Về đề tài nghiên cứu khoa học cấp ĐHQG-HCM và cấp trường Đề tài nghiên cứu trọng điểm ĐHQG-HCM của Nguyễn Văn Tài “Nghiên cứu sự tác động của các yếu tố kinh tế - xã hội đến hoạt động h
Trang 1***
HOÀNG THỊ HẠNH
NẾP SỐNG CỦA SINH VIÊN Ở KÝ TÚC XÁ
TẠI VIỆT NAM
(TRƯỜNG HỢP SINH VIÊN Ở KÝ TÚC XÁ ĐẠI HỌC QUỐC GIA
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH)
LUẬN VĂN THẠC SĨ VIỆT NAM HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2014
Trang 2***
HOÀNG THỊ HẠNH
NẾP SỐNG CỦA SINH VIÊN Ở KÝ TÚC XÁ
TẠI VIỆT NAM
(TRƯỜNG HỢP SINH VIÊN Ở KÝ TÚC XÁ ĐẠI HỌC QUỐC GIA
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2014
Trang 3Luận văn Nếp sống của sinh viên ở Ký túc xá tại Việt Nam (Trường hợp
sinh viên ở Ký túc xá Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh)” đƣợc thực
hiện từ tháng 11/2012 đến tháng 11/2014 Luận văn sử dụng những thông tin từ
quá trình điền dã nhân học – dân tộc học, khảo sát định lƣợng và một số nguồn tài liệu khác
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực Các tài liệu tham khảo
có nguồn gốc và trích dẫn rõ ràng
Tp.HCM, ngày tháng 12 năm 2014
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Hạnh
Trang 4Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn chỉnh luận văn, tác giả đã nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ của các cấp lãnh đạo và quý thầy cô giáo Với tất cả tấm lòng chân thành, tác giả xin cảm ơn đến tất cả quý thầy cô giáo Khoa Việt Nam học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Tác giả đặc biệt xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Phan Thị Yến Tuyết, người cô trực tiếp giảng dạy, gợi mở ý tưởng đề tài, hướng dẫn khoa học, và dành nhiều thời gian quý báu để tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học và thực hiện luận văn
Cảm ơn Trung tâm Quản lý Ký túc xá ĐHQG-HCM cùng các bạn sinh viên
đã nhiệt tình giúp đỡ tác giả
Cảm ơn ThS Phạm Thanh Thôi và nhóm sinh viên khoa Nhân học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và nhân văn
Xin cảm ơn những người đồng nghiệp tại Cơ quan ĐHQG-HCM, người thân trong gia đình đã ủng hộ, tạo điều kiện thuận lợi để tác giả hoàn thành luận văn
Mặc dù đã có nhiều cố gắng song luận văn không thể tránh khỏi thiếu sót nhất định, tác giả rất mong nhận được sự chỉ bảo của quý thầy cô
Tp.HCM, ngày tháng12 năm 2014
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Hạnh
Trang 5KHXH&NV Khoa học xã hội và nhân văn
Trang 6Hình 1.1: KTX khu A hiện hữu 30
Hình 1.2: KTX khu B 32
Hình 3.1 Hành lang KTX 106
Hình 3.2: Remote quản lý giờ dùng máy điều hòa 106
Hình 3.3: Tủ đựng đồ tại phòng ở 106
Hình 3.4: Góc học tập tại phòng ở 106
Hình 3.5: Phòng ở của KTX 106
2 BẢNG Bảng 1.1: Số lượng SV ở KTX tại khu A hiện hữu 28
Bảng 1.2: Số lượng SV ở KTX tại khu B hiện hữu 28
Bảng 1.3: Bảng phân bố các tòa nhà KTX tại khu A 30
Bảng 1.4: Dịch vụ phục vụ SV tại KTX ĐHQG-HCM 32
Bảng 2.1: Mức độ về việc tự học của SV ở KTX 44
Bảng 2.2: Thống kê các yếu tố khiến SV không học tại phòng tự học 54
Bảng 2.3: So sánh hiệu quả học bài tại phòng tự học và tại phòng ở 54
Bảng 2.4: Đánh giá của SV về vấn đề vệ sinh của các nhà ăn tại KTX 57
Bảng 2.5: Loại hình giải trí yêu thích nhất của sinh viên 72
Bảng 2.6: So sánh một số nội dung ở KTX và ở trọ 96
Bảng 3.1: So sánh một số nội dung giữa các KTX khu vực Đông Á 117
Bảng 3.2: So sánh một nội dung giữa các KTX phương Tây 119
3 BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1: Mức độ tham gia học nhóm của SV trong KTX 50
Biểu đồ 2.2: Địa điểm SV ở KTX thường tự học bài 52
Biểu đồ 2.3: Ý kiến của SV về khẩu vị ăn tại KTX 56
Biểu đồ 2.4: Tỷ lệ SV mong muốn được nấu ăn tại KTX 59
Trang 7Biểu đồ 2.7: Hình thức chữa bệnh của SV khi bị bệnh 78
Biểu đồ 2.9: Nhận định của SV về mặt trưởng thành nhất khi sống ở KTX 91 Biểu đồ 2.10: Đánh giá của SV về mức độ an toàn khi ở KTX và ở trọ 93 Biểu đồ 2.11: Ý kiến của SV về những yếu tố không thuận tiện khi ở KTX 95
4 SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Tháp nhu cầu của Maslow 19
Sơ đồ 3.1: Sơ đồ phòng ở 01 người tại KTX ĐH Ritsumeikan Asian Pacific 102
Trang 82 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4 Phương pháp nghiên cứu 8
5 Mục tiêu nghiên cứu 11
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 11
7 Cấu trúc luận văn 12
CHƯƠNG 1 14
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ KÝ TÚC XÁ ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 14
1.1 Cơ sở lý luận 14
1.1.1 Các khái niệm khoa học 14
1.1.2 Các lý thuyết tiếp cận 17
1.2 Tổng quan về Ký túc xá Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh 20
1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh 20
1.2.2 Lịch sử hình thành và phát triển Ký túc xá Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh 22
1.2.3 Cơ cấu tổ chức quản lý Ký túc xá 24
1.2.4 Cơ sở vật chất phục vụ việc học tập và sinh hoạt cá nhân 29
CHƯƠNG 2: 39
THỰC TRẠNG NẾP SỐNG CỦA SINH VIÊN Ở KÝ TÚC XÁ ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 39
2.1 Nếp sống của sinh viên trong hoạt động học tập 39
2.1.1 Ý thức học tập của sinh viên 39
2.1.2 Phương pháp học của sinh viên 48
2.2 Nếp sống của sinh viên trong sinh hoạt cá nhân 55
Trang 92.2.3 Về trang phục, thói quen mua sắm, giải trí, thể dục thể thao 65
2.3 Nếp sống của sinh viên trong giao tiếp, ứng xử và tham gia hoạt động
đoàn thể 79
2.3.1 Hoạt động giao tiếp ứng xử 79
2.3.2 Thói quen tham gia hoạt động đoàn thể 87
CHƯƠNG 3 99
VẤN ĐỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SỐNG VÀ HỌC TẬP CHO SINH VIÊN TẠI KÝ TÚC XÁ ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH QUA KINH NGHIỆM HOẠT ĐỘNG CỦA KÝ TÚC XÁ TRÊN THẾ GIỚI 99
3.1 Mô hình Ký túc xá tại một số nước trên thế giới 99
3.1.1 Ký túc xá khu vực Đông Á: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan 99
3.1.2 Ký túc xá phương Tây: Hoa Kỳ, Canada, Đức, Úc 107
3.2 Nhận định chung về mô hình Ký túc xá trên thế giới 115
3.2.1 Ký túc xá khu vực Đông Á 115
3.2.2 Ký túc xá phương Tây 118
3.3 Một số đề xuất để cải thiện KTX ĐHQG-HCM 120
3.3.1 Đề xuất với Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh 120
3.3.2 Đề xuất với Trung tâm Quản lý Ký túc xá 125
KẾT LUẬN 135
TÀI LIỆU THAM KHẢO 142
PHỤ LỤC 147
Trang 10Giáo dục và đào tạo là lĩnh vực được Đảng và nhà nước Việt Nam đặc biệt quan tâm, trong đó phát triển giáo dục được xác định là quốc sách hàng đầu, là mục tiêu, động lực, điều kiện xây dựng đất nước Mỗi năm, nhà nước đã chi 20% ngân sách cho sự nghiệp giáo dục, điều này thể hiện tầm quan trọng của giáo dục – đào tạo đối với sự phát triển đất nước
Tại các cơ sở giáo dục đại học, bên cạnh việc đổi mới phương pháp giảng dạy lấy người học làm trung tâm, hệ thống cơ sở vật chất phục vụ trường học như giảng đường, hệ thống thư viện, phòng thí nghiệm cũng như việc xây dựng Ký túc
xá (KTX) được các đơn vị quan tâm, đầu tư xây dựng nhằm tạo điều kiện thuận lợi
để sinh viên (SV) phát triển toàn diện cả về tri thức và thể chất Những cơ sở vật chất này cũng là một trong những tiêu chí để đánh giá chất lượng giáo dục đại học theo tiêu chuẩn kiểm định dành cho các trường đại học thuộc khối ASEAN (gọi tắt
