Khi nghiên cứu ngôn ngữ người ta thấy rằng, mọi giao tiếp bằng ngôn ngữ đều bao hàm những hành vi của người tham gia giao tiếp như: hành vi chào, hành vi cảm ơn, hành vi khuyên, hành vi
Trang 1ĐỖ NGUYỄN THÚY TUYỀN
NGHI THỨC LỜI NÓI THỂ HIỆN HÀNH VI MỜI
TRONG TIẾNG VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Bình Định - Năm 2021
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 2ĐỖ NGUYỄN THÚY TUYỀN
NGHI THỨC LỜI NÓI THỂ HIỆN HÀNH VI MỜI
TRONG TIẾNG VIỆT
Người hướng dẫn: TS NGUYỄN VĂN LẬP
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 3Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ quý Thầy, Cô và bạn bè để luận văn được hoàn thiện hơn nữa
Xin chân thành cảm ơn
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 4trong tổ Ngôn ngữ, khoa Khoa học xã hội và Nhân văn, đã trao cho tôi những kiến thức, hành trang vô giá trên con đường tương lai sau này Các thầy cô cũng đã tạo điều kiện giúp đỡ để luận văn được hoàn thành một cách tốt nhất Cuối cùng, tôi muốn gửi lời cảm ơn đến gia đình tôi và bạn bè, những người cũng luôn sát cánh động viên tôi những lúc khó khăn, giúp đỡ và tạo điều kiện rất nhiều để tôi có thêm động lực hoàn thành luận văn
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 5MỤC LỤC DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 4
5 Những đóng góp của luận văn 4
6 Cấu trúc của luận văn 4
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT 5
1.1 Những lý luận chung của nghi thức lời nói 6
1.1.1 Những mẫu đối thoại có chứa nghi thức lời nói 7
1.1.2 Phương tiện giao tiếp phi lời kèm theo nghi thức lời nói 8
1.1.3 Sự tồn tại và hoạt động của nghi thức lời nói 8
1.1.4 Tiêu chí nhận diện các khuôn mẫu nghi thức lời nói tiếng Việt 9
1.2 Những lý luận chung của hành vi ngôn ngữ 10
1.3 Hành vi cầu khiến và hành vi mời 14
1.3.1 Hành vi cầu khiến 14
1.3.2 Hành vi mời 18
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 30
CHƯƠNG 2 NGHI THỨC LỜI NÓI THỂ HIỆN HÀNH VI MỜI TƯỜNG MINH VÀ HÀNH VI MỜI HÀM ẨN 32
2.1 Nghi thức lời nói thể hiện hành vi mời tường minh 32 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 62.1.1 Khái niệm 32
2.1.2 Các mô hình thể hiện hành vi mời tường minh 33
2.1.3 Các thành tố của mô hình mời tường minh 34
2.2 Nghi thức lời nói thể hiện hành vi mời hàm ẩn 41
2.2.1 Khái niệm 41
2.2.2 Mô hình của hành vi mời hàm ẩn 41
2.2.3 Hành vi mời hàm ẩn gián tiếp qua các hành vi ngôn ngữ khác 43
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 47
CHƯƠNG 3 THOẠI ĐÁP CỦA NGHI THỨC LỜI NÓI THỂ HIỆN HÀNH VI MỜI 48
3.1 Khái niệm thoại đáp 48
3.2 Tham thoại hồi đáp chấp nhận: 48
3.3 Tham thoại hồi đáp từ chối 55
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 63
KẾT LUẬN 65
NGỮ LIỆU THAM KHẢO 68
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 69 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (bản sao)
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 7DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của xã hội, bởi nó không chỉ có vai trò cơ bản là giao tiếp mà còn thể hiện được những nét đẹp riêng văn hóa của một dân tộc
Có thể nói con người không thể nào tách rời khỏi ngôn ngữ và không có một hoạt động ngôn ngữ nào lại không gắn nó với mục đích sử dụng của con người Con người có khả năng truyền đạt kinh nghiệm cá nhân cho người khác và sử dụng kinh nghiệm của người khác vào hoạt động của mình, làm cho mình có những khả năng to lớn Con người nhận thức và nắm vững được bản chất của tự nhiên, xã hội và bản thân… chính là nhờ ngôn ngữ Ngôn ngữ vừa là văn hóa, vừa là công cụ truyền tải văn hóa, vì vậy việc giữ gìn, mài dũa ngôn ngữ thành những viên ngọc quý cũng góp phần bảo vệ bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc
Những năm gần đây rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến Ngữ dụng học – đây là một chuyên ngành mới của Ngôn ngữ học Nghiên cứu ngôn ngữ không thể chỉ dựa vào ngữ pháp, từ vựng của người tham gia giao tiếp
mà còn phải dựa vào ngữ cảnh, hành động ngôn ngữ Khi nghiên cứu ngôn ngữ người ta thấy rằng, mọi giao tiếp bằng ngôn ngữ đều bao hàm những hành vi của người tham gia giao tiếp như: hành vi chào, hành vi cảm ơn, hành vi khuyên, hành vi xin lỗi, hành vi mời,…Việc sử dụng ngôn ngữ sao cho phù hợp với từng loại nghi thức này là một nghệ thuật và rất quan trọng trong giao tiếp, bởi nó thể hiện văn hóa của người sử dụng
Đối với hành vi mời, mặc dù là một hành vi xuất hiện ở mọi nơi, mọi lúc bằng hình thức nói, viết nhưng vẫn còn ít được quan tâm và chưa được thực hiện nghiên cứu một cách đầy đủ Những lời mời ở nước ta hay ở phương Tây
đa số đều được xem là những câu giao tiếp lịch sự muốn đối phương đáp ứng luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 9yêu cầu của mình, tuy vậy vẫn có một vài những lời mời chưa được sử dụng
đúng cách sẽ dẫn đến những hiểu lầm như mời “lơi”, nghĩa là người mời sẽ
không quá chú trọng đến câu trả lời của đối phương, mời chỉ để cho đúng phép lịch sự
Xã hội ngày càng phát triển thì văn hóa mời ngày càng được xem trọng Vậy nên việc nghiên cứu hành vi mời trong tiếng Việt sẽ giúp cho quá trình mời được thực hiện một cách hiệu quả và thuận lợi trong quá trình giao tiếp, hướng đến văn hóa giao tiếp lịch sự
Xuất phát từ lí do trên, chúng tôi chọn đề tài “Nghi thức lời nói thể hiện hành vi mời trong tiếng Việt” để nghiên cứu Hy vọng có thể tìm hiểu rõ hơn
về những nét văn hóa đẹp, bản sắc dân tộc và ngôn ngữ của người Việt Nam
Trước tiên chúng ta phải kể đến những công trình của người mở đường J.Austin, trong công trình nghiên cứu của mình ông đã cho rằng có ba loại hành vi ngôn ngữ trong một phát ngôn Đó là hành vi tạo lời, hành vi ở lời và
hành vi mượn lời Tác phẩm “How to do things with word” (1962) là một dấu
ấn quan trọng, một bước ngoặt trong lịch sử Ngữ dụng học
Bên cạnh đó, còn có những nghiên cứu của F.de Saussure nói về sự phân biệt giữa ngôn ngữ và ngôn từ Ông đã đặt ra vấn đề phân biệt giữa ngôn ngữ với ngôn từ và mối quan hệ giữa chúng
Ở Việt Nam, dù Ngữ dụng học đã ra đời từ rất lâu nhưng phải đến những năm 70, 80 của thế kỉ XX thì tư tưởng Ngữ dụng học mới được đưa ra xem luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 10xét Kể đến là những công trình nghiên cứu của các giáo sư: Diệp Quang Ban, Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Thiện Giáp, trong đó Đỗ Hữu Châu có nghiên cứu
hành vi ngôn ngữ khá hoàn chỉnh trong cuốn “Đại cương ngôn ngữ học, tập
2” phần Dụng học (2001) Nguyễn Đức Dân cũng có cuốn “Ngữ dụng học”,
với những cơ sở lý thuyết đề cập đến hành vi ngôn ngữ
Nguyễn Văn Lập trong cuốn “Nghi thức lời nói tiếng Việt trên cơ sở lý
thuyết hành vi ngôn ngữ (so sánh với tiếng Anh)” (2004) có giới thiệu sơ lược
về hành vi mời Dù chỉ là sơ lược nhưng đã giúp ích rất nhiều cho việc nghiên cứu của đề tài
Ngoài ra, còn có các tác giả khác như: Vũ Tố Nga nghiên cứu về “Phát
ngôn cam kết, biểu thức ngữ vi cam kết và tiếp nhận cam kết trong hội thoại”
(2000), Nguyễn Thị Vân Anh nghiên cứu về “Cặp thoại thỉnh cầu (xin) trong
sự kiện lời nói thỉnh cầu” (2001), Nguyễn Thị Hoàng Yến nghiên cứu về
“Hành vi chê với biểu thức, phát ngôn và tham thoại tiếp nhận chê” (2000)
Đây là những luận văn bảo vệ Thạc sĩ năm 2000 và 2001, giúp mở ra được những hướng mới cho việc nghiên cứu hành vi ngôn ngữ trong sự tương tác hội thoại
