1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổ chức quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường cao đẳng công nghệ bắc hà, tỉnh bắc ninh

114 682 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổ chức Quản lý Đào tạo Theo Học Chế Tín Chỉ Tại Trường Cao Đẳng Công Nghệ Bắc Hà, Tỉnh Bắc Ninh
Trường học Trường Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà
Chuyên ngành Quản lý Đào tạo
Thể loại Nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Bắc Ninh
Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 796 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

RẤT RẤT HAY !!!!!!!!!!

Trang 1

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 2

DANH MỤC CÁC BẢNG

b Thời gian và kế hoạch đào tạo 23Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn cho thấy: Muốn quản lý tốt quá trình ĐT theo HCTC trong giai đoạn hiện nay ở Trường Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà cần phải

có giải pháp phù hợp và được thực hiện một cách đồng bộ Đề tài đã đề xuất giải pháp tổ chức quản lý ĐT theo HCTC tại trường Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà gồm: 91

1 Rà soát điều chỉnh chương trình đào tạo, tiến trình đào tạo và tổ chức xây dựng đề cương chi tiết học phần; 91

2 Cải tiến công tác xây dựng kế hoạch đào tạo và lập thời khóa biểu; 91

Trang 3

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

b Thời gian và kế hoạch đào tạo 23Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn cho thấy: Muốn quản lý tốt quá trình ĐT theo HCTC trong giai đoạn hiện nay ở Trường Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà cần phải

có giải pháp phù hợp và được thực hiện một cách đồng bộ Đề tài đã đề xuất giải pháp tổ chức quản lý ĐT theo HCTC tại trường Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà gồm: 91

1 Rà soát điều chỉnh chương trình đào tạo, tiến trình đào tạo và tổ chức xây dựng đề cương chi tiết học phần; 91

2 Cải tiến công tác xây dựng kế hoạch đào tạo và lập thời khóa biểu; 91

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đổi mới giáo dục nhằm phát triển, nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhânlực đã và đang là một nhiệm vụ có tính chiến lược ở nước ta hiện nay Việc đổi mớigiáo dục và đào tạo theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá sẽ đáp ứng ngày càng tốt hơnnhu cầu học tập của mọi người, tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao phục vụ sựnghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế

Để nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nguồn nhân lực, Báo cáo chính

trị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng nêu rõ: “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa; đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy học; đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục, đào tạo Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành”

Để giáo dục thực hiện được sứ mạng của mình thì trước hết cần nâng cao chấtlượng giáo dục đào tạo Quan điểm chỉ đạo của Đảng đối với giáo dục đào tạo là tiếptục nâng cao chất lượng giáo dục, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệthống trường lớp, hệ thống quản lý giáo dục; thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa, xãhội hóa giáo dục; nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục Tuy nhiên, chất lượng giáodục và đào tạo phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: Từ việc xây dựng mục tiêu, nội dungchương trình và phương pháp đào tạo; mà trong đó khâu đặc biệt quan trọng làm nênchất lượng trong mỗi nhà trường đó tổ chức quá trình đào tạo, hoạt động dạy và họccùng với các yếu tố có liên quan khác

Xuất phát từ yêu cầu đó, việc chuyển đổi phương thức đào tạo (ĐT) từ niênchế sang học chế tín chỉ (HCTC) là bước chuyển tất yếu khách quan của giáo dục Đạihọc và Cao đẳng của Việt Nam theo xu thế hội nhập khu vực và quốc tế, cũng lànhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, khuyến khích người học được thườngxuyên và học suốt đời

Các nước trên thế giới cũng như Việt Nam những năm qua đã đúc kết ưu điểmđạt được từ đạo tạo theo học chế tín chỉ như sau:

Trang 5

- Cho phép sinh viên chủ động thiết kế kế hoạch, được quyền lựa chọn chomình tiến độ học tập thích hợp với khả năng, sở trường và hoàn cảnh riêng của bảnthân để tích luỹ kiến thức và kỹ năng để có văn bằng Điều này còn đảm bảo cho quátrình đào tạo trong các trường Đại học trở nên mềm dẻo hơn.

- Cho phép ghi nhận cả những kiến thức và khả năng tích luỹ được ngoàitrường lớp để dẫn tới văn bằng, khuyến khích sinh viên từ nhiều nguồn gốc khácnhau có thể tham gia học Đại học một cách thuận lợi - Không nhất thiết học trongtrường Có thể nói đây là một công cụ quan trọng để chuyển từ nền Đại học mangtính tinh hoa (elitist) sang nền Đại học mang tính đại chúng (mass)

- Cho phép sinh viên thay đổi thời gian trong tiến trình học tập khi thấy cần,không phải nhất thiết theo kế hoạch từ đầu tùy theo điều kiện và khả năng của từngngười Sinh viên có thể chủ động ghi tên học các học phần khác nhau dựa theo nhữngqui định chung về cơ cấu và khối lượng của từng lĩnh vực kiến thức

- Học chế tín chỉ cung cấp cho các trường Đại học một ngôn ngữ chung, tạothuận lợi cho sinh viên khi cần chuyển trường cả trong nước cũng như ngoài nước

- Đạt hiệu quả cao về mặt quản lý và giảm giá thành đào tạo: kết quả học tậpcủa sinh viên được tính theo từng học phần chứ không phải theo năm học Chính vìvậy giá thành đào tạo theo học chế tín chỉ thấp hơn so với đào tạo theo niên chế

- Triển khai học chế tín chỉ, các trường Đại học lớn đa lĩnh vực có thể tổ chứcnhững môn học chung cho sinh viên nhiều trường, nhiều khoa, tránh các môn họctrùng lặp ở nhiều nơi; ngoài ra sinh viên có thể học những môn học lựa chọn ở cáckhoa khác nhau Cho phép sử dụng được đội ngũ giảng viên giỏi nhất và phương tiệntốt nhất cho từng môn học Kết hợp với học chế tín chỉ, nếu trường Đại học tổ chứcthêm những kỳ thi đánh giá kiến thức và kỹ năng của người học tích lũy được bênngoài nhà trường hoặc bằng con đường tự học để cấp cho tín chỉ tương đương, nhanhcho kết thúc một văn bằng Đại học, tiết kiệm thời gian cho người học

Như vậy, rõ ràng học chế tín chỉ mang lại nhiều lợi ích trong công tác đào tạo,

nó làm cho sinh viên chủ động hơn trong hoạt động học tập, đặc biệt nó tạo tác phong công nghiệp đối với mọi hoạt động của nhà trường, từ sinh viên đến giảng

viên, vì mọi hoạt động đào tạo trong trường phải được khớp nối đúng thời gian và địa

Trang 6

điểm Tuy nhiên, việc triển khai học chế tín chỉ tạo nên bước chuyển khá đột ngột dophương pháp giảng dạy và các hoạt động khác từ học chế tín chỉ đòi hỏi Hơn nữa,học chế tín chỉ làm cho mức độ tự do của giảng viên giảm nhiều vì họ phải được gắnvới các giờ học và lớp học xác định phân bố trong suốt cả học kỳ, rất khó bố trí tậptrung thời gian cho các hoạt động khác ở ngoài trường Từ đó cần có những vận độngđổi mới trong công tác quản lý để tăng nhận thức cho sinh viên và nâng cao tráchnhiệm của giảng viên thì việc triển khai học chế tín chỉ mới thuận lợi.

Thực hiện Quyết định số 43/2007/QĐ - BGD&ĐT ngày 15/8/2007 của BộGiáo dục và Đào tạo về việc Ban hành “ Quy chế đào tạo Đại học và Cao đẳng hệchính quy theo hệ thống tín chỉ” và Thông tư số 57/2012/TT-BGDĐT ngày27/12/2012 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế đào tạo Đại học và Caođẳng hệ chính quy theo HCTC ban hành kèm theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BGD&ĐT ngày 15/8/2007 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong những năm qua, việc

áp dụng phương thức ĐT này đã được nhiều trường Đại học và Cao đẳng trong cảnước thực hiện và đạt được hiệu quả nhất định Đào tạo theo HCTC giúp cho việcthực hiện chế độ tích luỹ kết quả học tập theo học phần, thực hiện đánh giá kết quảhọc tập thống nhất giữa các hệ ĐT, các loại hình, phương thức ĐT Điều này còn cótác động tích cực đến phương pháp học tập của sinh viên Mặt khác, việc ĐT theoHCTC bước đầu trường đã xác định lộ trình thực hiện để tiến tới thực hiện ở tất cảcác hệ, các phương thức ĐT trong toàn ngành Bên cạnh đó, việc ĐT theo học chế tínchỉ sẽ giúp thuận lợi cho người học, vì người học hoàn toàn chủ động lựa chọn loạihình học tập cũng như việc thực hiện kế hoạch học tập trong quá trình ĐT của mình.Cùng đó, khi ĐT, nhà trường sẽ giải quyết được được khủng hoảng thừa về đội ngũgiảng viên, tiết kiệm về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học và nâng cao tính chuẩnmực trong chương trình ĐT cho các hệ ĐT của nhà trường

Trường Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà, tỉnh Bắc Ninh được thành lập và tổ chứcđào tạo từ năm 2006 theo quy định chung của Bộ Giáo dục và Đào tạo Từ năm học

2010 -2011, trường bắt đầu tổ chức ĐT thẹo HCTC nhằm phát huy cao độ khả nănghọc tập của sinh viên và cũng đã đạt được những kết quả đáng kể

Tuy nhiên, để phương thức ĐT theo HCTC phát huy tác dụng và hạn chế tối

đa những nhược điểm vốn có của nó thì ngoài thời gian cần thiết để triển khai, rút

Trang 7

kinh nghiệm thực tiễn, cần có sự chỉ đạo quyết liệt, có hiệu quả của các cấp quản lý vĩ

mô, các cơ sở ĐT; sự thay đổi nhận thức, tư duy hành động đúng đắn của từng cánhân trong hệ thống ĐT Đại học và Cao đẳng hiện nay Qua một thời gian thực hiệnphương thức ĐT theo HCTC của trường Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà, tỉnh Bắc Ninh,đứng ở góc độ của người thực hiện, tôi thấy cần nâng cao nhận thức của các chủ thểtham gia vào quá trình ĐT về những ưu điểm, nhược điểm của phương thức ĐT này

và đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy những ưu điểm và khắc phục các nhượcđiểm của phương thức ĐT theo HCTC tại trường Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà, gópphần thực hiện thắng lợi quan điểm đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục Đại học,Cao đẳng ở nước ta hiện nay Xuất phát từ thực tế đó, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài:

“Tổ chức quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà, tỉnh Bắc Ninh” làm luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ quản lý giáo dục của mình.