là tiêu chuẩn AUN1
)
Theo số liệu năm học 2009-2010 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, toàn TP.HCM
có 62 trường đại học, cao đẳng Tuy nhiên, tính đến năm 2011, hệ thống KTX cho
SV đang học tập tại thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của SV Nếu chỉ tính cho SV hệ chính quy, hệ thống KTX của các cơ sở đào tạo chỉ đáp ứng cho khoảng 20-30% nhu cầu2
Tính đến năm 2010, KTX HCM cũng chỉ mới đáp ứng được 50% nhu cầu của SV ĐHQG-HCM [7, tr.65]
ĐHQG-Tuy nhiên, tình hình sắp xếp chỗ ở cho SV tại KTX ĐHQG-HCM trong năm học 2012-2013 có sự thay đổi và chuyển biến đáng kể Thực hiện ý kiến chỉ đạo Chính phủ, ĐHQG-HCM đã xây dựng KTX 60.000 chỗ nhằm đáp ứng nhu cầu nội trú cho SV các trường thành viên, khoa, trung tâm trực thuộc ĐHQG-HCM và các
Trang 112013, tất cả các SV năm thứ nhất của các trường đại học, khoa thành viên của ĐHQG-HCM đều được khuyến khích ở trong KTX và bắt đầu từ năm học 2013-
2014, SV năm thứ nhất của ĐHQG-HCM ở các tỉnh, thành bắt buộc phải ở KTX, nếu SV muốn ở ngoại trú thì phải có đơn nêu rõ lý do SV các khóa trước cũng được ĐHQG-HCM khuyến khích vào ở tại KTX
Việc tiếp nhận, quản lý số lượng SV lớn như hiện nay là một vấn đề không
hề đơn giản, đòi hỏi sự phối hợp quản lý đồng bộ, chặt chẽ của các bộ phận liên quan, của Trung tâm Quản lý Ký túc xá (TTQLKTX) với Ban Công tác Sinh viên
và các đơn vị thành viên và trực thuộc có SV sống ở KTX Hơn nữa, KTX HCM là một KTX tiêu biểu, điển hình về tiện nghi, điều kiện cơ sở vật chất trong
hệ thống KTX tại TP.HCM nói riêng và cả nước nói chung, vì thế KTX HCM không đơn giản chỉ là một chỗ ở đơn thuần mà còn là nơi phải có điều kiện sinh sống, học tập tiện nghi, lành mạnh, là ngôi nhà thân thương thứ hai để SV rèn luyện, trưởng thành
ĐHQG-Hiện nay, ĐHQG-HCM đang thực hiện đổi mới giáo dục cùng với chiến lược đổi mới giáo dục của cả nước, nên SV được xem là đối tượng ưu tiên hàng đầu Việc nâng cao chất lượng học tập, nghiên cứu khoa học của SV cũng đồng thời với việc nâng cao chất lượng giáo dục đại học Muốn được như vậy, ngoài ý thức tự giác, thái độ học tập tích cực của mỗi SV, thì môi trường xã hội, môi trường học tập của SV trong KTX cũng đóng một vai trò quan trọng Chính vì thế nên chúng tôi - những người đang công tác tại ĐHQG-HCM, rất quan tâm và mong muốn tìm hiểu thực trạng nếp sống của SV ở KTX ĐHQG-HCM hiện nay dưới góc độ là một trong những KTX điển hình của Việt Nam qua thực trạng hoạt động học tập, ăn ở, vui chơi, và giao tiếp ứng xử của SV Khảo sát SV tại KTX như một cộng đồng đồng nhất, chúng tôi sẽ thấy những thuận lợi và khó khăn của SV khi sống ở KTX, để có những đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng phục vụ SV Chúng tôi hy vọng
SV ĐHQG-HCM không chỉ có được nơi ăn chốn ở thuận lợi mà còn có thể nâng
Trang 12Chúng tôi quan tâm đến SV còn bởi SV chính là lực lượng trí thức trẻ, là rường cột của đất nước trong tương lai nên việc nghiên cứu về đối tượng này cần được chú trọng đúng mức để có được những chính sách hợp lý nhằm phát huy, nâng cao hơn nữa vị trí, vai trò của SV trong sự nghiệp giáo dục và phát triển đất nước
Đặc điểm của ngành Việt Nam học là nghiên cứu đất nước và con người Việt Nam sống trên vùng đất nước, rộng ra là khu vực Đông Nam Á hay Đông Á, Nam
Á Trong luận văn này, tác giả tìm hiểu SV dưới góc độ một cộng đồng, những người trí thức trẻ, cùng sinh sống trong môi trường KTX của một trong hai đại học lớn nhất Việt Nam, không thể không liên hệ đến KTX những trường đại học khác trong khu vực Nghiên cứu đề tài này để so sánh mô hình KTX đại học ở Việt Nam với KTX của đại học ở nước ngoài, từ đó rút ra được những ưu điểm cũng như hạn chế của KTX Việt Nam
Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu “Nếp sống của sinh
viên ở Ký túc xá tại Việt Nam (Trường hợp sinh viên ở Ký túc xá Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh)”
Trang 13sống SV Trường ĐH Sư phạm TP.HCM Công trình bao gồm 4 vấn đề: về cuộc sống; về xã hội và về những mối quan hệ trong xã hội; về gia đình và những mối quan hệ trong gia đình; về giáo dục
Về đề tài nghiên cứu khoa học cấp ĐHQG-HCM và cấp trường
Đề tài nghiên cứu trọng điểm ĐHQG-HCM của Nguyễn Văn Tài “Nghiên cứu sự tác động của các yếu tố kinh tế - xã hội đến hoạt động học tập và định hướng việc làm sau khi tốt nghiệp của sinh viên Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa” được thực hiện từ năm
trong 2 năm từ 2001-2003 với 1.243 mẫu là SV của 3 trường: Trường ĐH Bách khoa, Trường ĐH KHXH&NV, Trường ĐH Khoa học Tự nhiên Công trình này đã nghiên cứu thực trạng việc học tập và khuynh hướng nghề nghiệp của SV tại ĐHQG-HCM và chỉ ra được đại bộ phận SV học tại ĐHQG-HCM là vì yêu thích, tuy nhiên với thực tế thì tình cảm này có sự thay đổi Việc học tập của SV chịu tác động mạnh mẽ của yếu tố nội dung giảng dạy và phương pháp giảng dạy
Trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường “Nghiên cứu hoạt động học tập, làm thêm giờ, đời sống tình cảm và giải trí của sinh viên trường ĐH Khoa học
xã hội & Nhân văn hiện nay” của Lê Thị Yên Di, Hoàng Công Thảo dựa trên những
khảo sát về việc học tập, làm thêm giờ, đời sống tình cảm và giải trí của SV từ năm
1 đến năm 4 của các khoa (trừ khoa Việt Nam học và khoa Nga văn) trong năm học 2002-2003 với 302 SV đã rút ra nhận định là SV Trường ĐH KHXH&NV tích cực học tập, phương pháp học nhóm sẽ đem lại kết quả cao Nhóm nghiên cứu cũng nhận định một thực trạng là hầu hết giảng viên chỉ quan tâm đến truyền đạt kiến thức và kiểm tra trí nhớ mà không quan tâm đến rèn luyện kỹ năng và nhân cách chuẩn bị vào đời SV làm thêm với những công việc không phù hợp với chuyên ngành SV có xu hướng giải trí một mình hơn là tham gia các hoạt động cộng đồng khi rảnh rỗi
Trang 14dục nếp sống cho sinh viên nội trú Trường Cao đẳng Giao thông Vận tải 3” phân
tích nếp sống SV qua các biểu hiện trong học tập; trong sinh hoạt tập thể, cá nhân
và lao động và trong quan hệ ứng xử Luận văn tập trung phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến rèn luyện nếp sống của SV, phân tích ảnh hưởng của chủ thể giáo dục đối với nếp sống SV, đặc biệt là hoạt động Đoàn thanh niên cộng sản trong việc giáo dục nếp sống SV tại trường, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm củng cố và nâng cao hiệu quả công tác quản lý giáo dục nếp sống cho SV
Cũng nhìn nhận dưới góc độ quản lý, năm 2006 Văn Ngọc Sen trong luận
văn “Thực trạng quản lý nếp sống văn hóa của sinh viên ở Kí túc xá Trường Cao đẳng sư phạm Nha Trang” đã phân tích thực trạng quản lý nếp sống văn hóa của
SV nhìn dưới góc độ chủ thể quản lý, các nội dung và biện pháp quản lý nếp sống
SV hiện nay, từ đó đề ra các biện pháp nhằm nâng cao công tác quản lý nếp sống
SV Trong luận văn tác giả tiếp cận nếp sống văn hóa SV trên các phương diện giao tiếp ứng xử, học tập và sinh hoạt cá nhân
Luận văn “Công tác quản lý hoạt động học tập và nghiên cứu khoa học của
