Gần 20 năm có mặt tại Việt Nam trong vai trò là nhà tài trợ, Nhật Bảnluôn nổi lên với tư cách là một trong ba nhà tài trợ ODA lớn nhất cho ViệtNam chiếm khoảng 40% tổng giá trị vốn ODA
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn 20 năm Đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu pháttriển kinh tế và tiến bộ xã hội vượt bậc, được dư luận trong nước và quốc tếthừa nhận rộng rãi: Nền kinh tế tăng trưởng liên tục với tốc độ bình quân7,5%/năm, mức đói nghèo giảm từ trên 50% vào đầu những năm 90 xuốngcòn 14,5% vào năm 2008 Hội nhập quốc tế sâu rộng và toàn diện đánh dấubằng việc Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mạiThế giới (WTO), được bầu là Ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo
an Liên Hợp Quốc (2008 - 2009 ), Việt Nam cũng là thành viên tích cực củaASEAN, APEC, và nhiều Diễn đàn, tổ chức quốc tế khác Những thành tựu
mà Việt Nam đạt được trong thời gian qua có phần đóng góp quan trọng củaViện trợ phát triển chính thức như một phần trong sự nghiệp phát triển củaViệt Nam
Năm 2011 là năm đầu tiên Việt Nam bước vào thực hiện chiến lược pháttriển kinh tế mới với 3 nhiệm vụ trọng tâm đã đề ra là: (1) Hoàn thiện thể chếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, (2) Phát triển nguồn nhân lực, (3)Phát triển cơ sở hạ tầng Chắc chắn, trong thời gian tới, ODA vẫn tiếp tục lànguồn vốn hỗ trợ đắc lực để chính phủ Việt Nam thực hiện thành công nhữngmục tiêu của Chiến lược phát triển kinh tế 10 năm 2011 – 2020
Gần 20 năm có mặt tại Việt Nam trong vai trò là nhà tài trợ, Nhật Bảnluôn nổi lên với tư cách là một trong ba nhà tài trợ ODA lớn nhất cho ViệtNam (chiếm khoảng 40% tổng giá trị vốn ODA mà Việt Nam ký kết được).Giá trị của nguồn vốn này không chỉ dừng lại ở quy mô tài chính mà còn lànhững kinh nghiệm quý báu mà đối tác mang lại cho chúng ta thông qua các
dự án hợp tác song phương về y tế, giáo dục, công nghệ và đặc biệt là tronglĩnh vực cơ sở hạ tầng Mặc dù vậy, khi nhìn lại quá trình hợp tác ODA songphương Việt Nam – Nhật Bản, bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì vẫn
Trang 2còn tồn tại không ít vấn đề cần khắc phục trong việc tiếp nhận và sử dụngnguồn vốn này, nhất là trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng bởi đây là lĩnh vực mà cảhai phía đều rất chú trọng
Là một sinh viên của chuyên ngành Kinh tế quốc tế, em mong muốn tìmhiểu cặn kẽ hơn về đối tác chiến lược này cũng như tình hình hợp tác vềnguồn vốn ODA trong thời gian qua giữa hai quốc gia Chính vì vậy mà em
đã lựa chọn triển khai chuyên đề thực tập với để tài “Nâng cao hiệu quả sử
dụng nguồn vốn ODA của Nhật Bản trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng tại Việt Nam” nhằm đề xuất một số giải pháp giúp Nhà nước tăng cường thu hút và
sử dụng nguồn vốn này trong thời gian tới
2 Mục đích của đề tài
Một là, trên cơ sở những lý luận chung về ODA cũng như thực trạng sử
dụng nguồn vốn ODA mà Nhật Bản dành cho Việt Nam trong thời gian qua
để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn ODA trong phát triển cơ sở hạ tầng ViệtNam
Hai là, đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ODA trong
phát triển cơ sở hạ tầng ở Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài sẽ tập trung nghiên cứu việc sử dụng vốn ODA của Nhật Bản tại
Việt Nam, nhất là trong lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tầng trong những nămqua Tuy nhiên, do những khó khăn nhất định trong việc tiếp cận với nguồn
dữ liệu về ODA nên trong đề tài này, em chủ yếu đi tìm hiểu và phân tích quátrình sử dụng nguồn vốn ODA của Nhật Bản tại Việt Nam nói chung và tronglĩnh vực cơ sở hạ tầng nói riêng, giai đoạn 2000-2010
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận được đề tài sử dụng là phương pháp duy vật biệnchứng
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể là phương pháp so sánh, phân tích vàtổng hợp, khái quát hoá vv
Trang 35 Bố cục của chuyên đề
Dựa theo mục tiêu nghiên cứu của chuyên đề, ngoài các phần Lời mở đầu,danh mục bảng biểu đồ, danh mục ký tự viết tắt, mục lục, kết luận và danh mụctài liệu tham khảo, chuyên đề được cơ cấu gồm 3 chương như sau:
Chương I: Giới thiệu chung về cơ sở thực tập và vài nét tổng quan về hiệu
quả sử dụng ODA trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng tại Việt Nam
Chương II: Thực trạng sử dụng nguồn vốn ODA Nhật Bản trong lĩnh vực cơ
sở hạ tầng tại Việt Nam
Chương III: Định hướng và giải pháp sử dụng hiệu quả nguồn vốn ODA Nhật
Bản trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng của Việt Nam
Trang 4CHƯƠNG IGIỚI THIỆU CHUNG VỀ CƠ SỞ THỰC TẬP VÀ VÀI NÉT TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ODA TRONG LĨNH
VỰC CƠ SỞ HẠ TẦNG TẠI VIỆT NAM 1.1 Viện Kinh tế và Chính trị thế giới
1.1.1 Giới thiệu chung
Viện được biết đến đầu tiên với tên gọi là Viện Kinh tế Thế giới, thành lậptheo quyết định số 96/HĐBT, ngày 9/9/1983 của Hội đồng Bộ trưởng Đếnnăm 1993, Viện được tái khẳng định lại theo Nghị định số 23/CP ngày22/5/1993 của Chính phủ Từ năm 2004, Viện được đổi tên thành Viện Kinh
tế và Chính trị thế giới, có tên giao dịch quốc tế là: Institute of WorldEconomics and Politics (IWEP)
Với tư cách là một trong những cơ quan nghiên cứu hàng đầu của Chínhphủ trong lĩnh vực kinh tế và chính trị thế giới, Viện Kinh tế và Chính trị thếgiới đã góp phần tích cực vào việc xây dựng luận cứ khoa học cho việc hoạchđịnh đường lối, chính sách kinh tế của nước ta trong thời kỳ đổi mới và đẩymạnh công nghiệp hoá
Trang 5 Cung cấp những luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối,chiến lược và chính sách phát triển nhanh, bền vững theo định hướng xã hộichủ nghĩa;
Tổ chức tư vấn và đào tạo sau đại học, tham gia phát triển nguồn nhânlực, nghiên cứu kinh tế và chính trị quốc tế của cả nước (theo quyết định số991/QĐ-KHXH ngày 14/6/2005 của Chủ tịch Viện Khoa học Xã hội ViệtNam)
1.1.3 Nhiệm vụ
- Nghiên cứu cơ bản những vấn đề kinh tế và chính trị thế giới
- Nghiên cứu các vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn kinh tế và chính trị thếgiới nhằm cung cấp những luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lốichính sách của đảng và nhà nước trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế dưới tácđộng của toàn cầu hoá
- Kết hợp nghiên cứu và đào tạo trong lĩnh vực kinh tế và chính trị thế giới,thực hiện đào tạo sau đại học theo quy định của pháp luật; tham gia phát triểnnguồn nhân lực có trình độ cao theo yêu cầu của Viện Khoa học Xã hội Việt
và cơ quan khác
- Theo chức năng tổ chức và thẩm định và tham gia khẳng định về mặt khoahọc các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội ở các bộ, ngành, địa phươngtheo sự phân công của Viện Khoa học Xã hội Việt
- Thực hiện các tư vấn khoa học phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Viện
- Tổ chức hợp tác quốc tế về nghiên cứu và đào tạo
- Trao đổi thông tin khoa học với cơ quan trong nước và nước ngoài theo quyđịnh của pháp luật, xuất bản các ấn phẩm khoa học, phổ biến các kết quảnghiên cứu khoa học truyền bá các kiến thức khoa học
1.2 Hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng
1.2.1 Khái niệm ODA
Trang 6Cho đến nay có nhiều quan niệm khác nhau xoay quanh định nghĩa vềnguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức – Official Development Asistance(ODA):
Theo khái niệm của DAC: ODA là những luồng tài chính chuyển tới các
nước đang phát triển và tới các tổ chức đa phương để chuyển tới các nướcđang phát triển mà:
Được cung cấp bởi các tổ chức chính phủ (trung ương và địa phương)hoặc bởi các cơ quan điều hành của các tổ chức này
Có mục tiêu chính là thúc đảy tăng trưởng kinh tế và phúc lợi xã hộicủa các nước đang phát triển
Mang tính chất ưu đãi và có yếu tố không hoàn lại >= 25%( được tínhvới tỷ suất chiết khấu 10%)
Theo khái niệm của Việt Nam( Tại Nghị định số 131/2006/NĐ-CP): Hỗ
