Trong giai đoạn hiện nay, phát huy dân chủ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong phát triển nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; góp phần thực hiện thắng lợi
Trang 1DƯƠNG THỊ THÚY HẰNG
PHÁT HUY DÂN CHỦ CƠ SỞ
Ở THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
Ngành: Chính trị học Mã số: 8310201
Người hướng dẫn: TS NGÔ THỊ NGHĨA BÌNH
Trang 2Các tài liệu được trích dẫn trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc và xuất
xứ rõ ràng Các kết quả nghiên cứu của luận văn chưa được công bố trong bất
kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Học viên
Dương Thị Thúy Hằng
Trang 3DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 8
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 9
7 Kết cấu của luận văn 9
Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ DÂN CHỦ VÀ PHÁT HUY DÂN CHỦ CƠ SỞ 10
1.1 QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ DÂN CHỦ VÀ NỀN DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA 10
1.1.1 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về dân chủ và dân chủ xã hội chủ nghĩa 10
1.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan niệm của Đảng Cộng sản Việt Nam về dân chủ xã hội chủ nghĩa 22
1.1.3 Những đặc điểm cơ bản của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam 30
1.2 PHÁT HUY DÂN CHỦ CƠ SỞ Ở VIỆT NAM 35
Trang 41.3 VAI TRÕ CỦA PHÁT HUY DÂN CHỦ CƠ SỞ Ở VIỆT NAM 50
Tiểu kết chương 1 56
Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN DÂN CHỦ CƠ SỞ Ở THÀNH PHỐ
TUY HÕA, TỈNH PHÖ YÊN 57
2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI TÁC
ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN DÂN CHỦ CƠ SỞ Ở
THÀNH PHỐ TUY HÕA, TỈNH PHÖ YÊN 57
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 57
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 59
2.2 NHỮNG THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ TRONG THỰC HIỆN
DÂN CHỦ CƠ SỞ THÀNH PHỐ TUY HÕA, TỈNH PHÖ YÊN 63
2.2.1 Quá trình triển khai thực hiện Quy chế dân chủ và Pháp lệnh
dân chủ cơ sở ở thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên 63
2.2.2 Những thành tựu trong thực hiện dân chủ cơ sở ở thành phố
Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên 67
2.2.3 Những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân và những vấn đề đặt ra
trong thực hiện dân chủ cơ sở ở thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên 82
Tiểu kết chương 2 92
Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY DÂN CHỦ CƠ SỞ Ở
THÀNH PHỐ TUY HÕA, TỈNH PHÖ YÊN 94
3.1 QUAN ĐIỂM ĐỊNH HƯỚNG TRONG THỰC HIỆN DÂN CHỦ
CƠ SỞ Ở THÀNH PHỐ TUY HÕA, TỈNH PHÖ YÊN 94
Trang 53.1.2 Phát huy dân chủ cơ sở ở thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên
phải gắn chặt chẽ với các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, củng cố
quốc phòng an ninh của địa phương 96
3.1.3 Phát huy dân chủ cơ sở ở thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên phải gắn với cuộc đấu tranh phòng, chống quan liêu tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của người dân cơ sở 98
3.2 MỘT SỐ NHÓM GIẢI PHÁP TIẾP TỤC PHÁT HUY DÂN CHỦ Ở THÀNH PHỐ TUY HÕA, TỈNH PHÖ YÊN 99
3.2.1 Nhóm giải pháp nâng cao nhận thức của các chủ thể về vai trò, nội dung, phương pháp và hình thức thực hiện Quy chế dân chủ và Pháp lệnh dân chủ ở cơ sở 99
3.2.2 Nhóm giải pháp về phát huy vai trò của hệ thống chính trị trong thực hiện Quy chế dân chủ và Pháp lệnh dân chủ cơ sở ở thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên 103
3.2.3 Nhóm giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở có trình độ năng lực, có phẩm chất đạo đức cách mạng, quán triệt phương châm “Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” trong việc thực hiện dân chủ ở cơ sở 109
3.2.4 Nhóm giải pháp tập trung phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, góp phần tăng cường hiệu quả thực hiện Quy chế dân chủ và Pháp lệnh dân chủ cơ sở ở thành phố Tuy Hòa, tỉnh
Phú Yên 112
3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 117
3.3.1 Đối với Trung ương 117
Trang 6KẾT LUẬN 121 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 124 PHỤ LỤC
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)
Trang 7HĐND : Hội đồng nhân dân
Trang 8Biểu đồ 2.2 Một số tiêu chuẩn xây dựng đời sống văn hóa ở thành phố Tuy Hòa.80 Biểu đồ 2.3 Giá trị sản xuất bình quân theo khu vực năm 2020 81 Hình 2.1 Bản đồ hành chính các phường tại thành phố Tuy Hòa 59
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) Xây dựng nền dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ thực sự thuộc về nhân dân là một trong những nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của cách mạng Việt Nam Trong giai đoạn hiện nay, phát huy dân chủ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong phát triển nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mở rộng hội nhập quốc tế, phát triển bền vững, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Trên tinh thần đó, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Thực hiện đúng đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở Thực hiện tốt phương châm
“Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” [16, tr.173]
Dân chủ cơ sở là một bước tiến mới trong nhận thức lý luận dân chủ và dân chủ hóa ở nước ta Quy chế dân chủ cơ sở ra đời là một quyết định được lòng dân và hợp với xu thế phát triển của dân chủ, vừa tăng cường chất lượng, hiệu quả của dân chủ đại diện, vừa mở rộng và đề cao vai trò của dân chủ trực
tiếp để đảm bảo quyền làm chủ trên thực tế của người dân Phát huy dân chủ ở
cơ sở là bước tiến mở rộng dân chủ trực tiếp, nâng cao chất lượng dân chủ đại
diện, đưa phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” vào cuộc sống ở cơ sở Xây dựng và thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở đã góp phần tích cực thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giữ vững an ninh, trật tự
ở cơ sở; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng; năng lực quản lý, điều hành của các cơ quan nhà nước và trách nhiệm đội ngũ
Trang 10cán bộ, công chức; vai trò, uy tín của Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam, các đoàn thể nhân dân
Thành phố Tuy Hòa là trung tâm chính trị, kinh tế, du lịch, văn hóa và khoa học kỹ thuật của tỉnh Phú Yên, là một trong những đầu mối giao thông quan trọng của Miền Trung và Tây Nguyên Trong những năm qua nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng và ý nghĩa của việc phát huy dân chủ cơ sở, cùng với nhân dân cả nước, các cấp bộ Đảng và chính quyền tỉnh Phú Yên nói chung, thành phố Tuy Hòa nói riêng đã triển khai thực hiện Quy chế dân chủ
ở cơ sở; tạo mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, chính quyền với nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch vững mạnh; phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo; xây dựng nông thôn mới, xây dựng đô thị văn minh… Thực hiện công khai các nội dung để dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, và dân giám sát, kịp thời phát hiện và ngăn chặn những biểu hiện tiêu cực, vi phạm dân chủ của từng cơ quan, đơn vị; quyền làm chủ của nhân dân được phát huy; tạo động lực thúc đẩy thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội, củng cố quốc phòng- an ninh, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, phát huy dân chủ cơ sở ở thành phố Tuy Hòa cũng còn những hạn chế, yếu kém; có lúc, có nơi còn tình trạng vi phạm dân chủ, gây bức xúc, khiếu kiện đông người, vượt cấp, nhưng giải quyết chưa triệt để, nhất là trong thực hiện các chính sách pháp luật
“Việc phát huy dân chủ cơ sở còn mặt hạn chế, tư tưởng còn nặng nề về quyền lợi cá nhân, tách rời quyền lợi của cộng đồng, chưa gắn giữa quyền lợi
và nghĩa vụ, cá biệt có một số người lợi dụng dân chủ có hành vi vi phạm pháp luật” [1].Vì vậy, việc phân tích, đánh giá thực trạng phát huy dân chủ cơ
sở trên địa bàn thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, đề xuất các giải pháp, kiến nghị góp phần phát huy dân chủ cơ sở đang được đặt ra hết sức cấp thiết Với
các lý do trên, tác giả đã chọn nghiên cứu đề tài “Phát huy dân chủ cơ sở ở
Trang 11thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ, chuyên