SV Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh” của Đinh Ái Linh đã tiến hành khảo
sát thực trạng học tập, nghiên cứu khoa học của 584 SV học tại ĐHQG-HCM Kết quả khảo sát, phân tích đã chỉ ra những hạn chế của SV trong việc học tập đó là thái
độ học tập, phương pháp, kế hoạch, nội dung học tập và trong nghiên cứu khoa học còn gặp nhiều trở ngại, hạn chế trong cơ chế chính sách làm cho nhu cầu nghiên cứu khoa học chưa trở thành nhu cầu bức xúc và SV chưa say mê với công tác này Tác giả đã lý giải nguyên nhân dẫn đến hạn chế về công tác quản lý học tập và nghiên cứu khoa học của SV ĐHQG-HCM, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động học tập và nghiên cứu khoa học cho
SV
Trang 151972 Có thể xem khóa luận này là một trong những công trình nghiên cứu trước năm 1975 đề cập trực tiếp đến nếp sống của SV tại thành phố Hồ Chí Minh
Nội dung khóa luận tìm hiểu nếp sống của nữ SV ở hai phạm vi: SV ở nhà trọ và SV ở trong các lưu xá điển hình, trong đó tác giả tập trung nghiên cứu nếp sống của nữ SV tại lưu xá Thanh Quan Trong đó, tác giả đề cập các các nội dung: nguyên nhân và mục đích thành lập, tổ chức điều hành, việc thu nhận SV và tiêu chuẩn chọn người; sinh hoạt của lưu xá; những sắc thái đặc thù của lưu xá Thanh Quan (tự túc về tài chính, Trò chơi tình yêu, Lễ truyền thống) Các vấn đề của nữ
SV lưu trú (học hành, tình cảm, giải trí, thời trang, cư xử) và so sánh với các lưu xá khác về sinh hoạt chung; kỷ luật và trật tự; về tổ chức quản lý
Về công trình dự thi EURÉKA
Một số công trình dự thi giải thưởng khoa học SV EURÉKA liên quan đến
đề tài về KTX như:
- Đề tài “Thực trạng đạo đức và việc giáo dục đạo đức, lối sống cho sinh viên trong Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh hiện nay (Khu vực Linh Trung, Thủ Đức) năm 2006 của Dương Vũ Hải và cộng sự đã đưa ra một số nhận định rằng đa
số SV ĐHQG-HCM sống có lý tưởng nhưng một bộ phận nhỏ có lối sống thiếu hoài bão; Lối sống của SV đang có biểu hiện của việc sống thực dụng, coi trọng đồng tiền Ý thức học tập của SV còn kém, chỉ mang tính đối phó
- Đề tài “Chất lượng phục vụ đời sống sinh viên của Ký túc xá Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh” năm 2007 do Nguyễn Văn Quý làm chủ nhiệm đã tìm
hiểu các hoạt động chăm lo đời sống SV tại KTX ĐHQG-HCM từ cơ sở vật chất, an ninh trật tự, nhà ăn, đến các hoạt động văn hóa, thể thao, nghệ thuật, các CLB, qua
đó tác giả đánh giá thực trạng đời sống của SV nơi đây trong cái nhìn so sánh với điều kiện của các KTX khác như KTX Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật TP.HCM,
Trang 16- Đề tài “Nhu cầu tiếp nhận truyền thông đại chúng của sinh viên Ký túc xá Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh” năm 2009 của Hà Trọng Phong cùng
cộng sự đã tìm hiểu thực trạng phương tiện truyền thông đại chúng tại KTX HCM (báo in, truyền hình, phát thanh), mức độ tiếp nhận truyền thông đại chúng của SV KTX đồng thời tìm hiểu xem điều kiện phương tiện thông tin đại chúng đã đáp ứng được nhu cầu của SV chưa, từ đó đánh giá hiệu quả mà phương tiện truyền thông đại chúng đem lại cho SV KTX ĐHQG-HCM
ĐHQG-Tóm lại, các nghiên cứu tập trung chủ yếu vào nghiên cứu về lối sống, hoạt động học tập, nghiên cứu khoa học của SV hiện nay Việc nghiên cứu đối tượng nếp sống của SV đã bước đầu được nghiên cứu, tuy nhiên mới chỉ tiếp cận ở góc độ quản lý giáo dục Việc tiếp cận vấn đề này dưới góc độ liên ngành của ngành Việt Nam học còn khá mới, cho đến hiện nay, chúng tôi chưa tìm thấy công trình nghiên
cứu nào giúp cho chúng tôi cái nhìn tổng thể đa dạng Với luận văn “Nếp sống của sinh viên ở Ký túc xá tại Việt Nam (Trường hợp sinh viên ở Ký túc xá Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh)”, chúng tôi muốn tiếp cận hướng nghiên cứu mới là
xem xét mô hình hoạt động của KTX trên thế giới để xem xét mô hình KTX ở Việt Nam (qua KTX ĐHQG-HCM), từ đó chúng tôi sẽ nêu những kiến nghị cụ thể để xem KTX đã hội nhập hay chưa hội nhập gì với bên ngoài trong hướng phấn đấu đạt chuẩn AUN
Tài liệu trong luận văn này chủ yếu là tài liệu chính tác giả luận văn khảo sát trong thời gian thực hiện đề tài
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận văn là Nếp sống của SV ở KTX ĐHQG-HCM
Trang 17Thành phần phỏng vấn gồm 5 nhóm:
- SV hiện sống tại KTX ĐHQG-HCM và cựu SV đã từng sống tại KTX ĐHQG-HCM Đây là SV của các trường, khoa, trung tâm thuộc ĐHQG- HCM
- SV ở trọ gần khu vực KTX
- Giảng viên, sinh viên từng du học và ở KTX nước ngoài
- Lãnh đạo Trung tâm Quản lý Ký túc xá (TTQLKTX)
- Lãnh đạo ĐHQG-HCM
Sở dĩ chúng tôi chọn KTX ĐHQG-HCM để khảo sát vì đây là một hệ thống KTX lớn, tiêu biểu cho hệ thống KTX của cơ sở giáo dục đại học tại TP.HCM nói riêng và tại Việt Nam nói chung
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi không gian: Chúng tôi chỉ nghiên cứu KTX tại Quận Thủ Đức,
TP.HCM và Thị xã Dĩ An, Tỉnh Bình Dương Hiện nay, KTX ĐHQG-HCM gồm 2 khu là khu A và khu B, trong đó khu A (gồm khu A hiện hữu và khu A mở rộng) và khu B (khu B hiện hữu và khu B mở rộng)
Phạm vi thời gian: Thời gian nghiên cứu của đề tài từ 2000-2014
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Nghiên cứu định tính
Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi chủ yếu thực hiện điền dã dân tộc học – nhân học Chúng tôi đã khảo sát thực địa ở KTX ĐHQG-HCM 2 lần, lần thứ nhất 1 tuần (từ 25/3 đến 29/3/2013), lần thứ hai 2 tuần (từ 8/4 đến 19/4/2013) Ngoài ra, chúng tôi có tham dự một số hoạt động do TTQLKTX tổ chức như Chương trình ca nhạc của Nhạc sĩ Nguyễn Văn Chung (2/12/2012), Lễ chào đón năm mới (31/12/2012), (31/12/2013), Lễ đón tết cổ truyền cho các SV ở lại KTX ăn
Trang 18tết (6/2/2013 nhằm ngày 26 tết âm lịch) Trong khi đi điền dã chúng tôi tiến hành các phương pháp:
- Phương pháp quan sát tham dự, đây là phương pháp đặc thù của ngành nhân học, bắt buộc người nghiên cứu trực tiếp tham gia vào những hoạt động của nhóm với tư cách là một thành viên của nhóm đó3 Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành tham gia các sinh hoạt trong đời sống hàng ngày, quan sát các hoạt động vui chơi giải trí, thể dục thể thao, giao tiếp ứng xử của SV tại KTX để tìm hiểu về cuộc sống của SV, nắm bắt được tình hình thực tế cũng như thấy rõ được những thuận lợi và khó khăn của SV khi sinh hoạt trong môi trường KTX
Khi tiếp cận theo hướng này, chúng tôi cố gắng thực hiện việc thu thập thông tin vào những khoảng thời gian khác nhau trong năm: trong ngày thường, trong mùa thi, thời gian nghỉ tết, nghỉ hè, thời gian TTQLKTX tổ chức những hoạt động văn hóa văn nghệ lớn nhằm thu thập thông tin đa dạng, phong phú phục vụ cho quá trình phân tích dữ liệu nghiên cứu liên quan đến luận văn
- Phương pháp phỏng vấn sâu, đây là phương pháp phỏng vấn dựa theo các câu hỏi mà đề tài quan tâm4
Các đối tượng mà chúng tôi chọn để phỏng vấn sâu có
35 người gồm 23 SV (18 SV sống trong KTX, 2 cựu SV ở KTX và 3 SV thuê nhà trọ bên ngoài KTX), 01 lãnh đạo Ban CTSV, 01 lãnh đạo của TTQLKTX, và 10 giảng viên, SV của ĐHQG-HCM và một trường ĐH bên ngoài ĐHQG-HCM, đã và đang sống ở KTX tại các trường đại học tiên tiến trên thế giới như Hoa Kỳ, Canada,
