lý đất đai yêu cầu việc đăng ký và thống kê đất đai phải được thực hiện đầy đủ, tuân thủ các quy định của pháp luật đất đai tại từng địa phương và theo các cấp hành chính.

Nguyên tắc của quản lý nhà nước về đất đai

Trong quản lý nhà nước về đất đai, cần tuân thủ các nguyên tắc quan trọng Đầu tiên, Nhà nước phải đảm bảo sự quản lý tập trung và thống nhất, vì đất đai là tài nguyên quốc gia và tài sản chung của toàn dân Chỉ có Nhà nước, đại diện hợp pháp cho toàn dân, mới có quyền quyết định về số phận pháp lý của đất đai, như quy định tại Điều 18, Hiến pháp 1992 và Điều 5, Luật Đất đai 2003 Thứ hai, cần đảm bảo sự kết hợp hài hòa giữa quyền sở hữu đất đai và quyền sử dụng đất, cũng như giữa lợi ích của Nhà nước và lợi ích của người trực tiếp sử dụng đất.

Theo Luật dân sự, quyền sở hữu đất đai bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt Quyền sử dụng đất đai cho phép chủ sở hữu hoặc người được chuyển giao quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi và lợi tức từ đất đai.

Từ khi Hiến pháp 1980 ra đời, quyền sở hữu đất đai ở Việt Nam thuộc về Nhà nước, trong khi quyền sử dụng đất đai được phân chia giữa Nhà nước và các chủ sử dụng cụ thể Nhà nước không trực tiếp quản lý đất đai mà thực hiện quyền này thông qua việc thu thuế và phí từ những người sử dụng đất Để đảm bảo sử dụng đất đai hiệu quả, Nhà nước cần giao đất cho các chủ thể trực tiếp và thiết lập hành lang pháp lý phù hợp, nhằm bảo vệ lợi ích của cả người sử dụng và Nhà nước.

Theo Điều 5, Luật Đất đai 2003, Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người dân thông qua các hình thức giao đất, cho thuê đất và công nhận quyền sử dụng đất cho những người đang sử dụng ổn định Điều này quy định rõ quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, nhằm đảm bảo tính tiết kiệm và hiệu quả trong việc quản lý và sử dụng tài nguyên đất đai.

Tiết kiệm và hiệu quả là nguyên tắc cốt lõi trong quản lý kinh tế, và quản lý đất đai cũng cần tuân thủ nguyên tắc này như một hình thức của quản lý kinh tế.

Tiết kiệm là cơ sở, là nguồn gốc của hiệu quả Nguyên tắc này trong quản lý đất đai được thể hiện bằng việc:

-Xây dựng tết các phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, có tính khả thi cao;

Quản lý và giám sát tết việc thực hiện các phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Quản lý nhà nước về đất đai cần phải phục vụ cho chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời đảm bảo sử dụng đất đai một cách tiết kiệm nhưng vẫn đạt được các mục tiêu đề ra.

Đối tượng của quản lý nhà nước về đất đai

Đối tượng của quản lý nhà nước về đất đai gồm 2 nhóm:

-Các chủ thể quản lý đất đai và sử dụng đất đai;

1.2.4.1 Các ch ủ th ể qu ả n lý và s ử d ụ ng đấ t đ ai a) Các ch ủ th ể qu ả n lý đấ t đ ai:

Các chủ thể quản lý đất có thể là cơ quan nhà nước, có thể là tổ chức

-Các chủ thể quản lý đất đai là cơ quan nhà nước gồm 2 loại là:

Các cơ quan đại diện cho Nhà nước thực hiện quyền quản lý nhà nước về đất đai tại địa phương theo từng cấp hành chính, bao gồm Uỷ ban nhân dân các cấp và các cơ quan chuyên môn trong lĩnh vực quản lý đất đai.

Các cơ quan có trách nhiệm đăng ký quyền quản lý đối với đất chưa sử dụng và đất công tại địa phương Theo Luật Đất đai 2003, Uỷ ban nhân dân cấp xã phải ghi nhận vào hồ sơ địa chính các diện tích đất chưa sử dụng và những khu đất công cộng không thuộc sở hữu cụ thể, như đất giao thông và đất nghĩa địa.