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở hệ thống hóa một số vấn đề lý luận liên quan đến việc tổ chứcquản lý ĐT theo HCTC và nghiên cứu đánh giá thực trạng việc tổ chức quản lý ĐTtheo HCTC tại trường Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà, đề xuất giải pháp tổ chức quản

lý ĐT theo HCTC nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo trong nhà trường

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

* Đối tượng nghiên cứu: Giải pháp tổ chức quản lý đào tạo theo HCTC tại

trường CĐ Công nghệ Bắc Hà tỉnh Bắc Ninh

* Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng tổ chức quản lý ĐT theo

HCTC tại trường Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà, tỉnh Bắc Ninh năm học 2010 -2011

và năm học 2011-2012; Trên cơ sở nghiên cứu quá trình tổ chức quản lý đào tạo theoHCTC, đề tài chỉ tập trung đề xuất giải pháp tổ chức quản lý cơ bản nhằm góp phầnnâng cao chất lượng ĐT theo HCTC tại trường Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về tổ chức quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ.4.2 Phân tích, đánh giá thực trạng công tác tổ chức quản lý đào tạo theo họcchế tín chỉ tại trường cao đẳng Công nghệ Bắc Hà, tỉnh Bắc Ninh

4.3 Đề xuất giải pháp pháp tổ chức quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ nhằmnâng cao chất lượng đào tạo tại trường Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà, tỉnh Bắc Ninh

Trang 8

5 Giả thuyết khoa học

Việc tổ chức ĐT theo HCTC tại trường Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà tuy đãđáp ứng được yêu cầu trong việc nâng cao chất lượng ĐT Tuy nhiên trước yêu cầucủa đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay, việc tổ chức ĐT theo HCTC hiện nayvẫn còn nhiều bất cập Nếu xây dựng được giải pháp tổ chức quản lý ĐT theo HCTCphù hợp và được thực hiện một cách đồng bộ thì chất lượng ĐT tại trường Cao đẳngCông nghệ Bắc Hà trong giai đoạn tiếp theo sẽ được nâng cao

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Luận văn đi sâu nghiên cứu làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tổchức quản lý ĐT theo HCTC tại trường Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà - tỉnh Bắc Ninh,

từ đó đề xuất giải pháp tổ chức quản lý ĐT phù hợp với điều kiện của nhà trường,giúp nhà trường nâng cao chất lượng ĐT Ngoài việc giúp nhà trường nâng cao chấtlượng đào tạo kết quả nghiên cứu của đề tài còn có thể là tài liệu quan trọng giúp cáctrường Cao đẳng khác tham khảo trong quá trình chuyển đổi từ ĐT theo niên chếsang ĐT theo HCTC

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Sử dụng phương pháp nghiên cứu những tài liệu lý luận, văn bản, Nghị quyết,sách báo, các công trình đã nghiên cứu có liên quan đến đề tài Tổ chức thu thập các

số liệu thống kê và các thông tin có liên quan để xây dựng cơ sở lý luận cho việcnghiên cứu thực tiễn

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

+ Phương pháp điều tra: Điều tra bằng Anket (Phiếu trưng cầu ý kiến)

Chúng tôi xây dựng 02 mẫu phiếu điều tra dùng để trưng cầu ý kiến của cán bộquản lý (CBQL), giảng viên, sinh viên tại các khoa của trường Cao đẳng Công nghệBắc Hà, tỉnh Bắc Ninh

+ Phương pháp phỏng vấn:

Chúng tôi gặp gỡ, trao đổi, quan sát, trò chuyện, lấy ý kiến trực tiếp cácCBQL, giảng viên (GV), sinh viên(SV) ở các khoa của nhà trường về những ưu điểm,khó khăn khi tham gia tổ chức ĐT theo HCTC nhằm nâng cao chất lượng ĐT chosinh viên nhà trường

Trang 9

7.3 Phương pháp thống kê Toán học

Sử dụng phương pháp thống kê Toán học để xử lý các tài liệu, số liệu đã thuthập được làm cơ sở cho sự phân tích đánh giá khách quan bản chất của vấn đềnghiên cứu

8 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo,phụ lục nội dung chính của đề tài gồm 3 chương:

+ Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ + Chương 2: Thực trạng về tổ chức quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ tại

trường Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà, tỉnh Bắc Ninh

+ Chương 3: Giải pháp tổ chức quản lý đào tạo theo HCTC tại trường Cao

đẳng Công nghệ Bắc Hà, tỉnh Bắc Ninh

Trang 10

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC QUẢN LÝ ĐÀO TẠO

THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ 1.1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Theo báo cáo của UNESCO: Học tập - một kho báu tiềm ẩn, đã xác định họctập suốt đời sẽ là một trong những chìa khóa nhằm vượt qua những thách thức của thế

kỷ XXI với đề nghị gắn nó với bốn trụ cột của giáo dục (bốn trụ cột của giáo dục baogồm: học để biết - Learning to know, học để làm -Learning to do, học để tự khẳngđịnh-Learning to be, học để cùng chung sống - Learning to live together) và hướngtới xây dựng một xã hội học tập Để thỏa mãn nhu cầu đó của mỗi con người trong xãhội hiện đại thì nhiệm vụ đặt ra cho các nhà trường là phải tổ chức tốt quá trình ĐTgiúp cho người học có đủ năng lực và trình độ đáp ứng yêu cầu việc làm

Từ nhiều năm trước đây, các nhà khoa học và các nhà quản lý giáo dục đã xácđịnh vấn đề quản lý chất lượng ĐT là một trong những nội dung quan trọng, cấp báchtrong chiến lược phát triển nguồn nhân lực Nó không chỉ dựa trên kinh nghiệm thựctiễn mà cần phải được nghiên cứu một cách nghiêm túc, và phải được bắt đầu từ khâu

lý luận và phương pháp luận

Đã có nhiều nhà trường, nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâmnghiên cứu và áp dụng ĐT theo HCTC, cụ thể:

1.1.1 Ở nước ngoài

Đào tạo theo HCTC, lần đầu tiên được tổ chức tại trường Đại học Havard, Hoa

Kỳ vào năm 1872, sau đó lan rộng ra khắp Bắc Mỹ và thế giới Tiếp sau đó, hệ thốngnày được các nước ở Bắc Mỹ, Nhật Bản Philippin, Hàn quốc, Trung quốc, Đài Loan,Thái Lan, Malaixia, Ấnđộ và nhiều các nước khác áp dụng Năm 1999, Bộ trưởng đặctrách giáo dục Đại học ở 29 nước trong Liên minh Châu Âu đã ký tuyên ngônBologna nhằm hình thành “ Không gian giáo dục đại Châu Âu” và áp dụng HCTCtrong toàn bộ hệ thống này [12, tr.7]

Theo đánh giá của tổ chức Ngân hàng thế giới (World Bank), thì đào tạo theoHTTC, không chỉ có hiệu quả đối với các nước phát triển mà còn rất hiệu quả đối với

các nước đang phát triển Đây là phương thức ĐT theo triết lý “Tôn trọng người học,

Trang 11

xem người học là trung tâm quá trình đào tạo” Bản chất của đào tạo theo HCTC là

sự tích lũy kiến thức được quy định trong chương trình đào tạo Sự tích lũy đượcđánh giá bằng: Số tín chỉ tích lũy tối thiểu quy định của mỗi chương trình để sinhviên (SV) có thể tốt nghiệp [20 tr.8]

Ngày nay, HCTC trong các trường Đại học Hoa Kỳ đòi hỏi phải hoàn thànhthường là 120 tín chỉ trong vòng 4 năm để có một bằng Đại học Điều này tươngđương với 15 tín chỉ mỗi học kỳ Khi xác định khối lượng công việc cho SV, cáctrường Đại học Hoa Kỳ không chỉ tính đến giờ tiếp xúc với giáo sư, mà còn tính đến

cả khoảng thời gian SV cần có để thực hiện việc chuẩn bị dự án, viết báo cáo khoahọc, nghiên cứu tự học Tín chỉ phản ánh toàn bộ khối lượng công việc, cả trong vàngoài lớp học Một bài giảng tiêu biểu là 3 tín chỉ, trong đó có 3 giờ lên lớp mỗi tuần(thường là 3 lần/tuần, mỗi lần 50 phút), cùng với 6-9 giờ làm việc ngoài lớp học (1giờ trong lớp đòi hỏi 2-3g chuẩn bị và tự học bên ngoài lớp học Như vậy tổng sốkhối lượng công việc của một tín chỉ là 3-4 giờ (kết hợp cả giờ lên lớp và giờ làmviệc ngoài lớp học) Nhìn chung, một SV đăng ký 15 tín chỉ mỗi học kỳ sẽ có 15 giờlên lớp và khoảng từ 30-45 giờ làm việc ngoài lớp [5, tr.8]

1.1.2 Ở trong nước

Ở Việt Nam, trước 1975, Viện Đại học Cần Thơ đã từng áp dụng HCTC trongcác Đại học Văn Khoa, Đại học Luật Khoa và Đại học Khoa học Sau 1975, nhiềugiảng viên của Trường Đại học Cần Thơ đã được đào tạo theo hệ thống tín chỉ ởnhiều trường Đại học Âu - Mỹ [1, tr.8] Từ năm 1987, HCTC được áp dụng một phầndưới hình thức tổ chức môn học theo học phần và đơn vị học trình HCTC chỉ đượchính thức triển khai từ năm 2001 khi Thủ tướng Chính phủ nhấn mạnh HCTC như làmột giải pháp để đổi mới giáo dục Đại học, và được khẳng định trong Luật giáo dục2005: “ Về chương trình giáo dục: Đối với giáo dục nghề nghiệp, giáo dục Đại học cóthể được tiến hành theo hình thức tích lũy tín chỉ hay theo niên chế”

Để thực hiện tiến trình đến với sự hoà nhập với các nước trong khu vực và thếgiới, các trường Đại học Việt Nam đã tiên phong trong việc tham khảo kinh nghiệm

và áp dụng HCTC vào chương trình ĐT của mình Có thể kể ra các trường đi đầutrong việc áp dụng này là các trường thuộc kỹ thuật như Trường Đại học Bách khoa

Trang 12

thành phố Hồ Chí Minh, trường Đại học Bách khoa Hà Nội , Đại học Cần thơ,Trường Đại học Đà Lạt, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hồ Chí Minh, TrườngĐại học Thủy sản Nha Trang và nhiều trường Cao đẳng khác v.v

Nhìn chung, các trường được phép áp dụng thử nghiệm HCTC từ năm 1993 toàn bộ chương trình ĐT Đại học chính quy đã được chuyển sang hệ tín chỉ Mô hìnhnhóm ngành-ngành rộng được áp dụng Đối với hệ ĐT chính quy tại trường áp dụngloại hình tập trung, ĐT theo HCTC Các học phần tự chọn sẽ được giới thiệu chi tiết,

-cụ thể trong chương trình ĐT theo từng ngành học và từng học kỳ, người học sẽ dựavào quy chế mà có thể đăng ký học những học phần hoàn toàn theo khả năng và sởthích của mình Theo hệ thống này, người học không phải trải qua kỳ thi tốt nghiệphay phải bảo vệ luận văn tốt nghiệp như trước đây mà người học có thể lựa chọn làhoàn thành thêm một số (thường là 10) tín chỉ ngoài các học phần như đã công bốtrongchương trình ĐT của từng ngành học

Từ năm học 2008-2009, căn cứ Quyết định số 43/2007/QĐ- BGD&ĐT ngày15/8/2007 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc Ban hành “Quy chế đào tạo Đại học

và Cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ”, các trường Đại học và Cao đẳng cảnước chính thức áp dụng ĐT theo HCTC tại trường mình quản lý Chính vì thế,nhiều công trình khoa học, bài viết, tham luận của các nhà khoa học, các giảng viên

đã đi sâu nghiên cứu về vấn đề này và đã được đăng tải trên sách báo, website làmkinh nghiệm quý báu trong việc tổ chức ĐT cho các trường Tiêu biểu như bài viết

“Chất lượng đào tạo theo hệ thống tín chỉ khó khăn và giải pháp” của Phó Giáo sư,Tiến sĩ Phan Quang Thế - Bí thư Đảng ủy, Hiệu trưởng trường Đại học Kỹ thuậtCông nghiệp Thái Nguyên; “Đào tạo Đại học theo học chế tín chỉ - Những vấn đề đặtra” của Tiến sĩ Nghiêm Thị Thà - Website: Học viện tài chính; “Đào tạo theo hệ

thống tín chỉ: Kinh nghiệm thế giới và thực tế ở Việt Nam” của Tiến sĩ Nguyễn Kim

Dung Viện Nghiên cứu Giáo dục - Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ ChíMinh; “Hệ thống tín chỉ tại các trường Đại học Hoa Kỳ: Lịch sử phát triển, Địnhnghĩa và Cơ chế hoạt động” của Phó Giáo sư - Tiến sĩ CaryJ Trexler, Khoa Giáo dục

Sư phạm, trường Đại học (UC), Davis, Hoa Kỳ; “Những vấn đề của quản lý đạo tạotheo học chế tín chỉ ở trường Đại học Sư phạm” của tác giả Lê Quang Sơn, trườngĐại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng

Trang 13

Trong “Chương trình hành động của Chính phủ” thực hiện Nghị quyết số37/2004/QH11 khóa XI, kỳ họp thứ sáu của Quốc hội đã chỉ rõ: “Mở rộng, áp dụngHCTC trong đào tạo Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp ” Đề án đổi mớigiáo dục Đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020 đã được Chính phủ phê duyệt cũngkhẳng định: “ xây dựng học chế tín chỉ thích hợp cho giáo dục Đại học ở nước ta vàvạch ra lộ trình hợp lý để toàn bộ hệ thống giáo dục Đại học chuyển sang đào tọa theoHCTC ” Chính vì vậy, việc ĐT theo HCTC ở các trường Đại học và Cao đẳng trên

cả nước đã xây dựng cho mình Quy chế đào tạo Mỗi quy chế được xây dựng vớinhững mục tiêu, quy định, cách thức tổ chức ĐT riêng thể hiện được nhưng ưu điểmcủa mỗi ngành học ở mỗi nhà trường trong việc nâng cao chất lượng giáo dục và ĐT,phát huy khả năng tự học, tự bồi dưỡng của người học

Hiện nay, các hoạt động liên quan đến tổ chức ĐT theo HCTC của các nhàtrường như đăng ký môn học, thời khoá biểu của người học, kết quả điểm tích lũy củatừng môn học theo số tín chỉ v.v , từng bước đi vào thế ổn định và mang tính bềnvững Nhiều trường đã thực hiện chế độ tích luỹ kết quả học tập theo học phần thốngnhất cho các loại hình ĐT Đại học chính quy, Đại học bằng 2, Đại học tại chức, SauĐại học, chuyển đổi từ Cao đẳng lên Đại học, hợp đồng liên kết ĐT với các cơ sở ĐTtại các địa phương, các bộ, ngành và các cơ sở ĐT Hiện nay, các trường này đã thựchiện cấp chứng chỉ tích lũy theo học phần đối với các học phần phải bổ sung kiếnthức thuộc đào tạo Sau Đại học và chứng chỉ các môn học Ngoài ra, các trường nàycũng đã thống nhất đánh giá kết quả học tập của SV theo chế độ tích luỹ học phầncho các loại hình ĐT tập trung, chính quy, ĐT ngoài giờ, tại các địa phương, cácngành và liên kết ĐT với các trường Đại học Thực hiện kiểm tra, thi kết thúc họcphần, thi tốt nghiệp theo hình thức thi viết đồng thời mở rộng hình thức thi trắcnghiệm khách quan

Từ Quyết định số 43/2007/QĐ-BGD&ĐT ngày 15/8/2007 của Bộ Giáo dục vàĐào tạo về việc Ban hành “ Quy chế đào tạo Đại học và Cao đẳng hệ chính quy theo

hệ thống tín chỉ” và những kết quả đạt được qua quá trình ĐT, Thông tư số57/2012/TT-BGDĐT ngày 27/12/2012 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chếđào tạo Đại học và Cao đẳng hệ chính quy theo HCTC như một cơ sở khoa học, một

Trang 14

lần nữa khẳng định quyết định của Bộ Giáo dục và Đào tạo về ban hành Quy chế ĐTtheo HCTC là đúng đắn, phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục trong xu thế hội nhậpquốc tế hiện nay

Tuy nhiên, vấn đề tổ chức ĐT theo HCTC, đặc biệt ở trình độ Cao đẳng, trong

xu thế hội nhập hiện nay vẫn còn một số hạn chế nhất định và ít được quan tâm

nghiên cứu Vì vậy, đề tài “Tổ chức quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà, tỉnh Bắc Ninh” mà tôi chọn nghiên cứu làm luận văn

Thạc sĩ quản lý giáo dục cũng là nhằm khắc phục những thiếu sót, hạn chế trong quátrình tổ chức ĐT theo HCTC tại trường CĐ Công nghệ Bắc Hà, với mục đích gópphần nâng cao chất lượng ĐT trong nhà trường, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và

xu thế hội nhập quốc tế hiện nay

1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN

1.2.1 Quản lý

Bản chất của quản lý là các hoạt động của chủ thể quản lý tác động lên cácđối tượng quản lý để đạt mục tiêu đã xác định Quản lý vừa là một nghệ thuật, vừa làmột khoa học Đó là nghệ thuật làm cho người khác làm việc hiệu quả hơn nhữngđiều bản thân họ sẽ làm được nếu không có sự quản lý Còn khoa học chính là cáchlàm thế nào để thực hiện được nghệ thuật quản lý Lên kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo vàgiám sát là bốn điều căn bản trong khoa học đó

Nói đến khái niệm “quản lý” là một khái niệm rất tổng quát và có nhiều quanniệm khác nhau Dưới đây là một số quan niệm chủ yếu:

Theo Tự điển Tiếng Việt: “Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt độngtheo những yêu cầu nhất định”; [18, tr.11-13]

F.W Taylor cho rằng: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn ngườikhác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và

Trang 15

Ở nước ta, cũng có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý:

Theo Nguyễn Kỳ - Bùi Trọng Tuân: “Quản lý là những tác động có địnhhướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đối tượng bị quản lý trong tổ chức để vậnhành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định”;

Theo Mai Hữu Khuê: “Quản lý là sự tác động có mục đích tới tập thể nhữngngười LĐ nhằm đạt được những kết quả nhất định và mục đích đã định trước”;

Theo Đặng Vũ Hoạt - Hà Thế Ngữ: “Quản lý là một quá trình có định hướng,quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằmđạt được những mục tiêu nhất định Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mớicủa hệ thống mà người quản lý mong muốn” ;

Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch củachủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (khách thể quản lý) nhằm thực hiệnnhững mục tiêu dự kiến”;

Các định nghĩa trên tuy nhấn mạnh mặt này hay mặt khác, nhưng điểm chungthống nhất đều coi quản lý là hoạt động có tổ chức, có mục đích nhằm đạt tới mục tiêuxác định Trong quản lý bao giờ cũng có chủ thể quản lý, khách thể quản lý quan hệvới nhau bằng những tác động quản lý Từ những ý chung của các định nghĩa và xét

quản lý với tư cách là một hành động, có thể định nghĩa: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề

ra Hay nói cách khác, Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm định hướng, tổ chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất.

1.2.2 Đào tạo

Trong giáo dục và đào tạo có các quá trình tiếp nối và xen kẽ: ĐT, bồi dưỡng

và ĐT lại Các quá trình này gắn liền với sự hình thành và phát triển nghề nghiệp củangười giáo viên theo xu thế học tập thường xuyên, suốt đời

Theo quan niệm phổ biến, ĐT là một quá trình trang bị kiến thức, kỹ năng, kỹxảo, thái độ phẩm chất đạo đức cho người học để vào đời, họ có thể trở thành nhữngngười lao động có kỹ thuật, có năng suất lao động cao Quá trình ĐT diễn ra theo kếhoạch, chương trình ứng với từng thời gian quy định, trong các cơ sở ĐT

Trang 16

Trong Từ điển bách khoa Việt Nam: "Đào tạo là quá trình tác động đến mộtcon người, làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách

có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và có khả năngnhận được sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vào sự phát triển xãhội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người" (Từ điển Bách Khoa Việt Nam

- Hà Nội, 1995) [18, tr.11-13]

Đào tạo có nhiều dạng: ĐT cấp tốc; ĐT chuyên sâu; ĐT cơ bản; ĐT ngắn hạn;

ĐT từ xa và ĐT lại (tương đương với bồi dưỡng) Tuỳ theo tính chất chuẩn bị chocuộc sống và cho lao động, người ta phân loại ĐT gồm ĐT chuyên môn và ĐT nghềnghiệp, và chỉ khi nào quá trình ĐT được biến thành quá trình tự ĐT một cách tíchcực, tự giác thì việc ĐT mới thực sự có kết quả cao Tác giả Hồ Ngọc Đại (Giải pháp

về giáo dục - H, 1991) định nghĩa: "Đào tạo được hiểu là quá trình hoạt động có mụcđích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển một cách có hệ thống những tri thức,

kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp và thái độ của người lao động nhằm xây dựng nhân cách

cơ bản cho mỗi cá nhân, tạo điều kiện cho họ có thể tham gia lao động nghề nghiệptrong cuộc sống xã hội"

Tác giả Nguyễn Minh Đường trong đề tài KX07 - 14 quan niệm: "Đào tạo làquá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức, nhằm hình thành và phát triển hệ thốngcác tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạotiền đề cho họ có thể vào đời hành nghề một cách năng suất và hiệu quả"

Như vậy, có thể hiểu: Đào tạo là quá trình trang bị kiến thức, kỹ năng ban đầu cùng với những phẩm chất, thái độ cần thiết để người được ĐT có thể hành nghề

và trở thành người lao động có năng lực và phẩm chất nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu của xã hội Còn ĐT lại cũng chính là một dạng của ĐT, là quá trình tạo cho người lao

động (đã được đào tạo) có cơ hội được học tập, được ĐT chuyên sâu hay một lĩnhvực chuyên môn mới một cách cơ bản, có hệ thống cả tri thức, kỹ năng, kỹ xảo lẫnthái độ nhằm mục đích có trình độ tay nghề cao hơn hoặc có thể chuyển đổi nghề(hay công việc mới) Đây chính là quá trình hoạt động nhằm phát triển nhân cách mộtcách hài hoà, toàn diện cho mọi người, giúp họ trở thành người lao động có năng lực

và phẩm chất nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu xã hội

Trang 17

1.2.3 Quản lý đào tạo

Theo thuật ngữ đào tạo (Glossary of training terms) của Bộ Lao động nướcAnh: “Đào tạo là phát triển có hệ thống về thái độ/ kiến thức/ kỹ năng/ mẫu hành vitheo yêu cầu cá nhân nhằm thực hiện thích đáng một công việc hay một nghề” Vàquan điểm ở Mỹ, J.R Hinrich: “Mọi quy trình tổ chức nhằm bồi dưỡng việc học tậptrong số những thành viên của tổ chức theo hướng góp phần nâng cao tính hiệu quảcủa tổ chức” thì Peter Bramley (trong tác phẩm “Evaluating training effectiveness”)

Hoạt động đào tạo trong trường ĐH, CĐ có đặc trưng nổi bật nhất là quá trìnhđào tạo Quá trình đào tạo bao gồm các nhân tố chủ yếu sau:

- Lực tượng đào tạo (Thày-người dạy) - Tổ chức đào tạo

- Đối tượng đào tạo (Trò-người học) - Môi trường đào tạo

Các yếu tố này hoạt động trong mối quan hệ tương tác với nhau, đảm bảo choquá trình đào tạo diễn ra hài hoà, cân đối và toàn vẹn

Trong đó ba nhân tố mục tiêu ĐT, nội dung ĐT, phương pháp ĐT liên kết chặtchẽ với nhau, quy định nhau và hỗ trợ nhau Chúng có mối quan hệ với mục tiêu pháttriển KT-XH, trạng thái tiến bộ về văn hoá khoa học của đất nước Chúng tạo ra cái

Trang 18

cốt lõi của quá trình ĐT Còn các nhân tố khác là các lực lượng vật chất, để hiện thựchoá được mục tiêu ĐT, tái tạo, sáng tạo nội dung ĐT và phương pháp ĐT.

Chính vì vậy có thể hiểu quản lý đào tạo là quá trình tổ chức điều khiển, kiểm tra, đánh giá các hoạt động đào tạo của toàn bộ hệ thống theo kế hoạch và chương trình nhất định nhằm đạt được mục tiêu của toàn bộ hệ thống.