trợ phát triển chính thức là hoạt động hợp tác phát triển giữa nhà nước hoặcchính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với nhà tài trợ là chínhphủ nước ngoài, các tổ chức tài trợ song phương và các tổ chức liên quốc giahoặc liên chính phủ
1.2.2 Khái niệm Hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA
Hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA là một chỉ tiêu tổng hợp bao gồm cácyếu tố về mặt kinh tế - tài chính, xã hội, môi trường và phát triển bền vững và
nó được đánh giá thông qua hiệu quả thực hiện của từng dự án sử dụng nguồnvốn ODA
1.2.3 Các tiêu chí để đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA
Căn cứ vào phạm vi có thể phân loại đánh giá hiệu quả sử dụng vốn ODA thành hai loại “vĩ mô” và “vi mô”:
Đánh giá vĩ mô
Đánh giá vĩ mô là đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA với sự pháttriển của toàn bộ nền kinh tế, với sự thay đổi các chỉ tiêu xã hội tổng thể Các chỉ tiêu đánh giá vĩ mô như là ảnh hưởng của vốn ODA đối với:
Trang 7 Tăng trưởng GDP
Tăng mức GDP trên đầu người
Tăng vốn đầu tư cho quốc gia
Cải thiện điều kiện môi trường: giảm mức ô nhiễm
Các chỉ số xã hội: tỷ lệ giảm nghèo, tỷ lệ biết đọc biết viết, tỷ lệ tăngdân số, tuổi thọ v.v
Khả năng hấp thụ vốn ODA theo ngành
Chuyển đổi cơ cấu kinh tế
Phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội
Đánh giá vi mô
Đánh giá vi mô (đánh giá dự án) là đánh giá khách quan một chươngtrình/dự án đang thực hiện hoặc đã hoàn thành từ thiết kế, thực hiện và nhữngthành quả của dự án
Việc đánh giá hiệu quả dự án nhằm cung cấp những thông tin hữu ích vàđáng tin cậy, giúp cho nhà tài trợ và nước tiếp nhận vốn có thể rút ra đượcnhững bài học trong quá trình ra quyết định cho các chương trình/dự án đangthực hiện hoặc sẽ được thực hiện trong tương lai
Căn cứ vào chu trình dự án ta có thể phân loại đánh giá thành các loại như sau:
- Tiền đánh giá là đánh giá khâu chuẩn bị dự án từ khâu lập, trình duyệtNghiên cứu khả thi, chuẩn bị vốn, giải phóng mặt bằng,thành lập Ban quản lý
dự án (BQLDA) v.v
- Đánh giá thực hiện dự án bao gồm đánh giá tiến độ thực hiện dự án,yếu tố, nguyên nhân làm chậm tiến độ dự án, các chi phí tăng thêm (nếu có)làm giảm hiệu quả của dự án so với tính toán ban đầu, những thay đổi của dự
án trong quá trình thực hiện so với Nghiên cứu khả thi ban đầu
- Đánh giá sau dự án bao gồm việc đánh giá kết quả của dự án và đánhgiá tác động của dự án
Trang 8Trên thực tế, khi tiến hành đánh giá những hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA, các chuyên gia thường sử dụng 5 tiêu chí :
Tính phù hợp : với các mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội của đất nước,
của các địa phương nhận được sự hỗ trợ từ các dự án
Tính hiệu suất:liên quan đến tiến độ triển khai thực hiện dự án về thờigian,tốc độ giải ngân
Tác động : mức độ ảnh hưởng của dự án tới sự phát triển của ngành và
của địa phương, nơi mà dự án được tiến hành cả về kinh tế lẫn xã hội
Hiệu quả dự án : Khi dự án hoàn thành và đưa vào vận hành phải đápứng, đáp ứng vượt mức các chỉ tiêu đã đề ra trong đề án đã được phêduyệt khi đầu tư dự án, trên góc độ phát triển xã hội, trên góc độ kinh
tế.
Tính bền vững của dự án trong quá trình phát triển tiếp theo.
Tóm lại, đối với mỗi dự án chúng ta phải xác định các chỉ tiêu đánh giáriêng Các cơ quan có trách nhiệm thường xuyên phải đánh giá hiệu quả dự
án, chương trình có thể ban hành một số chỉ số cơ bản để đánh giá từng loại
dự án trong từng lĩnh vực làm cơ sở cho cán bộ thực hiện đánh giá
1.2.4 Các chỉ tiêu đánh giá dự án trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng
Trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng, khi đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn vốnODA, ngoài việc xem xét những tác động mà dự án đem lại đối với sự pháttriển kinh tế -xã hội( đánh giá vĩ mô), những chỉ số đánh giá được đưa ra là
sự cụ thể hóa 5 tiêu chí đã nêu ra ở trên, thường bao gồm:
- Tốc độ giải ngân gắn với thời gian thực hiện dự án
- Mức độ tiết kiệm chi phí khi thực hiện dự án: chi phí thi công, lắp đặt,vận hành, bảo dưỡng
- Tỷ lệ thất thoát kinh phí khi thực hiện dự án
Đồng thời với mỗi dự án, công trình cụ thể, người ta lại đưa ra các chỉ sốriêng liên quan các yếu tố kỹ thuật đặc thù của từng công trình ( hay việc sử
Trang 9dụng các đầu ra của dự án) để đánh giá độ hiệu quả của việc sử dụng nguồnvốn ODA.
Tháng 3 năm 2000, ”Văn phòng đánh giá các hoạt động hỗ trợ phát triển”thuộc Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản đã ban hành ”Tài liệu tham khảo
về chỉ số hoạt động và chỉ số ảnh hưởng” Mục đích của tài liệu này là cungcấp công cụ cho việc lựa chọn các chỉ số đánh giá hoạt động và đánh giá ảnhhưởng của các dự án do JBIC tài trợ Tài liệu này đã phân loại các dự án ODA
do JBIC tài trợ thành 19 loại điển hình như: Nhà máy nhiệt điện, nhà máythuỷ điện, cảng, thông tin, thuỷ lợi, phòng chống lũ lụt, nông nghiệp, lâmnghiệp, cung cấp nước, xử lý chất thải, giáo dục, dịch vụ y tế và sức khoẻ, dulịch Đối với mỗi loại dự án, Tài liệu cung cấp các chỉ số đánh giá cụ thể gồmhai loại chỉ số là chỉ số hoạt động và chỉ số ảnh hưởng Đồng thời tài liệucũng xếp loại các chỉ số theo mức độ quan trọng trong công tác đánh giá dự
án thành 3 loại A, B, C Chỉ số loại A là quan trọng nhất tiếp đó đến loại B,rồi đến loại C
Ví dụ, các chỉ số đánh giá dự án Nhà máy nhiệt điện bao gồm:
- Sản lượng điện ròng (kwh)
- Nhu cầu điện giờ cao điểm (kw)
- Tỷ lệ điện được sử dụng/số sản xuất ra (%)
- Tỷ lệ số giờ hoạt động/tổng số giờ trong năm (%)
- Lượng điện bán ra
- Thu nhập
- Các chỉ số khác
Đối với dự án đường bộ các chỉ số đánh giá bao gồm:
- Lưu lượng giao thông (số ô tô chạy qua một điểm nhất định trong mộtthời gian nhất định)
- Tiết kiệm chi phí lái xe qua việc xây dựng và nâng cấp đường (tiền):chi phí sửa chữa thay thế, khấu hao, nhiên liệu
- Tiết kiệm thời gian vận chuyển (tiền, giờ)
Trang 10- Giảm tai nạn giao thông (số vụ, tiền)
- Các chỉ số khác
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA
Để sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ODA, cần hiểu rõ các nhân tố chủ yếutác động đến quá trình hình thành nguồn vốn ODA Các nhân tố tác động baogồm cả bên tài trợ và bên nhận tài trợ:
Từ phía các nhà tài trợ: nhân tố thứ nhất chi phối công tác quản lý
nguốn vốn ODA là mục tiêu chiến lược cung cấp ODA của nhà tài trợ Trongtừng thời kỳ, căn cứ vào mục tiêu chiến lược mà nhà tài trợ xác định tập trungvào khu vực nào, quốc gia nào, theo phương thức nào Nếu mục tiêu chiếnlược cung cấp ODA của nước tài trợ thay đổi thì nó sẽ ảnh hưởng đến quốcgia tiếp nhận về cả cơ cấu nguồn vốn ODA và cơ chế chính sách quản lý Nhân tố thứ hai là tình hình kinh tế, chính trị cũng như các biến động bấtthường có thể xảy ra ở phía nhà tài trợ Khi có những sự biến động bất thườngthì chính sách và các quy định về quản lý ODA cũng có thể thay đổi, dựa vàonhững đánh giá về các khoản ODA đã được thực hiện trong thời gian qua củatừng nhà tài trợ
Nhân tố thứ ba không thể thiếu về phía các nhà tài trợ là bầu không khíquốc tế và sự phát triển các mối quan hệ kinh tế, chính trị giữa hai phía tài trợ
và nhận tài trợ Nếu bầu không khí và mối quan hệ này mà mang tính tích cựcthì sẽ tạo thuận lợi cho việc giữ vững và mở rộng quy mô nguồn vốn ODA và
cả đối với việc hài hoà thủ tục giữa hai bên và ngược lại
Từ phía nhận tài trợ: Các nhân tố thuộc bên nhận tài trợ cũng rất
đa dạng Trước hết là sự ổn định của thể chế chính trị Thực tế đã chỉ ra rằng,nếu thể chế chính trị ổn định sẽ tạo điều kiện cho việc thu hút và sử dụng tốtnguồn vốn ODA
Thứ hai là mức ổn định kinh tế vĩ mô trong từng giai đoạn phát triển kinh
tế, đặc biệt là chính sách tài chính, thuế, mức độ mở cửa của nền kinh tế cũng có ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý Nếu các chính sách này ổn
Trang 11định trong thời gian dài và hợp lý sẽ góp phần cho quản lý nguồn vốn ODAtốt và ngược lại, sẽ gây ảnh hưởng đến việc quản lý nguồn vốn này.