Úc, Trung Quốc, Nhật, Hàn Quốc,… nhằm có cái nhìn so sánh về phương thức quản lý, các dịch vụ phục vụ SV, những điều kiện vật chất và tinh thần dành cho
SV, từ đó thấy được mặt tích cực cũng như những điểm còn hạn chế trong công tác quản lý điều hành, đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất cho SV sống tại KTX ĐHQG-HCM
Trang 19Các cuộc phỏng vấn đều được chúng tôi ghi âm, sau khi đã nhận được sự đồng ý của người được phỏng vấn Ngoài ra, chúng tôi có trao đổi nhanh và trò chuyện với nhiều SV khác ở KTX
Nội dung phỏng vấn sâu đối với các SV nhằm tìm hiểu những thông tin về thói quen trong các hoạt động học tập, sinh hoạt, giao tiếp ứng xử, việc tham gia các hoạt động tập thể và những thuận lợi, khó khăn mà SV phải đối mặt khi sống ở KTX Chúng tôi cũng tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng và mong muốn của SV về việc cải thiện các dịch vụ tại KTX để cuộc sống của SV được thuận lợi hơn Sau khi phỏng vấn xong, chúng tôi tiến hành gỡ băng và tập hợp phân tích các biên bản phỏng vấn
Chúng tôi tiến hành phỏng vấn chiến lược – là hình thức “phỏng vấn những người có thẩm quyền trả lời cấp vĩ mô, chiến lược các vấn đề có liên quan đến đề tài”5
đối với 01 lãnh đạo trong Ban Giám đốc TTQLKTX để biết chủ trương, mục tiêu, kế hoạch chiến lược của TTQLKTX trong công tác quản lý, điều hành, cũng như nâng cao chất lượng sống và học tập cho SV ở nội trú tại KTX ĐHQG-HCM
- Trong nghiên cứu, chúng tôi còn sử dụng phương pháp chủ thể/khách thể (emics/etics), trong đó “Chủ thể là người trong cuộc (người bản địa) để biết thế giới quan và quan niệm của họ về những đặc trưng riêng về thế giới của họ Còn khách thể là quan điểm của phỏng vấn viên, là người bên ngoài (người nghiên cứu) khi quan sát cung cách ứng xử của cá thể hoặc nhóm người trong cuộc phát biểu” [27, tr.32] Sử dụng phương pháp này, chúng tôi đưa tiếng nói của người được phỏng vấn dưới dạng trích dẫn vào các nội dung nghiên cứu để chứng minh cho các luận điểm trình bày trong luận văn làm cho nội dung luận văn mang tính chân thực, khách quan hơn
- Ngoài ra, trong luận văn, chúng tôi sử dụng các thao tác: phân tích, tổng hợp, so sánh đối chiếu các tài liệu thu thập được
5
Tập bài giảng Phương pháp nghiên cứu khoa học của PGS.TS Phan Thị Yến Tuyết
Trang 20Phương pháp liên ngành (Interdisciplinary research): Chúng tôi sử dụng phương pháp tiếp cận theo hướng liên ngành để nghiên cứu, với các ngành: văn hóa học, nhân học, giáo dục học, xã hội học để tìm hiểu nếp sống của SV ở KTX ĐHQG-HCM, trong đó Việt Nam học là ngành chính, các ngành khác là bổ trợ
4.2 Nghiên cứu định lượng
Để nắm bắt số liệu cụ thể thực trạng những vấn đề liên quan đến nếp sống của SV ở KTX ĐHQG-HCM, chúng tôi sử dụng công cụ bản hỏi Tất cả các thông
số thống kê được xử lý trên máy tính bằng phần mềm SPSS 11.5 for Windows
Phương pháp chọn mẫu tuân theo tiêu chí: SV tại KTX khu A và khu B của 6 trường đại học thành viên (Trường ĐH Bách khoa, Trường ĐH KHXH&NV, Trường ĐH Khoa học Tự nhiên, Trường ĐH Công nghệ thông tin, Trường ĐH Quốc tế, Trường ĐH Kinh tế - Luật) Đây là các đơn vị có số lượng SV ở KTX đông nhất Dung lượng mẫu gồm 300 người Cách chọn mẫu: lấy mẫu thuận tiện tại phòng tự học, phòng ở, khuôn viên KTX
5 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài nhằm tìm hiểu nếp sống của SV trên các hoạt động học tập, sinh hoạt cá nhân, giao tiếp ứng xử và tham gia các hoạt động đoàn thể, qua đó thấy được những thuận lợi và khó khăn của SV khi sống tại KTX ĐHQG-HCM Bên cạnh đó, chúng tôi tìm hiểu mô hình KTX của một số nước trên thế giới để từ đó có những kiến nghị mang tính thực tiễn, góp phần nâng cao chất lượng sống cho SV sống tại KTX
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
6 1 Ý nghĩa khoa học
Nội dung nghiên cứu của đề tài không quá mới, nhưng vấn đề được tiếp cận nghiên cứu dưới góc độ liên ngành thì hiện nay chưa được nghiên cứu Tác giả mong muốn đề tài góp phần cung cấp thông tin về nếp sống SV cũng như sự cố
Trang 21gắng ứng dụng phương pháp luận đối với một lĩnh vực còn chưa được đầu tư nghiên cứu nhiều
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Việc nghiên cứu thực trạng nếp sống của SV và xem xét, đánh giá những nguyên nhân dẫn đến một số những hạn chế trong nếp sống của SV ở KTX có ý nghĩa quan trọng trong việc tìm ra giải pháp nâng cao hơn nữa chất lượng sống của
SV, hướng đến xây dựng một nếp sống lành mạnh, có văn hóa cho SV sống tại KTX ĐHQG-HCM
Những kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần cung cấp cho TTQLKTX nói riêng và ĐHQG-HCM nói chung những số liệu định lượng và định tính về thực trạng nếp sống của SV ở KTX ĐHQG-HCM Chúng tôi hy vọng kết quả đạt được
sẽ góp phần để các cấp quản lý của ĐHQG-HCM đề ra chính sách thiết thực, hiệu quả, đáp ứng được nhu cầu và mong muốn chính đáng của SV, từng bước nâng cao đời sống và tạo điều kiện để SV phát triển toàn diện về thể chất, văn hóa, trí tuệ từ
đó xây dựng hình mẫu về SV ĐHQG-HCM tại KTX nói riêng và ĐHQG-HCM nói chung
7 Cấu trúc luận văn
Chương 1: Cơ sở lý luận và Tổng quan về Ký túc xá Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Trong chương này, chúng tôi giới thiệu cơ sở lý luận và khái quát về KTX ĐHQG-HCM Trước khi đi vào giới thiệu KTX ĐHQG-HCM, chúng tôi trình bày
sơ nét về ĐHQG-HCM, về khu đô thị ĐHQG-HCM, và cuối cùng là TTQLKTX – đơn vị được ĐHQG-HCM giao nhiệm vụ trực tiếp quản lý SV nội trú
Chương 2: Thực trạng nếp sống của sinh viên ở Ký túc xá Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Nội dung chương 2 trình bày và phân tích nếp sống của SV trên 03 nội dung: thứ nhất về học tập; thứ hai về sinh hoạt cá nhân gồm các hoạt động ăn, ở, vui chơi
Trang 22giải trí; thứ ba về giao tiếp ứng xử, tham gia các hoạt động đoàn thể từ đó tìm hiểu những thuận lợi và hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế trong nếp sống của
SV
Chương 3: Vấn đề nâng cao chất lượng sống và học tập cho sinh viên tại
Ký túc xá Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh qua kinh nghiệm hoạt động của Ký túc xá trên thế giới
Trong chương 3, chúng tôi tìm hiểu mô hình KTX của một số nước trên thế giới, từ đó có cái nhìn so sánh với KTX tại Việt Nam nói chung và ĐHQG-HCM nói riêng
Trên cơ sở phân tích thực trạng nếp sống của SV ở chương 2, và tìm hiểu mô hình KTX tại chương 3, chúng tôi sẽ đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao chất lượng sống và học tập cho SV sống tại KTX
Trang 23CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ KÝ TÚC XÁ ĐẠI HỌC QUỐC GIA
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
1.1 Cơ sở lý luận 1.1.1 Các khái niệm khoa học
Nếp sống
Hiện nay có nhiều định nghĩa về Nếp sống Theo Vũ Khiêu: “Nếp sống là toàn bộ những thói quen được hình thành trong cuộc sống hàng ngày, những thói quen đã trở thành nếp trong sản xuất, chiến đấu, trong mọi quan hệ xã hội và trong sinh hoạt riêng tư của mỗi người, những thói quen ấy còn được gọi là tập quán” [23, tr.135]