Kết quả và sự thành công của những công trình nghiên cứu này đã giúp chúng tôi có thêm nền tri thức mới, kinh nghiệm nghiên cứu và những thuận lợi nhất định khi đi vào đề tài của luận văn
Đề tài này là sự tiếp nối, học hỏi từ những công trình trên Trên cơ sở kế thừa những nền tảng đã thành công từ các tác giả đi trước, chúng tôi sẽ đi vào
nghiên cứu đề tài “Nghi thức lời nói thể hiện hành vi mời trong tiếng Việt”
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a) Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tập trung vào nghi thức lời nói thể hiện hành vi mời trong tiếng Việt
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 114 Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi đã sử dụng phương pháp khảo sát: khảo sát tư liệu là các cặp thoại có chứa hành vi mời trong các tác phẩm văn học Việt Nam Ngoài ra, chúng tôi còn trích dẫn một số ví dụ trong đời sống giao tiếp làm luận cứ cho các luận điểm trong luận văn
Công thức hóa một số thoại dẫn và thoại đáp của hành vi mời
5 Những đóng góp của luận văn
Dự kiến đóng góp của luận văn:
Góp phần vào việc nghiên cứu ngữ dụng học nói chung và đặc biệt là bổ sung vào mảng đề tài về hành vi ngôn ngữ trong tiếng Việt nói riêng
Góp phần vào việc tìm hiểu về văn hóa hành vi ứng xử, văn hóa giao tiếp của người Việt
Phục vụ cho việc giảng dạy tiếng Việt ngày càng đa dạng, phong phú hơn theo quan điểm giao tiếp hiện nay, phục vụ giảng dạy lý thuyết hành vi ngôn ngữ Đồng thời góp phần xây dựng khung nghiên cứu liên ngành: ngôn ngữ - văn học - văn hóa
Ngoài ra, phục vụ cho thực tiễn vận dụng ngôn ngữ trong đời sống
6 Cấu trúc của luận văn
Chương 1: Tổng quan một số vấn đề về lý thuyết Chương 2: Nghi thức lời nói thể hiện hành vi mời tường minh và hành vi mời hàm ẩn
Chương 3: Thoại đáp của nghi thức lời nói thể hiện hành vi mời
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT
Tìm hiểu nghi thức lời nói không chỉ bởi vì nó gắn liền với những vấn đề tương tác giữa ngôn ngữ với xã hội, phát ngôn với văn bản hay những yếu tố liên quan đến văn hóa giao tiếp của cộng đồng, mà còn bởi vì nó liên quan đến từng trường hợp giao tiếp khác nhau sẽ thích ứng với những cấu tạo về nghi thức lời nói khác nhau Vì vậy, tìm hiểu về nghi thức lời nói là để hiểu được bản chất sự giao tiếp xã hội giữa con người, vạch ra ranh giới với các loại ngôn ngữ khác như: ngôn ngữ học tâm lý, ngôn ngữ học xã hội, ngôn ngữ học phụ cận, ngôn ngữ học nhân chủng,… Bằng cách dùng nghi thức lời nói
để thiết lập, con người có thể xác định tư cách và vị trí của mình với người đối thoại để giữ được phép lịch sự phù hợp trong mọi hoàn cảnh Nghiên cứu
về ngôn ngữ để từ đó đưa vào phép lịch sự trong nghi thức giao tiếp là một
việc làm rất ý nghĩa Ngôn từ với tư cách là “gói vàng” dành cho con người
trong giao tiếp nhưng chỉ khi sử dụng nó theo đúng chuẩn mực trong giao tiếp
thì nó mới phát huy được tác dụng
Lý thuyết hành vi ngôn ngữ có thể lý giải được mối quan hệ giữa ký hiệu ngôn ngữ và đưa nó vào mục đích giao tiếp Austin đã đưa ra công trình nghiên cứu phân loại hành vi ngôn ngữ, theo ông hành vi ngôn ngữ được phân chia thành ba loại: hành vi tạo lời, hành vi tại lời, hành vi mượn lời
Trong nhiều loại hành vi ngôn ngữ có mặt ở giao tiếp hằng ngày thì hành
vi cầu khiến có thể nói là hành vi phổ biến nhất Hành vi cầu khiến đã phần nào phản ánh những nét đặc trưng của văn hóa giao tiếp người Việt Ngoài ra
nó còn cho thấy sự đa dạng, phức tạp cũng như tính đa nghĩa thể hiện trong nội dung của mỗi câu nói Vì vậy, ai trong chúng ta cũng cần phải biết để ứng