Một nhân tố không thể thiếu được đó là, hệ thống các văn bản quy phạmpháp luật liên quan đến tổ chức quản lý, sử dụng nguồn vốn ODA Nếu cácvăn bản này ổn định và phù hợp sẽ góp phần cho công tác quản lý tốt nguồnvốn ODA và ngược lại, sẽ làm ảnh hưởng rất nhiều đến công tác quản lýnguồn vốn này theo chiều hướng không tốt
Các nhân tố như, trình độ phát triển kinh tế nói chung, đặc biệt là trình độphát triển hệ thống thể chế kinh tế, các điều kiện có liên quan đến năng lựcquản lý của đội ngũ cán bộ hay tốc độ tăng trưởng kinh tế qua từng thời kỳ.Nhận thức của cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý và cả người dân về nguồn vốnODA mà trước hết là các ngành, các cấp, các địa phương, các cơ sở thụhưởng trực tiếp cũng đóng vai trò là các nhân tố có ảnh hưởng rất nhiều đếncông tác quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA này của bên nhận tài trợ
Đặc biệt, đối với các dự án cơ sở hạ tầng : Ngoài các nhân tố tac động kể
trên thì còn phải kể đến các nhân tố đặc thù liên quan đến lĩnh vực cơ sở hạtầng Về mặt lý luận, cần lưu ý một số khía cạnh liên quan đến việc quản lýcác dự án ODA về xây dựng kết cấu hạ tầng Đó là, kết cấu hạ tầng thường làcác công trình có quy mô lớn, kỹ thuật phức tạp, gắn với một địa bàn rộnglớn Khi triển khai dự án thường đòi hỏi công tác giải phóng mặt bằng và táiđịnh cư phải đi trước một bước, các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng thường cóyêu cầu về kỹ thuật, kinh tế nên phải tổ chức theo quy trình quản lý dự án xâydựng cơ bản với các yêu cầu về đấu thầu, về giải ngân, về giám sát kỹ thuật những nét đặc thù này cùng với các nhân tố thuộc bên tài trợ, bên nhận tài trợ
sẽ góp phần nghiên cứu thực trạng và đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiệncông tác quản lý, sử dụng nguồn vốn ODA ở nước ta
Theo Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế TƯ(CIEM), có bốn yếu tố ảnhhưởng đến hiệu quả sử dụng ODA là :
Trang 12 Chất lượng, tiến độ giai đoạn chuẩn bị dự án mà nổi lên là vấn đề thủtục, qui trình, tiến độ, hài hòa hóa
Đền bù, giải phóng mặt bằng
Chất lượng nhà thầu
Lựa chọn tư vấn ở các khâu của dự án
CHƯƠNG IITHỰC TRẠNG SỬ DỤNG NGUỒN VỐN ODA CỦA NHẬT BẢN TRONG LĨNH VỰC CƠ SỞ HẠ TẦNG TẠI VIỆT NAM
2.1 Tình hình thu hút và sử dụng vốn ODA của Việt Nam trong thời gian qua
Hội nghị bàn tròn về viện trợ dành cho Việt Nam diễn ra tại Pa-ri dưới
sự chủ trì của Ngân hàng Thế giới (WB) vào tháng 11 năm 1993 đã mở ramột trang sử mới trong quan hệ hợp tác phát triển giữa Việt Nam và cộngđồng tài trợ quốc tế, đây cũng là điểm khởi đầu cho quá trình thu hút và sửdụng ODA ở Việt Nam
Trong gần 20 năm qua, cộng đồng tài trợ tại Việt Nam đã được mởrộng rất nhiều và hiện có 51 nhà tài trợ, bao gồm 28 nhà tài trợ song phương
và 23 nhà tài trợ đa phương đang hoạt động thường xuyên tại Việt Nam.Ngoài các thành viên của Tổ chức OECD – DAC còn có các nhà tài trợ mớinổi như Trung Quốc, Ấn Độ, Hung-ga-ri, Séc, Bên cạnh nguồn vốn tài trợODA, ở Việt nam còn có khoảng 600 các tổ chức phi Chính phủ quốc tế hoạtđộng với số tiền viện trợ hàng năm lên đến 200 triệu USD trong nhiều lĩnhvực khác nhau, liên quan trực tiếp đến đời sống người dân tại các vùng nôngthôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc
Tại hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam (CG) diễn ra vàotháng 12/2010 đã tổng kết: Trong thời kỳ 1993-2010 (tính đến hết tháng 10 năm
Trang 132010), tổng nguồn vốn ODA mà các nhà tài trợ quốc tế cam kết dành cho ViệtNam là 56,252 tỷ USD, trong đó giải ngân đạt 28,565 tỷ USD, chiếm 50,78%tổng vốn ODA cam kết.Gần đây nhất, giai đoạn 2000-2010, tổng số vốn ODAcam kết là 46,296 tỷ USD, số vốn giải ngân đạt 21,956 tỷ USD, tỷ lệ giải ngân chỉđạt 47,43% Điều có thể dễ dàng nhận thấy là quy mô vốn ODA mà chúng tanhận được có xu hướng ngày càng tăng Sự gia tăng về quy mô vốn cam kết cũngnhư vốn giải ngân trong giai đoạn 2000-2010 được thể hiện trong bảng sau:
Bảng 2.1: Giá trị vốn ODA cam kết và vốn giải ngân giai đoạn 2000 –
(Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
Theo số liệu trên, trong thời kỳ từ năm 2000-2010, tình hình giải ngân vốnODA đã có những cải thiện nhất định với chiều hướng tích cực qua các năm(sốvốn ODA giải ngân tăng từ 1,65 tỷ USD năm 2000 và đạt kỷ lục vào năm 2010với 3,5 tỷ USD) Tuy nhiên, mức giải ngân này vẫn chưa đạt mục tiêu đề ra trongcác kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm và tỷ lệ giải ngân vẫn còn thấp hơn
Trang 14mức trung bình của thế giới và khu vực (tỷ lệ giải ngân trung bình mới chỉ dừnglại ở mức dưới 50%)
Hình 2.1: Giá trị vốn ODA cam kết và giải ngân tại Việt Nam
giai đoạn 2000 – 2010 (Đơn vị: tỷ USD)
(Nguồn: Vụ Kinh tế Đối ngoại – Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
Qua biểu đồ trên cho thấy, tốc độ tăng trưởng thu hút nguồn vốn ODA củanước ta tăng khá nhanh và ổn định trong suốt giai đoạn từ 2000-2010 với mứctăng trưởng bình quân 10%/năm, đặc biệt trong 3 năm trở lại đây 2008-2010vốn ODA cam kết tăng khá mạnh Điều đó thể hiện sự ủng hộ chính trị vàlòng tin của các nhà tài trợ đối với công cuộc đổi mới của Việt Nam Mặtkhác, nó cũng thể hiện nhu cầu về nguồn vốn của Việt Nam là rất lớn để đầu
tư cho hạ tầng kinh tế – xã hội phục vụ cho sự nghiệp CNH – HĐH đất nước.Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra là, mặc dù khả năng thu hút ODA của chúng tatăng trưởng ở mức khá nhưng việc thực hiện vốn cam kết hay nói cách khác
Trang 15là quá trình sử dụng ODA của Việt Nam chưa đạt được hiệu quả như mongmuốn Chính việc sử dụng chưa có hiệu quả nên đã gây ra lãng phí, thất thoátvốn, tạo ra gánh nặng nợ không cần thiết cho thế hệ sau và gây ảnh hưởngxấu cho khả năng thu hút các nguồn đầu tư quốc tế khác.