Trong tác phẩm “Văn hóa và Lối sống hành trang vào thế kỷ 21”, Thanh Lê
cho rằng “Nếp sống là những quy ước được lặp đi lặp lại trở thành một thói quen trong sinh hoạt, phong tục tập quán, hành vi đạo đức” [25, tr 111]
Mạc Văn Trang trong công trình “Nghiên cứu đặc điểm lối sống sinh viên hiện nay và những phương hướng, biện pháp giáo dục lối sống cho sinh viên” cũng
có những nhận định tương tự về nội dung của nếp sống “Nếp sống là phương thức hoạt động, hành vi ứng xử của con người đã được lặp đi, lặp lại thành nếp, thành thói quen, phong tục được xã hội công nhận” [54, tr 21]
Theo Huỳnh Khái Vinh, “Nếp sống là một bộ phận của lối sống được lặp đi lặp lại thành nền nếp, thói quen… Nghĩa là đã được định hình, định tính, đã được xác lập giá trị thành một nét văn hóa, được các cá nhân và cộng đồng thừa nhận, làm theo và được quy định thành điều ước (quy ước hay hương ước) hoặc luật pháp Nếp sống lâu đời có thể trở thành phong tục tập quán [43, tr.37]
Mặc dù có sự khác nhau về cách diễn đạt, nhưng hầu hết các tác giả đều nhận định nếp sống là những phương thức ứng xử, hành vi của con người được lặp đi lặp lại thành thói quen
Trang 24Trong luận văn này, nếp sống của SV được hiểu là những biểu hiện của thói quen hoạt động của SV trong học tập, trong sinh hoạt cá nhân, trong giao tiếp, ứng
xử và tham gia các hoạt động đoàn thể
Lối sống, phong cách sống
Liên quan đến khái niệm “Nếp sống” là khái niệm “Lối sống” (Life styte) Lối sống được hiểu “là một phạm trù xã hội học khái quát toàn bộ hoạt động sống của các dân tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân trong những điều kiện của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định, biểu hiện trên các lĩnh vực của đời sống: trong lao động và hưởng thụ, trong quan hệ giữa người với người, trong sinh hoạt tinh thần và văn hóa” “Lối sống là toàn bộ hoạt động của con người Còn lẽ sống chỉ là một mặt ý thức của lối sống, và nếp sống là mặt có tính bản năng của nó” [41, tr.8]
Liên quan đến khái niệm “Nếp sống” còn có khái niệm “Phong cách sống”
Trong công trình nghiên cứu “Một số vấn đề về lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội”, Huỳnh Khái Vinh cho rằng “Phong cách sống là thuật ngữ tâm lý – xã hội để
đánh giá và nhận định thái độ và hành vi ứng xử hàng ngày của cá nhân và các nhóm xã hội Chính nó là hình thức biểu hiện của lối sống trong hoạt động xã hội và sinh hoạt của cá nhân và của nhóm xã hội” [43, tr.36]
Văn hóa ứng xử
Văn hóa ứng xử được hiểu là “hệ thống các khuôn mẫu ứng xử được thể hiện
ở thái độ, kỹ năng ứng xử của cá nhân và cộng đồng người trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên, xã hội và bản thân, trên cơ sở những chuẩn mực văn hóa – xã hội nhất định để bảo tồn, phát triển cuộc sống của cá nhân và cộng đồng nhằm làm cho cuộc sống của cá nhân và cộng đồng giàu tính người hơn” [35, tr.36]
Văn hóa ứng xử của SV được thể hiện thông qua giao tiếp hàng ngày của SV với nhau, của SV đối với thầy cô giáo, cán bộ quản lý KTX, trong cách giải quyết mâu thuẫn, xung đột cá nhân
Trang 25Cộng đồng
Cộng đồng là một tập thể gồm những thành viên gắn với nhau bằng những giá trị chung Cộng đồng có một sự cố kết nội tại không phải do những qui tắc rõ ràng, những luật pháp thành văn, mà những liên hệ sâu hơn Sự cố kết hữu cơ giữa các cá nhân mới là nền tảng thật sự của cộng đồng Có hai cách hiểu về cộng đồng, thứ nhất là cộng đồng tính: là thuộc tính hay quan hệ xã hội như tình cảm cộng đồng, nhóm xã hội có tính cộng đồng… thứ hai là cộng đồng thể: là các nhóm người, nhóm xã hội có tính cộng đồng với rất nhiều loại (thể) có quy mô khác nhau [33]
Tính cộng đồng là một yếu tố bẩm sinh của con người, có lẽ bắt nguồn tư tính bầy đàn của động vật Tính cộng đồng cũng trải qua những thay đổi theo
sự phát triển của xã hội; lúc đầu trong các xã hội cổ xưa, nó lấn át tính cá nhân, không công nhận cá nhân như một thực thể độc lập, cá nhân chỉ tồn tại với tư cách thành viên của cộng đồng Trong các xã hội có quan hệ hàng hóa – tiền tệ phát triển, các quan hệ sở hữu tư nhân phổ biến, tính cộng đồng chỉ
là một mặt của đời sống con người, bên cạnh tính cá nhân phát triển ngày càng cao Mối quan hệ giữa tính cộng đồng và tính cá nhân luôn luôn mang những mâu thuẫn, thậm chí xung đột nhưng bao giờ cũng có tính hữu cơ, không thể có tính cá nhân thực sự mà không thể có tính cộng đồng thực sự và ngược lại”[33]
Chúng tôi nhìn nhận các SV sống trong KTX là một cộng đồng thể - một nhóm người có tính cộng đồng Các thành viên trong cộng đồng thể có sự gắn bó, liên kết với nhau Cộng đồng SV mang nét đặc trưng riêng biệt, là một cộng đồng đồng nhất Thành viên của cộng đồng là những trí thức tương lai của đất nước, rất nhanh nhạy, tham gia tích cực, chủ động vào cộng đồng Các SV trong cộng đồng
có sự giống nhau về điều kiện sống, có sự gần gũi về hệ giá trị và chuẩn mực văn hóa
Trang 26Giới
Khái niệm giới (gender): chỉ mối quan hệ xã hội và tương quan giữa địa vị xã hội của nữ và nam trong bối cảnh xã hội cụ thể
Khái niệm giới tính (sex): chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt sinh học
Sự khác biệt này chủ yếu liên quan đến chức năng tái sản xuất giống nòi và do các yếu tố tự nhiên quy định
Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng khái niệm giới với ý nghĩa xã hội dùng
để chỉ sự khác biệt về thành phần xã hội, thái độ, hành động, lối ứng xử của nam SV
và nữ SV trong các hoạt động tại KTX
1.1.2 Các lý thuyết tiếp cận
Lý thuyết lựa chọn hợp lý
Lý thuyết lựa chọn hợp lý hay còn gọi là lý thuyết lựa chọn duy lý (Rational choice theory) có nguồn gốc từ triết học, kinh tế học và nhân học thế kỷ XVIII – XIX Thuật ngữ “lựa chọn” được dùng để nhấn mạnh việc phải cân nhắc, tính toán của cá nhân khi thực hiện hành động
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học “Con người luôn hành động một cách có chủ đích, có suy nghĩ để lựa chọn và sử dụng các nguồn lực một cách duy
lý nhằm đạt được kết quả tối đa với chi phí tối thiểu” [21, tr.355] Khi đề cập đến nội dung lý thuyết này, các nhà kinh tế học nhấn mạnh đến động cơ lợi nhuận khi con người ra quyết định hành động, nhằm giải thích các hành động của con người trong xã hội, tại sao họ quyết định thế này mà không phải thế khác Sự lựa chọn này không những dựa trên những giá trị mà cá nhân có mà còn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố ngoài cá nhân cùng tác động, ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn của
cá nhân
Việc lựa chọn sống ở KTX, không ở trọ bên ngoài của SV đã bao hàm sự cân nhắc tính toán về những thuận lợi, khó khăn của việc sống ở KTX so với sống ở bên
Trang 27ngoài gồm những điều kiện về cơ sở vật chất, các dịch vụ phục vụ SV, môi trường học tập và sinh hoạt, chi phí thuê phòng
Khi sống ở KTX, SV chỉ phải trả một chi phí thấp hơn nhiều so với ở ngoài, tiết kiệm một số tiền đáng kể cho cá nhân và gia đình Hơn nữa, môi trường học tập trong KTX cũng thuận lợi hơn, SV có không gian học tập riêng tại các phòng tự học