Các cơ quan này thuộc đối tượng quản lý trong lĩnh vực đất đai, chịu sự giám sát của các cơ quan cấp trên trực tiếp và hoạt động chủ yếu theo nguyên tắc trực tuyến.

Các chủ thể quản lý đất đai bao gồm các tổ chức như Ban quản lý khu công nghiệp, khu công nghệ cao và khu kinh tế Những tổ chức này không trực tiếp sử dụng đất mà được Nhà nước ủy quyền thực hiện quyền quản lý đất đai Do đó, họ được giao quyền cho thuê đất gắn liền với cơ sở hạ tầng trong các khu vực này Các ban quản lý không chỉ là tổ chức mà còn là đối tượng quản lý của các cơ quan nhà nước trong lĩnh vực đất đai.

Theo Luật Đất đai 2003, các chủ thể sử dụng đất đai gồm:

-Người Việt Nam định cưở nước ngoài

Như vậy, hiện nay trên toàn quốc có tới vài chục triệu chủ thể sử dụng đất đai

Tất cả các chủ thể sử dụng đất đều phải tuân thủ sự quản lý của các cơ quan nhà nước trong lĩnh vực đất đai.

Tất cả các chủ thể liên quan đến quản lý và sử dụng đất đai đều nằm trong phạm vi quản lý nhà nước về đất Các cơ quan nhà nước có trách nhiệm kiểm tra và giám sát việc thực hiện pháp luật về đất đai của các chủ thể này, nhằm đảm bảo sự tuân thủ và điều chỉnh kịp thời khi cần thiết.

1.3.4.2 Đấ t đ ai Đất đai là nhóm đối tượng thứ hai của quản lý nhà nước về đất đai Các cơ quan quản lý đất đai của bộ máy nhà nước thay mặt Nhà nước quản lý đến từng thửa đất, từng diện tích đất cụ thể Theo Luật Đất đai 2003 và được cụ thể hoá ởĐiều 6, Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai 2003, toàn bộ quỹ đất của nước ta hiện nay được phân thành 3 nhóm, trong đó lại chia nhỏ hơn thành 14 loại như sau:

* Nhóm đấ t nông nghi ệ p đượ c chia thành 5 lo ạ i đấ t sau:

Đất sản xuất nông nghiệp được chia thành hai loại chính: đất trồng cây hàng năm và đất trồng cây lâu năm Trong đó, đất trồng cây hàng năm bao gồm đất trồng lúa, đất đồng cỏ phục vụ chăn nuôi, và các loại đất trồng cây hàng năm khác.

Đất lâm nghiệp bao gồm các loại đất như rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng, cùng với đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và các loại đất nông nghiệp khác Đất nông nghiệp khác được sử dụng tại nông thôn cho việc xây dựng nhà kính và các công trình phục vụ trồng trọt, bao gồm cả hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất Ngoài ra, đất này còn được dùng để xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm, các trạm nghiên cứu nông nghiệp và lâm nghiệp, cơ sở ươm tạo cây giống, con giống, cũng như kho chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón và máy móc sản xuất nông nghiệp.

Nhóm đất phi nông nghiệp được phân loại thành 6 loại chính: Đất ở, bao gồm đất ở nông thôn và đô thị; Đất chuyên dùng, bao gồm đất xây dựng trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp, và đất phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh; Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp; và Đất sử dụng vào mục đích công cộng Đất công cộng phục vụ cho việc xây dựng các công trình như đường giao thông, cầu, cống, và các cơ sở hạ tầng khác như hệ thống cấp nước, thoát nước, và điện Ngoài ra, đất công cộng còn được sử dụng cho các cơ sở giáo dục, y tế, vui chơi giải trí, và các công trình văn hóa, lịch sử, cũng như các khu vực xử lý chất thải.

Đất tôn giáo và tín ngưỡng bao gồm các loại đất được sử dụng cho các cơ sở tôn giáo như đình, đền, miếu, am, từ đường và nhà thờ họ Ngoài ra, còn có đất dành cho nghĩa trang, nghĩa địa, cùng với các loại đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng Đất phi nông nghiệp khác bao gồm các công trình thờ tự, bảo tàng, nhà bảo tồn, và các cơ sở văn hóa nghệ thuật không nhằm mục đích kinh doanh Các loại đất này cũng bao gồm đất làm nhà nghỉ cho người lao động, đất đô thị phục vụ trồng trọt, xây dựng chuồng trại chăn nuôi, và các cơ sở nghiên cứu nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, cũng như kho chứa nông sản và dụng cụ sản xuất nông nghiệp.