Căn cứ vào nhu cầu vốn đầu tư và định hướng phát triển theo ngành,lĩnh vực và vùng lãnh thổ đề ra trong các chiến lược, kế hoạch phát triển kinh
tế - xã hội, Chính phủ Việt Nam đã đưa ra định hướng chiến lược, chính sách
và những lĩnh vực ưu tiên sử dụng vốn ODA cho từng thời kỳ Gần đây nhất,trên cơ sở tham vấn rộng rãi các nhà tài trợ, ngày 29 tháng 12 năm 2006 Thủtướng Chính phủ ban hành Quyết định số 290/2006/QĐ-TTg phê duyệt Đề ánthu hút và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức thời kỳ 2006-2010 5lĩnh vực ưu tiên thu hút và sử dụng ODA trong thời kỳ 5 năm 2006-2010 baogồm:
- Phát triển nông nghiệp và nông thôn (bao gồm nông nghiệp, thuỷ lợi,lâm nghiệp, thuỷ sản kết hợp xóa đói, giảm nghèo)
- Xây dựng hạ tầng kinh tế theo hướng hiện đại
- Xây dựng kết cấu hạ tầng xã hội (y tế, giáo dục và đào tạo, dân số vàphát triển và một số lĩnh vực khác)
- Bảo vệ môi truờng và các nguồn tài nguyên thiên nhiên
- Tăng cường năng lực thể chế và phát triển nguồn nhân lực, chuyểngiao công nghệ, nâng cao năng lực nghiên cứu và triển khai
Tình hình thu hút và sử dụng vốn ODA theo nghành được thể hiện bằng biểu
đồ sau:
Trang 16Hình 2.2: Cơ cấu ODA phân theo ngành nghề và lĩnh vực giai đoạn 2005-2010
(Nguồn: Bộ Kế hoạch và đầu tư)
Nhìn vào biểu đồ trên cho thấy, các ngành thuộc hạ tầng như giaothông, đô thị, nước sạch; công tác xoá đói giảm nghèo, phát triển nông nghiệp
là những lĩnh vực thu hút được ODA nhiều nhất Điều đó cho thấy, cơ cấuvốn ODA theo các điều ước quốc tế về ODA đã được ký trong thời kỳ 2000-
2010 (tính đến hết tháng 10 năm 2010) về cơ bản phù hợp với những địnhhướng ưu tiên sử dụng vốn ODA của chính phủ Việt Nam nêu trên
Như vậy, qua chặng đường gần 20 năm thu hút ODA, chúng ta có thể kếtluận: Nguồn vốn ODA có vai trò quan trọng trong việc xoá đói giảm nghèo,phát triển xã hội, tăng cường bảo vệ môi trường và phát triển bền vững, tăngcường thể chế thông qua các chương trình, dự án hỗ trợ công cuộc cải cáchpháp luật, cải cách hành chính và xây dựng chính sách quản lý kinh tế theo
Trang 17lịch trình phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ViệtNamvà lộ trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tăng cường năng lực conngười và góp phần đẩy mạnh quan hệ đối tác với các nước trên thế giới Tuynhiên, như đã phân tích ở trên, bên cạnh những thành tựu đạt được thì việcthu hút và sử dụng ODA ở Việt Nam vẫn tồn tại những bất cập, nhất là khâugiải ngân và quản lý nguồn vốn ODA Điều này làm giảm đi những tác độngtích cực mà ODA đem lại, dặt ra yeu cầu cần phải nghiêm túc xem xét lại việcsử dụng hiệu quả nguồn vốn ODA
Trong phần tiếp theo của bài nghiên cứu này, việc tìm hiểu trường hợp thuhút và sử dụng nuồn vốn ODA của Nhật Bản( một trong những nhà tài trợ lớnnhất về ODA cho Việt Nam), cụ thể là trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng sẽ giúpchúng ta có cái nhìn rõ ràng hơn về thực trạng sử dụng ODA tai Việt Nam
2.2 Tình hình thu hút và sử dụng ODA của Nhật Bản tại Việt Nam
Nhật Bản là nước có quan hệ viện trợ cho Việt Nam từ rất sớm và chínhthức được phát triển từ năm 1975, nhưng đến năm 1979 Nhật Bản đình chỉvốn ODA cho Việt Nam Tháng 11 năm 1992 Nhật chính thức công bố nối lạiviện trợ ODA cho Việt Nam và bắt đầu cho Việt Nam vay 45,5 tỷ yên với lãisuất ưu đãi 1%/ năm trong vòng 30 năm, trong đó 10 năm đầu không phải trảlãi
Quyết định của Nhật Bản khôi phục viện trợ ODA cho Việt Nam cómột ý nghĩa quan trọng trong quan hệ Việt Nam - Nhật Bản, mở ra một thời
kỳ mới trong quan hệ hợp tác trên rất nhiều lĩng vực giữa hai quốc gia
2.2.1 Quy mô nguồn vốn ODA Nhật Bản dành cho Việt Nam
Tính theo nhà tài trợ, nguồn vốn ODA mà Nhật Bản dành cho Việt Namđược thể hiện trong bảng sau:
Trang 18Bảng 2.2: Số vốn ODA cam kết của 10 nhà tài trợ hàng đầu cho Việt
Nam giai đoạn 1995 – 2009 ( Đơn vị: Triệu USD)
(Nguồn: Vụ Kinh tế Đối ngoại – Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
Nhìn vào bảng số liệu ta có thể nhận thấy, ngay sau khi nối lại viên trợ choViệt Nam vào năm 1992, Nhật Bản đã liên tục dẫn đầu danh sách các quốc giaviên trợ ODA cho Việt Nam Với tổng số vốn cam kết lên tới 8469,73 triệu USDgiai đoạn 1995-2009, đây là con số cao hơn rất nhiều so với các nhà tài trợ kháctrong danh sách các nước tài trợ lớn nhất cho Việt Nam(cao gần gấp đôi so vớinhà tài trợ đứng thứ 2 là WB (5329.82 triệu USD)) Điều đáng lưu ý là sự giatăng ODA của Nhật Bản cho Việt Nam diễn ra ngay cả khi bối cảnh chính trị -kinh tế - xã hội Nhật Bản đang có những dấu hiệu suy thoái và việc sử dụng cóhiệu quả nguồn ODA này ở Việt Nam còn gặp nhiều ách tắc, trở ngại. Lí giảicho điều này, ông Tomoharu Washio, Phó chủ tịch tổ chức xúc tiến thương mạiNhật Bản (JETRO) đã có tầm nhìn xa khi khẳng định trong khuyến cáo cho cácnhà đầu tư Nhật Bản ở Việt Nam: “Hãy nhìn vào viễn cảnh của Việt Nam trong
Trang 1910 năm sau, Việt Nam sẽ tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao, đồng thời hoànthiện hệ thống pháp luật và hạ tầng đô thị, nền công nghiệp phụ trợ cũng đượcphát triển, đội ngũ kỹ thuật và quản lý trung gian vốn không thể thiếu trong hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp sẽ trưởng thành, số lượng doanh nghiệp ViệtNam hợp tác với Nhật Bản sẽ tăng lên Dân số Việt Nam sẽ vượt ngưỡng 100triệu, thu nhập bình quân tăng nhanh, kết quả là Việt Nam sẽ trở thành một thịtrường tiêu thụ lớn, vị thế trong ASEAN được nâng lên tầm cao mới”.
Thực tế là từ khi bắt đầu chính thức nối lại viện trợ cho chúng ta, tổng sốviện trợ ODA của Nhật Bản chiếm khoảng 40% tổng số tiền cam kết của cộngđồng quốc tế dành cho Việt Nam Con số này tăng đều đặn qua các năm bất chấpnhững tác động tiêu cực từ tình hình tài chính thế giới và có xu hướng tiếp tụctăng trong thời gian tới Điều này thể hiện rõ hơn qua bảng số liêu sau:
Trang 20Bảng 2.3: Tình hình cam kết và giải ngân viện trợ phát triển của Nhật
Bản giai đoạn 1992 – 2011 (Đơn vị: Tỷ Yên)
Năm Tổng khối
lượng ODA
Viện trợ cho vay
Viện trợkhông hoànlại
(Nguồn: Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam)
(*: Theo công bố của Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) tại ViệtNam trong cuộc họp báo công bố tổng vốn vay ODA hỗ trợ Việt Nam và những
dự án nhận được vốn ODA của Nhật Bản trong năm 2011)
Nhìn vào bảng trên ta thấy, sự gia tăng nguồn vốn ODA Nhật Bản vào ViệtNam đã thể hiện rất nhanh, từ 45,5 tỷ Yên năm 1992 đã lên đến 112 tỷ Yên năm
1999 Đây cũng là năm cao nhất trong gần 10 năm (giai đoạn 1992-2000) Điềucần thấy là do ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng kinh tế Đông Á (1997 –
Trang 211998) đã buộc Nhật Bản phải điều chỉnh lại chính sách đối ngoại ODA theo
hướng cắt giảm dần quy mô cung cấp cho các nước trong khu vực để đề phòngcác biến động rủi ro, bất ổn Thế nhưng đối với Việt Nam, sự cắt giảm đó hầunhư lại là nhỏ nhất so với nhiều nước khác Thực tế như số liệu từ bảng 2 đã phảnánh thì những năm 1997 - 1999 là thời gian mà Việt Nam đã được Nhật Bản cungcấp khối lượng ODA lớn nhất từ trước đó cho đến thời điểm đó Điều đó chứng tỏViệt 'Nam đã chiếm vị trí, vai trò quan trọng trong sự quan tâm của chính sáchODA Nhật Bản