ngành Chính trị học
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Dân chủ và phát huy dân chủ cơ sở là vấn đề luôn thu hút sự quan tâm của nhiều tác giả Những năm gần đây đã có nhiều công trình, đề tài khoa học, luận văn, bài viết của nhiều tác giả, nghiên cứu, khai thác dưới nhiều góc độ khác nhau Có thể khái quát thành những nhóm tiêu biểu sau:
Thứ nhất, các công trình, bài viết về dân chủ và dân chủ XHCN ở Việt Nam
Đề tài cấp nhà nước “Vấn đề phát huy dân chủ trong điều kiện một
đảng lãnh đạo:Thực trạng vấn đề đặt ra và giải pháp” của PGS.TS Bùi
Nguyên Khánh, Mã số: KX.04.07/16-20 đã phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát huy dân chủ trong điều kiện một Đảng lãnh đạo xây dựng Nhà nước pháp quyền, phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay Trên cơ sở đó, luận chứng và cung cấp các
cơ sở khoa học cho việc xây dựng các văn kiện đại hội XIII của Đảng cộng sản Việt Nam
Luận án Tiến sĩ, “Hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở
Việt Nam hiện nay”, Mã số: 62 38 01 01, 2016 của Nguyễn Tiến Thành Tác
giả đã đánh giá thực trạng cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ ở cơ sở, xác định nguyên nhân của ưu điểm, hạn chế và đề ra các giải pháp tiếp tục hoàn thiện
cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam trong giai đoạn tới
Luận văn Thạc sĩ Triết học, “Quan điểm của V.I.Lênin về dân chủ với
việc thực hiện dân chủ ở Việt Nam”, tác giả Nguyễn Văn Một, Mã số: 60 22
03 01, 2017 Trên cơ sở hệ thống các nội dung dân chủ theo tư tưởng của V.I.Lênin, tác giả đề xuất các giải pháp vận dụng tư tưởng của V.I.Lênin trong phát huy dân chủ ở Việt Nam trong hiện nay
Bài viết của PGS.TS Mai Hải Oanh “Phát huy dân chủ xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam hiện nay”đăng trên tạp chí Cộng sản điện tử ngày 21/8/2020
Trang 12Tác giả đã khái quát quan niệm chung về dân chủ, nêu ra nội dung cơ bản của dân chủ XHCN đồng thời khẳng định thực hiện dân chủ là yêu cầu nhất quán của Đảng cộng sản Việt Nam, phát huy quyền dân chủ của nhân dân là mục tiêu, động lực của sự phát triển đất nước
Bài viết “Một số giải pháp phát huy dân chủ cơ sở”, đăng trên Tạp chí
Tổ chức Nhà nước ngày 29/09/2017 của TS Lưu Ngọc Tố Tâm - Học viện Báo chí và Tuyên truyền Trên cơ sở nêu ra những tồn tại, hạn chế của tình hình thực hiện dân chủ cơ sở, tác giả đưa ra một số kiến nghị và giải pháp nhằm phát huy dân chủ cơ sở hiện nay
TS Nguyễn Đình Quyền với bài viết “Những vấn đề lý luận và thực
tiễn về dân chủ, dân chủ ở xã, phường, thị trấn và đơn vị sự nghiệp công lập”, đăng trên cổng thông tin điện tử, Sở nội vụ Bắc Giang, ngày
02/10/2019 Bài viết khái quát một số vấn đề lý luận và thực tiễn về dân chủ,
về dân chủ ở xã, phường, thị trấn và trong đơn vị sự nghiệp công lập cả về kết quả đạt được cũng như những hạn chế, bất cập trong thời gian qua Từ đó khẳng định việc tiếp tục nghiên cứu lý luận và thực tiễn để xây dựng, ban hành Luật thực hiện dân chủ ở cơ sở là một yêu cầu khách quan nhằm thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát huy dân chủ XHCN
và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam
Tác giả Ngô Văn Sỹ với bài “Nhìn lại hơn 20 năm thực hiện quy chế
dân chủ ở cơ sở”, bài viết đăng trên Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày
10/02/2021, Học viện chính trị, Bộ Quốc Phòng Tác giả đã nêu lên bối cảnh
ban hành Chỉ thị số 30-CT/TW, “Về xây dựng và thực hiện Quy chế Dân chủ
ở cơ sở” và nêu lên một số kết quả thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở, nguyên
nhân yếu kém, khuyết điểm cần khắc phục, đồng thời đưa ra một số nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới để phát huy dân chủ cơ sở
Thứ hai, các công trình, bài viết về dân chủ và dân chủ cơ sở tại các
tỉnh, thành ở Việt Nam
Trang 13Tác giả Nguyễn Văn Vương, Thực hiện pháp lệnh dân chủ xã phường,
thị trấn trong xây dựng nông thôn mới khu vực Tây Nguyên hiện nay (2020),
Luận án Tiến sĩ chuyên ngành CNXH khoa học Trên cơ sở phân tích làm rõ một số vấn đề lý luận, thực tiễn, thực hiện pháp lệnh dân chủ ở xã, phường, thị trấn trong xây dựng nông thôn mới khu vực Tây Nguyên, luận án đề xuất các quan điểm và giải pháp tăng cường hiệu quả triển khai thực hiện pháp lệnh dân chủ ở xã, phường, thị trấn trong xây dựng nông thôn mới khu vực Tây nguyên giai đoạn 2020 - 2025
Luận văn Thạc sĩ Triết học, “Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trên
địa bàn tỉnh Ninh Bình hiện nay”(2010) của Dương Thị Khánh Ly Tác giả
khảo sát, phân tích một số vấn đề về thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở trên địa bàn tình Ninh Bình hiện nay; đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Ninh Bình trong những năm tới
Tác giả Trần Thanh Ca, “Thực hiện quy chế dân chủ cơ sở của phường
Bình Thọ, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh” (2018), Luận văn Thạc
sĩ Chính trị học Đề tài phân tích, khái quát một số vấn đề lý luận của việc thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở, thực trạng việc thực hiện Quy chế dân chủ
ở cơ sở của phường Bình Thọ, quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh Từ đó,
đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện Quy chế dân chủ
ở cơ sở tại phường Bình Thọ, quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả Phan Thanh Đoài với bài viết Nghệ An thực hiện "Phát huy
dân chủ đối với nhân dân hơn nữa" theo tinh thần Bức thư Bác Hồ gửi Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Nghệ An ngày 21/7/1969 [39] Tác giả đã ca ngợi
những nỗ lực và phấn đấu của Đảng bộ và nhân dân dân tỉnh Nghệ An đã đoàn kết, ra sức thi đua, nỗ lực phấn đấu để xây dựng và phát triển, từng bước trở thành trung tâm kinh tế, văn hóa của vùng Bắc Trung bộ, tạo nên bức tranh nhiều màu sắc trên quê hương, đất nước chúng ta Bên cạnh đó bài
Trang 14viết còn đưa ra một số nhiệm vụ, giải pháp nhằm phát huy tốt dân chủ sẽ khơi dậy được sức mạnh tiềm tàng và vô tận trong nhân dân
Bài viết “Một số giải pháp thực hiện Quy chế dân chủ ở xã, phường,
thị trấn trên địa bàn tỉnh Quảng Trị” của tác giả Lê Yên [40] Bài viết không
chỉ tổng kết những thành tựu, hạn chế sau 5 năm triển khai và thực hiện Kết
luận số 120-KL/TW, ngày 07/01/2016 của Bộ Chính trị khóa XI “Về tiếp tục
đẩy mạnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả việc xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở” tại tỉnh Quảng Trị mà còn nêu lên những giải pháp cần có
để giải quyết những vướng mắc trong việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở
xã, phường, thị trấn trong thời gian tới
Thứ ba, các công trình nghiên cứu, bài viết về dân chủ và dân chủ cơ sở
ở tỉnh Phú Yên
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
của Lê Chăm Thư, “Thực hiện dân chủ ở xã, thị trấn của huyện Sơn Hòa,
tỉnh Phú Yên” (2017) Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận và pháp
luật về dân chủ ở xã, thị trấn; tác giả đã phân tích thực trạng thực hiện dân chủ cơ sở ở huyện Sơn Hòa, đề xuất các định hướng, giải pháp tăng cường dân chủ ở xã, thị trấn huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên
Tác giả Châu Thị Hiếu, “Xây dựng hệ thống chính trị nhằm phát huy
dân chủ ở huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên giai đoạn hiện nay”(2011), Khóa
luận tốt nghiệp chuyên ngành Giáo dục chính trị Từ việc hệ thống những vấn
đề lý luận chung về hệ thống chính trị (HTCT) và HTCT cơ sở ở huyện Đông Hòa; tác giả đã phân tích tổ chức hoạt động của HTCT cơ sở ở huyện Đông Hòa, chỉ ra nguyên nhân và nêu ra những phương hướng, giải pháp nhằm xây
dựng HTCT cơ sở ở huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên
Bài viết,“Đảng bộ huyện Sông Hinh phát huy dân chủ cơ sở” của Văn
Thùy [41] Tác giả khẳng định nhờ sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của toàn Đảng bộ, quy chế dân chủ ở cơ sở theo tinh thần Chỉ thị 30-CT/TW ngày
Trang 1518/2/1998 của Bộ Chính trị, trên địa bàn huyện Sông Hinh đã đi vào cuộc sống Qua đó, nhân dân được tôn trọng, đề cao, niềm tin giữa dân với Đảng, chính quyền ngày càng được củng cố
Bài viết “Thực hiện dân chủ cơ sở: Trọng dân, gần dân, lắng nghe dân”