* Nhóm đấ t ch ư a s ử d ụ ng đượ c chia thành 3 lo ạ i đấ t sau: Đất bằng chưa sử dụng; Đất đồi núi chưa sửđụng;

-Núi đá không có rừng cây

Tất cả 3 nhóm, gồm 14 loại đất trên đều là đối tượng của công tác quản lý nhà nước về đất đai.

Phương pháp quản lý nhà nước về đất đai

Các phương pháp quản lý nhà nước về đất đai là những cách thức có chủ đích mà Nhà nước áp dụng để tác động lên hệ thống đất đai và chủ sử dụng đất, nhằm đạt được các mục tiêu cụ thể trong những điều kiện không gian và thời gian nhất định Những phương pháp này đóng vai trò quan trọng trong hệ thống quản lý, thể hiện mối quan hệ phức tạp giữa Nhà nước và các đối tượng quản lý Do tính đa dạng và phức tạp của mối quan hệ này, các phương pháp quản lý thường xuyên thay đổi tùy thuộc vào tình huống và đặc điểm của từng đối tượng.

Các phương pháp quản lý nhà nước về đất đai được phát triển từ các phương pháp quản lý nhà nước chung, do đó chúng bao gồm những phương pháp cơ bản nhưng được điều chỉnh cho phù hợp với lĩnh vực đất đai Trong quản lý nhà nước, có nhiều phương pháp khác nhau, và trong quản lý đất đai, các phương pháp này cũng được áp dụng Các phương pháp này có thể được chia thành hai nhóm chính.

1 2.5.1 Các ph ươ ng pháp thu th ậ p thông tin v ề đấ t đ ai

Theo Trịnh Đình Thắng (2002), có các phương pháp chính thu thập thông tin về đất đai như sau:

Phương pháp thống kê là công cụ quan trọng trong nghiên cứu các vấn đề kinh tế và xã hội, được các cơ quan quản lý nhà nước sử dụng để điều tra, khảo sát và tổng hợp dữ liệu Qua việc phân tích số liệu thống kê, chúng ta có thể hiểu rõ tình hình và nguyên nhân của các hiện tượng, từ đó nhận diện quy luật và rút ra những kết luận chính xác về sự vật.

Trong công tác quản lý đất đai các cơ quan quản lý sử dụng phương pháp thống

Để quản lý đất đai hiệu quả, các cơ quan cần nắm rõ tình hình số lượng và chất lượng đất đai, cũng như thu thập đầy đủ thông tin liên quan đến đất đai.

Phương pháp toán học đóng vai trò quan trọng trong quản lý, đặc biệt là trong quản lý đất đai, nhờ vào sự phát triển của khoa học công nghệ Nó ngày càng thể hiện tính cấp thiết trong việc giải quyết các vấn đề xã hội phức tạp Trong lĩnh vực quản lý đất đai, toán học được áp dụng rộng rãi trong các công đoạn như thiết kế, quy hoạch và tính toán quy mô, loại hình sử dụng đất tối ưu.

Phương pháp điều tra xã hội học là một công cụ hỗ trợ quan trọng giúp Nhà nước nắm bắt tâm tư và nguyện vọng của các tổ chức và cá nhân sử dụng đất đai Qua điều tra này, Nhà nước có thể hiểu rõ hơn về diễn biến tình hình đất đai và nguyên nhân của nó Tùy thuộc vào mục tiêu, nội dung, phạm vi, quy mô về vốn và người thực hiện, có thể lựa chọn các hình thức điều tra như điều tra chọn mẫu, điều tra toàn diện, điều tra nhanh, hoặc điều tra ngẫu nhiên.

1.2.5.2 Các ph ươ ng pháp tác độ ng đế n con ng ườ i trong qu ả n lý đấ t đ ai

Theo Hoàng Anh Đức (2000) và Trịnh Đình Thắng (2002), có các phương pháp chính tác động đến con người trong quản lý đất đai như sau:

* Ph ươ ng pháp hành chính: là phương pháp tác động mang tính trực tiếp

Phương pháp này tập trung vào mối quan hệ tổ chức trong hệ thống quản lý, thể hiện sự tương tác giữa quyền uy và sự phục tùng.

