KHÁI QUÁT
Đặt vấn đề
Báo cáo TĐG CTĐT trình độ đại học ngành KTTT được xây dựng theo hướng dẫn tại Công văn số 1075/KTKĐCLGD-KĐĐH ngày 28/6/2016 của Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục, Bộ GD&ĐT, bao gồm các nội dung chính sau:
- Phần II: Tự đánh giá theo các tiêu chuẩn, tiêu chí
Mục đích chính của lần TĐG này là giúp Nhà trường, khoa KTGT và BM KTTT nhận diện các điểm mạnh và hạn chế trong hoạt động, từ đó xây dựng giải pháp phát triển những điểm mạnh và khắc phục các hạn chế của CTĐT Kết quả TĐG sẽ là cơ sở để Nhà trường đăng ký đánh giá ngoài chính thức lần 01 cho CTĐT trình độ Đại học ngành KTTT.
Trong đợt đánh giá chương trình đào tạo trình độ đại học ngành Kinh tế thương mại, Nhà Trường tiến hành đánh giá tổng thể các hoạt động theo Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học, được ban hành kèm theo Thông tư số 04/2016/TT-BGDĐT, ngày 14/03/2016 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong giai đoạn 5 năm, từ năm học 2014 - 2015 đến năm học tiếp theo.
2018 - 2019 Số liệu theo năm hành chính được tính từ năm 2014 đến hết năm 2018
Công tác TĐG CTĐT trình độ đại học ngành KTTT được thực hiện theo thứ tự các công việc như sau:
Hội đồng TĐG được thành lập với 13 thành viên và Ban thư ký gồm 8 người, cùng với các nhóm chuyên trách Nhân sự của các nhóm chuyên trách được tuyển chọn từ các đơn vị quản lý và các bộ phận như KTTT và Động lực.
- Lập kế hoạch TĐG (với các hoạt động diễn ra từ tháng 9/2014 đến tháng 12/2018)
Dựa trên yêu cầu của Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo, Ban thư ký đã đề xuất với Khoa Kinh tế Giao thông một kế hoạch sơ bộ nhằm khắc phục các hạn chế chính của chương trình đào tạo và phối hợp với Khoa để triển khai thực hiện.
- Các nhóm chuyên trách thu thập thông tin MC và dự thảo báo cáo tiêu chuẩn gửi đến Ban thư ký để góp ý và hoàn thiện
- Ban thư ký hoàn thiện dự thảo Báo cáo TĐG và gửi đến Hội đồng TĐG góp ý
- Ban thư ký tiếp tục hoàn thiện Báo cáo TĐG và công bố Báo cáo trong nội bộ Khoa KTGT để thu thập các ý kiến đóng góp
Ban thư ký hoàn thiện báo cáo TĐG lần cuối và trình lên Chủ tịch Hội đồng TĐG Sau khi được thông qua, báo cáo sẽ được gửi đến Bộ GD&ĐT và cơ quan KĐCL để thực hiện các thủ tục đăng ký đánh giá ngoài.
1.5 Phương pháp và công cụ TĐG
Dựa trên các tiêu chuẩn và tiêu chí của Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo (CTĐT) các trình độ của giáo dục đại học (GDĐH), Nhà trường đã thực hiện tự đánh giá (TĐG) cho từng tiêu chí trong các tiêu chuẩn theo phương pháp đã được xác định.
- Thu thập các thông tin, MC liên quan
- Mô tả để làm rõ thực trạng của ngành
- Phân tích, so sánh, đối chiếu để chỉ ra các điểm mạnh, tồn tại
- Xây dựng kế hoạch hành động để cải tiến chất lượng, có chỉ rõ thời gian, nguồn lực và phương pháp thực hiện
Những lợi ích chủ yếu mà Nhà trường và Khoa KTGT, ngành KTTT thu được thông qua lần TĐG này gồm có:
- Giúp CTĐT thực hiện TĐG không ngừng phát triển chất lượng phù hợp với Sứ mạng, Tầm nhìn và Triết lý/Mục tiêu giáo dục của Nhà trường
- Giúp CBVC và GV trong khoa nâng cao ý thức về công tác định kỳ TĐG chất lượng CTĐT
- Giúp đội ngũ trực tiếp tham gia hoạt động TĐG nâng cao kiến thức về hoạt động ĐBCL và KĐCL đối với CTĐT
- Giúp các đơn vị chức năng và khoa KTGT nhận ra các mặt mạnh và hạn chế, từ đó xây dựng các giải pháp phát triển cho phù hợp
Khoa KTGT sẽ hỗ trợ Nhà trường trong việc xây dựng và lưu trữ MC trên tất cả các lĩnh vực công tác, nhằm phục vụ hiệu quả cho công tác quản lý và kiểm định chất lượng.