mà không sợ những bạn cùng phòng làm phiền cũng như không làm phiền các bạn trong phòng Các dịch vụ phục vụ vui chơi giải trí trong KTX phong phú, đa dạng hơn so với bên ngoài KTX có nhiều CLB để SV chủ động tham gia đồng thời tổ chức nhiều hoạt động văn hóa văn nghệ phục vụ SV Có 2 lý do cơ bản mà đa số
SV còn băn khoăn khi ở KTX là KTX không cho phép SV nấu ăn và số lượng SV ở trong một phòng đông (trung bình 6-8 người/phòng) Ngoài ra, theo Quy định của ĐHQG-HCM, SV năm 1 bắt buộc phải ở KTX, muốn không ở KTX, SV phải có đơn xin phép Vì thế, ngoài ý muốn của bản thân thì quy định của ĐHQG-HCM buộc SV phải cân nhắc hành động sao cho phù hợp Tất nhiên, khi SV quyết định,
SV đã ít nhiều dự tính được về cuộc sống của mình Theo kỳ vọng của SV thì việc ở KTX sẽ đem lại nhiều lợi ích hơn so với việc ở ngoài, môi trường sống, môi trường học tập sẽ thuận tiện hơn, chi phí rẻ hơn
Theo thống kê năm 2012 từ ĐHQG-HCM6, số lượng SV ĐHQG-HCM sống
ở KTX ĐHQG-HCM chiếm đa số, còn SV ở trọ bên ngoài rất ít, chỉ khoảng 2000
SV
Thuyết nhu cầu của Maslow
Abraham Maslow là một tiến sĩ tâm lý học người Mỹ Ông là người đã đưa
ra quan điểm về nhu cầu của con người Theo ông, nhu cầu của con người được chia thành các thang bậc khác nhau Ông đã phân cấp nhu cầu của con người thành 5 bậc
6
Nguồn: Ban Công tác sinh viên, ĐHQG-HCM
Trang 28Sơ đồ 1: Tháp nhu cầu của Maslow
Nguồn: wikipedia.org/wiki/Th%C3%A1p_nhu_c%E1%BA%A7u_c%E1%BB%A7a_Maslow
Nhu cầu cơ bản nhất là những nhu cầu liên quan đến thể chất, sinh lý còn được gọi là nhu cầu căn bản (thức ăn, nước uống, ngủ nghỉ) Tiếp theo thực tiễn là nhu cầu về sự an toàn, an ninh Đây là những nhu cầu không thể thiếu của con người vì nếu không đáp ứng được những nhu cầu này thì con người sẽ không tồn tại được Nhu cầu cao nhất là nhu cầu tự hoàn thiện bản thân như nhu cầu tự thể hiện
và nhu cầu khẳng định Nhu cầu của con người cần được đáp ứng lần lượt từ thấp đến cao Nhu cầu bậc thấp thường được ưu tiên hơn những nhu cầu bậc cao [60]
Lý thuyết này được sử dụng để phân tích nhu cầu của SV trên tất cả các mặt trong đó nhu cầu sinh hoạt cá nhân (nhu cầu ăn uống, ở), nhu cầu đảm bảo an toàn,
an ninh là những nhu cầu thiết yếu nhất để SV sống và học tập trong KTX HCM Tuy nhiên, để SV có thể phát triển toàn diện về thể chất, tâm hồn, trí tuệ, tình cảm, thẩm mỹ (nhu cầu tự hoàn thiện) thì cần đáp ứng các nhu cầu về giải trí, văn hóa nghệ thuật (là nhu cầu xã hội) Như vậy, việc xây dựng nếp sống của SV tại KTX đạt hiệu quả cao sẽ đảm bảo cho sự hình thành và phát triển toàn diện về thể lực, trí tuệ, tâm hồn của SV
Trang 29ĐHQG-Các lý thuyết trên là cơ sở, định hướng cho chúng tôi trong quá trình tìm hiểu về nếp sống của SV tại KTX ĐHQG-HCM
1.2 Tổng quan về Ký túc xá Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh 1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí
Minh
ĐHQG-HCM được thành lập theo Nghị định số 16/CP ngày 27 tháng 01 năm
1995 trên cơ sở sáp nhập 9 trường đại học trú đóng trên địa bàn TP.HCM gồm: Trường ĐH Tổng hợp Tp.HCM, Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật TP.HCM, Trường
ĐH Bách khoa TP.HCM, Trường ĐH Nông Lâm TP.HCM, Trường ĐH Kinh tế, Trường ĐH Tài chính kế toán, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM, Trường ĐH Kiến Trúc TP.HCM, Phân hiệu ĐH Luật TP.HCM ĐHQG-HCM là một hệ thống gồm 10 trường đại học thành viên và 1 viện nghiên cứu: Trường ĐH Đại cương, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Trường ĐH KHXH&VN (2 trường này được tách ra từ trường ĐH Tổng hợp TP.HCM), Trường ĐH Sư phạm Kỹ thuật, Trường ĐH Kỹ thuật (tên gọi mới của Trường ĐH Bách khoa), Trường ĐH Kinh tế (bao gồm cả trường ĐH Tài chinhs kế toán TP.HCM sáp nhập), Trường ĐH Sư phạm, Trường
ĐH Kiến Trúc, Trường ĐH Luật Năm 2001, theo Quyết định số 15/2001/QĐ-TTg ngày 12 tháng 02 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ, ĐHQG-HCM được tổ chức lại còn 04 đơn vị thành viên gồm: 03 trường ĐH thành viên (Trường ĐH Bách khoa, Trường ĐH Khoa học Tự nhiên, Trường ĐH KHXH&NV) và 01 Viện nghiên cứu (Viện Môi trường và Tài nguyên) Đến thời điểm hiện nay (8/2014), ĐHQG- HCM đã là một hệ thống bao gồm 35 đơn vị, trong đó có 7 đơn vị thành viên bao gồm 6 trường đại học (Trường ĐH Bách khoa, Trường ĐH Khoa học Tự nhiên, Trường ĐH Khoa học xã hội và Nhân văn, Trường ĐH Quốc tế, Trường ĐH Công nghệ thông tin, Trường ĐH Kinh tế-Luật), 1 viện nghiên cứu (Viện Môi trường và Tài nguyên), 1 khoa trực thuộc (Khoa Y), 28 đơn vị trực thuộc (về các lĩnh vực đào tạo, chuyển giao công nghệ, dịch vụ phục vụ)… với đội ngũ gồm 5.625 cán bộ công chức viên chức [14, tr.118]
Trang 30Với 2 lần tách nhập, ĐHQG-HCM đã trải qua 3 giai đoạn phát triển: Giai đoạn thứ nhất (1995-2000) – Giai đoạn xác định mô hình của ĐHQG-HCM; Giai đoạn thứ hai (2001-2006) – Giai đoạn ĐHQG-HCM ổn định và phát triển; Giai đoạn thứ ba (2007-nay) – Giai đoạn ĐHQG-HCM phát triển để khẳng định [13]
ĐHQG-HCM được xây dựng trên diện tích 643,7 ha tại khu quy hoạch Thủ Đức – Dĩ An theo mô hình một đô thị khoa học hiện đại với nhiều công trình phục
vụ cho việc giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học gồm các trường đại học thành viên, khoa, viện và quần thể các trung tâm thể dục thể thao, Trung tâm giáo dục quốc phòng an ninh SV, khu nhà công vụ với chất lượng tương đương chuẩn 3 sao, khu nhà dành cho cán bộ cao 12 tầng đang được xây dựng và sẽ đưa vào sử dụng vào cuối năm 2014, khu công viên khoa học, công viên SV, trung tâm dịch vụ công cộng…
Nhận định về sự phát triển của ĐHQG-HCM, trong chuyến thăm và làm việc tại ĐHQG-HCM nhân dịp ĐHQG-HCM kỷ niệm 15 năm thành lập vào năm 2010, đồng chí Nguyễn Thiện Nhân, Phó Thủ tướng Chính phủ đã ghi nhận những đóng góp to lớn của ĐHQG-HCM đối với sự phát triển của xã hội “Qua 15 năm phát triển ĐHQG-HCM đã đóng góp xuất sắc vào sự nghiệp đào tạo nhân lực trình độ cao, nghiên cứu khoa học và phục vụ xã hội ở khu vực phía nam ĐHQG-HCM đã phát triển mạnh mẽ quan hệ hợp tác với các đại học mạnh trong khu vực và trên thế giới, tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh hơn, bền vững hơn” [7, tr.21]
Qua các báo cáo đã cho thấy ĐHQG-HCM không ngừng củng cố vai trò nòng cốt trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam, vươn đến mục tiêu trở thành trung tâm đào tạo chất lượng cao ngang tầm với các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới Với sự thống nhất ý chí và nỗ lực của toàn thể cán bộ, giảng viên, SV
và học sinh, ĐHQG-HCM đã đạt được nhiều thành tựu trong công tác quản trị đại học, đào tạo chất lượng cao, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ đặc biệt trong công tác xây dựng cơ bản, ĐHQG-HCM đang hình thành khu đô thị đại học kiểu mẫu tại khu vực Thủ Đức – Dĩ An, trong đó những tòa nhà cao tầng của hệ
Trang 31thống KTX ĐHQG-HCM khang trang hiện đại được xem như là điểm nhấn của khu
đô thị
1.2.2 Lịch sử hình thành và phát triển Ký túc xá Đại học Quốc gia thành phố
Hồ Chí Minh