Phương pháp quản lý hành chính về đất đai của Nhà nước là cách thức tác động trực tiếp đến các chủ thể trong quan hệ đất đai, bao gồm cơ quan quản lý đất đai và người sử dụng đất như hộ gia đình, cá nhân, tổ chức và pháp nhân Nhà nước áp dụng các biện pháp và quyết định mang tính mệnh lệnh bắt buộc, yêu cầu người sử dụng đất phải chấp hành nghiêm chỉnh; vi phạm sẽ bị xử lý theo pháp luật.

Trong quản lý nhà nước về đất đai, phương pháp hành chính đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập kỷ cương và trật tự xã hội Nó kết nối các hoạt động giữa các bộ phận liên quan, bảo đảm tính bảo mật và giải quyết nhanh chóng các vấn đề trong công tác quản lý.

Khi áp dụng phương pháp hành chính, cần gắn chặt quyền hạn và trách nhiệm của các cấp quản lý nhà nước về đất đai trong quá trình ra quyết định Cần làm rõ chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan nhà nước và cá nhân Mọi cấp chính quyền và tổ chức phải hiểu rõ quyền hạn và trách nhiệm khi sử dụng quyền hạn đó Các quyết định hành chính cần có tính khoa học, dựa trên căn cứ khoa học, không thể chỉ là ý muốn chủ quan Để đảm bảo quyết định có căn cứ khoa học, người ra quyết định phải nắm vững tình hình, thu thập thông tin cần thiết và cân nhắc đầy đủ các lợi ích cũng như các khía cạnh liên quan.

* Ph ươ ng pháp kinh t ế : là phương pháp tác động gián tiếp lên đối tượng bị quản lý không trực tiếp như phương pháp hành chính

Phương pháp quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý đất đai là cách thức mà Nhà nước tác động gián tiếp đến đối tượng quản lý Qua việc sử dụng các lợi ích kinh tế, Nhà nước khuyến khích đối tượng tự lựa chọn phương án hoạt động hiệu quả nhất cho mình.

Trong quản lý, phương pháp kinh tế được xem là phương pháp linh hoạt và thu hút đối tượng quản lý, ngày càng trở nên phổ biến và được đánh giá cao Điểm mạnh của phương pháp này là khả năng tác động vào lợi ích của đối tượng, buộc họ phải suy nghĩ và lựa chọn phương án hoạt động hiệu quả nhất, vừa đảm bảo lợi ích cá nhân, vừa góp phần vào lợi ích chung của xã hội.

Phương pháp kinh tế nâng cao trách nhiệm của tổ chức và cá nhân giúp Nhà nước giảm bớt công việc hành chính, tiết kiệm chi phí quản lý và tăng cường tính sáng tạo Một trong những thành công lớn trong quản lý đất đai là việc áp dụng phương pháp khoán trong nông nghiệp và giao quyền sử dụng đất lâu dài cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân, tạo động lực phát triển sản xuất nông nghiệp và sử dụng hiệu quả đất đai Đây là minh chứng cho việc Nhà nước áp dụng phương pháp kinh tế trong quản lý đất đai.

Phương pháp tuyên truyền và giáo dục là cách thức mà Nhà nước tác động vào nhận thức và tình cảm của con người, nhằm nâng cao tính tự giác và lòng nhiệt tình trong quản lý đất đai và hoạt động kinh tế - xã hội Đây là một phương pháp thiết yếu trong công tác quản lý nhà nước, vì đối tượng quản lý chủ yếu là con người, những người có nhiều mối quan hệ xã hội và đặc trưng tâm lý đa dạng Do đó, cần áp dụng nhiều phương pháp tác động khác nhau, trong đó có giáo dục.

Phương pháp giáo dục thường được kết hợp với các phương pháp khác để nâng cao hiệu quả công tác Việc tách rời phương pháp giáo dục khỏi các phương pháp hỗ trợ như khuyến khích lợi ích vật chất hay sự cưỡng chế sẽ dẫn đến hiệu quả quản lý thấp, thậm chí không thể thực hiện được một số nhiệm vụ Ngược lại, nếu kết hợp linh hoạt và nhịp nhàng giữa phương pháp giáo dục và các phương pháp khác, hiệu quả quản lý sẽ được cải thiện đáng kể.