[43] Bài viết đã thể hiện nội dung dân chủ trong sinh hoạt Đảng, trong quản lý, điều hành của bộ máy nhà nước các cấp không ngừng được phát huy Không khí dân chủ trong xã hội, sinh hoạt cộng đồng dân cư được mở rộng, góp phần hoàn thành các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, xây dựng HTCT ở cơ sở ngày càng trong sạch, vững
mạnh, tạo được sức lan tỏa trong đối thoại với nhân dân
Các công trình, bài viết nêu trên đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau
về dân chủ và thực hiện dân chủ ở cơ sở ở từng cơ quan, đơn vị, ngành, lĩnh vực Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu thực trạng phát huy dân chủ cơ sở ở thành phố Tuy Hòa giai đoạn hiện nay Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc các công trình, bài viết nêu trên, tác giả triển khai nghiên cứu đề tài
“Phát huy dân chủ cơ sở ở thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên”
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích đề tài nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng phát huy dân chủ
cơ sở ở thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên Từ đó đề xuất một số giải pháp, kiến nghị để nâng cao hiệu quả thực hiện dân chủ cơ sở ở thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được các mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ của đề tài được đặt ra là:
Thứ nhất, hệ thống hóa những vấn đề chung về dân chủ và nền dân chủ XHCN
Thứ hai, phân tích những thành tựu và hạn chế, nguyên nhân và những
Trang 16vấn đề đặt ra trong phát huy dân chủ cơ sở ở thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên
Thứ ba, đề xuất một số định hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phát huy dân chủ cơ sở ở thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực trạng thực hiện dân chủ cơ sở trên địa bàn thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Đề tài nghiên cứu thực trạng phát huy dân chủ cơ sở ở thành phố Tuy Hòa trên cơ sở số liệu thu thập được ở một số phường, xã của thành phố Tuy Hòa và một số huyện trên địa bàn tỉnh Phú Yên
- Về thời gian: Các số liệu được sử dụng để phân tích, đánh giá trong giai đoạn 2016 - 2021 Các định hướng, giải pháp được đề ra cho giai đoạn 2021- 2026 và tầm nhìn 2030
- Về nội dung: Trong khuôn khổ một luận văn tốt nghiệp, tác giả không
đi sâu nghiên cứu tất cả các nội dung về dân chủ mà trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về dân chủ và dân chủ cơ sở, tác giả tập trung làm rõ thực trạng phát huy dân chủ cơ sở ở thành phố Tuy Hòa với các nội
dung “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ
hưởng” Từ đó nêu lên định hướng, giải pháp để phát huy dân chủ cơ sở ở
thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên giai đoạn hiện nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Trang 17Uỷ ban nhân dân tỉnh Phú Yên về việc triển khai thực hiện quy chế, pháp lệnh dân chủ ở cơ sở, các báo cáo, đánh giá của Ban chỉ đạo Thành uỷ, Ủy ban Mặt trận thành phố Tuy Hòa…
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như, phân tích, tổng hợp, so sánh, kết hợp lịch sử với logic, khái
quát hóa, trừu tượng hóa, thống kê, sơ đồ hóa, kết hợp lý luận với thực tiễn
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về dân chủ và phát
huy dân chủ cơ sở ở Việt Nam Phân tích những thành tựu và hạn chế, nguyên
nhân và những vấn đề đặt ra trong phát huy dân chủ cơ sở ở thành phố Tuy
Hòa, tỉnh Phú Yên Đề xuất một số phương hướng, giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả phát huy dân chủ cơ sở ở thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên 6.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Nếu bảo vệ thành công, luận văn là một đề tài tham khảo cho Đảng
ủy, chính quyền địa phương trong việc nghiên cứu, hoàn thiện các chủ trương,
chính sách liên quan đến thực hiện dân chủ cơ sở ở thành phố Tuy Hòa
- Luận văn góp phần gợi mở cho việc học tập, nghiên cứu sâu hơn các
vấn đề liên quan đến dân chủ và phát huy dân chủ cơ sở ở Việt Nam
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo và
phụ lục, luận văn được kết cấu thành 03 chương, 6 tiết
Chương 1 Lý luận chung về dân chủ và phát huy dân chủ cơ sở
Chương 2 Thực trạng thực hiện dân chủ cơ sở ở thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên
Chương 3 Quan điểm và giải pháp phát huy dân chủ cơ sở ở thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên
Trang 181.1.1 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về dân chủ và dân chủ xã hội chủ nghĩa
1.1.1.1 Sự ra đời và phát triển của dân chủ
Phạm trù “dân chủ” có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp gồm “demos” (nhân dân) và “kratos” (quyền lực, chính quyền), kết hợp thành “demoskratos” nghĩa là quyền lực của nhân dân, chính quyền của nhân dân Dân chủ có nghĩa là nhân dân làm chủ mọi quyền lực xã hội Đó là mơ ước từ xưa của nhân loại và được các nhà tư tưởng tiến bộ nêu ra từ rất sớm trong lịch sử Trải qua các chế độ xã hội khác nhau, nhưng dân chủ vẫn luôn là một nhu cầu khách quan, là khát vọng của nhân dân các nước, “dân chủ là một giá trị xã hội mang tính toàn nhân loại” [25] Qua mỗi thời đại, mỗi hình thái kinh tế -
xã hội, khái niệm “dân chủ” ngày càng được triển khai phong phú hơn từ chiều rộng, chiều sâu đến quy mô, liên quan đến nhận thức, hành vi con người, các cộng đồng xã hội và hoạt động của nhà nước Ở mỗi thời đại, dân chủ mang những đặc trưng về hình thức, nội dung, bản chất của thời đại đó
Từ hàng ngàn năm trước Công nguyên, con người đã biết hợp lực để sản xuất, chống thiên tai, thú dữ và đã tổ chức ra những hoạt động chung mang tính xã hội, trong đó có việc cử ra những người đứng đầu để thực thi những quy định, điều hành hoạt động chung Đồng thời, cộng đồng sẽ phế bỏ những người đó, nếu họ không thực hiện những quy định chung theo lợi ích
Trang 19và ý nguyện của mọi người Đây là một trong những quyền vốn có đương nhiên của mọi thành viên trong cộng đồng Quyền lực ấy là ngang nhau đối với mọi thành viên trong thị tộc, bộ lạc
Ngay từ xã hội cộng sản nguyên thủy, con người đã biết sống gắn bó với nhau thành cộng đồng để tồn tại và phát triển Họ biết sử dụng sức mạnh của cộng đồng để thực hiện quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc Một hình thức manh nha của dân chủ đã xuất hiện mà Ăngghen gọi là “dân chủ quân sự” hay “dân chủ nguyên thủy” Thông qua Đại hội nhân dân, nhân dân đã bầu ra Hội đồng thị tộc và Thủ lĩnh quân sự, đồng thời quyết định những vấn đề quan trọng của thị tộc Trong hì nh t h ức “dân chủ quân sự", quyền lực của nhân dân "thiêng liêng và bất khả xâm phạm, đều là một quyền lực tối cao do tự nhiên ban cho quyền lực mà mỗi người phải phục tùng một cách vô điều kiện, trong tình cảm, tư tưởng, và hành động của mình" [9, tr 149-150] Sự phát triển của lực lượng sản xuất dẫn tới sự ra đời của chế độ tư hữu, xã hội chiếm hữu nô lệ ra đời thay thế cho xã hội công
xã nguyên thủy, xuất hiện sự phân chia thành hai giai cấp đối lập là chủ nô và
nô lệ Quyền lực công cộng được tổ chức thành nhà nước do giai cấp chủ nô chi phối, nắm giữ Hình thức “dân chủ nguyên thủy” tan rã, nền dân chủ chủ
nô ra đời Đặc trưng của nền dân chủ chủ nô là dân tham gia bầu ra nhà nước Tuy nhiên, giai cấp chủ nô quy định: “Dân” chỉ gồm giai cấp chủ nô và phần nào thuộc về các công dân tự do là tăng lữ, thương gia và một số trí thức Đa
số còn lại không phải “dân” mà là “nô lệ”, họ không được tham gia vào việc bầu ra nhà nước Như vậy, nghịch lý lớn nhất của chế độ dân chủ trong xã hội chiếm hữu nô lệ là lực lượng sản xuất lớn nhất, tạo ra của cải cho xã hội - giai cấp nô lệ - lại chỉ được coi là “công cụ sản xuất biết nói”, không có bất kỳ một quyền lợi chính trị nào
Chuyển sang xã hội phong kiến, nông dân, nông nô có quyền “tự do” nhưng chỉ là thần dân, là bầy tôi của các ông vua – có nghĩa là công cụ,
Trang 20phương tiện của người cầm quyền Quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước nằm trong tay chúa đất và nhà thờ (thế quyền và thần quyền) Với các hình thức tổ chức quyền lực của nhà nước, giai cấp phong kiến đã thủ tiêu những tiến bộ của nền dân chủ chủ nô trước đó, thiết lập nhà nước quân chủ của giai cấp mình