1.7 Quy định về mã hoá các MC
Mã MC trong báo cáo TĐG này được ký hiệu theo công thức: Hab.cd.ef và được đặt trong ngoặc vuông
H: viết tắt “Hộp minh chứng” ab: số thứ tự của tiêu chuẩn (từ 01 đến 11) cd: số thứ tự của tiêu chí ef: số thứ tự của MC
Ví dụ: [H02.02.10] là MC thứ 10 của tiêu chí 02 thuộc tiêu chuẩn 02 Trong lần TĐG này, toàn bộ MC của các tiêu chí đã được công bố trên website của Trường nhằm phục vụ cho công tác quản lý và đánh giá ngoài Tuy nhiên, hiện tại địa chỉ website https://canbo.ntu.edu.vn/KiemDinh/Nganh/Index không khả dụng.
Tổng quan về Trường ĐHNT và ngành KTTT
Trường Đại học Nha Trang, trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, có cơ sở chính tại số 02 Nguyễn Đình Chiểu, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa Tiền thân của trường là Khoa Thủy sản, được thành lập vào ngày 01/08/1959 tại Học viện Nông Lâm, Hà Nội, đánh dấu sự khởi đầu cho việc đào tạo cán bộ đại học trong lĩnh vực nghề cá tại Việt Nam Ngày 16/08/1966, theo Quyết định số 155/CP của Hội đồng Chính phủ, Khoa Thủy sản đã tách ra khỏi Học viện Nông Lâm để trở thành Trường Thủy sản.
Sau khi thống nhất đất nước, Trường Đại học Hải sản được thành lập tại Nha Trang, Khánh Hoà theo Quyết định số QĐ-01HS ngày 04/10/1976 của Bộ Hải sản Vào ngày 12/8/1981, trường được đổi tên thành Trường Đại học Thủy sản theo Công văn số 80TS/VP của Bộ Thủy sản Đến ngày 25/7/2006, theo Quyết định số 172/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, trường chính thức mang tên Trường ĐHNT Sứ mạng và Tầm nhìn của Nhà trường đã được cập nhật vào tháng 02/2017.
Sứ mạng của chúng tôi là đào tạo nhân lực trình độ cao, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và cung cấp dịch vụ chuyên môn đa lĩnh vực, với thế mạnh đặc biệt trong lĩnh vực thủy sản, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Tầm nhìn đến năm 2030, trường đại học sẽ trở thành cơ sở giáo dục đa lĩnh vực uy tín, nổi bật trong đào tạo và nghiên cứu khoa học, cũng như chuyển giao công nghệ Trường phấn đấu trở thành đơn vị hàng đầu khu vực Đông Nam Á trong lĩnh vực khoa học thủy sản và một số ngành kinh tế biển.
Chương trình đào tạo tại Trường đại học Nha Trang cung cấp cho sinh viên môi trường học tập và các hoạt động giáo dục, giúp họ phát triển nhân cách, đạo đức, tri thức và các kỹ năng cần thiết để đạt được thành công trong sự nghiệp chuyên môn, đồng thời đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Các giải pháp chiến lược về đào tạo:
- Nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng nhu cầu nhân lực chất lượng cao và đa dạng của xã hội
Mở rộng quy mô đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của khu vực Nam Trung bộ, Tây Nguyên và toàn quốc Đồng thời, cần chú trọng vào việc phát triển bền vững các ngành thủy sản truyền thống.
- Kiểm định chất lượng giáo dục theo chuẩn quốc gia và khu vực
Trường ĐHNT hiện có 14 khoa, viện và trung tâm đào tạo, cùng với 03 viện và trung tâm nghiên cứu, chuyển giao công nghệ Các viện và trung tâm này không chỉ phục vụ đào tạo mà còn là nơi nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và sản xuất sản phẩm, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế cho các tỉnh Nam Trung Bộ và toàn quốc Ngoài ra, trường còn có 13 đơn vị quản lý và phục vụ đào tạo.