Các công cụ quản lý nhà nước về đất đai

Pháp luật là công cụ quản lý thiết yếu của Nhà nước, được sử dụng để thực hiện quyền cai trị và điều chỉnh hành vi con người Từ xưa đến nay, mọi Nhà nước đều dựa vào pháp luật để tác động vào ý chí của công dân.

Theo Trịnh Đình Thắng (2000), pháp luật có những vai trò chủ yếu đối với công tác quản lý đất đai như sau:

Pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì trật tự an toàn xã hội liên quan đến đất đai, nơi mà lợi ích vật chất và tinh thần của các chủ thể sử dụng đất thường dẫn đến mâu thuẫn Nhiều vấn đề trong các mâu thuẫn này chỉ có thể được giải quyết thông qua pháp luật Ngoài ra, pháp luật cũng yêu cầu các tổ chức và cá nhân thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, trong đó nghĩa vụ nộp thuế khi sử dụng đất là bắt buộc Tuy nhiên, việc thực hiện nghĩa vụ này không phải lúc nào cũng đầy đủ, dẫn đến việc cần áp dụng biện pháp cưỡng chế để đảm bảo nghĩa vụ được thực hiện.

Pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự bình đẳng và công bằng giữa những người sử dụng đất Thông qua các điều khoản bắt buộc và chính sách miễn giảm, thưởng, phạt, Nhà nước có thể thực hiện sự bình đẳng và giải quyết mối quan hệ lợi ích trong lĩnh vực đất đai.

Pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ và nâng cao hiệu quả thực hiện các chế độ, chính sách của Nhà nước, đồng thời là công cụ thiết yếu cho các phương thức quản lý khác.

Trong hệ thống pháp luật của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có nhiều công cụ pháp luật liên quan đến quản lý đất đai, bao gồm Hiến pháp, Luật đất đai, Luật dân sự, cùng với các pháp lệnh, nghị định, quyết định, thông tư, chỉ thị và nghị quyết của Nhà nước Ngoài ra, còn có các văn bản quản lý từ các cấp, các ngành ở chính quyền địa phương.

1 2.6.2 Công c ụ quy ho ạ ch, K ế ho ạ ch s ử d ụ ng đấ t đ ai

Trong quản lý nhà nước về đất đai, quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đóng vai trò quan trọng và là nội dung thiết yếu Luật Đất đai 2003 quy định rằng "Nhà nước quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật", khẳng định tầm quan trọng của công cụ này trong việc quản lý hiệu quả tài nguyên đất.

Quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đai đóng vai trò quan trọng trong quản lý và sử dụng đất, đảm bảo sự lãnh đạo thống nhất trong quản lý nhà nước Thông qua quy hoạch đã được phê duyệt, việc bố trí và sắp xếp các loại đất diễn ra hợp lý, giúp nhà nước kiểm soát tình hình đất đai và ngăn chặn việc sử dụng sai mục đích, lãng phí Đồng thời, quy hoạch buộc các đối tượng sử dụng đất phải tuân thủ trong phạm vi ranh giới của mình, được lập theo vùng lãnh thổ và các ngành.

Quy hoạch sử dụng đất đai theo vùng lãnh thổ được thực hiện theo các cấp hành chính, bao gồm quy hoạch sử dụng đất đai toàn quốc, quy hoạch cấp tỉnh, quy hoạch cấp huyện và quy hoạch cấp xã.

Quy hoạch sử dụng đất đai theo ngành là quá trình lập kế hoạch sử dụng đất cho các lĩnh vực cụ thể, bao gồm ngành nông nghiệp, ngành công nghiệp và ngành giao thông.

Tài chính bao gồm các mối quan hệ kinh tế liên quan đến việc tạo lập, phân phối và sử dụng nguồn lực tài chính của các chủ thể kinh tế - xã hội Theo Trịnh Đình Thắng (2002), các công cụ tài chính đóng vai trò quan trọng trong quản lý nhà nước đối với đất đai.