1.3 LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC QUẢN LÝ ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ

1.3.1 Mục tiêu, nguyên tắc và phương pháp quản lý đào tạo

1.3.1.1 Mục tiêu quản lý đào tạo

Mục tiêu quản lý là trạng thái được xác định trong tương lai của đối tượngquản lý hay các thành tố của nó Nói một cách khác, mục tiêu quản lý là những kếtquả mà chủ thể quản lý dự kiến sẽ đạt được do quá trình vận động của đối tượng quản

lý dưới sự điều khiển của chủ thể quản lý

Mục tiêu quản lý ĐT là chất lượng ĐT toàn diện người học với các tiêu chuẩn

về chính trị, tư tưởng- đạo đức, văn hoá-khoa học, kỹ thuật-công nghệ, kỹ năng hànhnghề và thể chất được quy định trong mục tiêu đào tạo Chất lượng đó là kết quả tổnghợp nhiều hoạt động của quá trình đào tạo và của các hoạt động đảm bảo cho quátrình đó

Mục tiêu đào tạo trình độ Cao đẳng là:

-“Đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhândân; có khả năng tự học, kỹ năng giao tiếp và làm việc theo nhóm; có sức khoẻ đápứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”

-“Đào tạo người học có kiến thức chuyên môn vững vàng, kỹ năng thực hành

cơ bản, có thái độ và đạo đức nghề nghiệp đúng đắn, chú trọng rèn luyện kỹ năng vànăng lực thực hiện công tác chuyên môn, có khả năng tìm kiếm và tham gia sáng tạoviệc làm”

Theo thông tư số 14/2009/TT-BGDĐT, ngày 28 tháng 5 năm 2009 của Bộ

Giáo dục và Đào tạo ban hành Điều lệ trường Cao đẳng (Điều 15).

Như vậy, mục tiêu ĐT trình độ Cao đẳng nhằm tạo ra nguồn nhân lực có phẩmchất chính trị, đạo đức tốt, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tưng xứng

Trang 19

với trình độ ĐT Cao đẳng; có sức khoẻ, có năng lực thích ứng với việc làm trong xãhội, tự tạo việc làm cho mình và cho những người khác, có khả năng hợp tác bìnhđẳng trong quan hệ quốc tế, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

1.3.1.2 Nguyên tắc quản lý đào tạo

Quản lý ĐT phải tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc quản lý giáo dục nói chung

và áp dụng các nguyên tắc đó vào quản lý ĐT ở phạm vi trong một nhà trường, cácnguyên tắc đó bao gồm:

- Nguyên tắc tập trung dân chủ

Nguyên tắc này xuất phát từ cơ sở khách quan là bản chất chính trị của Nhànước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân,

vì nhân dân

Trong phạm vi nhà trường, nguyên tắc này đòi hỏi một mặt phải tăng cườngquản lý tập trung (Khi quyết định những vấn đề trọng yếu), thống nhất của người lãnhđạo quản lý; mặt khác phải phát huy, mở rộng tối đa quyền chủ động của các đơn vị,

cá nhân, đảm bảo sự phù hợp của các quy định chung với các điều kiện cụ thể ở trongnhà trường

- Nguyên tắc kết hợp nhà nước và xã hội

Nguyên tắc này có vai trò quan trọng trong quản lý giáo dục, nó đòi hỏi phảikết hợp việc quản lý giáo dục mang tính chất nhà nước với việc quản lý giáo dụcmang tính xã hội, phải lôi cuốn được xã hội, các tổ chức đoàn thể xã hội tham gia tíchcực vào sự nghiệp quản lý giáo dục nói chung và quản lý ĐT nói riêng trên cơ sở cơchế giáo dục phù hợp

- Nguyên tắc tính khoa học

Trang 20

Quản lý ĐT phải được xây dựng trên cơ sở khoa học, đặc biệt là lý luận khoahọc quản lý, vận dụng những thành tựu của nhiều khoa học khác nhau như tâm lýhọc, giáo dục học, điều khiển học, tổ chức lao động khoa học Nguyên tắc này đòihỏi trong quản lý quá trình ĐT phải bảo đảm tính hệ thống và tính tổng hợp.

- Nguyên tắc đảm bảo tính cụ thể, thiết thực và hiệu quả

Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình quản lý ĐT, chủ thể quản lý phải nắmthông tin chính xác, cụ thể, kịp thời đề ra các biện pháp xử lý, giải quyết phù hợp,thiết thực các tình huống phát sinh trong quá trình quản lý

- Nguyên tắc trách nhiệm và phân công trách nhiệm

Trách nhiệm thể hiện ở sự thống nhất giữa hai mặt: mặt tích cực, ý thức tráchnhiệm của chủ thể quản lý; mặt tiêu cực là khi buộc phải áp dụng các chế tài đối vớingười vi phạm pháp luật nhà nước Trách nhiệm hình thành trên cơ sở của sự tácđộng qua lại giữa ba thành tố:

+ ý thức về nghĩa vụ được quy định trong các quy phạm đạo đức và pháp luật.+ Sự đánh giá hành vi bao gồm sự tự đánh giá của chủ thể và sự đánh giá củacác cấp có thẩm quyền theo tiêu chuẩn pháp lý, đạo đức

+ Sự áp dụng các chế tài đối với những hành vi lệch lạc

Nguyên tắc này đòi hỏi mỗi người phải trả lời được các câu hỏi: Công việcmình phải làm là gì? Giới hạn hành động và quyền hành của mình là gì? Phải thuộcquyền ai?

Phân công trách nhiệm là tổ chức sự uỷ quyền, cho phép tự chủ trong hành động

và quyết định Phân công trách nhiệm không làm giảm bớt trách nhiệm của người đứngđầu Phân công trách nhiệm đòi hỏi phải tổ chức sự phối hợp và kết hợp chặt chẽ

1.3.1.3 Phương pháp quản lý đào tạo

Trang 21

Quản lý ĐT nói chung và quản lý ĐT ở trường Cao đẳng nói riêng sử dụnghợp lý và có hiệu quả các phương pháp cơ bản như:

- Phương pháp hành chính- tổ chức

Phương pháp hành chính-tổ chức là phương pháp có tính pháp lệnh, bắt buộc

và có tính kế hoạch rõ ràng, là sự tác động trực tiếp của chủ thể quản lý đến đối tượngquản lý bằng quyết định, chỉ thị, mệnh lệnh

- Phương pháp giáo dục

Phương pháp giáo dục là phương pháp mà chủ thể quản lý tác động trực tiếphoặc gián tiếp (vào đối tượng quản lý) đến thái độ, nhận thức và hành vi nhằm tạo rahiệu quả hoạt động của tổ chức, của các cá nhân

- Phương pháp tâm lý-xã hội

Phương pháp tâm lý-xã hội là cách thức tạo ra những tác động vào đối tượngquản lý bằng các biện pháp lôgic và tâm lý xã hội, nhằm biến những yêu cầu dongười lãnh đạo, quản lý đề ra thành nhu cầu tự giác bên trong của người thực hiện

1.3.2 Tổ chức quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ

1.3.2.1 Học chế tín chỉ và đào tạo theo HCTC

* Thế giới hiện đại luôn công nhận tầm quan trọng của giáo dục Đại học, nơisinh viên tiếp thu kiến thức và kỹ năng thông qua các chương trình học được sắp xếp

có hệ thống Thế giới đang trong tiến trình tìm tiếng nói chung ở các chương trìnhhọc, nơi SV có thể chuyển đổi từ hệ thống giáo dục này sang hệ thống giáo dục khác

mà không gặp nhiều khó khăn Chính vì vậy, các nhà giáo dục, khoa học, chuyênmôn và quản lý nhà nước lẫn giáo dục Đại học đang cố gắng lập ra một không giangiáo dục thống nhất để SV có thể tiếp thu càng nhiều kiến thức càng tốt Với mụcđích đó, một hệ thống được gọi là ‘hệ thống chuyên đổi tín chỉ' được xây dựng vàphát triển ở nhiều nước trên thế giới

Trang 22

Việc chuyển đổi ĐT theo HTTC là xu hướng của đổi mới giáo dục Đại họctiên tiến Người học với vai trò trung tâm của mình hoàn toàn chủ động việc học,người dạy cần phải nâng cao năng lực chuyên môn theo phổ rộng để đáp ứng việckhối lượng kiến thức ngày càng phong phú khi lên lớp Quan trọng hơn cả là cáchlàm này sẽ đem lại hiệu quả tích cực, đó là nâng cao chất lượng ĐT nguồn nhân lực.

* Đào tạo theo HCTC là một hình thức ĐT hướng đến tính năng động vàquyền lợi của người học, được cụ thể hóa bằng quy chế 43 của Bộ GD-ĐT và Thông

tư Số: 57/2012/TT-BGDĐT ngày 27 tháng 12 năm 2012 “Sửa đổi, bổ sung một sốđiều của Quy chế ĐT Đại học và Cao đẳng hệ chính quy theo HCTC ban hành kèmtheo Quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT ngày 15 tháng 8 năm 2007 của Bộ trưởng

Bộ Giáo dục và Đào tạo” triển khai ở một số trường ĐH trong thời gian gần đây.Hiện nay đã có nhiều trường trường áp dụng việc ĐT theo HCTC Việc chuyển đổinày là một bước chuyển quan trọng và mang tính tất yếu trong ĐT Cao đẳng, Đạihọc, phù hợp xu thế hội nhập khu vực và quốc tế

Việc áp dụng hệ thống ĐT theo tín chỉ phản ánh quan điểm lấy người học làmtrung tâm, người học là người tiếp nhận kiến thức nhưng đồng thời cũng là người chủđộng tạo dựng kiến thức, hướng tới đáp ứng những nhu cầu của thị trường lao độngngoài xã hội Nó cho phép người học chọn trong số những môn học được thiết kếtrong chương trình, nhiều trong số những môn học đó có thể thay thế được với nhau

và có tác dụng tương đồng

Trong phương thức ĐT theo tín chỉ, tự học, tự nghiên cứu của SV được coitrọng được tính vào nội dung và thời lượng của chương trình Đây là phương thức giúpngười học tự học, tự nghiên cứu, giảm sự nhồi nhét kiến thức của người dạy, và do vậyphát huy được tính chủ động, sáng tạo của người học Bên cạnh đó, chương trình củaphương thức ĐT theo tín chỉ rất mềm dẻo và linh hoạt Chương trình được thiết kế theophương thức đào tạo tín chỉ bao gồm một hệ thống những môn học thuộc khối kiếnthức chung, những môn học thuộc khối kiến thức chuyên ngành, những môn học thuộckhối kiến thức cận chuyên ngành Mỗi khối kiến thức đều có số lượng những môn họclớn hơn số lượng các môn học hay số lượng tín chỉ được yêu cầu; SV có thể tham khảo

GV hoặc cố vấn học tập để chọn những môn học phù hợp với mình, để hoàn thành

Trang 23

những yêu cầu cho một văn bằng và để phục vụ cho nghề nghiệp tương lai của mình.Ngoài ra, trong phương thức đào tạo theo tín chỉ SV được cấp bằng khi đã tích lũyđược đầy đủ số lượng tín chỉ do nhà trường quy định, do vậy họ có thể hoàn thànhnhững điều kiện để được cấp bằng tùy theo khả năng và điều kiện của bản thân…

Đào tạo theo HCTC có những đặc điểm cơ bản sau:

1 Kiến thức được cấu trúc từng học phần Quá tình học tập là sự tích lũy kiếnthức của người học theo từng học phần;

2 Đào tạo theo HCTC mềm dẻo, có tính liên thông, tức là đảm bảo kết nối cácmôn học theo các phương pháp được thừa nhận, còn có phần tự chọn để sinh viên cóđiều kiện tích lũy thêm tín chỉ và định hướng chuyên môn nghề nghiệp cho bản thân;

3 Sinh viên chủ động xây dựng chương trình và kế hoạch học tập theo điềukiện cá nhân của mình;

7 Không thi tốt nghiệp, có thể không tổ chức bảo vệ khóa luận tốt nghiệp vớicác chương trình Cao đẳng và Đại học…

Từ những đặc điểm cơ bản, ĐT theo HCTC cho thấy:

- Có hiệu quả cao: HCTC cho phép ghi nhận kịp thời tiến trình tích lũy kiếnthức và kỹ năng của SV để dẫn đến văn bằng, SV được chủ động thiết kế kế hoạchhọc tập cho mình, tính liên thông giữa các cấp ĐT và giữa các ngành ĐT khác nhau,khuyến khích SV từ nhiều nguồn khác nhau có thẻ tham gia học một cách thuận lợi;

- Có tính mềm dẻo và khả năng thích ứng cao: Với HCTC, sinh viên có thểchủ động ghi tên học các học phần khác nhau đựa theo những quy định chung về

cơ cấu và khối lượng của từng lĩnh vực kiến thức, SV dễ dàng thay đổi ngànhchuyên môn trong tiến trình học tập khi thấy cần thiết mà không phải học lại từđầu, các trường Đại học có thể mở thêm các ngành học mới một cách dẽ dàng khi

Trang 24

nhận được tín hiệu về nhu cầu của thị trường lao động và tình hình lựa chọnngành nghề của SV.