Về nhân sự, tính đến tháng 12/2018, Trường có tổng số 605 CBVC, trong đó có
Trường có tổng cộng 605 cán bộ viên chức, trong đó 466 giảng viên (chiếm 77,02%) và 139 viên chức hành chính (chiếm 22,98%) Đội ngũ giảng viên bao gồm 19 Phó Giáo sư, 109 Tiến sĩ, 347 Thạc sĩ, 71 Giảng viên chính và 04 chuyên viên chính Tỷ lệ giảng viên cơ hữu có trình độ Tiến sĩ là 27,25%, trong khi tỷ lệ giảng viên cơ hữu có trình độ Thạc sĩ đạt 93,35%.
Tính đến ngày 31/12/2018, Nhà trường có 15 ngành đào tạo trình độ cao đẳng, 30 ngành (43 chuyên ngành) đào tạo trình độ đại học, 15 chuyên ngành đào tạo ThS và 6 chuyên ngành đào tạo TS Các chương trình đào tạo được rà soát và cập nhật định kỳ nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội và đảm bảo tính liên thông Để nâng cao chất lượng đào tạo, Nhà trường đã thành lập Hội đồng ĐBCL và xây dựng Kế hoạch TĐG cho hầu hết các chương trình đào tạo, cùng với kế hoạch đánh giá ngoài cho 17 chương trình đào tạo trong giai đoạn 2017 - 2021.
Nhà trường đã công bố quan điểm về chất lượng giáo dục đại học, với chất lượng giáo dục đại học của Trường ĐHNT được thể hiện qua nhiều tiêu chí cụ thể.
- Người học đạt được CĐR phù hợp với ngành và bậc đào tạo, đáp ứng yêu cầu xã hội về nguồn nhân lực chất lượng cao
- Các CTĐT đa dạng và đáp ứng nhu cầu xã hội; các sản phẩm NCKH, chuyển giao công nghệ mang tính nền tảng, thực tiễn và hiệu quả cao
- Đội ngũ cán bộ học thuật đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng và tâm huyết với nghề nghiệp
- Hệ thống cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu của đào tạo và NCKH
- Chứng nhận chất lượng theo các bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng nhà trường và CTĐT
Nhà trường đã xây dựng và ban hành các nguyên tắc cơ bản cho hoạt động ĐBCL bên trong, tuân thủ các nguyên tắc này nhằm đảm bảo chất lượng giáo dục tại Trường ĐHNT.
- Luôn bám sát Sứ mạng, Tầm nhìn, các Giá trị cốt lõi và Kế hoạch chiến lược của Nhà Trường trong từng giai đoạn
- Sử dụng công cụ PDCA trong quá trình thực hiện các hoạt động ĐBCL
- Hoạt động ĐBCL ở các đơn vị cần hướng đến mục tiêu phát triển văn hóa chất lượng của đơn vị và của Nhà trường
- Tất cả CBVC, người học và các tổ chức, đơn vị đều có trách nhiệm duy trì và phát triển chất lượng giáo dục của Nhà trường
Nhà trường đã phân công và phân cấp rõ ràng trách nhiệm của các đơn vị đối với công tác đảm bảo chất lượng (ĐBCL) Tại các Khoa/Viện, trách nhiệm được phân công cụ thể để đảm bảo hiệu quả trong công tác này.
Lãnh đạo đơn vị sẽ được phân công trực tiếp phụ trách công tác đảm bảo chất lượng (ĐBCL), có trách nhiệm tổ chức triển khai, kiểm tra và đôn đốc các hoạt động ĐBCL của đơn vị cũng như của Nhà trường mà đơn vị được giao thực hiện.
Cần phân công một cá nhân chịu trách nhiệm lưu trữ có hệ thống các minh chứng cho tất cả các hoạt động của đơn vị, bao gồm cả bản cứng và bản số Mỗi bộ môn hoặc tổ công tác phải duy trì việc ghi chép đầy đủ và thường xuyên vào sổ họp về các sinh hoạt hành chính và chuyên môn của mình.
- Đưa hoạt động ĐBCL của đơn vị trở thành một hoạt động thường xuyên bên cạnh các hoạt động khác
Hằng năm, Nhà trường lập báo cáo về hoạt động ĐBCL và gửi đến Phòng ĐBCL&KT trước ngày 31/7 để tổng hợp và báo cáo Hiệu trưởng Với gần 60 năm phát triển, Nhà trường đã vinh dự nhận nhiều danh hiệu cao quý từ Đảng và Nhà nước, bao gồm Huân chương Lao động hạng Ba (1981), hạng Nhì (1986), hạng Nhất (1989), Huân chương Độc lập hạng Ba (1994), hạng Nhì (1999), hạng Nhất (2004) và danh hiệu Anh hùng lao động (2006) Nhà trường cũng đã hai lần được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục cấp cơ sở (lần I vào tháng 02/2009 và lần II vào tháng 03/2018).