Dân chủ tư sản ra đời cùng với thắng lợi của các cuộc cách mạng tư sản ở các nước châu Âu Sự xuất hiện của nền dân chủ tư sản gắn liền với sự hình thành của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Đặc trưng cơ bản của nền dân chủ tư sản là xác lập nhà nước pháp quyền và xã hội công dân, dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất chủ yếu So với chế độ quân chủ phong kiến, dân chủ tư sản ra đời là một bước tiến lớn của nhân loại V.I Lênin khẳng định: Cộng hoà tư sản, nghị viện, phổ thông đầu phiếu đó là sự tiến bộ lớn lao xét từ quan điểm phát triển xã hội trên phạm vi toàn cầu Tuy nhiên, để bảo về quyền thống trị về chính trị, kinh tế, giai cấp tư sản đã thẳng tay sử dụng chuyên chính đàn áp các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân, nhân dân lao động Trong nền dân chủ tư sản, dân chủ không phải là mục tiêu
mà giai cấp tư sản theo đuổi với ý nghĩa là đem lại tự do, bình đẳng, công bằng, quyền làm chủ thật sự cho nhân dân lao động, mà chủ yếu là một phương thức, phương tiện để duy trì, quản lý xã hội tư sản, bảo vệ quyền lợi, quyền lực thống trị của giai cấp tư sản Ph Ăngghen cho rằng: Nền dân chủ
tư sản chỉ là nền dân chủ dành cho thiểu số bóc lột, tức là giai cấp tư sản dựa trên sự tước đoạt tự do của công nhân và nhân dân lao động
V.I Lênin cũng đã nhận xét: “Ngay trong giai đoạn phát triển nhất của nền cộng hòa dân chủ tư sản thì chế độ dân chủ ấy vẫn bị giới hạn trong khuôn khổ chật hẹp của sự bóc lột tư sản, thực ra, nó chỉ là chế độ dân chủ đối với thiểu số mà thôi” [34, tr.106-107]
Trong xã hội tư bản mâu thuẫn giữa tính chất giai cấp của giai cấp
tư sản cầm quyền với tính nhân dân (tính vô sản) của dân chủ càng trở nên
Trang 21gay gắt Đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến cách mạng vô sản để giải quyết mâu thuẫn trên bằng việc thiết lập chế độ dân chủ XHCN
Thắng lợi chính trị của Cách mạng Tháng Mười Nga (1917) và các cuộc cách mạng XHCN khác đã đưa giai cấp công nhân và nhân dân lao động
từ địa vị những người nô lệ bị bóc lột và áp bức lên địa vị những người chủ của xã hội Chính quyền đã thuộc về tay của giai cấp công nhân với tư cách là nhà nước kiểu mới, là bộ máy quản lý và điều hành mọi hoạt động của xã hội
để thực hiện quyền làm chủ của những người lao động đã được giải phóng Đặc trưng cơ bản của nền dân chủ XHCN là thực hiện quyền lực của nhân dân, tức là xây dựng nhà nước dân chủ thực sự, dân làm chủ nhà nước và xã hội, bảo vệ quyền lợi cho đại đa số nhân dân
Dân chủ XHCN là nền dân chủ cao hơn về chất so với nền dân chủ có trong lịch sử nhân loại, là nền dân chủ mà ở đó, mọi quyền lực thuộc về nhân dân, dân là chủ và dân làm chủ, dân chủ và pháp luật nằm trong sự thống nhất biện chứng, được thực hiện bằng nhà nước pháp quyền XHCN , dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản
Từ cách tiếp cận như trên, có thể hiểu dân chủ là một giá trị xã hội
phản ánh những quyền cơ bản của con người; là một hình thức tổ chức nhà nước của giai cấp cầm quyền; có quá trình ra đời, phát triển cùng với lịch sử
xã hội nhân loại Với tư cách là một nhà nước, một chế độ chính trị, trong lịch
sử có 3 chế độ (nền) dân chủ: nền dân chủ chủ nô gắn với chế độ chiếm hữu
nô lệ; nền dân chủ tư sản gắn với chế độ tư bản chủ nghĩa; nền dân chủ XHCN gắn với chế độ XHCN “Dân chủ có nghĩa là mọi quyền hạn thuộc về nhân dân Dân phải thực sự là chủ thể của xã hội và hơn nữa, dân phải được làm chủ một cách toàn diện: Làm chủ năng lực sáng tạo của mình với tư cách chủ thể đích thực của xã hội Mặt khác dân chủ phải bao quát tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, từ dân chủ trong kinh tế, dân chủ trong chính trị đến dân chủ trong xã hội và dân chủ trong đời sống văn hóa - tinh thần, tư tưởng, trong đó
Trang 22hai lĩnh vực quan trọng hàng đầu và nổi bật nhất là dân chủ trong kinh tế và dân chủ trong chính trị” [5, tr 69]
Ở Việt Nam, sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - Nhà nước công - nông đầu tiên ở Đông Nam
Á được thiết lập Nhân dân ta từ địa vị nô lệ làm thuê đã trở thành người chủ của đất nước Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, miền Bắc đi lên CNXH, nhân dân miền Bắc đã trở thành chủ thể của mọi quyền lực Năm 1975 đất nước hoàn toàn thống nhất, nhân dân cả nước ta trở thành người chủ của mọi quyền lực trong đó có quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước, HTCT XHCN được thiết lập trên phạm vi cả nước Từ đó đến nay nền dân chủ XHCN đã và đang được xây dựng phát huy vai trò ngày càng to lớn, góp phần quan trọng vào
sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước
Dân chủ với tư cách là khát vọng, là quyền của con người, trong đó có quyền sử dụng tất cả sức mạnh để thực hiện vai trò của người chủ và quyền làm chủ đã lần lượt được nhiều giai cấp thống trị trong lịch sử nhận thức
và thể chế hóa thành nguyên tắc tổ chức và vận hành của Nhà nước cùng các thiết chế chính trị khác nhau Tuy nhiên, trong các chế độ dân chủ đã từng tồn tại cho đến nay thì chỉ có chế độ dân chủ vô sản - dân chủ XHCN mới thực sự là chế độ dân chủ của đa số nhân dân trong xã hội, là chế độ dân chủ của dân, do dân và vì dân
1.1.1.2 Quan điểm của C Mác và Ph Ăngghen về dân chủ
C Mác và Ph Ăngghen đã có quá trình nghiên cứu lý luận và hoạt động thực tiễn sôi nổi để xây dựng chính đảng độc lập của giai cấp công nhân Trong quá trình đó hai ông đã để lại những tư tưởng sâu sắc, khá toàn diện về dân chủ
Trước hết, C Mác và Ph Ăngghen đã chỉ ra bản chất của dân chủ với tính chất là một chế độ nhà nước, trong đó nhân dân giữ vai trò trung tâm Nhân dân là cơ sở quyết định, là lý do tồn tại của chế độ nhà nước dân chủ
Trang 23Chế độ dân chủ là chế độ nhà nước của nhân dân Đồng thời, C Mác và Ph Ăngghen vạch trần, phê phán những chế độ nhà nước phi dân chủ và mạo danh dân chủ mà ở đó, dân chủ chỉ như một thứ màu mè che đậy bản chất bên trong là chuyên chế, không đại diện cho quyền lực nào của nhân dân Trong tác phẩm “Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hê-ghen” (1843), C Mác đã so sánh và chỉ ra sự khác biệt về bản chất giữa chế độ dân chủ với chế
độ quân chủ Ông cho rằng, chế độ quân chủ là một chế độ nhà nước không phản ánh các giá trị dân chủ, thậm chí còn xuyên tạc các giá trị dân chủ, phản dân chủ Đó cũng chính là sự phê phán trực diện chế độ nhà nước phong kiến đương thời, khi mà tôn giáo được coi là nền tảng tinh thần của chế độ chính trị Đương nhiên, điều khẳng định ở đây là, chế độ dân chủ không thể chấp nhận những nguyên tắc thống trị xã hội trên cơ sở quyền lực của cá nhân nhà vua hay quyền lực đại diện cho một thiểu số người giàu, cho dù được che chở bởi bất cứ thế lực hay sức mạnh thần quyền nào, mà bất chấp tự do và quyền lực của nhân dân Trong chế độ quân chủ thì “nhân dân của chế độ nhà nước”, còn trong chế độ dân chủ thì “chế độ nhà nước của nhân dân” Đó là sự đối nghịch về bản chất C Mác nhấn mạnh, chế độ dân chủ xuất phát từ con người và biến nhà nước thành con người được khách thể hóa Cũng giống như tôn giáo không tạo ra con người mà con người tạo ra tôn giáo, ở đây cũng vậy, không phải chế độ nhà nước tạo ra nhân dân mà nhân dân tạo ra chế độ nhà nước Nói cách khác, chính con người, chính nhân dân là chủ thể tạo ra chế độ nhà nước dân chủ theo ý chí, nguyện vọng và quyền tự do của mình,
và do đó, nhà nước dân chủ chỉ là biểu hiện ý chí của nhân dân, thể hiện quyền tự do của đại đa số nhân dân
Từ nhận thức rõ ràng về vai trò quyết định, chi phối của nhân dân đối với nhà nước trong chế độ dân chủ, C Mác và Ph Ăngghen giải thích cụ thể hơn sự khác nhau về quan hệ giữa con người và pháp luật trong chế độ dân chủ và trong các chế độ khác (phi dân chủ), rằng: “Dưới chế độ dân chủ,
Trang 24không phải con người tồn tại vì luật pháp, mà luật pháp tồn tại vì con người , trong khi đó thì dưới những hình thức khác của chế độ nhà nước, con người lại là tồn tại được quy định bởi luật pháp” [7, tr.350] Có thể nói, trong tư tưởng của C Mác và Ph Ăng-ghen về dân chủ, nhân dân là hòn đá thử vàng,
là tiêu chí quyết định tính chất dân chủ của chế độ nhà nước Do đó, “ chế
độ nhà nước, một khi không còn là biểu hiện thật sự của ý chí của nhân dân nữa thì trở thành một cái hữu danh vô thực” [7, tr 394]