Mặc dù sau đó vào năm 2000, ODA Nhật Bản dành cho Việt Nam độtngột giảm mạnh do họ thi hành chính sách cắt giảm 10% ODA chung cho cácnước Tuy nhiên từ đó cho đến nay, nguồn vốn ODA mà Nhật Bản dành cho ViệtNam lại có xu hướng tăng trở lại và đạt mức kỷ lục 153,76 tỷ Yên vào năm 2009
2.2.2 Những lĩnh vực Nhật Bản tài trợ cho Việt Nam
Theo dõi động thái tiến triển nguồn vốn ODA của Nhật Bản dành cho ViệtNam, có thể thấy, dù có lúc lên, lúc xuống, nhưng cơ bản, là theo chiều hướngngày càng gia tăng, cả về chất lượng lẫn quy mô, nhằm hỗ trợ cho sự phát triểnkinh tế - xã hội của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.ODA của Nhật Bản dành choViệt Nam trước đây nhằm vào 5 lĩnh vực ưu tiên:
- Phát triển nguồn nhân lực và xây dựng thể chế, trong đó chú trọng hỗ trợchuyển đổi sang nền kinh tế thị trường;
- Hỗ trợ cải tạo và xây dựng các công trình điện và giao thông;
- Hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nhất là phát triển kết cấu hạ tầng ở nông thôn
và chuyển giao công nghệ mới tại các vùng nông thôn;
- Hỗ trợ phát triển giáo dục và y tế;
- Hỗ trợ bảo vệ môi trường
Từ năm 2007, có một điểm khác biệt trong cơ chế nhận hỗ trợ ODA so vớichính sách ODA cũ là các dự án nhận hỗ trợ sẽ được lựa chọn thông qua đốithoại, chứ không phải theo yêu cầu như trước đây và khoản hỗ trợ được hoạchđịnh ngay tại nước nhận ODA nhằm sử dụng nguồn vốn một cách có hiệu
Trang 22quả Do vậy, chính sách ODA mới của Nhật Bản ưu tiên hỗ trợ hàng đầu vào
3 lĩnh vực sau:
- Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Để thực hiện mục tiêu này, Nhật Bản sẽ tậptrung hỗ trợ vào lĩnh vực cải cách kinh tế như hoàn thiện môi trường đầu tư,hỗ trợ phát triển kinh tế tư nhân, nâng cấp kết cấu hạ tầng giao thông vận tải,điện lực, công nghệ thông tin, đào tạo nguồn nhân lực, cải cách doanh nghiệpNhà nước
- Cải thiện đời sống dân cư và các lĩnh vực xã hội
- Hoàn thiện thể chế, pháp luật Nhật Bản sẽ hỗ trợ Việt Nam cải cách hànhchính, trong đó có cải cách chế độ công chức thông qua việc sử dụng kinhnghiệm và các công nghệ tiên tiến của Nhật Bản
Ba lĩnh vực này cũng phù hợp với những mục tiêu chính mà Chính phủ ViệtNam đang đặt ra trong kế hoạch phát triển và xoá đói, giảm nghèo
Thông qua các nguồn ODA, Nhật Bản đã giúp Việt Nam xây dụng nhiều côngtrình hạ tầng kinh tế - xã hội; cung cấp một số lượng đáng kể học bổng để đàotạo đại học và sau đại học cho các sinh viên và cán bộ khoa học - kỹ thuật củaViệt Nam Một số lượng lớn chuyên gia và người tình nguyện Nhật Bản hiệnđang hỗ trợ Việt Nam trong nhiều lĩnh vực phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa,giáo dục và đào tạo
Ngoài ra, thông qua ODA, Nhật Bản còn hỗ trợ Việt Nam trong nhiều sángkiến hợp tác trong khuôn khổ ASEAN, ASEM, Tiểu vùng sông Mê Công mởrộng
Trang 23Hình 2.3: Cơ cấu viện trợ của Nhật Bản phân theo lĩnh vực đầu tư
giai đoạn 2000 – 2009
(Nguồn: Vụ Kinh tế đối ngoại – Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
2.3 Tình hình thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA của Nhật Bản trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng tại Việt Nam
2.3.1 Vai trò của nguồn vốn ODA đối với phát triển cơ sở hạ tầng tại Việt Nam
Lĩnh vực cơ sở hạ tầng là lĩnh vực tuy không có hiệu quả tài chính trựctiếp, khả năng thu hồi vốn thấp, thời gian đầu tư kéo dài, độ rủi ro cao, nhưnglại có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển đời sống dân cư và sự phát triểnkinh tế, xã hội của đat nước Hàng năm, nhu cầu vốn đầu tư cho phát triển cở
sở hạ tầng ở Việt Nam là rất lớn, tỷ lệ vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng (giaothông, điện, viễn thông, nước – vệ sinh, phát triển đô thị) trung bình hàngnăm chiếm khoảng 9-10% GDP Trong đó, khả năng huy động vốn trongnước thông qua ngân sách và đầu tư tư nhân chỉ đáp ứng từ 45-50% nhu cầu
về vốn, phần còn lại được bù đắp từ nước ngoài thông qua đầu tư trực tiếpFDI và ODA
Với đặc điểm là nguồn vốn có tính ưu đãi, đồng thời dựa trên những
Trang 24chính sách ưu tiên của các nước viện trợ đối với lĩnh vực cơ sở hạ tầng đặcbiệt trong nghành giao thông vận tải, viễn thông , năng lượng, thời gian qua,vốn ODA đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển của Việt Nam Điều nàyđược thể hiện qua biểu đồ sau:
Hình 2.4: Tỷ lệ các nguồn vốn trong đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ
tầng giai đoạn 1995-2009
(Nguồn: Ngân hàng thế giới)
Nhìn vào biểu đồ trên ta có thể thấy ODA là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớntrong tổng số vốn đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng trong một giai đoạn khádài (chiếm tới 44%)
2.3.2 Nguồn vốn ODA Nhật Bản cho phát triển cơ sở hạ tầng Việt Nam qua các năm
Để đáp ứng kế hoạch mở rộng nhu cầu cơ sở hạ tầng, hàng năm ViệtNam cần phải đầu tư khoảng 9-11% GDP, điều này đòi hỏi chúng ta phải huyđộng một lượng vốn lớn thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài và vốn ODA.Trong thời gian vừa qua, vốn ODA Nhật Bản đã có những đóng góp tích cựctrong việc phát triển hạ tầng Việt Nam (giao thông, bưu điện, cấp nước, thoátnước, công viên, cây xanh ), được thể hiện ở bảng dưới đây:
Trang 25Bảng 2.4: Tỷ trọng vốn ODA Nhật Bản đầu tư cho phát triển hạ tầng trong
(Nguồn:Bộ Kế hoạch và đầu tư)
Căn cứ vào số liệu bảng trên, chúng ta thấy phần lớn ODA Nhật Bảntập trung vào các dự án cơ sở hạ tầng như: dự án cấp nước, dự án thoát nước,
dự án khu đô thị mới, dự án phát triển hạ tầng giao thông đô thị Còn lại,ODA dành cho các lĩnh vực khác: nông nghiệp, giáo dục, y tế Năm 2009,vốn ODA Nhật Bản đầu tư cho cơ sở hạ tầng ở Việt Nam đạt 110,20 tỷ Yên,năm 2010 con số này là 76,50tỷ Yên, có giảm nhưng vẫn chiếm tỷ lệ caotrong tổng nguồn vốn ODA mà Nhật Bản dành cho Việt Nam( chiếm tới78,89%)
Về vấn đề giải ngân ODA, năm 2000 có 5 dự án ODA cơ sở hạ tầngđược giải ngân 5,68 tỷ Yên Năm 2008, có 6 dự án giải ngân đạt 7,13 tỷ Yên,tăng 25,52% so với năm 1999 Năm 2010, có 8 dự án giải ngân thuộc lĩnh vực
hạ tầng kỹ thuật với tổng giá trị 9,72 tỷ Yên tăng 36,32% so với mức giảingân năm 2008 Mặc dù tỷ lệ giải ngân ODA có xu hướng gia tăng nhưng nếuxét về tỷ lệ phần trăm vốn giải ngân/vốn cam kết thì đây vẫn là những con sốcòn khá khiêm tốn
Trang 26Bảng 2.5: Tỷ lệ giải ngân vốn ODA Nhật Bản trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng
tại Việt Nam trong 3 năm gần đây (Đơn vị: tỷ Yên)
(Nguồn: Bộ Kế hoạch và đầu tư)
Nhìn vào bảng trên ta thấy, tỷ lệ giải ngân vốn ODA Nhật Bản trong lĩnhvực cơ sở hạ tầng còn thấp, theo tính toán của Bộ kế hoạch và đầu tư bìnhquân thời kỳ 2000- 2010 chỉ đạt 12-13% Tỷ lệ giải ngân thấp là do hầu hếtcác dự án ODA có thời gian đầu tư kéo dài, và việc phân bổ vốn theo từnggiai đoạn, hạng mục công trình Khi từng giai đoạn, hạng mục công trìnhhoàn thành theo đúng tiến độ, chất lượng thời gian ghi trong hợp đồng thì nhàtài trợ mới tiếp tục bỏ vốn cho giai đoạn, hạng mục tiếp theo Hầu hết chươngtrình dự án có tốc độ giải ngân chậm do sự chậm trễ trong khâu chuẩn bị đầu