2.2 Tổng quan về ngành Kỹ thuật Tàu thủy
Khoa KTGT gồm có 03 BM: KTTT, Động lực và Kỹ thuật Giao thông, trong đó
TỰ ĐÁNH GIÁ THEO CÁC TIÊU CHUẨN, TIÊU CHÍ
TIÊU CHUẨN 1: MỤC TIÊU VÀ CHUẨN ĐẦU RA CỦA CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO
Mục tiêu và CĐR của CTĐT ngành KTTT là những yếu tố được khoa KTGT và
BM KTTT đã đầu tư nhiều công sức vào việc xây dựng chương trình đào tạo (CTĐT), với mục tiêu rõ ràng phù hợp với sứ mạng và tầm nhìn của Trường cũng như quy định của Luật GDĐH Chuẩn đầu ra (CĐR) của CTĐT ngành KTTT bao quát cả yêu cầu chung và chuyên biệt mà người học cần đạt được sau khi hoàn thành CĐR cũng phản ánh yêu cầu của các bên liên quan, được rà soát và điều chỉnh định kỳ, đồng thời được công bố công khai qua nhiều kênh truyền thông khác nhau.
Mục tiêu của chương trình đào tạo cần được xác định rõ ràng, đảm bảo phù hợp với sứ mạng và tầm nhìn của cơ sở giáo dục đại học, đồng thời đáp ứng các mục tiêu của giáo dục đại học theo quy định của Luật giáo dục đại học.
Mục tiêu của Chương trình đào tạo ngành Kinh tế thương mại được Nhà trường xác định rõ ràng và công khai đến tất cả các bên liên quan thông qua văn bản.
Chương trình đào tạo (CTĐT) ngành Kỹ thuật tàu thủy được chi tiết hóa trong đề cương các học phần, với mục tiêu giúp sinh viên phát triển nhân cách, đạo đức, tri thức và kỹ năng cần thiết để thành công trong lĩnh vực thiết kế, đóng mới và sửa chữa tàu thủy Sứ mạng của chương trình là đào tạo nhân lực trình độ cao, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, đặc biệt trong lĩnh vực thủy sản, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội Tầm nhìn đến năm 2030 là trở thành trường đại học đa lĩnh vực uy tín, hàng đầu khu vực Đông Nam Á trong đào tạo và nghiên cứu khoa học về khoa học thủy sản và các ngành kinh tế biển.
Mục tiêu của chương trình đào tạo ngành Kinh tế Thủy sản tại Trường [H01.01.03] hoàn toàn phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế biển, nhằm đào tạo ra các kỹ sư có khả năng đáp ứng yêu cầu của lĩnh vực này.
Mục tiêu của chương trình đào tạo ngành Kinh tế thương mại (KTTT) phù hợp với mục tiêu giáo dục đại học theo Luật Giáo dục đại học, bao gồm việc đào tạo nhân lực, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, và nghiên cứu khoa học Chương trình này nhằm tạo ra trí thức và sản phẩm mới phục vụ phát triển kinh tế xã hội, đồng thời đảm bảo quốc phòng, an ninh và hợp tác quốc tế Sinh viên được đào tạo để có phẩm chất chính trị, đạo đức, kiến thức và kỹ năng thực hành nghề nghiệp, năng lực nghiên cứu và phát triển ứng dụng công nghệ, sức khỏe, khả năng sáng tạo, trách nhiệm nghề nghiệp, và thích nghi với môi trường làm việc Tuy nhiên, mục tiêu của chương trình đào tạo ngành KTTT vẫn chưa được rà soát kỹ lưỡng theo Khung trình độ quốc gia.
Mục tiêu của chương trình đào tạo ngành Kinh tế thương mại được xây dựng dựa trên ý kiến khảo sát từ các bên liên quan và được điều chỉnh định kỳ để phù hợp với sự phát triển của xã hội Trong giai đoạn đánh giá, khảo sát chỉ được thực hiện hai lần vào năm 2016.