Thứ hai, trong tư tưởng của C Mác và Ph Ăngghen về dân chủ, sự tham gia chính trị của nhân dân là yếu tố cốt lõi, quyết định đối với vai trò làm chủ của nhân dân trong chế độ nhà nước dân chủ Sự tham gia chính trị của nhân dân không chỉ nằm trong chức năng của đại biểu hay đại diện mà còn là ở quyền bầu
cử chính trị Vì thế, bầu cử liên quan trực tiếp đến mối quan hệ giữa xã hội công dân với chế độ chính trị, với tính chất của chế độ nhà nước dân chủ
Trong tác phẩm “Góp phần phê phán triết học pháp quyền của ghen”, C Mác nhấn mạnh đến vai trò đặc biệt của bầu cử chính trị - một dạng
Hê-cơ bản của hình thức dân chủ trực tiếp Ông cho rằng, “bầu cử là quan hệ thực
sự của xã hội công dân thực sự, với xã hội công dân của quyền lập pháp, với yếu tố đại biểu Nói cách khác, bầu cử là quan hệ trực tiếp, thẳng, không phải chỉ có tính chất đại biểu, mà đang thực tế tồn tại, của xã hội công dân với nhà nước chính trị Vì vậy, hiển nhiên là bầu cử cấu thành lợi ích chính trị quan trọng nhất của xã hội công dân thực sự” [7, tr 496] Như vậy, khi quyền bầu
cử chính trị được thực thi đầy đủ thì cả người dân đi bầu và đại diện được bầu
ra đều thể hiện thực chất nguyên tắc dân chủ chân chính Kết quả ấy cũng đồng thời xóa đi sự đối lập giữa “tồn tại công dân” với “tồn tại chính trị”, làm cho hai mặt đó trở nên thống nhất trong một chế độ dân chủ, chế độ mà thể chế chính trị là của nhân dân, do nhân dân quyết định và phục vụ cho lợi ích, cho quyền của nhân dân
Thứ ba, C Mác và Ph Ăngghen giải thích về dân chủ dựa trên cơ sở
Trang 25quy luật vận động, phát triển của xã hội, trong đó kinh tế là một yếu tố quan trọng Đây là quan điểm nhất quán, xuất phát từ lập trường duy vật lịch sử, theo C Mác, dân chủ luôn gắn liền với sự vận động, phát triển của lịch sử loài người, nó là sản phẩm phản ánh tính chất các mối quan hệ xã hội của con người mà quan trọng nhất là mối quan hệ về kinh tế C Mác cho rằng, nền dân chủ tư sản chỉ là nền dân chủ dành cho thiểu số bóc lột, tức là giai cấp tư sản dựa trên sự tước đoạt tự do của công nhân và nhân dân lao động Những chiêu bài, như “sản phẩm lao động toàn vẹn”, “nhà nước tự do”, “vai trò cách mạng duy nhất của giai cấp vô sản” …, chỉ là “một mớ” những lý luận bao che cho chế độ nhà nước bóc lột của giai cấp tư sản Một nền dân chủ chân chính phải là nền dân chủ của đa số nhân dân lao động, do đa số nhân dân làm chủ quyền lực trong xã hội Yêu cầu ấy không thể thực hiện được trong xã hội
tư bản chủ nghĩa Vấn đề mấu chốt ở đây là chỉ khi nào có một xã hội mới ra đời, lực lượng sản xuất phát triển đến mức độ xã hội hóa cao cùng với một quan hệ sản xuất tiến bộ mở đường cho sự phát triển kinh tế - xã hội và giải phóng con người khỏi bóc lột mới có thể mang lại một nền dân chủ chân chính thực sự Xã hội mới ấy là xã hội cộng sản chủ nghĩa, như C.Mác và Ph.Ăng-ghen viết trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” (1845): “Trong khuôn khổ của xã hội cộng sản chủ nghĩa, cái xã hội duy nhất mà trong đó sự phát triển độc đáo và tự do của các cá nhân không còn là lời nói suông - sự phát triển ấy chính là do mối liên hệ giữa những cá nhân quyết định, mối liên hệ được biểu hiện một phần trong những tiền đề kinh tế, một phần trong sự cố kết tất yếu của sự phát triển tự do của tất cả mọi người, và cuối cùng trong tính chất phổ biến của hoạt động của các cá nhân trên cơ sở lực lượng sản xuất hiện có” [8, tr 644] Xã hội ấy cũng chính là: “ một liên hợp, trong đó
sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất
cả mọi người” như C Mác và Ph Ăng-ghen đã viết trong tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” (1848) [8, tr 628]
Trang 26Thứ tư, trong tư tưởng về dân chủ, C Mác và Ph Ăngghen kế thừa có chọn lọc những hạt nhân hợp lý và những giá trị nhân văn trong quan niệm về dân chủ của nhiều nhà triết học trước đó, nhất là A-ri-xtốt và Hê-ghen Mặc
dù phê phán những quan niệm sai lầm của Hê-ghen về chế độ nhà nước quân chủ chuyên chế, trong đó quyền của nhà vua “dựa trên quyền uy thần linh”,
về tính tất yếu của đẳng cấp xã hội, về sự thần bí hóa và coi quy luật giá trị của xã hội tư sản là “ánh hào quang của lý tính” , C Mác lại đánh giá cao và
kế thừa từ Hê-ghen nhiều tư tưởng quan trọng, trong đó có những tư tưởng về dân chủ Đặc biệt, C Mác đồng tình với tư tưởng của Hê-ghen về sự công bằng trong xã hội công dân, đánh giá cao việc Hê-ghen đưa ra cơ sở triết học cho việc xây dựng và ban hành các bộ luật, cho quyền công bằng của nhân dân trước pháp luật và cho việc xét xử, cũng như thực thi các bản án Trong
đó, nhất là tư tưởng của Hê-ghen trong việc kiên quyết loại bỏ những biểu hiện tiêu cực gây khổ sở cho nhân dân do sự chuyên quyền và những hoạt động bất hợp pháp của cá nhân ra khỏi các hoạt động của toàn bộ hệ thống nhà nước
1.1.1.3 Sự phát triển của V.I Lênin về dân chủ
Là người kế tục sự nghiệp của C Mác và Ph Ăngghen trong thời đại
đế quốc chủ nghĩa, V.I Lênin đã vận dụng sáng tạo những tư tưởng của C Mác về dân chủ vô sản vào thực tiễn cách mạng Nga Từ thực tiễn sinh động của cách mạng Nga, V.I Lênin đã nêu lên những luận điểm quan trọng vừa có
ý nghĩa quyết định hướng cuộc đấu tranh chính trị của giai cấp công nhân và nhân dân các dân tộc thuộc địa trong thời đại mới, vừa mang tính thực tiễn chỉ đạo việc tổ chức, xây dựng một nền dân chủ mới, cao hơn, rộng rãi hơn so với dân chủ tư sản
Một là, những năm đầu sau Cách mạng Tháng Mười, do điều kiện chống thù trong giặc ngoài, V.I Lênin đặc biệt nhấn mạnh tính chất và chức năng trấn áp bằng bạo lực của chuyên chính V.I Lênin viết: “Chuyên chính
Trang 27là một chính quyền dựa trực tiếp vào bạo lực và không bị một luật pháp nào hạn chế cả” [36, tr.296] “ Chuyên chính là một chính quyền sắt, có dũng khí cách mạng và nhanh chóng, thẳng tay khi cần trấn áp bọn bóc lột cũng như bọn lưu manh” [35, tr.240] Cần nhấn mạnh chức năng bạo lực vì, trong giai đoạn này, vẫn còn nhiều bọn lưu manh và giai cấp bóc lột tuy đã bị lật đổ nhưng luôn nuôi hy vọng trở lại cầm quyền Bọn chúng muốn biến hy vọng
đó thành hoạt động lật đổ Hơn nữa, khi một xã hội mới hình thành, bên cạnh những nhân tố mới, tiến bộ, thì những tàn dư lạc hậu của xã hội cũ, những phần tử hủ bại vẫn chưa mất đi hẳn, chúng ẩn dật, chờ thời cơ để thực hiện những hoạt động chống phá chính quyền non trẻ Do đó, để bảo vệ chính quyền xô viết mới thì cần sử dụng chuyên chính, thậm chí nếu cần thiết, phải
có bàn tay sắt, phải dùng bạo lực, trấn áp
Hai là, trong thời kỳ xây dựng đất nước, V.I Lênin đã chỉ rõ, thực chất của “Chuyên chính không phải chỉ có nghĩa là bạo lực” [37, tr.442] mà
“chuyên chính của giai cấp vô sản nhất thiết phải đưa đến chỗ không những thay đổi những hình thức và những thiết chế dân chủ nói chung, mà chính là phải thay đổi chúng thế nào để mở rộng nền dân chủ đến một mức độ chưa từng có trên thế giới cho những giai cấp lao động bị chủ nghĩa tư bản áp bức” [36, tr.608] Khẳng định điều này, V.I Lênin đã cho chúng ta thấy, trong cách mạng vô sản và sau Cách mạng Tháng Mười, do đất nước còn nhiều các thế lực chống đối, phản động nên tất yếu phải sử dụng bạo lực Nhưng sau khi cách mạng đã thành công và đất nước dần đi vào ổn định thì thực hiện chuyên chính không chỉ là dùng bạo lực, không chỉ là sử dụng công cụ quân đội, cảnh sát để trấn áp các thế lực phản động, mà quan trọng hơn là xây dựng chính quyền, mở rộng dân chủ cho nhân dân lao động Nói cách khác, chuyên chính trong thời kỳ quá độ là xây dựng chính quyền nhà nước dân chủ kiểu mới, xây dựng nền dân chủ thực chất hơn, tiến bộ hơn chính quyền chuyên chính tư sản Do vậy, “ nhà nước trong thời kỳ đó tất nhiên phải là một nhà nước dân
Trang 28chủ kiểu mới (dân chủ đối với những người vô sản và nói chung những người không có của), và chuyên chính kiểu mới (chống giai cấp tư sản)” [34, tr.43] Sau khi cách mạng vô sản giành được thắng lợi phải thiết lập một nền dân chủ mới, nền dân chủ XHCN Vì thế, dưới nền dân chủ Xô viết, các quyền tự do, dân chủ cơ bản của công dân như tự do hội họp, tự do đi lại, tự do báo chí được thực hiện trong thực tế cho hầu hết nhân dân lao động Theo đó, nền dân chủ XHCN mang tính nhân dân rộng rãi Trong XHCN, tất cả các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể và mọi công dân đều được tham gia vào công việc của nhà nước (bằng thảo luận, góp ý kiến xây dựng chính sách, hiến pháp, pháp luật ) Mọi công dân đều được bầu cử, ứng cử và đề cử vào các