ĐHQG-HCM có 3 ký túc xá do 3 đơn vị quản lý gồm: (1) KTX Trường ĐH Bách khoa, tọa lạc tại Quận 10, TP.HCM (2) KTX Trường ĐH Khoa học Tự nhiên tại Quận 1, TP.HCM, (3) KTX do TTQLKTX quản lý đặt tại Quận Thủ Đức, TP.HCM và Thị xã Dĩ An, Tỉnh Bình Dương Ngoài 3 KTX này, ĐHQG-HCM còn
01 KTX xã hội hóa do Công ty Cổ phần Hưng Á đầu tư Trong luận văn này, chúng tôi chỉ tìm hiểu về KTX do TTQLKTX quản lý và gọi là KTX ĐHQG-HCM Tiền thân của KTX ĐHQG-HCM là KTX Tân Phú nằm tại vị trí của trường ĐH KHXH&NV hiện nay KTX phân chia thành 2 khu vực nam, nữ riêng biệt Cơ sở vật chất của KTX Tân Phú lúc đó còn rất nhiều khó khăn, thiếu thốn SV chủ yếu sống trong những căn nhà cấp 4 Ký túc xá còn thiếu tiện nghi và chưa có nhiều hoạt động phục vụ cho việc sinh hoạt và vui chơi giải trí của SV Vì số lượng phòng
ở hạn chế, nên việc xin vào ở KTX Tân Phú là rất khó khăn
Việc hình thành mô hình KTX ĐHQG-HCM như hiện nay được xuất phát từ
ý tưởng của các nhà lãnh đạo tâm huyết với sự nghiệp giáo dục và đào tạo, mong muốn đem đến dịch vụ tốt nhất cho SV Tại phiên họp Hội đồng ĐHQG-HCM khóa
I (1995-2000), đồng chí Trương Tấn Sang (hiện nay là Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) đã đề xuất một mô hình kết nối giữa ĐHQG-HCM với các tỉnh, thành có SV học tập tại ĐHQG-HCM trong việc xây dựng hệ thống KTX Tại khu A, KTX được thực hiện theo mô hình các tỉnh, thành xây dựng cơ sở vật chất
và đầu tư trang thiết bị nội thất trên diện tích đất của ĐHQG-HCM Tại khu B, KTX được xây dựng bằng nguồn vốn trái phiếu chính phủ do nhà nước đầu tư toàn bộ cơ
sở vật chất, các tỉnh thành hỗ trợ đầu tư kinh phí trang thiết bị nội thất HCM quản lý và điều hành hoạt động hệ thống KTX
Trang 32ĐHQG-KTX ĐHQG-HCM nằm trong khu quy hoạch xây dựng ĐHQG-HCM trên địa bàn phường Linh Trung, quận Thủ Đức, TP HCM và phường Đông Hòa, thị xã
Dĩ An, tỉnh Bình Dương gồm 2 khu là khu KTX A và khu KTX B với tổng diện tích
59 ha Khu A gồm có Khu A hiện hữu và khu A mở rộng Khu B gồm có Khu B hiện hữu và khu B mở rộng
Khu A hiện hữu có diện tích 14,82 ha gồm 20 tòa nhà 5 tầng được xây dựng theo mô hình kết nối giữa ĐHQG-HCM và các tỉnh thành, có sức chứa gần 10 ngàn
SV được xây dựng từ năm 2000, đến nay đã hoàn thành và đi vào sử dụng Có 14 tỉnh thành đầu tư xây dựng khu KTX A gồm: An Giang, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bến Tre, Bình Thuận, Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai, Khánh Hòa, Lâm Đồng, Quảng Ngãi, Vĩnh Long, Tây Ninh, Tiền Giang và TP.HCM Khu A mở rộng có diện tích 6.13 ha gồm 5 tòa nhà cao từ 10-12 tầng (dự kiến đáp ứng 10 ngàn chỗ ở cho SV) hiện đang được xây dựng
Khu B hiện hữu là 28,05 ha đáp ứng chỗ ở cho 40.040 SV, theo dự án sẽ gồm 20 khối nhà cao từ 7 tầng đến 16 tầng, được xây dựng từ nguồn trái phiếu của Chính phủ Khu B mở rộng là 10,00 ha, theo quy hoạch khu B mở rộng sẽ là nơi để xây dựng các công trình công cộng như nhà văn hóa SV, siêu thị phục vụ SV, bệnh viện đa khoa 500 giường cao từ 1 tầng đến 5 tầng
Khu A mở rộng và khu B hiện hữu được xây dựng từ năm 2009, đến “năm học 2012-2013 đã đưa vào sử dụng 08 đơn nguyên do Chính phủ đầu tư xây dựng gồm các đơn nguyên B1, B2, B3, A3, A4, A5 thuộc khu B và G3, G4 thuộc Khu A
mở rộng với sức chứa hơn 10.000 chỗ ở” [36] Dự kiến đến quý 4/2014, khu A mở rộng và khu B sẽ hoàn thành và bàn giao các khối nhà còn lại của KTX Sau khi khu
A mở rộng và khu B được hoàn thành, hệ thống KTX ĐHQG-HCM sẽ đáp ứng chỗ
ở cho 60 ngàn SV theo học ở ĐHQG-HCM và các trường ĐH nằm ở Đông Bắc TP.HCM, trở thành KTX lớn nhất Đông Nam Á
Trang 33Sơ đồ 1.2: Sơ đồ KTX trong quy hoạch tổng thể
KHU A MỞ RỘNG
KHU A HIỆN HỮU
KHU B HIỆN HỮU
KHU B MỞ RỘNG
(DIỆN TÍCH 14,82 HA)
(DIỆN TÍCH 6,13 HA)
(DIỆN TÍCH 28,05 HA)
(DIỆN TÍCH 10,00 HA)
Nguồn: Ban QLDAXD KTX SV
Ngày 21/10/2012, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đến thăm ĐHQG-HCM
và dự lễ khánh thành những khối nhà đầu tiên của khu B Tại buổi lễ, Thủ tướng đã đánh giá cao những thành tựu của ĐHQG-HCM: “Thay mặt Chính phủ, tơi biểu dương, đánh giá cao những nỗ lực của chủ đầu tư là ĐHQG-HCM, các đơn vị tư vấn, thi cơng, các cơng ty, các kỹ sư, người lao động đã làm việc tích cực để hơm
nay chúng ta khánh thành giai đoạn 1 khu KTX, cĩ thể nĩi là khu đại học khang trang, hiện đại đầu tiên của cả nước” [11, tr.95]
1.2.3 Cơ cấu tổ chức quản lý Ký túc xá
Ngày 04 tháng 01 năm 2000, ĐHQG-HCM ban hành Quyết định số 02/QĐ/ĐHQG/TCCB thành lập đơn vị trực thuộc là TTQLKTX TTQLKTX là đơn
vị dự tốn cấp 2, cĩ con dấu và tài khoản riêng Trung tâm trực tiếp quản lý sử dụng đất và cơ sở vật chất là các đơn nguyên KTX đã được xây dựng ở khu A và khu B; phối hợp với các đơn vị cĩ liên quan tiếp nhận SV vào ở KTX; phối hợp với chính quyền địa phương và ban giám hiệu các trường nhằm đảm bảo an ninh trật tự, an tồn thực phẩm và phịng chống các tệ nạn xã hội trong khu vực và quanh khu vực KTX; TTQLKTX chịu trách nhiệm phục vụ nơi ăn, ở, chăm sĩc sức khỏe, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho SV nội, ngoại trú thuộc khu vực Dĩ An – Thủ
Trang 34Đức Hiện nay, TTQLKTX có 01 Giám đốc và 02 Phó Giám đốc chịu trách nhiệm trực tiếp về toàn bộ các hoạt động liên quan đến công tác SV nội trú Giúp việc cho Ban Giám đốc là bộ máy các phòng: phòng Tổ chức – Hành chính, phòng Công tác
SV, phòng An ninh SV, phòng Quản trị thiết bị, phòng Kế toán tài vụ, Trạm Y tế Hiện nay, Trạm Y tế của Trung tâm được đặt tại cả hai khu A và B Tại khu A, Trạm Y tế có phòng cấp cứu, phòng nội tổng quát, phòng tiếp nhận bệnh nhân, phòng Răng – Hàm - Mặt, phòng cấp phát thuốc và 10 phòng lưu bệnh
Trạm Y tế có nhiệm vụ chăm sóc sức khoẻ cho cán bộ công nhân viên, SV các trường, đơn vị trực thuộc ĐHQG-HCM đang công tác, học tập tại khu vực Thủ Đức – Dĩ An và SV nội trú tại KTX; được cơ quan BHYT ký hợp đồng khám chữa bệnh ban đầu cho SV Ngoài ra, trạm Y tế còn đảm nhận tư vấn về tâm sinh lý, sức khoẻ sinh sản SV, công tác kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường, vệ sinh phòng chống dịch bệnh trong KTX Trạm Y tế tại KTX có đội ngũ y, bác sĩ đảm bảo trực cấp cứu chăm sóc sức khoẻ 24/24 giờ và có xe cứu thương chuyên dụng thường trực để chở bệnh nhân lên tuyến trên khi cần thiết [36, tr.6]
Theo báo cáo của TTQLKTX, chỉ tính riêng từ năm 2008 trở lại đây, mỗi năm trạm y tế khám và điều trị cho trên 10.000 lượt SV Công tác khám sức khỏe cho SV tại trạm luôn đảm bảo 14 năm qua TTQLKTX đã có những bước thay đổi
về quy mô xây dựng và phát triển Nơi đây từng bước đổi mới mô hình, phương thức quản lý, ý thức việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý, điều hành góp phần nâng cao chất lượng hoạt động, đồng thời đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của
SV
Một nét mới tại KTX là từ năm 2005, TTQLKTX tuyển nhân sự làm công tác SV có trình độ từ đại học trở lên Cán bộ quản lý KTX là những người có chuyên môn cao, dành nhiều tâm huyết với sự phát triển của KTX Nhiệm vụ của các cán bộ quản lý KTX đòi hỏi phải chuẩn mực trong giao tiếp, ứng xử, trong cách
Trang 35tiếp cận, quản lý SV bởi đây chính là những người hướng dẫn cho SV cách sống, cách làm người