Mục tiêu của chương trình đào tạo ngành Kinh tế thương mại được xác định rõ ràng, phù hợp với sứ mạng và tầm nhìn của Nhà Trường, đồng thời đáp ứng các mục tiêu giáo dục đại học theo quy định của Luật Giáo dục đại học Chương trình được xây dựng dựa trên khảo sát ý kiến của các bên liên quan, nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội và được điều chỉnh định kỳ để phù hợp với sự phát triển của xã hội.
Mục tiêu của CTĐT ngành KTTT chưa được rà soát kỹ càng theo Khung trình độ quốc gia
BM KTTT phối hợp với Phòng ĐTĐH thực hiện rà soát lại mục tiêu của CTĐT theo hướng bám sát Khung trình độ quốc gia, thực hiện trong năm 2019
5 Tự đánh giá Đạt (Điểm TĐG: 5/7)
Chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo được xác định rõ ràng, bao gồm cả các yêu cầu chung và yêu cầu chuyên biệt mà người học cần đạt được sau khi hoàn thành chương trình.
CĐR ngành KTTT được thể hiện rõ trong CTĐT và chi tiết hóa trong đề cương các HP Danh mục CĐR bao gồm ba nhóm yêu cầu: phẩm chất đạo đức, nhân văn, sức khỏe; kiến thức; và kỹ năng chung Nhóm yêu cầu về kiến thức và kỹ năng cũng nêu rõ các yêu cầu chuyên biệt của ngành KTTT, đặc biệt là trong lĩnh vực tàu đánh cá CĐR ngành KTTT được cập nhật định kỳ, bám sát mục tiêu của CTĐT và các mục tiêu cụ thể được thể hiện trong ma trận mục tiêu cụ thể - CĐR.
CĐR về kiến thức và kỹ năng của CTĐT ngành KTTT được liệt kê chi tiết, gồm
Trong bài viết này, chúng ta đề cập đến 06 CĐR về kiến thức và 06 CĐR về kỹ năng mà người học cần đạt được Đồng thời, mức độ tự chủ và trách nhiệm của người học cũng được thể hiện qua các ĐCCTHP Các ĐCCTHP yêu cầu người học chuẩn bị cho một CĐR cụ thể, bao gồm việc đọc tài liệu, làm bài tập hoặc thuyết trình Tuy nhiên, mức độ tự chủ và trách nhiệm này chưa được thể hiện rõ trong CĐR của CTĐT theo Khung trình độ quốc gia do thiếu hướng dẫn cụ thể.
CĐR của CTĐT ngành KTTT được xây dựng dựa trên việc chi tiết hóa các mục tiêu cụ thể, sử dụng động từ theo thang đo nhận thức của Bloom CĐR liên kết với các HP để dễ dàng đánh giá mức độ đạt được Việc đo lường và đánh giá CĐR của CTĐT được thực hiện từ nhiều góc độ khác nhau Mỗi CĐR trong CTĐT được đo lường qua một hoặc một số HP cụ thể, như thể hiện trong bảng “Nội dung chương trình đào tạo” Đặc biệt, CĐR được đánh giá rõ ràng thông qua ma trận thể hiện sự đóng góp của HP vào việc đạt CĐR của CTĐT Trong ĐCHP và ĐCCTHP, mỗi CĐR của CTĐT được chi tiết hóa thành các CĐR của các HP, với mỗi CĐR của HP phục vụ bởi một hoặc một vài bài học/chủ đề Các CĐR của HP được đo lường và đánh giá bằng các hình thức và trọng số cụ thể, như thể hiện ở mục “Đánh giá kết quả học tập”.
CĐR ngành KTTT được thể hiện rõ trong CTĐT và đề cương các HP, phù hợp với mục tiêu của CTĐT CĐR nêu rõ các yêu cầu về kiến thức và kỹ năng mà người học cần đạt được, đồng thời được đo lường và đánh giá một cách cụ thể và đầy đủ.
Chưa có CĐR thể hiện mức độ tự chủ và trách nhiệm của người học theo Khung trình độ quốc gia
Từ năm học 2019-2020, Bộ môn Kinh tế và Thương mại phối hợp với Phòng Đào tạo Đại học cập nhật chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo, nhằm thể hiện mức độ tự chủ và trách nhiệm của người học theo Khung trình độ quốc gia.
5 Tự đánh giá Đạt (Điểm TĐG: 5/7)
Chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo cần phản ánh yêu cầu của các bên liên quan, được rà soát và điều chỉnh định kỳ, đồng thời phải được công bố công khai để đảm bảo tính minh bạch và đáp ứng nhu cầu thực tiễn.