cơ quan nhà nước các cấp Sức sống của nền dân chủ XHCN chính là sự tham gia đông đảo của nhân dân lao động vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội Nhân dân có quyền làm chủ trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Người viết: “toàn bộ quyền lực tối cao trong nước phải thuộc về các đại biểu của nhân dân, do nhân dân bầu ra, có thể bị nhân dân bãi chức bất cứ lúc nào” [33, tr.180]
Thực tiễn lịch sử xã hội loài người cũng đã chứng minh, mọi xã hội còn phân chia giai cấp thì còn tồn tại chuyên chính, kể cả xã hội tư sản Điều đó cũng đã được V.I Lênin khẳng định: “Những hình thức của nhà nước tư sản thì hết sức khác nhau nhưng thực chất chỉ là một: chung quy lại thì tất cả những nhà nước ấy, vô luận thế nào cũng tất nhiên phải là nền chuyên chính
tư sản” [34, tr.44] Trong xây dựng CNXH hiện thực cũng cho thấy, dân chủ XHCN cũng bao hàm dân chủ và chuyên chính Tuy nhiên, có khác nhau về bản chất, bởi nền dân chủ XHCN là nền dân chủ kiểu mới và chuyên chính kiểu mới, nền dân chủ XHCN có cơ sở kinh tế là chế độ công hữu về những
tư liệu sản xuất chủ yếu, là “Dân chủ cho tuyệt đại đa số nhân dân và trấn áp bằng vũ lực bọn bóc lột, bọn áp bức nhân dân, nghĩa là tước bỏ dân chủ đối với bọn chúng: đó là sự biến đổi của chế độ dân chủ trong thời kỳ quá độ từ
Trang 29chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản” [34, tr.109] Trong nền dân chủ XHCN, tính nhân dân rộng rãi không tách rời bản chất giai cấp công nhân; việc thực hiện dân chủ đối với giai cấp công nhân và đông đảo nhân dân lao động không tách rời việc hạn chế dân chủ, thậm chí tước đoạt dân chủ đối với bọn bóc lột Bởi, trong các xã hội có giai cấp và nhà nước, dân chủ là công cụ, phương tiện được giai cấp thống trị dùng để củng cố, bảo vệ địa vị thống trị của mình thông qua luật hóa các quyền công dân, quyền con người; nhưng đồng thời, dân chủ cũng là ngọn cờ để giai cấp bị thống trị đấu tranh giành và bảo vệ các quyền của mình
Ba là, theo V.I Lênin, không có dân chủ nói chung, dân chủ phi giai cấp Tính chất giai cấp của phạm trù dân chủ là tiêu chí để phân biệt bản chất khác nhau của các nền dân chủ (dân chủ chủ nô, dân chủ tư sản, dân chủ vô sản, dân chủ xã hội chủ nghĩa) V.I.Lênin viết: “Quan điểm dân chủ thuần túy hình thức chính là quan điểm của người dân chủ tư sản, là kẻ không thừa nhận rằng lợi ích của giai cấp vô sản và của cuộc đấu tranh giai cấp của vô sản cao hơn” [36, tr.339-340] Dân chủ là một phạm trù lịch sử mang tính giai cấp khi xã hội xuất hiện giai cấp và quan hệ giai cấp Dân chủ luôn mang tính giai cấp và chịu sự chi phối của giai cấp cầm quyền Về thực chất, dân chủ với tư cách là quyền lực của nhân dân thì các thành quả của dân chủ là sự phản ánh những giá trị nhân văn trong quá trình giải phóng con người Theo V.I Lênin, chế độ dân chủ được coi như là một hình thức nhà nước đã mang bản chất giai cấp, vì thế không thể tách rời vấn đề nhà nước với vấn đề giai cấp Dân chủ với tư cách là chế độ nhà nước gắn trực tiếp với một giai cấp cầm quyền nhất định dựa trên một quan hệ sản xuất thống trị thì dân chủ bao giờ cũng mang tính giai cấp, không bao giờ có thứ dân chủ thuần túy cho mọi giai cấp
Với tư cách là một chế độ xã hội, dân chủ là một phạm trù lịch sử, vì nó
có sự ra đời, tồn tại, phát triển trong một giai đoạn nhất định và sẽ mất đi khi khi
Trang 30trong xã hội không còn giai cấp V.I.Lênin còn nhấn mạnh dân chủ XHCN là chế độ dân chủ của đại đa số dân cư, của những người lao động bị bóc lột, là chế
độ mà nhân dân ngày càng tham gia nhiều vào công việc nhà nước Với ý nghĩa
đó, V.I.Lênin đã diễn đạt một cách khái quát về bản chất và mục tiêu của dân chủ XHCN: Chế độ dân chủ vô sản so với bất cứ chế độ dân chủ tư sản nào, cũng dân chủ hơn gấp triệu lần
Từ sự phân tích các quan điểm của V.I Lênin về dân chủ nêu trên, chúng ta thấy rằng dân chủ XHCN là bước phát triển cao nhất trong sự phát triển của dân chủ, là thành quả của quá trình cách mạng XHCN và xây dựng XHCN, ở đó có sự kết tinh toàn bộ những giá trị dân chủ đã đạt được trong lịch sử làm cho dân chủ trở thành một giá trị phổ biến thâm nhập vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội
1.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan niệm của Đảng Cộng sản Việt Nam
về dân chủ xã hội chủ nghĩa
1.1.2.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ xã hội chủ nghĩa
Trong kho tàng di sản văn hoá và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm về dân chủ giữ một vai trò vị trí quan trọng trong hệ tư tưởng và chi phối mọi hoạt động của Người Quan điểm dân chủ của Hồ Chí Minh bắt nguồn từ khát vọng hàng ngàn đời của dân tộc Việt Nam, đồng thời tiếp thu chọn lọc tinh hoa văn hóa của nhân loại và được vận dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn Việt Nam
Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ là kết quả của sự nhận thức sâu sắc
về vai trò của nhân dân trong lịch sử, “dân là quý nhất, là quan trọng hơn hết,
là tối thượng”, “trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân, trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” [21, tr.276]; “dân là gốc của nước, của cách mạng”, “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân”, “Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm được Dân chúng không ủng
hộ, việc gì làm cũng không nên”; “Nước lấy dân làm gốc Gốc có vững cây
Trang 31mới bền Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân” [18, tr.293; 409 - 410] Người
đã huy động sức mạnh của toàn dân trong cuộc đấu tranh tự giải phóng mình, góp phần to lớn đưa dân tộc Việt Nam tới độc lập, tự do, đưa nhân dân ta từ kiếp nô lệ lên địa vị làm chủ đất nước, làm chủ xã hội Vì vậy, Hồ Chí Minh nhận thức rất rõ vai trò của dân chủ, coi dân chủ là động lực của sự phát triển, thực hành dân chủ là chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi khó khăn
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, bản chất của dân chủ tức là dân là chủ và dân làm chủ Người chỉ rõ, địa vị của nhân dân là người chủ đối với xã hội, đất nước và nhân dân, là chủ thể của quyền lực Đây là nội dung cốt lõi trong tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh, phản ánh giá trị cao nhất, chung nhất của dân chủ, là quyền lực thuộc về nhân dân: “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”, “chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là dân làm
chủ” [20, tr.499; 572] Điều này khẳng định giá trị xã hội đích thực của dân
chủ là ở chỗ giành về cho đại đa số nhân dân lao động những quyền lực của chính họ thông qua đấu tranh cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới của chính bản thân quần chúng nhân dân Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm cho nước nhà được độc lập, nhân dân được tự
do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành Người đã phấn đấu không mệt mỏi, làm tất cả để thực hiện Độc lập - Tự do - Hạnh phúc cho Tổ quốc, cho dân tộc và nhân dân Người đã rút ra một chân lý không chỉ cho dân tộc mà còn cho cả nhân loại “không có gì quý hơn độc lập, tự do”
Thấm nhuần quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh sự cần thiết phải xây dựng chế độ dân chủ, thể chế chính trị
và thể chế nhà nước dân chủ, nhà nước của dân, do dân và vì dân Người khẳng định: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân Bao nhiêu quyền hạn đều của dân Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương
do dân cử ra Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên Nói tóm lại,
Trang 32quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” [18, tr.698] Nhà nước ta là nhà nước của dân, coi nhân dân là chủ thể quyền lực; nhà nước là công cụ của nhân dân, là hình thức để tập hợp, quy tụ sức mạnh của toàn dân tộc vào sự nghiệp chung chứ nhà nước không phải là nơi để “thăng quan, phát tài”, chia nhau quyền lực, lợi ích và bổng lộc