tư Chất lượng chuẩn bị đầu tư, nhất là khâu hình thành dự án ban đầu, báocáo nghiên cứu khả thi của chủ đầu tư và công ty tư vấn còn yếu kém Dự ánphải làm đi làm lại nhiều lần Bên cạnh đó, trong quá trình triển khai dự án, cónhiều thay đổi nên xuất hiện nhu cầu thay đổi nội dung của dự án Những cânnhắc thay đổi trong quá trình thực hiện gây sự kéo dài dự án Cơ chế chínhsách trong khâu đền bù, giải phóng mặt bằng chưa ổn định, thủ tục giải phóngmặt bằng còn mất nhiều thời gian, thiếu quỹ di dân cũng ảnh hưởng đến tiến
độ các dự án (dự án thoát nước Hà Nội, dự án phát triển hạ tầng giao thông đôthị giai đoạn I ) Thủ tục, quan điểm triển khai giữa nhà tài trợ và Việt Namcòn chưa thống nhất (Nghị định 52, các thủ tục đấu thầu với các thủ tục củaJBIC) cũng là những nguyên nhân ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện dự án và
do đó làm chậm tốc độ giải ngân vốn
Trang 272.3.3 Thực trạng sử dụng nguồn vốn ODA Nhật Bản trong phát triển cơ sở hạ tầng tại Việt Nam xét theo ngành
Phần lớn ODA Nhật Bản cho lĩnh vực cơ sỏ hạ tầng tập trung vào các
nghành như: cấp thoát nước, hạ tầng giao thông( đường xá, cầu cảng), pháttriển đô thị, viễn thông
2.3.3.1 Ngành Giao thông vận tải
Trong tổng vốn ODA Nhât Bản cấp cho phát triển cơ sở hạ tầng thìlượng ODA cấp cho ngành GTVT cũng chiếm một khối lượng đáng kể vàđược chia làm nhiều lĩnh vực nhỏ như: hệ thống giao thông đường bộ, hệthống giao thông đường sắt, hệ thống giao thông đường thuỷ.Bảng dưới đâythể hiện tình hình huy động và phân bổ vốn ODA Nhật Bản trong từng lĩnh
vực của nghành GTVT:
Bảng 2.6: Tỷ trọng vốn ODA của ngành GTVT từ năm 1993 tới 2010
STT Lĩnh vực đầu tư
Tổng vốnđầu tư(triệu USD)
Cơ cấutừng lĩnhvực
Tỷ trọngtrong tổngvốn GTVT
(Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư)
Qua số liệu trên, nổi lên vấn đề là : mặc dù GTVT được chú trọng phát
triển, nhưng lại có sự mất cân đối trong việc phân bổ nguồn vốn này vào từnglĩnh vực cụ thể của nghành.Từ năm 1993, tỷ lệ vốn ODA Nhật Bản được cấpcho giao thông đường bộ đã chiếm đến hơn 80% tổng vốn đầu tư cho khu vựcGTVT trong đó chỉ riêng vốn cấp cho các dự án lớn về nâng cấp các tuyếnquốc lộ đã chiếm tới 83,6% tổng số vốn được cấp Trong khi đó các tuyến
Trang 28đường nông thôn và đô thị nói chung vẫn ở trong tình trạng xuống cấpnghiêm trọng Các dự án dành cho hệ thống giao thông nông thôn cũng như
đô thị chỉ đạt hơn 16% tổng vốn đầu tư cho giao thông đường bộ Sự mất cânđối cũng thể hiện trong việc nguồn vốn cấp cho các dự án nâng cấp đường sắtchỉ đạt 143,36 triệu USD tức là khoảng 4,65% vốn ODA dành cho GTVTtrong đó đường thuỷ nội địa chiếm 77,16 triệu USD (khoảng 17,19%) và cảngbiển đạt 317, 59 triệu USD (khoảng 82,81%)
Tuy vậy, sau gần 20 năm triển khai nguồn vốn ODA Nhật Bản trong lĩnhvực cơ sở hạ tầng tại Việt Nam, hệ thống hạ tầng GTVT Việt Nam đã cónhiều biến đổi quan trọng: Đến tháng 10 năm 2010 đã hoàn thành và đưa vàokhai thác sử dụng trên 2.000 km quốc lộ quan trọng, 13.324m cầu đường bộ,1.400 km tỉnh lộ, 2.400 m cầu đường sắt, 1.400 km tỉnh lộ, 4.000 km đường
và 12.000 m cầu giao thông nông thôn
ODA Nhật Bản không chỉ đóng vai trọng trong việc xây dựng các côngtrình mà còn là một cuộc chuyển giao công nghệ lớn trong toàn ngành GTVT
Từ việc chuyển giao công nghệ thi công qua các dự án xây dựng áp dụng cáccông nghệ tiên tiến (công nghệ cầu đúc hẫng cân bằng, cầu dây văng, cọckhoan nhồi đường kính lớn, sử dụng bấc thấm, dầm super T ), đến việc nângcao năng lực quản lý và điều hành của tất cả các ban ngành có liên quan trựctiếp cũng như gián tiếp đến dự án (các quy trình đấu thầu quốc tế, quản lý dự
án đầu thầu, thủ tục giải ngân ) và quan trọng nhất là phía Việt Nam đã cóthêm rất nhiều kinh nghiệm trong công tác vận động cũng như sử dụng ODA
Bảng 2.7: Một số dự án lớn sử dụng vốn ODA của Nhật Bản
Trang 29thực hiện (Triệu USD)
2 Cải tạo nâng cấp quốc lộ 5 1994-2003 215,6
3 Khôi phục cầu quốc lộ 1 (giai
sắt Thống nhất
8 Dự án cải tạo cảng Sài Gòn 1995-2000 500
9
Dự án khôi phục 9 cầu đường
sắt trên tuyến đường sắtThống Nhất
11 Hầm đường bộ qua đèo Hải
12 Hệ thống thông tin duyên hải 1997-2003 34
13 Cải tạo nâng cấp quốc lộ 10 1998-2005 302
14 Cải tạo nâng cấop quốc lộ 18 1998-2005 232
16 Dự án phát triển cơ sở hạ tầng
giao thông đô thị Hà Nội 1999-2004 1933
17 Cầu Thanh Trì &đoạn Nam
Vành đai III Hà Nội 2000-2005 410
19 Dự án cải tạo cảng Hải Phòng
21 Khôi phục cầu Quốc lộ 1 đoạn
Trang 3022 Dự án đường Đông Tây 2003-2006 9700
23
Dự án khôi phục 44 cầuđường sắt trên tuyến đường
Bảng 2.8: Vốn ODA đầu tư cho cấp nước Hà Nội giai đoạn
(Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
Nhìn vào số liệu trên ta có thể thấy, nguồn ODA Nhật Bản dành cho lĩnhvực cấp nước sạch ở Việt Nam có xu hướng gia tăng qua các năm xét cả vềqui mô vốn lẫn tỷ trọng trong tổng nguồn vốn dành cho xây dựng cơ sở hạtầng( tăng từ 4,27 tỷ Yên năm 1998 lên 8,56 tỷ Yên năm 2010)
Trang 31Năm 2010,Việt Nam và Nhật Bản đã ký kết gia hạn Hiệp định viện trợkhông hoàn lại do Nhật Bản tài trợ cho Dự án "Phát triển cấp nước đô thị ViệtNam giai đoạn 2" Dự án Phát triển cấp nước đô thị Việt Nam có tổng vốnđầu tư 135 triệu USD, trong đó WB tài trợ 112,64 triệu USD, được thực hiện
từ giữa năm 2005 đến 2010 Dự án này nằm trong định hướng phát triển cấpnước đô thị đến năm 2020 của Chính phủ Việt Nam Theo dự án, 100 thị trấn
sẽ được đầu tư hệ thống cấp nước mới với hơn 1 triệu dân ở các tỉnh miềnBắc và miền Trung được cung cấp nước sạch, góp phần hoàn thành mục tiêu95% số dân đô thị được cấp nước đến năm 2010 Giai đoạn đầu của dự án đãmang lại lợi ích cho 12 thị trấn cấp huyện tại 2 tỉnh và dự tính khoảng 145nghìn người dân Giai đoạn 2 bao gồm 120 thị trấn ở 24 tỉnh và sẽ phục vụcho 740 nghìn người
2.3.3.3 Bưu chính viễn thông
Năm 1986 Việt Nam chỉ có 9 đường dây điện thoại quốc tế, với GDP bìnhquân đầu người 138 USD Mật độ điện thoain trong giai đoạn phát triển đầunhư từ con số không và mĩa đến năm 1997 khi GDP bình quân đầu người đạtmức 324 USD thì mật độ điện thoại mới ở mức gần 1,85 máy/100 dân (theonghiên cứu của tổng cục Bưu biện) Cũng theo nghiên cứu của tổng cục Bưuđiện, trước năm 1993, bưu chính viễn thông của Việt Nam trong tình trạng rấtlạc hậu chỉ có 254.506 đường dây điện thoại cơ bản cho hơn 69 triệu dân,tương đương 0,36 máy/100 dân Nhưng sau năm 1993, với sự phát triển mạnhcủa nền kinh tế cùng với sự trở lại của các nhà tài trợ quốc tế trong đó có NhậtBản, Việt Nam đã cải thiện đáng kể kết cấu hạ tầng viễn thông , nhất là cácdịch vụ cơ bản hiện đại và dịch vụ di động
Các dự án ODA của Nhật Bản tài trợ cho Việt Nam trong lĩnh vực viễnthông từ năm 1993 đến nay có thể kể đến: Dự án phát triển mạng viễn thôngnông thôn các tỉnh miền Trung Việt Nam trị giá 11.332 triệu Yên thuộc nguồntài khóa 1997 của chính phủ Nhật Bản(JBIC); Dự án nâng cao năng lực đào
Trang 32tạo Trung Tâm Đào tạo Bưu chính – Viễn thông I của tổng công ty Bưu chínhViễn thông Việt Nam trị giá 7 triệu USD; Dự án Cáp quang biển trục Bắc –Nam trị giá 19.497 triệu Yên thuộc nguồn tín dụng ưu đãi của JBIC năm2007( theo báo cáo của Vụ Kết cấu hạ tầng – Bộ Kế hoạch Đầu tư.