* Các công c ụ tài chính trong qu ả n lý đấ t đ ai

Thuế và lệ phí là công cụ tài chính quan trọng trong quản lý đất đai Theo Luật Đất đai năm 2003, Nhà nước quy định các loại thuế chủ yếu liên quan đến lĩnh vực đất đai.

Thuế chuyển quyền sử dụng đất;

Thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất (có thể có);

+ Các loại lệ phí trong quản lý, sử dụng đất đai như lệ phí trước bạ, lệ phí địa chính

Nhà nước đã ban hành khung giá chung cho các loại đất theo Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004, làm cơ sở cho Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trong việc tính giá đất, thu thuế sử dụng đất, thu tiền khi giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, cũng như bồi thường và hỗ trợ khi thu hồi đất.

Ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong quan hệ tài chính, không chỉ thực hiện các giao dịch tiền tệ mà còn cung cấp vốn cho các dự án như khai hoang và cải tạo đất.

* Vai trò c ủ a công c ụ tài chính trong qu ả n lý đấ t đ ai

Tài chính là công cụ để các đối tượng sử dụng đất đai thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm của họ

Tài chính là công cụ quan trọng mà Nhà nước sử dụng để tác động đến người sử dụng đất, giúp họ nhận thức rõ nghĩa vụ và trách nhiệm trong việc quản lý đất đai Mọi đối tượng sử dụng đất đều có trách nhiệm nộp thuế cho Nhà nước.

Tài chính đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý, giúp đảm bảo quyền bình đẳng giữa các đối tượng sử dụng đất và tạo sự kết hợp hài hòa giữa các lợi ích.

-Tài chính là công cụ cơ bản để Nhà nước tăng nguồn thu ngân sách.

QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI Ở NƯỚC TA

NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI

Ngày đăng: 24/07/2023, 07:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thúc Bảo (1985), Sơ lược tình hình lịch sử địa chính và địa chính Việt Nam, Tổng cục Quản lý ruộng đất, số 1/1985, tr. 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ lược tình hình lịch sử địa chính và địa chính Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thúc Bảo
Nhà XB: Tổng cục Quản lý ruộng đất
Năm: 1985
3. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2002), Báo cáo Số 05/BC-BTNMT ngày 26 tháng 11 năm 2002 về kết quả kiểm tra việc quản lý, sử dụng đất đai trên phạm vi cả nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Số 05/BC-BTNMT ngày 26 tháng 11 năm 2002 về kết quả kiểm tra việc quản lý, sử dụng đất đai trên phạm vi cả nước
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2002
4. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2003), Báo cáo tổng kết 10 năm thi hành Luật Đất đai 1993 (1993-2003) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết 10 năm thi hành Luật Đất đai 1993 (1993-2003)
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2003
5. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2004), Bài giảng quản tý nhà nước về đất đai (dùng cho khoá bồi dường lãnh đạo Sở Tài nguyên và Môi trường) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng quản tý nhà nước về đất đai (dùng cho khoá bồi dường lãnh đạo Sở Tài nguyên và Môi trường)
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2004
6. Bộ Tài nguyên và Môi trường, Chương trình hợp tác Việt Nam -ThuỵĐiển về tăng cường năng lực quản lý đất đai và môi trường (2005), Tài liệu bồi dưỡng kiến thức quản tý nhà nước về đất đai (dùng cho cán bộ Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng kiến thức quản tý nhà nước về đất đai (dùng cho cán bộ Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện)
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2005
7. Nguyễn Sinh Cúc (2000), Quan hệ ruộng đất ở nông thôn -55 năm nhìn tại, Tạp chí Địa chính, số 8/2000, tr. 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ ruộng đất ở nông thôn -55 năm nhìn tại
Tác giả: Nguyễn Sinh Cúc
Nhà XB: Tạp chí Địa chính
Năm: 2000
8. Nguyễn Đình Đầu (1994), Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn, 4 tập, Nxb TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn
Tác giả: Nguyễn Đình Đầu
Nhà XB: Nxb TP Hồ Chí Minh
Năm: 1994
9. Hoàng Anh Đức (1995), Bài giảng Quản lý nhà nước về đất đai, Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Quản lý nhà nước về đất đai
Tác giả: Hoàng Anh Đức
Nhà XB: Trường Đại học Nông nghiệp I
Năm: 1995

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w