Sau khi nước nhà giành độc lập, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ cách mạng Việt Nam dân chủ cộng hòa, Người yêu cầu tổ chức càng sớm càng tốt cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu Nhà nước do dân tức là dân phải tham gia vào công việc của nhà nước Quốc hội nước ta tuy ở vị trí cao nhất song không phải là cơ quan tập trung tất cả quyền lực Khi xuất hiện những công việc liên quan đến vận mệnh của quốc gia, thì sẽ được đưa ra toàn dân phúc quyết Nhà nước do dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh là dân tự làm, tự lo việc, thông qua các mối quan hệ trong xã hội, qua các đoàn thể, chứ không phải nhà nước bao cấp, lo thay dân, làm cho dân thụ động, ỷ lại, chờ đợi Nhà nước vì dân, tức nhà nước ta ngoài lợi ích phục vụ dân chúng không có lợi ích nào khác, đó là bản chất giai cấp công nhân của nhà nước ta Người yêu cầu mọi việc làm của nhà nước phải thể hiện rõ bản chất đó: “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm Việc gì hại cho dân, ta phải
hết sức tránh” [18, tr.698-700] Người nhắc nhở chính quyền các cấp phải
tránh cho được các lầm lỗi, khuyết điểm, những thói hư tật xấu, những chứng bệnh vốn dễ tập nhiễm trong các cơ quan quyền lực nhà nước như cậy thế, hủ hóa, chia rẽ, kiêu ngạo
Hồ Chí Minh cho rằng dân chủ gắn với lợi ích Làm chủ là để thực hiện lợi ích của mình Người đã chỉ ra rằng, nước ta là nước dân chủ, mọi công việc đều vì lợi ích của dân mà làm Dân chủ tách rời lợi ích là dân chủ hình thức Nhân dân có nhiều lợi ích kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Dân chủ phải gắn với quyền hạn Mọi người dân đều có quyền làm, quyền nói Không quy định rõ quyền của người dân thì không thể nói gì đến dân chủ Có quyền
Trang 33hạn thì người dân mới có điều kiện thực hiện lợi ích của mình Về chính trị, dân phải có quyền bầu cử, ứng cử, bãi miễn Về kinh tế, phải có quyền làm chủ tư liệu sản xuất từ đó có quyền làm chủ việc quản lý kinh tế, làm chủ việc phân phối sản phẩm Về văn hóa, phải có quyền được tự do học tập,tuy nhiên quyền phải đi đôi với nghĩa vụ Theo Hồ Chí Minh, ngày nay tất cả mọi người đều phải nhận rõ mình là người chủ nước nhà Đã có quyền hạn làm chủ thì phải làm trọn nghĩa vụ của người chủ Đó là nghĩa vụ xây dựng nước nhà, nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc và tuân theo pháp luật Quyền hạn đi đôi với nghĩa
vụ thì dân chủ phải đi đôi với kỷ luật Sống trong một xã hội dân chủ ai cũng phải tuân theo những quy tắc chung của xã hội được xây dựng nên một cách dân chủ Xã hội dân chủ là một xã hội có trật tự kỷ cương đảm bảo cho mọi người cùng có quyền tự do, dân chủ như nhau
Hồ Chí Minh yêu cầu mọi chủ trương, chính sách, mọi quy định của nhà nước từ trung ương đến địa phương đều phải xuất phát từ lợi ích của dân Mọi cán bộ nhà nước đều vì dân, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư Một nhà nước vì dân phải đảm bảo cho dân có được cuộc sống ấm no, hạnh phúc Người đã chỉ ra một cách rõ ràng trách nhiệm, nghĩa vụ của Đảng, Nhà nước đối với nhân dân “Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt
là Đảng và Chính phủ có lỗi” Nhà nước vì dân không chỉ biết làm lợi cho dân
mà còn phải kính dân Người nhắc nhở, chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta; đồng thời phải làm cho nhân dân hiểu rõ: “Nhân dân
có quyền lợi làm chủ, thì phải có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân, giữ
đúng đạo đức công dân” [18, tr.409-410]
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nhà nước của dân, do dân, vì dân phải là một nhà nước pháp quyền có hiệu lực mạnh, được quản lý bằng pháp luật và phải làm cho pháp luật có hiệu lực trong thực tế Trong một nhà nước dân chủ, dân chủ và pháp luật phải luôn đi đôi với nhau, có mối quan hệ chặt chẽ
Trang 34mới bảo đảm cho chính quyền trở nên mạnh mẽ Không thể có dân chủ ngoài pháp luật, pháp luật là bà đỡ của dân chủ Mọi quyền dân chủ của người dân phải được thể chế hóa bằng hiến pháp và pháp luật, ngược lại hệ thống pháp luật phải bảo đảm cho quyền tự do, dân chủ của người dân được tôn trọng trong thực tế Xây dựng một nền pháp chế XHCN đảm bảo việc thực hiện quyền lực của nhân dân là mối quan tâm suốt đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh Bên cạnh đó, Người cũng chỉ rõ mối quan hệ giữa chuyên chính với dân chủ: “chế độ nào cũng có chuyên chính, vấn đề là ai chuyên chính với ai? Như cái hòm đựng của cải thì phải có cái khóa Nhà thì phải có cửa… Dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân, chuyên chính là cái khóa, cái cửa để đề phòng kẻ phá hoại… Thế thì dân chủ cũng cần phải có chuyên chính để giữ
Trọng dân, tin dân, học dân, tổ chức và giáo dục để phát huy sức mạnh của dân là điều nhất quán trong toàn bộ sự nghiệp hoạt động cách mạng của
Hồ Chí Minh Người khẳng định tin vào dân chúng, đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết Chúng ta có khuyết điểm, thì thật thà
Trang 35thừa nhận trước mặt dân chúng Nghị quyết gì mà dân chúng cho là không hợp thì để họ đề nghị sửa chữa Theo Hồ Chí Minh, trước khi làm bất cứ việc
gì, Đảng và chính quyền cũng phải bàn bạc với nhân dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của họ, cùng với họ đặt kế hoạch cho phù hợp với hoàn cảnh địa phương, rồi động viên và tổ chức họ thi hành Trong lúc thi hành lại phải theo dõi, giúp đỡ, đôn đốc, khuyến khích nhân dân; thi hành xong phải cùng với họ kiểm thảo lại công việc, rút kinh nghiệm, phê bình, khen thưởng Quá trình xây dựng CNXH, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã từng bước tạo được cơ
sở kinh tế, chính trị, xã hội của nền dân chủ XHCN; quyền lực xã hội của nhân dân được xác định trong Hiến pháp và pháp luật; nhu cầu dân chủ của nhân dân ngày càng phát triển; ý thức và năng lực thực hành dân chủ của nhân dân ngày càng được nâng cao
Theo Hồ Chí Minh: Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự
do Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý Đó là một quyền lợi mà cũng là một nghĩa vụ của mọi người Vì vậy, Người yêu cầu: "Bất cứ việc gì đều phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa phương" [19, tr.698-699]
Dưới ánh sáng Chủ nghĩa Mác Lênin, Hồ Chí Minh đã tiến thêm một bước triệt để hơn trong quan điểm dân chủ của mình, gắn dân chủ với độc lập dân tộc và CNXH Người cho rằng: Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới Bởi vì chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người sự tự do, bình đẳng, bác
ái, đoàn kết, ấm no, hòa bình, hạnh phúc
1.1.2.2 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về dân chủ xã hội chủ nghĩa
Kế tục tư tưởng vì dân của Hồ Chí Minh, Đảng cộng sản Việt Nam chủ trương xây dựng chế độ dân chủ XHCN, mở rộng và phát huy quyền làm chủ
Trang 36của nhân dân Trong suốt tiến trình cách mạng, Đảng ta luôn xác định dân chủ
là một trong những mục tiêu và động lực cơ bản của cách mạng Việt Nam Chế độ xã hội mà nhân dân ta đã không ngừng đấu tranh dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam – đội tiền phong của giai cấp công nhân, của nhân dân và của cả dân tộc Việt Nam, để xây dựng nên chế độ dân chủ mới – dân chủ XHCN với những đặc trưng khác về chất với những chế độ dân chủ khác Đặc trưng cơ bản của dân chủ XHCN là tất cả mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân Mở rộng dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân luôn là vấn
đề mang tính sống còn của chế độ ta và là mục tiêu của sự nghiệp cách mạng
do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo
Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng, đại hội mở đầu của sự nghiệp đổi mới ở nước ta Đại hội đã nhấn mạnh chủ trương phát huy dân chủ để tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển đất nước “trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động” [10 tr29]
Phát huy tinh thần của Đại hội VI, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng với việc thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH đã nhấn mạnh: “Xã hội mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội do nhân dân lao động làm chủ, và toàn bộ tổ chức hoạt động của HTCT nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân" [11, tr.19]
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (6/1996), tiếp tục