2.3.3.4 Năng lượng điện và công nghiệp
Trước năm 1993, đầu tư vào ngành năng lượng chỉ chiếm khoảng 20% đầu
tư công cộng Đây là mức đầu tư thấp so với các nước phát triển Đặc biệt,mức đầu tư công cộng của kết cấu hạ tầng kinh tế cho năng lượng là rất thấp
so với những gì cần thiết để hỗ trợ sự phát triển nhanh của nghành này
Cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế, từ năm 1993, đặc biệt
từ năm 2000, ngành điện đã phát triển vượt bậc, giảm tổn thất của hệ thống vànâng cao chất lượng phục vụ Năm 2005, ngành điện đã cấp điện cho 88% số
hộ gia đình ở nông thôn Gần ¼ trữ lượng kinh tế của thủy điện Việt Nam đãđược khai thác, tổng công suất phát điện cuối năm 2005 là gần 11.200MW.đường dây 500 kW (Bắc – Nam) được hoàn thành và đưa vào sử dụng, đưatổng chiều dài của đường dây 500kW của cả nước từ 2.423 km năm 2003 lên3.533 km vào năm 2005
Sự thành công vượt bậc của ngành năng lượng điện từ sau năm 1993 đếnnay có sự đóng góp không nhỏ của vốn ODA mà Nhật Bản là đóng vai trò lànhà tài trợ lớn nhất Vốn ODA của Nhật Bản đã giúp cải tạo, nâng cấp mạnglưới điện quốc gia và xây dựng mới nhiều nhà máy điện, tăng nguồn cung cấpđiện phục vụ sản xuất và sinh hoạt Trong giai đoạn từ năm 2000 đến hết năm
2009, một phần không nhỏ vốn ODA (khoảng trên 22% tổng vốn ODA ViệtNam đã ký với Nhật Bản giai đoạn 2000-2009) được đầu tư cho việc pháttriển nghành điện, cải tạo và phát triển mạng lưới điện, bao gồm việc xâydựng và cải tạo các nhà máy phát điện, xây dựng các trạm biến thế, đườngdây tải điện 500kV và thực hiện các chương trình điện khí hóa nông thôn.Vốn ODA Nhật Bản đã góp phần xây dựng nhiều nhà máy điện công suất lớnnhư nhà máy nhiệt điện Phú Mỹ 2.1 công suất 288MW
Trang 33Có thể nói trong thời gian qua, vốn ODA của Nhật Bản đã góp phần đáng
kể vào sự tăng trưởng của ngành Năng lượng và Công nghiệp Nhờ đó, ngànhNăng lượng điện đã tăng đáng kể công suất nguồn, phát triển và mở rộngmạng lưới phân phối điện, kể cả lưới điện nông thôn, một số cơ sở sản xuấtcông nghiệp được đầu tư bằng nguồn vốn ODA đã góp phần tạo công ăn việclàm ở một số địa phương
2.4 Đánh giá hiệu quả sử dụng ODA Nhật Bản trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng tại Việt Nam
2.4.1 Đánh giá hiệu quả chung của các dự án ODA trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng
Xét về tổng quan, các dự án ODA Nhật Bản đầu tư phát triển cơ sở hạtầng tại Việt Nam trong thời gian là có hiệu quả, thể hiện trên các khía cạnhsau:
- Các công trình hoàn thành đảm bảo chất lượng, có ý nghĩa kịp thời
đáp ứng các mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của đất nước
- Tăng công ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp: các dự án ODA cơ sở hạtầng đã thu hút một lượng lớn cán bộ kỹ thuật, công nhân lành nghề, lao độngthủ công, góp phần tăng thu nhập, cải thiện cuộc sống của người lao động
- Các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng đã từng bước nâng cao điều kiện sống chonhân dân, tăng phúc lợi công cộng và cải thiện các điều kiện về môi trường
- Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Việt Nam thông qua đầu tư phát triển cáccông trình thuộc lĩnh vực cơ sở hạ tầng
2.4.2 Hiệu quả sử dụng ODA Nhật Bản trong các dự án cơ sở hạ tầng ở Việt Nam theo tiêu chí đánh giá
2.4.2.1 Tính phù hợp
Tính phù hợp của các chương trình, dự án ODA Nhật Bản cho phát triển
cơ sở hạ tầng giai đoạn 2000-2010 được đánh giá là khá cao Trong 5 tiêu chíđánh giá, thì đây là tiêu chí đạt kết quả cao nhất, thể hiện ở các điểm sau:
Trang 34 Các chương trình, dự án ODA Nhật Bản cho cơ sở hạ tầng về cơ bản làphù hợp với các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm (2000 – 2005 và
2006 – 2010), Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo(CPRGS 2001-2010)
Các dự án ODA giai đoạn này cũng phù hợp rất cao đối với mục tiêu ưutiên cho phát triển cơ sở hạ tầng đã được nêu trong nhiệm vụ phát triển kinh tế
- xã hôi 10 năm (2001-2010) Theo một cuộc điều tra của Bộ Kế hoạch vàĐầu tư, 80% số người trả lời phiếu khảo sát cho rằng ODA có tính phù hợpcao đối với chiến lược và thứ tự ưu tiên của Chính phủ Việt Nam Khoảnggần 75% cho rằng nguồn ODA rất phù hợp với nhu cầu của từng nghành đượcphân bổ
Số liệu thống kê cho thấy tuy lượng ODA phân bổ cho các ngành cụ thểtrong lĩnh vực cơ sở hạ tầng còn nhiều mất cân đối nhưng nói chung tất cả cácngành trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng đều đã nhận được sự hỗ trợ từ nguồn ODAcủa Nhật Bản
2.4.2.2 Tác động
Tác động đem lại của các dự án ODA Nhật Bản tài trợ cho lĩnh vực cơ sở
hạ tầng ở Việt Nam là tương đối rộng rãi:
Xét ở cấp độ quốc gia : các dự án này đã góp phần quan trọng đối với công
cuộc tái thiết ở Việt Nam, đóng góp lớn vào sự tăng trưởng kinh tế của ViệtNam trong những qua.Tạo ra sự tăng trưởng kép không chỉ trong lĩnh vực cơ
sở hạ tầng:
Nguồn vốn ODA Nhật Bản đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng đã góp
phần tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Việt Nam theo hướng công
nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển lực lượng sản xuất Nhiều thiết bị vàcông nghệ hiện đại tài trợ bằng nguồn vốn ODA sử dụng cho một số dự ánquan trọng, quy mô lớn, đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật và công nghệ cao đã tạo rabước ngoặt mới trong sự phát triển một số ngành kinh tế mũi nhọn như: giaothông vận tải, viễn thông, điện lực,
Trang 35 Đồng thời nguồn vốn ODA Nhật Bản khi được đầu tư cho cơ sở hạ
tầng cũng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cấp, cải thiện và phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội của Việt Nam ODA đã được tập trung
rất cao để khôi phục, nâng cấp và xây dựng mới hàng loạt các dự án quốc giaquy mô lớn trong các lĩnh vực giao thông, điện, thuỷ lợi, cấp thoát nước (hệthống đường bộ quốc gia như đường QL5, nhiều đoạn QL18,QL10, các cầutrên QL1A ; nhiều nhà máy điện đã được xây dựng như nhà máy nhiệt điệnPhả Lại 2, Phú Mỹ 1,nhà máy thủy điện Hàm Thuận-Đa Mi; phát triển cácnhà máy cấp nước và hệ thống thoát nước của hầu hết các thành phố và thị xãđặc biệt là của hai thành phố lớn là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh ) Đó
là những lĩnh vực đầu tư có tính “xúc tác” vừa có tác dụng trước mắt, đồngthời là cơ sở lâu dài cho sự nghiệp CNH – HĐH đất nước
Xét ở cấp độ ngành và địa phương: nguồn Vốn này đã tạo đà thúc đẩy sự
phát triển của các ngành trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, năng lượng, giaothông vận tải Đây hiện là những nghành giữ vị trí then chốt trong nền kinh tếquốc dân Nguồn vốn ODA Nhật Bản đầu tư cho lĩnh vực cơ sở hạ tầng tạiViệt Nam cũng là nguồn vốn bổ sung quan trong cho các tỉnh thành trong cảnước trong tình trạng ngân sách quốc gia không đủ để phân bổ cho các địaphương
Ngoài ra, khi thực hiện các dự án cơ sở hạ tầng sử dụng vốn ODA đã gópphần giải quyết việc làm cho người lao động, tham gia phát triển nguồn nhânlực cũng như kinh nghiệm điều hành quản lý dự án quốc tế Tính đến nay, các
dự án này đã thu hút một số lượng lớn người lao động trực tiếp tham gia quản
lý và thực hiện các chương trình/dự án ODA (chưa kể số lao động gián tiếptrong lĩnh vực xây dựng, cung ứng dịch vụ ) Trong quá trình thực hiệnngười lao động được đào tạo nâng cao tay nghề, tiếp thu kỹ năng, công nghệ
và kinh nghiệm quản lý tiên tiến, tác phong lao động công nghiệp, trong số đó
có một đội ngũ khá lớn cán bộ quản lý và kỹ thuật đã được đào tạo và đảm
Trang 36nhiệm các chức danh quan trọng trong các Bộ, ngành và địa phương, đặc biệtquan trọng là trong các doanh nghiệp và ban quản lý dự án.
2.4.2.3 Tính bền vững
So với tình hình chung tại các nước nhận viện trợ, tình hình sử dụng ODANhật Bản tại Việt Nam nói chung đã có những vượt trội nhất định Tuy nhiên,nếu xét riêng, tính bền vững của các chương trình, dự án ODA Nhật Bảntrong lĩnh vực cở sở hạ tầng được đánh giá ở mức trung bình khá Nhữngđiểm tích cực về mặt này thể hiện ở những cam kết cụ của các bộ ngành cóliên quan trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng thể để duy trì kết quả của các dự án saukhi những dự án này kết thúc, bao gồm cả việc phân bổ kinh phí để duy trìhoạt động của các sản phẩm do dự án tạo ra Tuy nhiên, nguồn kinh phí phân
bổ cho việc duy trì những kết quả này là không cao
2.4.2.4 Hiệu suất
Qua khảo sát thực tế cho thấy, hầu hết các dự án ODA Nhật Bản đầu tưvào lĩnh vực cơ sở hạ tầng ở Việt Nam đều có tiến độ thực hiện chậm hơn sovới dự kiến ban đầu Chẳng hạn, dự án Thoát nước cải tạo môi trường thànhphố Hà Nội chậm tới 60 tháng; hay do xuất hiên những sự cố kỹ thuât khi thicông (nứt 4 đốt hầm Thủ Thiêm), mà dự án Đại lộ Đông-Tây đã chậm so với
dự kiến 4 năm, đến nay vẫn chưa hoàn thành hết công trình(theo dự kiến Đại
lộ Đông-Tây sẽ hoàn thành vào năm 2007)
Bên cạnh đó, do ảnh hưởng của nhiều yếu tố trong đó có sự hạn chế khi dựtoán tài chính đã khiến cho các dự án khi đi vào thực hiên cần phải bổ sungthêm một lượng kinh phí không nhỏ Đơn cử như dự án Đại lộ Đông-Tây đãphải bổ sung thêm nguồn kinh phí là 12,5 tỷ Yên vào 3/2009
Chính những nhân tố trên khiến cho tiêu chí hiệu suất của đa số các dự ánODA Nhật Bản chỉ được đánh giá ở mức khá Điều này đã phần nào làm giảm
đi hiệu quả sử dụng nguồn vốn này trong phát triển cơ sở hạ tầng
2.4.2.5 Hiệu quả dự án
Trang 37Sau khi hoàn thành, các sản phẩm đầu ra của mỗi dự án đã và đang phát huyhiệu quả của chúng:
Các công trình cơ sở hạ tầng giao thông được đưa vào sử dụng như: cầuBãi Cháy, cầu Cần Thơ, nhà ga Hành khách quốc tế sân bay Tân Sơn Nhất,hầm đèo Hải Vân, đường sắt cao tốc Bắc-Nam đã đáp ứng nhu cầu lưu thôngngày một lớn của người dân, mở rộng và kêt nối sự giao lưu kinh tế giữa cácvùng miền trong cả nước
Các dự án cấp thoát nước(dự án Thoát nước cải tạo môi trường thànhphố Hà Nội, dự án Cải thiện môi trường nước thành phố Hồ Chí Minh giaiđoạn I ) với các hạng mục là các công trình kiểm soát ngập úng; hệ thốngcống, kênh thoát, hệ thống xử lý và cung cấp nước sạch đã hoàn thành cácmục tiêu đề ra là kiểm soát lụt úng, cải thiện chất lượng nước ở các sông hồ,cải thiện chất lượng nước sinh hoạt cho người dân nhất là người dân ở cácthành phố lớn
Các nhà máy thủy điện, nhiệt điện ( Ô Môn, Phả Lại, Phú Mỹ, HàmThuận-Đa Mi, Đại Ninh ) với tổng công suất gần 4000Mw đã đóng góp hơn2% cho sản lượng điện quốc gia, đáp ứng nhu cầu điện gia tăng hàng năm chosản xuất và đời sống ở các thành phố, thị trấn, thị xã, khu công nghiệp và khuvực nông thôn trên cả nước
Nhìn chung, hiệu quả các dự án ODA Nhật Bản đầu tư cho lĩnh vực cơ
sở hạ tầng được đánh giá ở mức độ cao do những lợi ích kinh tế – xã hội màchúng đem lại khi đưa vào vận hành và sử dụng
2.4.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng ODA Nhật Bản đối với một số dự án cụ thể
2.4.3.1 Dự án Hầm đèo Hải Vân
Trang 38Dự án xây dựng hầm đường bộ qua đèo Hải Vân được Thủ tướng phêduyệt đầu tư tại Quyết định số 905/QĐ-TTg ngày 30/9/1998, được khởi côngngày 27/8/2000 và chính thức bước vào xây dựng tháng 10/2000.