Cán bộ quản lý KTX rất ý thức việc quản lý SV “không theo kiểu nông dân”
mà cần áp dụng tư duy quản lý công nghiệp
Chúng tôi đang vượt qua tư duy quản lý Đòi hỏi phải có tư duy nhanh, nhạy, khoa học vì tầng lớp trẻ, trí thức nên không thể quản lý theo kiểu nông dân được Phải áp dụng tư duy quản lý công nghiệp SV học tín chỉ khác với SV học niên chế, đòi hỏi quản lý phải thay đổi, mình chưa thay đổi kịp là nguy hiểm SV đi nhanh hơn, ăn nhanh hơn, không còn lề
mề Cần vượt lên khó khăn này
(Trần Thanh An, Giám đốc TTQLKTX, Trích BBPV số 34) Quan điểm này, chúng tôi nhận thấy cần thiết, phù hợp vì đa số SV ở vùng nông thôn cần hướng cho SV quen tác phong, nếp sống công nghiệp Như thế, khi
ra trường SV sẽ nhanh chóng hòa nhập với môi trường sống, môi trường làm việc,
có tác phong làm việc chuyên nghiệp, đạt năng suất, hiệu quả cao trong công việc
Về mô hình: TTQLKTX chuyển đổi từ mô hình quản lý sang phục vụ, lấy
SV làm tâm điểm cho các hoạt động TTQLKTX áp dụng công nghệ thông tin để quản lý cơ sở dữ liệu SV Từ năm học 2009-2010, áp dụng công nghệ thẻ RFID7
để kiểm soát việc ra vào cổng KTX của SV, thu các loại phí (điện, nước, lệ phí nội trú, BHYT, bảo hiểm tai nạn…)
Việc chăm lo đời sống tinh thần cho SV như tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, vui chơi giải trí lành mạnh được Ban quản lý KTX quan tâm Với ưu thế
là đơn vị tập trung đông SV nội trú, TTQLKTX bằng nhiều hình thức và phương pháp, hằng năm kêu gọi các tổ chức chính trị, xã hội, các doanh nghiệp và mạnh
7
Thẻ RFID (Radio Frequency Identification) là loại thẻ nhận dạng bằng sóng vô tuyến, nhận dạng tự động dựa trên việc lưu trữ dữ liệu từ xa, cho phép thông tin có thể được truyền qua những khoảng cách nhỏ mà không cần một tiếp xúc vật lý nào cả Thẻ RFID được đưa vào sử dụng trong rất nhiều lĩnh vực trong đó có việc quản lý SV ra vào cổng KTX
Trang 36thường quân đóng góp, tổ chức nhiều sự kiện văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao tại KTX, góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh thần, tạo sân chơi giải trí lành mạnh cho SV Theo báo cáo của TTQLKTX năm 2011 “trung bình 01 tháng có 01 chương trình văn nghệ tổ chức tại KTX phục vụ SV, trong đó có những chương trình có kinh phí hàng tỉ đồng…, trung bình mỗi năm có từ 70-100 suất học bổng với kinh phí lên đến gần 100 triệu đồng/năm” [4, tr.5]
Ngoài các phòng chức năng kể trên, TTQLKTX còn có đội ngũ cán bộ gồm
những người trưởng nhà, đây là những người làm việc trực tiếp với SV, là cầu nối
quan trọng giữa lãnh đạo TTQLKTX với SV
Trưởng nhà có chức năng sau:
- Hiểu tâm tư, nguyện vọng, chia sẻ thông tin trong SV
- Hướng dẫn SV nhận phòng ở và nhận phòng ở từ SV, ký xác nhận thanh toán ra KTX cho SV vào cuối năm học;
- Tiếp nhận giấy tờ, thông tin, ý kiến của SV, xử lý và phản hồi kịp thời;
- Kiểm tra nhắc nhở và hướng dẫn SV thực hiện nội quy, quy chế;
- Tuyên truyền vận động SV tham gia các phong trào do KTX phát động
- Theo dõi chỉ số điện nước và quản lý, nhắc nhở SV đóng các khoản phí, tổng hợp tình hình sử dụng các trang thiết bị trong phòng ở;
- Đề xuất khen thưởng hoặc kỷ luật đối với những SV có thành tích hoặc
vi phạm nội quy, quy chế [36, tr.4]
Nhận thức vai trò quan trọng, thiết yếu của bộ phận trưởng nhà và bảo vệ, TTQLKTX đã biên soạn 2 quy chế có liên quan đến công tác của Trưởng nhà và
Trang 37Bảo vệ góp phần nâng cao năng lực quản lý, đồng thời hỗ trợ SV trong các hoạt động một cách tốt nhất
Số lượng SV ở tại KTX (khu A hiện hữu và khu B hiện hữu) tính đến ngày 02/5/2013 là 10.568 người, gồm 5.511 SV nam và 5.057 SV nữ)8 Cụ thể:
Bảng 1.1: Số lượng SV ở KTX tại khu A hiện hữu
Nguồn: Hoàng Thị Hạnh (Tổng hợp số liệu từ Phòng công tác sinh viên của TTQLKTX)
Bảng 1.2: Số lượng SV ở KTX tại khu B hiện hữu
Tổng cộng
Trang 38Trường ĐH Bách khoa có số lượng SV cao nhất trong ĐHQG-HCM và số lượng SV sống ở KTX cũng đông nhất
Có lẽ vì ý thức tầm quan trọng, đảm bảo việc ăn ở, học tập cho SV ngoài TP.HCM nên Ban Giám đốc ĐHQG-HCM quy định về việc để SV vào sinh sống tại KTX như sau:
Sinh viên của các trường đại học thành viên, đơn vị trực thuộc ĐHQG-HCM
có hộ khẩu thường trú tại các tỉnh thành phố ngoài TP.HCM và các huyện ngoại thành TP.HCM đang học tại Khu Đô thị ĐHQG-HCM đều thuộc diện nội trú KTX ĐHQG-HCM Nếu không nội trú KTX ĐHQG-HCM, sinh viên phải có đơn ngoại trú, trong đó nêu lý do ngoại trú, kèm theo giấy tạm trú tại địa phương nơi thí sinh đăng ký tạm trú; Không khuyến khích sinh viên ngoại trú tại Khu đô thị [14]
1.2.4 Cơ sở vật chất phục vụ việc học tập và sinh hoạt cá nhân
Khu A hiện hữu gồm 20 dãy nhà cao 5 tầng được thiết kế theo hình chữ U, chữ L, hai phòng đối diện nhau qua hành lang ở giữa Các dãy nhà được đánh số thứ
tự từ A1 đến A20 Dãy A3 được khởi công xây dựng sớm nhất vào năm 1999 và đưa vào sử dụng từ năm 2000, dãy A20 xây dựng năm 2009 và được đưa vào khai thác sử dụng năm 2010
Trang 39Hình 1.1: KTX Khu A hiện hữu
Nguồn: Ban QLDAXD KTX SV
Bảng 1.3: Bảng phân bố các tòa nhà tại khu A
Trang 4019 A19 Lâm Đồng 2009 2010 480
Nguồn: Ban Quản lý dự án xây dựng KTX SV
Trước đây, SV có hộ khẩu ở tỉnh, thành nào thì được phân về các dãy nhà do tỉnh, thành ấy đầu tư xây dựng Trong trường hợp số lượng SV của một tỉnh, thành nào đó quá đông hoặc quá ít sẽ được sắp xếp ở chung với SV của các tỉnh, thành khác Tuy nhiên, hiện nay do có nhiều tỉnh, thành đầu tư cơ sở vật chất cho KTX nên TTQLKTX sắp xếp SV ở KTX theo trường để việc học tập được thuận tiện
Tại khu A, tầng trệt của các dãy nhà được sắp xếp thành các phòng chức năng, không dùng làm nơi ở cho SV, như các phòng ban của TTQLKTX (A1, A7), nhà gửi xe (A5, A6, A13 ), căn tin (A5, A8, A10, A13…) phòng tự học cho SV (A10, A19, A20…), cửa hàng internet (A7, A10, A16), cửa hàng bán quà lưu niệm (A17), quầy tạp hóa (ở hầu hết các dãy nhà đều có), nơi sinh hoạt của các CLB (A6, A11), quầy photocopy phục vụ việc in ấn, photo tài liệu của SV (A4, A10) Tại tầng trệt của tất cả các tòa nhà đều có trang bị 01 bản tin để đưa thông tin hàng ngày của báo Thanh niên cũng như dán các thông báo của TTQLKTX, tạo điều kiện để SV đọc và nắm bắt thông tin kinh tế, văn hóa chính trị, xã hội trong nước cũng như quốc tế, các thông báo, quy định của KTX Nếu cá nhân hoặc tổ chức muốn đưa thông tin, thông báo lên bảng tin cần có sự đồng ý của TTQLKTX Từ tầng 2 của các tòa nhà, TTQLKTX bố trí làm phòng ở cho SV
Tại khu B hiện hữu, tính đến tháng 4/2013, đã sắp xếp chỗ ở cho SV ở các tòa nhà B1, B2, B3 Cũng giống như khu A, tầng trệt của khu B được dành làm các phòng ban của TTQLKTX (B1), căn tin, nhà ăn (B1,B2, B3), nhà gửi xe (B3), quầy bán tạp hóa Từ lầu 2, các phòng dùng làm phòng ở cho SV Mỗi tòa nhà ở khu B được thiết kế khác nhau, do đó kết cấu phòng cũng không giống nhau: B1, B2 phòng ở lớn, có sức chứa 10-12 SV/phòng B1, B3 có thiết kế ban công còn B2 thì không có ban công; B1, B3 có phòng tự học ở từng tầng còn B2 không có phòng tự học Do mới xây dựng nên cơ sở vật chất ở khu B hiện hữu mới và khang trang hơn