khẳng định “Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là một nội dung cơ bản của ñổi mới hệ thống chính trị ở nước ta Phải có cơ chế và cách làm cụ thể để thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" đối với các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước Thực hiện tốt cơ chế làm chủ của nhân dân: làm chủ thông qua đại diện, làm chủ trực tiếp và các hình thức tự quản tại cơ sở" [12, tr.43] Được xem là đại hội của trí tuệ, dân chủ,
Trang 37đoàn kết và đổi mới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (4/2001) Tại đại hội này, nội dung dân chủ lại càng được coi trọng Dân chủ
đã được đặt trong mục tiêu chiến lược quan trọng của con đường đi lên CNXH ở nước ta, đó là: "độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" [13, tr.22]
Trong thời kỳ đổi mới, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời
kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định rõ Đảng ta
đã khẳng định: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là mục tiêu, là bản chất, là động lực phát triển đất nước Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm Nhân dân thực hiện quyền làm chủ thông qua hoạt động của nhà nước, của cả hệ thống chính trị và các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện”[14, tr.84-85]
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII (2016), vấn đề dân chủ đã được Đảng ta đưa vào chủ đề của Đại hội, đồng thời trở thành một mục độc lập trong phần XIII của Báo cáo chính trị, với tiêu đề: “Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm thực hiện quyền làm chủ của nhân dân”, đồng thời bổ sung thành tố “hoàn thiện, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân” trong mục tiêu, nhiệm vụ của Đại hội [15, tr.166]
Đặc biệt, vấn đề dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN là những nội dung quan trọng, được đề cập đậm nét trong Văn kiện Đại hội XIII
của Đảng với nhiều luận điểm mới có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc Theo đó, đã bổ sung thêm nội dung, phương châm thực hiện dân chủ, như thêm “dân giám sát, dân thụ hưởng” trong phương châm mới lần này là: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”
Xác định rõ hơn vai trò “ Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận Tổ quốc
và các tổ chức chính trị- xã hội làm nòng cốt” để nhân dân làm chủ Đảng và
Trang 38Nhà nước ban hành đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật tạo nền tảng chính trị, pháp lý, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân Cấp uỷ, tổ chức đảng, các tổ chức trong hệ thống chính trị, đội ngũ đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức nêu gương thực hành dân chủ, tuân thủ pháp luật, đề cao đạo đức xã hội
Như vậy, nội dung dân chủ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân luôn là nội dung quan trọng và nhất quán trong toàn bộ đường lối cách mạng của Đảng ta từ trước tới nay, và được phát triển, nâng cao thêm qua các giai đoạn cách mạng Với phương châm “Đoàn kết – Dân chủ – Kỷ cương – Sáng tạo – Phát triển”, Đại hội XIII của Đảng có ý nghĩa định hướng và tầm nhìn chiến lược cho tương lai, tiếp tục đẩy mạnh toàn diện và đồng bộ công cuộc đổi mới, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế và phát triển đất nước nhanh, bền vững hơn Trong đó, nội dung dân chủ và kỷ cương được coi trọng, gắn với xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Điều này thể hiện sự nhận thức sâu sắc, đầy đủ của Đảng không chỉ về bản chất của nền dân chủ XHCN, mà còn về vai trò to lớn của dân chủ, vì không phát huy dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân sẽ không có CNXH
1.1.3 Những đặc điểm cơ bản của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Dân chủ là một phạm trù lịch sử Theo C Mác và Ph.Ăng-ghen, dân chủ là phương tiện tất yếu để con người đạt tới tự do, giải phóng toàn diện những năng lực vốn có của mỗi cá nhân, tức quyền con người được bảo đảm
và thực hiện đầy đủ Đặc trưng cơ bản của dân chủ là tất cả các công dân đều
có quyền tham dự đời sống chính trị, quyền lực cao nhất của đất nước thuộc
về đại diện của nhân dân; mọi công dân đều có quyền bình đẳng trước pháp luật Lịch sử phát triển dân chủ trong xã hội nhân loại chứng minh, mỗi một quốc gia có quyền lựa chọn chế độ dân chủ phù hợp, không nhất thiết mô phỏng chế độ dân chủ của quốc gia khác Chế độ dân chủ của một quốc gia phù hợp với đặc điểm lịch sử, văn hóa, thể chế chính trị, kinh tế của từng
Trang 39nước, đồng thời cần không ngừng hoàn thiện và phát triển Một nền dân chủ
ưu việt, đích thực chỉ khi nó do chính nhân dân lựa chọn, quyền làm chủ của nhân dân, các quyền con người, quyền công dân được tôn trọng và bảo vệ Quá trình phát triển của nền dân chủ XHCN là từ thấp tới cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện; có sự kế thừa một cách chọn lọc giá trị của các nền dân chủ trước đó, trước hết là nền dân chủ tư sản Nền dân chủ XHCN mà Việt Nam đang xây dựng khác về bản chất đối với nền dân chủ tư sản và các nền dân chủ đã từng tồn tại trong lịch sử nhân loại Đó là nền dân chủ tiến bộ, nhân văn, của toàn thể nhân dân lao động, thể hiện quyền làm chủ của nhân dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Nền dân chủ XHCN được bảo đảm bằng hệ thống pháp luật, bằng hệ thống tổ chức nhà nước do nhân dân bầu ra, do Đảng Cộng sản lãnh đạo Nền dân chủ XHCN không ngừng được hoàn thiện cùng với quá trình mở rộng, làm phong phú thêm các yêu cầu
đa dạng của nhân dân về quyền tự do, tự quyết và các điều kiện cho sự phát triển toàn diện của con người Nền dân chủ ấy chính là “bản chất của chế độ
xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng CNXH Xây dựng nền dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ thực sự thuộc về nhân dân là một trong những nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của cách mạng Việt
Nam”[31] Nền dân chủ XHCN mà Việt Nam đang xây dựng có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, đặc điểm quan trọng nhất của nền dân chủ XHCN Việt Nam
thể hiện ở tính chất, đặc điểm của chế độ nhà nước dân chủ nhân dân Nguyên tắc quyền làm chủ của nhân dân được khẳng định nhất quán ngay từ đường lối
cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011), trong tất cả các bản hiến pháp, từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm 2013, “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân,
vì nhân dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên
Trang 40minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo” [14, tr 85] Việc bảo đảm nguyên tắc dân chủ được thực hiện qua cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội làm nòng cốt để nhân dân làm chủ
Thứ hai, Nhà nước Việt Nam do nhân dân bầu ra thông qua các đại
biểu của mình Ở cấp địa phương, các đại biểu được nhân dân bầu cử trực tiếp, tổ chức thành hội đồng nhân dân các cấp - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ở mỗi địa phương Trên phạm vi quốc gia, nhân dân trực tiếp bầu đại biểu quốc hội và Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, thực thi quyền lập pháp, thay mặt nhân dân tổ chức ra bộ máy nhà nước và giám sát hoạt động của bộ máy đó Nhà nước thực hiện quản lý đất nước bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế XHCN theo nguyên tắc bảo đảm quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ và trách nhiệm của công dân với
xã hội và đất nước
Thứ ba, nhân dân được hưởng, được tôn trọng các quyền tự do, dân
chủ, quyền con người, quyền bình đẳng trước pháp luật, quyền được hệ thống pháp luật bảo vệ ; nhân dân được tạo điều kiện thuận lợi để không ngừng cải thiện điều kiện sống của mình cả về vật chất và tinh thần Việc không ngừng cải thiện đời sống cũng chính là một điều kiện quan trọng nhằm không ngừng tăng cường, hoàn thiện nền dân chủ XHCN, làm cho quyền tự do và vai trò làm chủ của nhân dân ngày càng được bảo đảm tốt hơn
Thứ tư, nhân dân có quyền trực tiếp tham gia các hoạt động quản lý của
nhà nước, tham gia xây dựng pháp luật, hoạch định chính sách và quyết định các vấn đề quốc kế dân sinh Nhà nước tạo điều kiện và luật hóa dần các hình thức, yêu cầu để bảo đảm cho nhân dân thực thi quyền tham gia trực tiếp vào các hoạt động nhà nước thông qua các hình thức như tham gia thảo luận, góp
ý kiến vào các dự thảo luật; góp ý, kiến nghị trong xây dựng các chính sách kinh tế - xã hội; thực hiện quyền quyết định trong các cuộc trưng cầu dân ý