- Đạt hiệu quả cao về mặt quản lý và giảm giá thành ĐT: Có thể tổ chức nhữngmôn học chung cho SV nhiều trường, nhiều khoa, tránh các môn học trùng lặp ởnhiều nơi; ngoài ra SV có thể học các môn học lựa chọn ở các khoa khác nhau Cách

tổ chức như vậy cho phép sử dụng được đội ngũ GV giỏi nhất và phương tiện tốt nhấtcho từng môn học, ngành học…

1.3.2.2 Những quy định trong tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ

Tổ chức đào tạo theo HCTC được quy định tại Quy chế 43 và Thông tư 57của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, nội dung cơ bản như sau:

a Học phần và Tín chỉ

- Học phần là khối lượng kiến thức tương đối trọn vẹn, thuận tiện cho sinhviên tích luỹ trong quá trình học tập Phần lớn học phần có khối lượng từ 2 đến 4 tínchỉ, nội dung được bố trí giảng dạy trọn vẹn và phân bố đều trong một học kỳ Kiếnthức trong mỗi học phần gắn với một mức trình độ theo năm học thiết kế và được kếtcấu riêng như một phần của môn học hoặc được kết cấu dưới dạng tổ hợp từ nhiềumôn học Từng học phần được ký hiệu bằng một mã số riêng do trường quy định Cóhai loại học phần: học phần bắt buộc và học phần tự chọn

+ Học phần bắt buộc là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức chínhyếu của mỗi chương trình và bắt buộc SV phải tích lũy;

+ Học phần tự chọn là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức cầnthiết, nhưng SV được tự chọn theo hướng dẫn của trường nhằm đa dạng hoá hướngchuyên môn hoặc được tự chọn tuỳ ý để tích luỹ đủ số tín chỉ qui định cho mỗichương trình

- Tín chỉ được sử dụng để tính khối lượng học tập của sinh viên:

+ Một tín chỉ được quy định bằng 15 tiết học lý thuyết; 30 - 45 tiết thực hành,

thí nghiệm hoặc thảo luận; 45 - 90 giờ thực tập tại cơ sở; 45 - 60 giờ làm tiểu luận,bài tập lớn hoặc đồ án, khoá luận tốt nghiệp

+ Đối với những học phần lý thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm, để tiếp thuđược một tín chỉ SV phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân

+ Nhà trường có quy định cụ thể số tiết, số giờ đối với từng học phần

“Tín chỉ học tập” trong hình thức ĐT theo tín chỉ được xem là một đại lượng đotoàn bộ thời gian bắt buộc của một SV bình thường để học một môn học cụ thể, baogồm thời gian lên lớp; thời gian ở trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc các phần việc

Trang 25

khác đã được quy định ở thời khóa biểu và thời gian dành cho đọc sách, nghiên cứu,giải quyết vấn đề, viết hoặc chuẩn bị bài Đối với các môn học lí thuyết một tín chỉ làmột giờ lên lớp (với hai giờ chuẩn bị bài) trong một tuần và kéo dài trong một học kì

15 tuần; đối với các môn học ở phòng thí nghiệm, ít nhất là 2 giờ trong một tuần (với 1giờ chuẩn bị); đối với các môn tự học, ít nhất là 3 giờ làm việc trong một tuần “Tínchỉ” là đại lượng dùng để đo khối lượng kiến thức, kĩ năng của một môn học mà ngườihọc cần phải tích lũy trong một khoảng thời gian nhất định thông qua các hình thức:Học tập trên lớp; Học tập trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc làm các phần việckhác (có sự hướng dẫn của GV); và Tự học ngoài giờ lên lớp như đọc sách, nghiêncứu, giải quyết vấn đề hoặc chuẩn bị bài v.v Tín chỉ còn được hiểu là khối lượng laođộng của SV trong một khoảng thời gian nhất định trong những điều kiện học tập tiêu

chuẩn Trên cơ sở đó, dạy - học theo tín chỉ được tổ chức bằng ba hình thức: lên lớp, thực hành, và tự học Trong ba hình thức tổ chức dạy - học này, hai hình thức đầu được

tổ chức có sự tiếp xúc trực tiếp giữa GV và SV (GV giảng bài, hướng dẫn, SV nghegiảng, thực hành, thực tập dưới sự hướng dẫn của giáo viên, v.v.), hình thức thứ bakhông có sự tiếp xúc trực tiếp giữa GV và SV (GV giao nội dung để SV tự học, tựnghiên cứu, tự thực hành) Ba hình thức tổ chức dạy - học này tương ứng với ba kiểu

giờ tín chỉ: giờ tín chỉ lên lớp, giờ tín chỉ thực hành và giờ tín chỉ tự học Trong đó,

một giờ tín chỉ lên lớp bao gồm 1 tiết (50 phút) GV giảng bài và 2 tiết SV tự học, tựnghiên cứu ở nhà; một giờ tín chỉ thực hành bao gồm 2 tiết GV hướng dẫn, điều khiển

và giúp đỡ SV thực hành, thực tập và và 1 tiết SV tự học, tự chuẩn bị; và một giờ tínchỉ tự học bao gồm 3 tiết SV tự học, tự nghiên cứu, tự thực hành theo những nội dung

GV giao và những gì SV thấy cần phải nghiên cứu hoặc thực hành thêm (tùy thuộcđiều kiện cụ thể) Trong ba hình thức tổ chức dạy - học ấy, cụ thể là trong ba kiểu giờtín chỉ ấy, lượng kiến thức SV thu được có thể khác nhau nhưng để thuận tiện cho việctính toán (giờ chuẩn cho GV, kinh phí cho từng môn học, điều kiện phương tiện phục

vụ cho dạy - học, v.v.), ba kiểu giờ tín chỉ này được coi là có giá trị ngang nhau Ngoài

ra, khác với phương thức ĐT theo niên chế, phương thức ĐT theo tín chỉ xem tự họcnhư là một thành phần hợp pháp trong cơ cấu giờ học của SV, cụ thể: Ngoài việc nghegiảng và thực hành trên lớp, SV được giao những nội dung để tự học, tự thực hành, tự

Trang 26

nghiên cứu; những nội dung này được đưa vào thời khóa biểu để phục vụ cho công tácquản lí và quan trọng hơn, chúng phải được đưa vào nội dung các bài kiểm tra thườngxuyên và bài thi hết môn học

b Thời gian và kế hoạch đào tạo

- HCTC tổ chức đào tạo theo khoá học, năm học và học kỳ:

+ Khoá học là thời gian thiết kế để SV hoàn thành một chương trình cụ thể.Đào tạo trình độ cao đẳng được thực hiện từ hai đến ba năm học tùy theo ngành nghề

ĐT đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc bằng tốt nghiệp trungcấp; từ một năm rưỡi đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung cấpcùng ngành đào tạo

+ Một năm học có hai học kỳ chính, mỗi học kỳ chính có ít nhất 15 tuần thựchọc và 3 tuần thi Ngoài hai học kỳ chính, Hiệu trưởng xem xét quyết định tổ chứcthêm một kỳ học phụ để sinh viên có điều kiện được học lại; học bù hoặc học vượt.Mỗi học kỳ phụ có ít nhất 5 tuần thực học và 1 tuần thi

+ Thời gian và kế hoạch đào tạo được công bố cho cán bộ và sinh viên vào đầunăm học

- Thời gian tối đa hoàn thành chương trình bao gồm: thời gian thiết kế chochương trình quy định tại khoản 1 của điều này, cộng với 4 học kỳ

Đối với những trường hợp đặc biệt, Hiệu trưởng có thể quy định thêm thờigian tối đa cho mỗi chương trình, nhưng không vượt quá hai lần so với thời gian thiết

kế cho chương trình đó

Các đối tượng được hưởng chính sách ưu tiên theo quy định tại Quy chế tuyểnsinh Đại học, cao đẳng hệ chính quy không bị hạn chế về thời gian tối đa để hoànthành chương trình

- Thời gian hoạt động giảng dạy theo HCTC được tính từ 7 giờ đến 20 giờhằng ngày

Tuỳ theo số lượng SV, số lớp học cần tổ chức và điều kiện cơ sở vật chất của

cơ sở ĐT, Phòng Đào tạo sắp xếp thời khóa biểu hàng ngày cho các lớp

c Đánh giá kết quả học tập

Kết quả học tập của SV được đánh giá sau từng học kỳ qua các tiêu chí sau:

- Số tín chỉ của các học phần mà sinh viên đăng ký học vào đầu mỗi học kỳ(gọi tắt là khối lượng học tập đăng ký);

Trang 27

- Điểm trung bình chung học kỳ là điểm trung bình có trọng số của các họcphần (theo thang điểm 4) mà sinh viên đăng ký học trong học kỳ đó, với trọng số là

số tín chỉ tương ứng của từng học phần;

- Khối lượng kiến thức tích lũy là khối lượng tính bằng tổng số tín chỉ củanhững học phần đã được tích lũy (đạt điểm A, B, C, D theo thang điểm chữ) tính từđầu khóa học;

- Điểm trung bình chung tích lũy là điểm trung bình theo thang điểm 4 củacác học phần đã được tích lũy (đạt điểm A, B, C, D theo thang điểm chữ) tính từ đầukhóa học cho tới thời điểm được xem xét vào lúc kết thúc mỗi học kỳ

d Công nhận tốt nghiệp

Sinh viên được xét và công nhận tốt nghiệp khi có đủ các điều kiện sau:

- Cho đến thời điểm xét tốt nghiệp không bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặckhông đang trong thời gian bị kỷ luật ở mức đình chỉ học tập;

- Tích lũy đủ số học phần và khối lượng của chương trình đào tạo được quyđịnh tại Điều 2 của Quy chế này;

- Điểm trung bình chung tích lũy của toàn khóa học đạt từ 2,00 trở lên;

- Thỏa mãn một số yêu cầu về kết quả học tập đối với nhóm học phần thuộcngành đào tạo chính và các điều kiện khác do Hiệu trưởng quy định;

- Có chứng chỉ giáo dục quốc phòng - an ninh đối với các ngành đào tạo khôngchuyên về quân sự và hoàn thành học phần giáo dục thể chất đối với các ngành khôngchuyên về thể dục - thể thao;

- Có đơn gửi nhà trường đề nghị được xét tốt nghiệp trong trường hợp đủ điềukiện tốt nghiệp sớm hoặc muộn so với thời gian thiết kế của khoá học

Ngoài ra, nếu SV học cùng lúc hai chương trình thì chỉ được xét tốt nghiệpchương trình thứ hai, nếu có đủ điều kiện tốt nghiệp ở chương trình thứ nhất

1.3.2.3 Nội dung tổ chức quản lý đào tạo theo HCTC

Nội dung của tổ chức quản lý đào tạo theo HCTC với tư cách là một hệ thốngkhá phức tạp và hoàn chỉnh Trong phạm vi của đề tài chỉ đề cập đến các nội dungchủ yếu sau:

a Xác định mục tiêu đào tạo và cơ cấu ngành nghề đào tạo

- Mục tiêu đào tạo là kết quả, là sản phẩm mong đợi của quá trình đào tạo.Mục tiêu đào tạo hay sản phẩm đào tạo chính là ngựời SV tốt nghiệp với nhâncách đã được thay đổi, cải biến thông qua quá trình đào tạo Mục tiêu đào tạo là căn

Trang 28

cứ để soạn thảo và triển khai chương trình đào tạo, đồng thời là cơ sở để lập kế hoạchthực hiện và đánh giá Mục tiêu đào tạo là chuẩn mực để đánh giá kết quả hoạt độngđào tạo Mục tiêu đào tạo tác động đến tất cả các đối tượng, các nhân tố của quá trìnhđào tạo.