Dự án hầm đèo Hải Vân được đầu tư bằng nguồn vốn vay ODA củaChính phủ Nhật Bản thông qua Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC)
và vốn đối ứng của Chính phủ Việt Nam do Ban Quản lý dự án 85 thuộc BộGiao thông Vận tải làm đại diện Chủ đầu tư Tổng vốn đầu tư xây dựng hầmđèo Hải Vân là hơn 127,9 triệu USD, trong đó vốn ODA chiếm hơn 75% Saugần 5 năm thi công ngày 5/6/2005, hầm đèo Hải Vân đã khánh thành và thông
xe chính thức
Trong khuôn khổ đánh giá 3 năm về hiệu quả đầu tư các nguồn vốn củaNhật Bản tài trợ cho Việt Nam, Đoàn đánh giá chung Việt Nam - Nhật Bảngồm đại diện Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), Bộ Kế hoạch và Đầu
tư và các bộ, ngành liên quan đã có chuyến khảo sát tại Đà Nẵng liên quanđến dự án xây dựng hầm đèo Hải Vân Báo cáo của Đoàn đánh giá chung ViệtNam - Nhật Bản cho thấy, dự án Hầm đèo Hải Vân là dự án khá tiêu biểu vềhiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA Nhật Bản trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng tạiViệt Nam Điều này được thể hiện ở các mặt sau:
Tính phù hợp : Dự án hoàn toàn phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế –
xã hội của đất nước cũng như của địa phương, phù hợp với nhu cầu mở rộnggiao lưu kinh tế của Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế với các tỉnh thành khác Đồngthời, hầm đèo Hải Vân cũng đáp ứng yêu cầu nâng cấp hệ thống giao thôngđường bộ của Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế nói riêng và của Việt Nam nóichung
Tác động : Hầm đèo Hải Vân hoàn thành và đưa vào sử dụng đã góp phần
rất lớn trong thúc đẩy thu hút đầu tư (nhất là đầu tư trực tiếp nước ngoài),cũng như tăng trưởng kinh tế của Đà Nẵng và Thừa Thiên Huế, nâng tổng vốnđầu tư trực tiếp nước ngoài thu hút được tại Đà Nẵng từ 33,5 triệu USD năm
2000 lên 602 triệu USD trong năm 2008 Năm 2009, thành phố Đà Nẵng đã
Trang 39có 164 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn 2,62 tỷ USD Hai năm liền(2008-2009), Đà Nẵng liên tục dẫn đầu cả nước về chỉ số năng lực cạnh tranhcấp tỉnh là có sự đóng góp không nhỏ của cơ sở hạ tầng, trong đó có Hầm đèoHải Vân.Tác động này đối với Thừa Thiên Huế thậm chí còn lớn hơn, từ chỗchỉ thu hút được 2,8 triệu USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2000, đãđạt được 1,096 tỷ USD trong năm 2008 Đặc biệt, hầm đường bộ Hải Vânchính là một trong những mấu chốt khá quan trọng, góp phần hình thành vàphát triển Khu kinh tế Lăng Cô - Chân Mây và Khu công nghiệp Liên Chiểu;đẩy mạnh tăng cường giao lưu kinh tế - xã hội giữa Đà Nẵng và Thừa ThiênHuế với các địa phương khác.
Hầm đèo Hải Vân đã trở thành cửa ngõ của Hành lang Đông - Tây nối VNvới Lào, Thái Lan và các nước khác trong khu vực Theo đánh giá của cácchuyên gia, Hải Vân là điểm đầu và điểm cuối của Hành lang kinh tế Đông -Tây mà các nước ASEAN, các nước tiểu vùng sông Mê Kông coi là một dự
án quan trọng của khu vực Với công trình này, sẽ có tác động đẩy mạnh xuấtkhẩu của Đà Nẵng sang các nước láng giềng
Hiệu quả dự án : Được hoàn thành từ tháng 6/2005, hầu hết các gói thầu
xây dựng và cung cấp lắp đặt thiết bị của dự án hầm đường bộ qua đèo HảiVân đều đạt tiêu chuẩn quốc tế, được Hội đồng nghiệm thu Nhà nước ViệtNam đánh giá cao và đưa vào nghiệm thu xác nhận.Trong quá trình thi công,
do có sự quản lý hợp lý và hiệu quả nên dự án đã tiết kiệm cho Nhà nước gần
100 triệu USD Các thông số về môi trường, độ an toàn và chuyển giao côngnghệ đều được đánh giá cao Công trình này đã được Hoa Kỳ trao cho giảithưởng tốt nhất về chất lượng năm 2006
Hầm dèo Hải Vân làm thỏa lòng mong đợi từ bao đời nay của nhân dân
cả nước nhằm cải thiện điều kiện giao thông qua lại trên đoạn đường đèohiểm trở Hải Vân, nơi thường xuyên xảy ra ách tắc và tai nạn giao thông.Giảm đoạn đường qua đèo từ 22 km xuống còn khoảng 10 km bằng tuyếnđường hầm an toàn, hiệu quả và thuận lợi Theo thiết kế, hầm đèo Hải Vân có
Trang 40sức lưu thông đến 15.000 lượt xe/ngày đêm đã đáp ứng nhu cầu lưu thôngđồng thời giảm thiểu các vụ tai nạn vẫn thường xuyên sảy ra ở đây do yếu tốđịa hình hiểm trở Theo thống kê của Bộ Giao thông Vận tải, từ khi hầm đèoHải Vân được đưa vào sử dụng đến nay, số vụ tai nạn giao thông ở đây đãgiảm hơn 70% so với trước.
Hiệu suất : theo dự kiến ban đầu, hầm đèo Hải Vân sẽ hoàn thành vào quý
III/2003 nhưng do một số nguyên nhân liên quan đến tiến độ giải ngân vốn,các yếu tố kỹ thuật nên công trình đã vị chậm tiến độ so với dự kiến ban đầu.Tuy vậy, trong quá trình thực hiện dự án cũng đã có những thời điểm tiến độthi công được đẩy nhanh hơn so với dự tính (Theo Ban quản lý Dự án 85 chobiết, đến 2/2003, các đơn vị thi công đường Hầm Hải Vân đã đạt trên 60%khối lượng công trình; các hầm lánh nạn, hầm thông gió cũng đạt đến 90%khối lượng; bình quân, các đơn vị thi công đã hoàn thành trên 50% tổng khốilượng các hạng mục công trình, tức là vượt tiến độ thi công theo kế hoạch đã
đề ra)
Tính bền vững : Dự án hầm đèo Hải Vân thành công đã tạo điều kiện
thuận lợi cho các dự án sau này Các công nghệ hiện đại được áp dụng vàoxây dựng đường hầm sẽ được khai thác sâu hơn và phổ biến rộng rãi hơn, tạothành sức mạnh công nghệ cao của VN
Sự thành công đối với dự án hầm đèo Hải Vân là biểu tượng cho tình hữunghị Việt Nam - Nhật Bản, mở ra các cơ hội hợp tác lâu dài trong tương lai,
mà minh chứng là đã có thêm rất nhiều các dự án cơ sở hạ tầng khác đượctriển khai như: dự án Đại lộ Đông-Tây, dự án đường sắt cao tốc Bắc-Nam
2.4.3.2 Dự án Thoát nước cải tạo môi trường thành phố Hà Nội
Dự án này được phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ, số 112/TTg ngày15/2/1996 Tổng số vốn đầu tư của dự án là 200 triệu USD kể cả dự phòng vàtrượt giá, trong đó: Vốn ODA: 80% ; vốn đối ứng 20 % Vốn ODA của Quỹhỗ trợ phát triển kinh tế Hải ngoại Nhật Bản (OECF) nay là JBIC (ngân hànghợp tác quốc tế Nhật Bản) cho vay 30 năm, ân hạn 10 năm, sau đó mới tính