- Xác định cơ cấu ngành nghề đào tạo: Đối với các trường CĐ, khi thành lậpđều đăng ký đào tạo một số nghề hoặc nhóm nghề Công tác quản lý đào tạo căn cứcác điều kiện đảm bảo và phục vụ quá trình đào tạo của từng cơ sở, đồng thời căn cứtình hình phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn nhất định để xác định và xâydựng số lượng và cơ cấu các nghề đào tạo của cơ sở Trong một trường CĐ, cơ cấunghề đào tạo còn thể hiện ở quy mô số lượng SV đào tạo ở mỗi chuyên ngành

b Xây dựng, phát triển chương trình đào tạo theo HCTC

Chương trình đào tạo là một bản thiết kế tổng thể cho một hoạt động đào tạo.Bản thiết kế đó cho biết mục tiêu ; phạm vi, mức độ và cấu trúc nội dung ; cácphương pháp và hình thức tổ chức đào tạo ; cách thức kiểm tra, đánh giá kết quả họctập và tất cả được sắp xếp theo một tiến tình và thời gian biểu chặt chẽ

Chương trình đào tạo có các kiểu cấu trúc:

- Chương trình được cấu trúc theo hệ thống các môn học

- Chương trình được cấu trúc theo hệ thống các chủ đề rộng của kiến thức tíchhợp hay hệ thống các học phần

- Chương trình được cấu trúc theo hệ thống các môn học lý thuyết kết hợp vớicác môđun thực hành

- Chương trình được cấu trúc theo hệ thống các môđun tích hợp

Phát triển chương trình là việc xem xét, vận dụng trong việc xây dựng mụctiêu, nội dung chương trình ĐT, đặc biệt là trong ĐT theo HCTC Việc phân tíchngành nghề ĐT trong xây dựng chương trình ĐT hiện nay được thực hiện theophương pháp Dacum kết hợp với phương pháp chuyên gia Người quản lý, người xâydựng chương trình ĐT, GV thường phải luôn tự đánh giá chương trình ĐT ở mọikhâu qua mỗi buổi học, mỗi năm, mỗi khoá học, để rồi vào năm học mới, khoá họcmới, kết hợp với khâu phân tích tình hình, điều kiện mới sẽ lại hoàn thiện hoặc xâydựng lại mục tiêu ĐT Dựa trên mục tiêu ĐT mới, tình hình mới thiết kế lại hoặc

Trang 29

hoàn chỉnh hơn chương trình đào tạo Cứ như vậy chương trình ĐT sẽ liên tục đượchoàn thiện và phát triển không ngừng cùng với quá trình ĐT.

c Củng cố và phát triển đội ngũ, đặc biệt là đội ngũ giảng viên

Điều 15 Luật Giáo dục khẳng định: “Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việcbảo đảm chất lượng giáo dục” Kết luận của Hội nghị BCH Trung ương 6- khoá IX

về việc thực hiện Nghị quyết BCH Trung ương 2- khoá VIII về GD-ĐT đã nâng nhậnthức về vai trò của đội ngũ GV lên một bước mới: Đội ngũ GV và cán bộ quản lý lànòng cốt trong việc phát triển quy mô, nâng cao chất lượng và thực hiện công bằng xãhội Điều đó có nghĩa là đội ngũ GV không chỉ quyết định đảm bảo chất lượng màcòn là nòng cốt trong việc phát triển sự nghiệp giáo dục Vì vậy, các giải pháp quản

lý ĐT đều phải đề cập đến xây dựng và phát triển đội ngũ

d Quản lý hoạt động dạy và học theo HCTC

- Quản lý hoạt động giảng dạy của GV thực chất là quản lý việc thực hiện các

nhiệm vụ của đội ngũ GV và của từng GV

GV trong các trường Cao đẳng có nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục SV, đồng thời

họ phải học tập, rèn luyện, bồi dưỡng thường xuyên để nâng cao trình độ về mọi mặtnhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy, giáo dục của mình

Trong nhà trường, hoạt động giảng dạy là một trong hai hoạt động trọng tâm,đồng thời là hoạt động chuyên môn quan trọng nhất do đội ngũ GV thực hiện Côngtác giảng dạy chính là tổ chức quá trình nhận thức của SV, vì vậy chất lượng giảngdạy là yếu tố quyết định chất lượng nhận thức của SV, quyết định chất lượng ĐT củanhà trường

- Quản lý hoạt động học tập của SV là quản lý việc thực hiện nhiệm vụ họctập, rèn luyện của SV trong quá trình đào tạo

Qua hoạt động học tập, SV lĩnh hội tri thức khoa học, lý luận nghề nghiệp, rènluyện kỹ năng nghề Vì vậy, công tác quản lý hoạt động học tập của SV có vai trò rấtquan trọng trong việc nâng cao chất lượng ĐT

e Quản lý xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị kỹ thuật trường học

Chất lượng ĐT, đặc biệt là chất lượng kỹ năng nghề phụ thuộc vào nhiều yếu

tố, trong đó cơ sở vật chất, trang thiết bị giảng dạy có vai trò hết sức quan trọng.Trang thiết bị giảng dạy là một trong những yếu tố quyết định hình thành kỹ năng

Trang 30

thực hành nghề, có ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình hình thành và phát triển kỹ năng,

kỹ xảo nghề nghiệp của người học

Cơ sở vật chất trong nhà trường thường có giá trị và chiếm tỷ trọng lớn trongtài sản của nhà trường Việc quản lý, sử dụng, khai thác, đầu tư cơ sở vật chất của nhàtrường phục vụ ĐT là rất quan trọng và cần thiết, vì đó là một trong những yếu tố trựctiếp quyết định đến chất lượng ĐT của nhà trường - đặc biệt là đào tạo theo HCTC

Hiện nay cơ sở vật chất, đặc biệt là các trang thiết bị tiên tiến, hiện đại là rấtcần thiết cho dạy - học nhưng cũng rất đắt và luôn thay đổi theo thị trường sản xuấtkinh doanh; vì vậy việc đầu tư, trang bị cũng cần được xem xét, cân nhắc, tính toánphù hợp với sự phát triển bền vững của ngành nghề, từng lĩnh vực Vấn đề quan trọngcủa công tác quản lý là làm sao vừa quản lý tốt và vừa sử dụng có hiệu quả các trangthiết bị vào giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng ĐT của nhà trường

f Đánh giá và kiểm định chất lượng đào tạo

Chất lượng là sự tồn tại và sống còn của các cơ sở ĐT trong cơ chế thị trường

Có nhiều định nghĩa và cách lý giải khác nhau về chất lượng ĐT, có ý kiến cho rằngchất lượng là sự xuất chúng, tuyệt hảo, là giá trị bằng tiền, là sự biến đổi về chất và là

sự phù hợp với mục tiêu Chất lượng trong giáo dục và trong ĐT là vấn đề trừutượng, phức tạp và là khái niệm đa chiều, khó trực tiếp đo đếm và cảm nhận được.Tuy nhiên, đánh giá và kiểm định chất lượng có thể thông qua các yếu tố gián tiếp và

ít trừu tượng hơn như thông qua chương trình ĐT, tỷ lệ SV tốt nghiệp tìm được việclàm, cơ sở hạ tầng, môi trường Có nhiều cách hiểu khác nhau về chất lượng, songqua tìm hiểu những quan niệm khác nhau về chất lượng trong các lĩnh vực có thểchọn cách tiếp cận theo quan điểm quản lý chất lượng: Chất lượng ĐT được coi là sựphù hợp và đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động

Kiểm định chất lượng là một hệ thống tổ chức và giải pháp để đánh giá cácchương trình đào tạo các cơ sở ĐT và công nhận các chương trình ĐT, các cơ sở ĐT

đã đạt chuẩn được quy định Mục đích cơ bản của việc kiểm định chất lượng ĐT là:

+ Xác minh và bảo đảm cho người sử dụng lao động, người học và cho xã hội

về chất lượng ĐT của nhà trường

+ Hỗ trợ các cơ sở ĐT luôn luôn cải tiến, phấn đấu để trở thành cơ sở ĐT chấtlượng cao, ĐT có chất lượng

Trang 31

Như vậy, việc đánh giá và kiểm định chất lượng đào tạo là hết sức quan trọng.

1.4 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỔ CHỨC QUẢN LÝ ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ

Chất lượng giáo dục nói chung và ĐT nói riêng chịu ảnh hưởng của nhiều yếu

tố bao gồm cả yếu tố khách quan và chủ quan Khi ĐT theo HCTC phải chịu ảnhhưởng của một số yếu tố cơ bản Có thể phân các yếu tố bên trong và bên ngoài đểxem xét như sau:

1.4.1 Các yếu tố bên trong (yếu tố đảm bảo chất lượng đào tạo)

Đào tạo chịu ảnh hưởng trước tiên là của các nhân tố bên trong của chính quátrình đào tạo bao gồm: hệ thống cơ sở ĐT; cơ sở vật chất, tài chính cho ĐT; đội ngũ

GV, học viên; chương trình, giáo trình ĐT; hệ thống mục tiêu; tuyển sinh; kiểm trađánh giá, cấp văn bằng chứng chỉ…, những yếu tố này được coi là những yếu tố đảmbảo chất lượng ĐT Chúng ta xét một số yếu tố chính như sau:

- Mục tiêu đào tạo:

Hệ thống mục tiêu đào tạo bao gồm: các mục tiêu ngành, quốc gia; mục tiêutrường (ngắn hạn, trung hạn, dài hạn); mục tiêu đáp ứng yêu cầu thực tiễn chung củađất nước và xu thế thời đại Các mục tiêu ĐT càng sát thực, càng khả thi thì tổ chức

ĐT và chất lượng ĐT càng được nâng cao Do đó, khi xây dựng mục tiêu ĐT cầnphải có sự khảo sát, nghiên cứu kỹ lưỡng đối với từng yếu tố

- Chương trình, giáo trình đào tạo:

Chương trình ĐT là điều kiện không thể thiếu trong quản lý nhà nước các cấp,các ngành đối với hoạt động của các trường Đại học và Cao đẳng Chương trình ĐTphù hợp được các cấp có thẩm quyền phê duyệt là một trong những yếu tố quantrọng, quyết định chất lượng ĐT Không có chương trình ĐT sẽ không có các căn cứ

để xem xét, đánh giá bậc ĐT của các đối tượng tham gia ĐT và việc tổ chức ĐT sẽdiễn ra tự phát không theo một tiêu chuẩn thống nhất

Chương trình ĐT bao gồm phần lý thuyết, phần thực hành và tự học tương ứngvới mỗi ngành nghề thì tỷ lệ phân chia giữa hai phần này là khác nhau về lượng nộidung cũng như thời gian học

Với giáo trình cũng tương tự, giáo trình là những quy định cụ thể hơn của

Trang 32

chương trình về từng môn cụ thể trong ĐT Nội dung giáo trình phải tiên tiến, phảithường xuyên được cập nhật kiến thức mới thì việc ĐT mới sát thực tế và hiệu quả

ĐT mới cao

Việc nghiên cứu, xây dựng các chương trình, giáo trình sao cho hợp lý và sátvới nhu cầu ĐT cũng như sát với chuyên ngành ĐT để học viên có thể nắm vữngđược yêu cầu sau khi tốt nghiệp là vấn đề rất quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp tớichất lượng ĐT

Trên đây là các yếu tố cơ bản bên trong của quá trình tổ chức đào Chất lượngcủa các yếu tố này sẽ tác động quyết định tới chất lượng ĐT theo HCTC

Tuy nhiên, hệ thống ĐT vận hành trong môi trường văn hoá, chính trị, xã hội

… nhất định và cũng chịu sự tác động qua lại của điều kiện môi trường

- Cơ sở vật chất, tài chính:

Cơ sở vật chất bao gồm: phòng học, xưởng thực hành cơ bản và thực tập sảnxuất, thư viện - học liệu, trang thiết bị phục vụ cho giảng dạy và học tập như máychiếu, máy tính, mô hình, tranh ảnh… Đây là yếu tố hết sức quan trọng, nó tác độngtrực tiếp đến tổ chức ĐT Máy móc, trang thiết bị là những thứ không thể thiếu trongquá trình ĐT Nó giúp cho học viên có điều kiện thực hành để hoàn thiện kỹ năng.Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho ĐT càng tốt, càng hiện đại, theosát với công nghệ sản xuất thực tế bao nhiêu thì người học viên càng có thể thích ứng,vận dụng nhanh chóng trong công việc bấy nhiêu Do vậy, cơ sở vật chất trang thiết

bị cho ĐT đòi hỏi phải theo kịp với tốc độ đổi mới của máy móc, công nghệ mới

Tài chính cho tổ chức ĐT cũng là một trong những yếu tố cơ bản đảm bảo chấtlượng ĐT, nó tác động gián tiếp tới chất lượng ĐT thông qua khả năng trang bị về cơ sởvật chất, phương tiện, thiết bị giảng dạy, khả năng ĐT, bồi dưỡng cán bộ quản lý, giảngviên, …Tài chính đầu tư cho ĐT càng dồi dào thì càng có điều kiện bảo đảm chất lượng

ĐT Các nguồn tài chính chủ yếu cho ĐT theo HCTC bao gồm: các nguồn lực từ Ngânsách nhà nước, đóng góp của bên hợp tác (doanh nghiệp), các nguồn hỗ trợ khác

- Đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý:

Giảng viên là người giữ trọng trách truyền đạt kiến thức lý thuyết cũng nhưcác kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm của mình cho các SV trên cơ sở trang thiết bị dạy

Trang 33

học hiện có Vì vậy, năng lực SV tác động trực tiếp đến chất lượng ĐT, là yếu tốquyết định đến chất lượng ĐT.

Một loại nhân lực khác cũng có ảnh hưởng đến chất lượng ĐT theo HCTC đó

là đội ngũ cán bộ quản lý Trước yêu cầu của đổi mới phương thức ĐT, mục tiêu ĐTnhằm phát huy cao khả năng học tập của sinh viên trước bối cảnh hội nhập quốc tế,đòi hỏi đội ngũ cán bộ quản lý phải là những người thực sự có trình độ Chất lượngcán bộ quản lý cũng có ảnh hưởng rất lớn đến tổ chức ĐT và chất lượng ĐT, thể hiệnqua khả năng tổ chức, quản lý, điều phối quá trình ĐT, liên kết ĐT…

- Sinh viên:

Sinh viên là nhân tố chủ thể trong quá trình ĐT, có tính chất quyết định khixác định mục tiêu, nội dung và chương trình ĐT, chuyên ngành cần chọn nó ảnhhưởng toàn diện tới công tác tổ chức ĐT Trình độ văn hoá, sự hiểu biết, tâm lý, cátính, khả năng tài chính, quỹ thời gian… của bản thân SVđều có ảnh hưởng sâu sắctới quy mô và chất lượng ĐT Trình độ văn hoá cũng như khả năng tư duy của SVcàng cao thì khả năng tiếp thu các kiến thức trong quá trình học tập càng tốt, khi ấychất lượng ĐT theo HCTC càng cao và ngược lại

1.4.2 Các yếu tố bên ngoài

Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng tới tổ chức ĐT theo HCTC bao gồm các điềukiện môi trường của hệ thống ĐT Các yếu tố này ảnh hưởng tới chất lượng ĐT vớitính chất là điều kiện, hỗ trợ cho hệ thống, hợp với các yếu tố bên trong thành hệ cácyếu tố tác động đến chất lượng ĐT theo HCTC

Các yếu tố bên ngoài tác động đến chất lượng ĐT thuộc nhiều lĩnh vực khácnhau như: thể chế chính trị, kinh tế - xã hội, khoa học - công nghệ, địa lý, truyềnthống - văn hoá, … Tuy nhiên cần quan tâm hơn đến một số yếu tố cơ bản như: Hộinhập kinh tế và xu hướng toàn cầu hoá; Sự phát triển của khoa học kỹ thuật; Thể chếchính trị; Sự phát triển kinh tế - xã hội; Cơ chế - chính sách; Qui mô - cơ cấu laođộng; Nhận thức xã hội về đào tạo các chuyên ngành mới, đáp ứng xu thế thời đạiCác yếu tố này có thể khái quát như sơ đồ sau:

Điều kiện môi trường đào tạo

Trang 34

Thông tin phản hồi

Sơ đồ 1: Các mối quan hệ tác động đến quá trình đào tạo

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Vấn đề tổ chức ĐT theo HCTC hiện nay có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao vì

nó liên quan mật thiết với chất lượng ĐT và sự phát triển của mỗi nhà trường Cơ sở

lý luận của tổ chức quản lý ĐT theo HCTC căn bản dựa trên các lý thuyết, quanđiểm, cách tiếp cận chung của khoa học quản lý giáo dục và đổi mới giáo dục hiệnnay, và đặc biệt là chủ trương của Bộ Giáo dục & Đào tạo Trong bối cảnh hiện nay,

tổ chức ĐT theo HCTC sẽ tạo ra nhiều nhân tố và nguồn lực mạnh mẽ giúp nhàtrường nâng cao chất lượng ĐT, và phát triển bền vững Chính vì vậy, những vấn đề

lý luận trên có ý nghĩa quan trọng trong việc đề xuất giải pháp tổ chức quản lý ĐTtheo HCTC tại trường Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà

Chương 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC QUẢN LÝ ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHỆ BẮC HÀ, TỈNH BẮC NINH

2.1 TỔNG QUAN VỀ TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHỆ BẮC HÀ, TỈNH BẮC NINH

Trường Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo

- Mục tiêu đào tạo

CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO

Trang 35

ký Quyết định thành lập số 906/QĐ-BGD&ĐT ngày 27 tháng 02 năm 2006 với têntrường là Trường Cao đẳng Tư thục Công nghệ Bắc Hà Đến ngày 11 tháng 08 năm

2006, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ký Quyết định số 4103/QĐ-BGD&ĐT đểđổi tên thành Trường Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà hoạt động theo mô hình tư thục tựcân đối thu chi dưới sự quyết định của Hội đồng quản trị

Trường có địa điểm tại tỉnh Bắc Ninh, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm:Tam giác tăng trưởng Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, có các đường giao thônglớn quan trọng chạy qua, nối liền tỉnh với các trung tâm kinh tế, thương mại và vănhoá của miền Bắc Bắc Ninh Là trung tâm xứ Kinh Bắc cổ xưa, là mảnh đất địa linhnhân kiệt, nơi có truyền thống khoa bảng và nền văn hóa lâu đời Ngày nay, Quan

họ Bắc Ninh được Ủy ban Liên Chính phủ Công ước UNESCO công nhận là Di sảnVăn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại Đây là những điều kiện thuận lợi để pháttriển kinh tế - văn hoá - xã hội và giao lưu với bên ngoài Công nghiệp Bắc Ninh từ

vị trí thứ 19 (2004) vượt lên vị trí thứ 9 trong toàn quốc năm 2012 Tổng kim ngạchxuất khẩu đạt 1,250 tỷ USD, tăng bình quân 67,2%/năm Năng lực cạnh tranh cấptỉnh đứng thứ 10 toàn quốc và là một trong ba tỉnh dẫn đầu miền Bắc Hoạt độngkinh tế đối ngoại được mở rộng, góp phần quảng bá hình ảnh Bắc Ninh, thu hút đầu

tư trực tiếp nước ngoài đứng thứ 7 trong toàn quốc, thứ 2 trong vùng kinh tế trọngđiểm Bắc Bộ

Trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh hiện có 16 trường Đại học, Cao đẳng, Trunghọc dạy nghề và nhiều cơ sở giáo dục có quy mô lớn, chất lượng khá Với địa lýthuận lợi, công tác tổ chức ĐT, hoạt động các ngành nghề và thị trường lao độngcủa tỉnh Bắc Ninh là vô cùng phong phú, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triểnkinh tế - xã hội địa phương

Trường Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà với chức năng và nhiệm vụ ĐT của mình

đã đóng góp không nhỏ một nguồn nhân lực lao động có chất lượng cao, đáp ứng yêucầu thực tiễn cho tỉnh Bắc Ninh nói riêng và các tỉnh lân cận nói chung trong thờigian qua và những giai đoạn tiếp theo

2.1.1 Quá trình xây dựng nhà trường và phương hướng phát triển

Với cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ giảng viên hiện có, trường Cao đẳngCông nghệ Bắc Hà - Bắc Ninh thực hiện đào tạo: Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp

Trang 36

và dạy nghề ở nghề ở 3 cấp: Cao đẳng, Trung cấp và Sơ cấp nghề Đối tượng tuyểnsinh bao gồm: Học sinh đã tốt nghiệp Trung học cơ sở, Trung học phổ thông và bộđội xuất ngũ Trường đang đào tạo hệ Cao đẳng chính quy bao gồm:

Bảng 2.1: Chuyên ngành đào tạo và hệ Cao đẳng chính quy

của trường Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà, tỉnh Bắc Ninh

(Nguồn: Phòng đào tạo nhà trường năm 2013)

Phương hướng phát triển của nhà trường được xác định như sau:

Giai đoạn 1: Từ tháng 8/2006 - 2010:

Nhà trường xây dựng kế hoạch chiến lược phát triển hệ Cao đẳng, Trung cấp

và dạy nghề; xây dựng cơ sở vật chất và mua sắm trang thiết bị, công nghệ cho dạyhọc; tuyển chọn đội ngũ giảng viên; khảo sát thực tế nhu cầu sử dụng nhân lực củacác doanh nghiệp và nhu cầu học tập ở các trường phổ thông Trung học Kế hoạchtuyển sinh từ 2006 đến năm 2010 đạt từ 600 - 900 sinh viên hệ Cao đẳng Kế hoạchnày đã hoàn thành xuất sắc

Giai đoạn 2: Từ năm 2011 đến 2015:

Ổn định về cơ sở vật chất; đẩy mạnh việc mua sắm trang thiết bị dạy học côngnghệ cao nhằm phục vụ tốt cho dạy và học; nâng cao chất lượng đào tạo để tỷ lệ bằngtốt nghiệp loại khá giỏi được tăng lên; xây dựng thị trường lao động thường xuyêntrong và ngoài tỉnh Bắc Ninh để đào tạo nguồn nhân lực nhằm đáp ứng nhu cầu pháttriển của đất nước

- Chỉ tiêu tuyển Hệ Cao đẳng: Từ 1200 - 1700

2.1.2 Về chức năng nhiệm vụ

Căn cứ vào các văn bản chỉ đạo, trường Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà là cơ sở

Trang 37

đào tạo hệ Cao đẳng nghề tư thục, có chức năng, nhiệm vụ như sau:

- Đào tạo nghề hệ Cao đẳng chính quy theo quy định hiện hành;

- Bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ thuật cho người lao động theo yêu cầu củacác địa phương và các doanh nghiệp;

- Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật - công nghệ nâng cao chất lượng, hiệu quảđào tạo;

- Phát triển quan hệ hợp tác quốc tế, liên kết liên thông đào tạo với các trường,các cơ sở trong và ngoài nước;

- Quản lý, tổ chức, theo quy định của Hội đồng quản trị; đồng thời chịu sự chỉđạo, hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của các cơ quan nhà nước cóthẩm quyền;

- Giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong trường và địa phương,bảo vệ tài sản và thực hiện biện pháp an toàn thực hành; tổ chức cho sinh viên giaolưu hoạt động văn hóa, văn nghệ với các tổ chức địa phương;

- Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật

Trường đã và đang triển khai 3 công khai theo hướng dẫn của BGD -ĐT: Côngkhai cam kết mục tiêu và chất lượng đào tạo; công khai lực lượng giảng viên và cácnguồn lực của trường; công khai tài chính của trường;

2.1.3 Về cơ cấu tổ chức

Cơ cấu tổ chức của nhà trường gồm:

- Hội đồng quản trị

- Ban kiểm soát

- Hiệu trưởng và các Phó Hiệu trưởng

- Các Phòng, Ban, Khoa

- Các Bộ môn trực thuộc

- Hội đồng khoa học và đào tạo

Trường thực hiện tổ chức quản lý đào tạo theo sơ đồ sau:

Phó Hiệu trưởng phụ trách đào tạo

Phòng

quản lý

đào tạo

Các Phòng chức năng

Các Khoa trực thuộc

Bộ môn trực thuộc

Các Xưởng thực hành

Các Cơ

sở sản xuất

Trang 38

Bảng 2.2: Cơ cấu về trình độ của tất cả cán bộ, giảng viên, nhân viên

Để đảm bảo cho công tác đào tạo chất lượng cao, nhà trường thường xuyênhợp đồng trên 24 giáo viên thỉnh giảng có học hàm, học vị cao, có kinh nghiệm trongcông tác giảng dạy tại các trường Đại học, Cao đẳng: Đại học Bách khoa Hà Nội,Học viện Kỹ thuật Quân sự, Viện Đại học Mở Hà Nội, Đại học Thái Nguyên, Đại họccông nghiệp Hà Nội…Bên cạnh đó, nhà trường còn hợp đồng với cán bộ kỹ thuật giỏi

ở các cơ quan, doanh nghiệp tham gia giảng dạy, kết hợp giữa lý thuyết với thựchành, giữa nhà trường với cơ sở sản xuất Đây là nội dung quan trọng góp phần xâydựng đội ngũ nhân lực có chuyên môn vững vàng, ý thức kỷ luật lao động cao đểgiúp sinh viên có việc làm ngay sau khi tốt nghiệp

2.1.5 Về cơ sở vật chất, trang thiết bị và tài chính

* Cơ sở hạ tầng:

Trường Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà có diện tích và các phòng ban:

Trang 39

- Diện tích toàn trường: 200.000m2

- Nhà hiệu bộ và giảng đường 7 tầng với 14 960 m2; trong đó gần 100 phòngvới tổng diện tích 10 700 m2

- Phòng thực hành - Thí nghiệm cao 3 tầng với 2 780 m2; trong đó:

+ Phòng thí nghiệm cơ bản: 05

+ Phòng thí nghiệm chuyên ngành: 07

- Khoa đào tạo và sát hạch lái xe (nhà 3 tầng): Tổng diện tích 36 147 m2 gồmkhu sân tập lái và khu sát hạch

- Ký túc xá có chỗ ở cho gần 1000 sinh viên với tổng diện tích 4800 m2

Các công trình khác: Sân khấu ngoài trời, sân thể thao, sân cây xanh, nhà để xecác loại…

Năm học 2011-2012, nhà trường đã chi hơn 3 tỷ đồng cho việc nâng cao phònghọc, phòng thí nghiệm, phòng làm việc, hệ thống cửa sổ, cửa ra vào, sơn tường…

mà chất lượng ĐT ngày càng được nâng cao, nhiều sáng kiến kinh khoa học đượcững dụng trong dạy và học tại nhà trường

Trang thiết bị phục vụ cho ĐT rất đa dạng về chủng loại và chất lượng Hầuhết các khoa của trường đều có những trang thiết bị đào tạo hiện đại, đặc biệt là cácthiết bị dùng chung như máy slide, overhead projector,

Bảng 2.3: Tổng hợp tình hình chất lượng thiết bị

Khoa (ngành đào tạo)

Tỷ lệ so với tổng số (%) Tỷ lệ thiết bị

còn thiếu so với nhu cầu (%)

Tỷ lệ thiết bị cũ

Tỷ lệ thiết bị mới

Tỷ lệ thiết

bị đạt chuẩn

Trang 40

Công nghệ kĩ thuật điện, điện tử 31,1 68,9 90 8

(Nguồn: Tổng hợp cá nhân từ Phụ trách thiết bị dạy học của nhà trường)

Trong xu thế phát triển hiện nay, qui mô ĐT ngày càng được mở rộng thì sinhviên của nhà trường sẽ không ngừng tăng lên, nhu cầu về cơ sở vật chất - trang thiết

bị ĐT sẽ tăng lên Thêm vào đó, khoa học kỹ thuật đang và sẽ phát triển rất nhanhtrong khi yêu cầu của ĐT là phải theo kịp thực tiễn sản xuất nên trang thiết bị phục

vụ cho ĐT cũng cần được cập nhật và đổi mới Vì thế trường cần có những giải phápthiết thực để đảm bảo thiết bị cho nhu cầu ĐT hiện tại cũng như trong thời gian tới

*Tài chính phục vụ đào tạo

Tài chính là một yếu tố quan trọng trong việc thực hiện đảm bảo và nâng caochất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước Tàichính phục vụ đào tạo bao gồm các nguồn: học phí, các nguồn thu và hỗ trợ khác

Ngoài ra, nguồn tài chính được bổ sung từ các nguồn thu như sau:

- Thu từ các hoạt động trong trường, bao gồm: thu phí đào tạo, thu từ hoạtđộng hướng nghiệp, thu từ hoạt động kiểm tra kỹ năng nghề;

- Nguồn viện trợ nước ngoài, gồm: tài trợ trực tiếp từ các dự án, tài trợ quaviệc liên kết - hợp tác đào tạo…

Định hướng của trường trong những năm tới là:

Ngày đăng: 01/06/2014, 23:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
15. Phùng Rân (1999), "Đào tạo và bồi dưỡng giáo viên dạy nghề ", Nhân lực trẻ đào tạo và triển vọng, NXB Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo và bồi dưỡng giáo viên dạy nghề
Tác giả: Phùng Rân
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 1999
16. Singh Ra ja Roy (1994), Nền giáo dục cho thế kỷ 21 - những triển vọng Châu Á - Thái Bình Dương, VKHGD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Singh Ra ja Roy (1994), "Nền giáo dục cho thế kỷ 21 - những triển vọng Châu Á- Thái Bình Dương
Tác giả: Singh Ra ja Roy
Năm: 1994
17. Thái Duy Tuyên (1998), Những vấn đề cơ bản của giáo dục học hiện đại, NXBGD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thái Duy Tuyên (1998), "Những vấn đề cơ bản của giáo dục học hiện đại
Tác giả: Thái Duy Tuyên
Nhà XB: NXBGD
Năm: 1998
18. Từ điển bách khoa Việt Nam (1995), tập 1, Trung tâm biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển bách khoa Việt Nam (1995), tập 1, "Trung tâm biên soạn từ điển báchkhoa Việt Nam
Tác giả: Từ điển bách khoa Việt Nam
Năm: 1995
19. Hoàng Tuỵ (2003), "Không thể có sự đổi mới phương pháp trên nền tảng một nội dung lạc hậu", Báo văn nghệ, số 14 (5/4/2003) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Không thể có sự đổi mới phương pháp trên nền tảng mộtnội dung lạc hậu
Tác giả: Hoàng Tuỵ
Năm: 2003
20. PGS.TS. Phan Quang Thế- Phó Hiệu trưởng trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp Thái Nguyên, “ Đào tạo theo hệ thống tín chỉ cho sự phát triển năng lực cá nhân của người học”, Tham luận tại hội thảo khoa học: “ Đào tạo liên thông trong hệ thống tín chỉ” Sách, tạp chí
Tiêu đề: PGS.TS. Phan Quang Thế- Phó Hiệu trưởng trường Đại học Kỹ thuật Côngnghiệp Thái Nguyên, “ Đào tạo theo hệ thống tín chỉ cho sự phát triển năng lựccá nhân của người học”, "Tham luận tại hội thảo khoa học: “ Đào tạo liên thôngtrong hệ thống tín chỉ
21. Trần Quốc Thành (2003) Đề cương bài giảng môn khoa học quản lý đại cương (dành cho học viên cao học chuyên ngành và tổ chức công tác văn hoá giáo dục) Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Quốc Thành (2003) "Đề cương bài giảng môn khoa học quản lý đại cương
22. Phạm Viết Vượng (1996) Giáo dục học đại cương, NXB Đại học quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Viết Vượng (1996) "Giáo dục học đại cương
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia
23. Viện nghiên cứu phát triển giáo dục (2002), Chiến lược phát triển giáo dục trong thế kỷ XXI - Kinh nghiệm của các quốc gia, NXBCTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viện nghiên cứu phát triển giáo dục (2002), "Chiến lược phát triển giáo dụctrong thế kỷ XXI - Kinh nghiệm của các quốc gia
Tác giả: Viện nghiên cứu phát triển giáo dục
Nhà XB: NXBCTQG
Năm: 2002
24. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, X, XI (2001,2006, 2011), NXB CTQG, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: Các mối quan hệ tác động đến quá trình đào tạo - Tổ chức quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường cao đẳng công nghệ bắc hà, tỉnh bắc ninh
Sơ đồ 1 Các mối quan hệ tác động đến quá trình đào tạo (Trang 34)
Bảng 2.1: Chuyên ngành đào tạo và hệ Cao đẳng  chính quy  của trường Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà, tỉnh Bắc Ninh - Tổ chức quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường cao đẳng công nghệ bắc hà, tỉnh bắc ninh
Bảng 2.1 Chuyên ngành đào tạo và hệ Cao đẳng chính quy của trường Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà, tỉnh Bắc Ninh (Trang 36)
Bảng 2.3: Tổng hợp tình hình chất lượng thiết bị - Tổ chức quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường cao đẳng công nghệ bắc hà, tỉnh bắc ninh
Bảng 2.3 Tổng hợp tình hình chất lượng thiết bị (Trang 39)
Bảng 2.5: Tổng hợp kết quả tốt nghiệp của sinh viên Nội dung - Tổ chức quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường cao đẳng công nghệ bắc hà, tỉnh bắc ninh
Bảng 2.5 Tổng hợp kết quả tốt nghiệp của sinh viên Nội dung (Trang 41)
Bảng 2.6: Tổng hợp kết quả rèn luyện đạo đức của sinh viên Nội dung - Tổ chức quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường cao đẳng công nghệ bắc hà, tỉnh bắc ninh
Bảng 2.6 Tổng hợp kết quả rèn luyện đạo đức của sinh viên Nội dung (Trang 42)
Bảng 2.7:  Đối tượng khảo sát STT Địa bàn khảo sát - Tổ chức quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường cao đẳng công nghệ bắc hà, tỉnh bắc ninh
Bảng 2.7 Đối tượng khảo sát STT Địa bàn khảo sát (Trang 44)
Bảng 2.8: Kết quả đánh giá về chương trình đào tạo theo HCTC: - Tổ chức quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường cao đẳng công nghệ bắc hà, tỉnh bắc ninh
Bảng 2.8 Kết quả đánh giá về chương trình đào tạo theo HCTC: (Trang 45)
Bảng 2.9: Kết quả đánh giá về công tác quản lý ĐT theo HCTC - Tổ chức quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường cao đẳng công nghệ bắc hà, tỉnh bắc ninh
Bảng 2.9 Kết quả đánh giá về công tác quản lý ĐT theo HCTC (Trang 51)
Sơ đồ 4: Mối quan hệ giữa các giải pháp - Tổ chức quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường cao đẳng công nghệ bắc hà, tỉnh bắc ninh
Sơ đồ 4 Mối quan hệ giữa các giải pháp (Trang 90)
8. Hình thức kiểm tra, đánh giá môn học: - Tổ chức quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường cao đẳng công nghệ bắc hà, tỉnh bắc ninh
8. Hình thức kiểm tra, đánh giá môn học: (Trang 113)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w