xử văn minh, ngoài ra giúp cho việc phân tích các tác phẩm văn chương, nội luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 13tâm nhân vật được sâu sắc và rõ ràng hơn Trong đề tài này, chúng tôi đã tìm hiểu một hành vi cầu khiến cụ thể là hành vi mời trong tiếng Việt Hành vi mời là hành vi mang tính chất lịch sự diễn ra hằng ngày trong cuộc sống của chúng ta, tìm hiểu hành vi mời giúp cho chúng ta biết rõ thêm về một cách ứng xử văn minh trong giao tiếp
Vì những tính chất quan trọng của các vấn đề nêu trên, chúng tôi sẽ đi vào phân tích sâu hơn các khái niệm về nghi thức lời nói, hành vi ngôn ngữ, hành vi cầu khiến và hành vi mời trong chương này
1.1 Những lý luận chung của nghi thức lời nói
Mối quan hệ giữa người với người được thể hiện bằng những nghi thức lời nói trong đời sống, với nhiều sắc thái như: cởi mở, lạnh lùng, thân thiết, xã giao, đơn giản,… Nghi thức lời nói sẽ tạo ra những khuôn hình câu và khuôn hình từ để thích ứng với từng tình huống giao tiếp
Khi ngôn ngữ học chuyển dần sang hướng nghiên cứu lời nói, thuật ngữ Nghi thức lời nói cũng xuất hiện và có mối quan hệ với khái niệm nghi thức Nghi thức là những chuỗi các hoạt động như cử chỉ, lời nói, hành động được sắp xếp theo thứ tự và trình tự được thiết lập Trong giao tiếp, nghi thức có thể hiểu là một hệ thống phức tạp ghi lại các dấu hiệu được thể hiện trong cuộc giao tiếp như thái độ giữa hai bên đối thoại, sự đánh giá đối phương và nhận xét chính mình, xác định vị trí của bản thân trong cuộc đối thoại
Ví dụ: (1) Chào hỏi khi gặp nhau; dấu hiệu này tồn tại khi bản thân nó có quan hệ với một người khác vì nó có ý nghĩa chào hỏi hoặc làm quen Điều này nói lên hai bên hội thoại có thái độ thân thiện với nhau hoặc là có mục đích khi muốn làm quen
Có rất nhiều các công trình nghiên cứu về nghi thức lời nói, trong đó
phải kể đến cuốn “Nghi thức lời nói Nga”, N.I.Formanovskaija, bà cho rằng nghi thức lời nói là “những quy tắc ứng xử lời nói đặc trưng của từng dân tộc
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 14được dùng trong các tình huống có những người đối thoại đang tiếp xúc và giao tiếp với giọng điệu được lựa chọn phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp, với các dấu hiệu xã hội của những người đối thoại và của các mối quan hệ giữa
họ với nhau, và được biến thành các động hình giao tiếp” [1, tr.7]
Xã hội nào cũng có những lễ nghi ứng xử riêng và đòi hỏi con người phải tuân thủ theo những quy tắc ấy Trẻ em ngay từ lúc nhỏ đã được dạy cho những lễ nghi này như biết chào hỏi khi vừa đi học về, biết cảm ơn khi nhận được điều gì từ người khác, biết xin lỗi khi mắc sai lầm, chúng còn được dạy phải chỉ trích những ai không tuân thủ các quy tắc ấy
Ở luận văn này, chúng tôi đi theo định nghĩa của N.I.Formanovskaija và đưa nó vào nghiên cứu Nghi thức lời nói phục vụ cho các tình huống giao tiếp nghi thức, nghĩa là những tình huống có các cách ứng xử văn minh, lịch
sự, trang nghiêm, trân trọng Loại bỏ những hành vi ứng xử không mang tính nghi thức như dọa nạt, chửi mắng,… Từ đây, chúng tôi thử nêu ra một định
nghĩa về nghi thức lời nói: Nghi thức lời nói là những hành vi ứng xử dựa
theo nguyên tắc chung của cộng đồng, mang tính văn minh, vững bền, phục
vụ cho việc sử dụng ngôn từ trong các tình huống giao tiếp nghi thức
1.1.1 Những mẫu đối thoại có chứa nghi thức lời nói
Trong một tình huống đối thoại, sẽ có hai phần được gọi là thoại dẫn và thoại đáp, nghi thức lời nói sẽ giúp cho phần nội dung của mẩu đối thoại này được đầy đủ và mang tính lịch sự hơn Thoại dẫn là lời thoại dùng để bắt đầu một cuộc đối thoại và đi vào một sự việc nào đó
Thoại đáp là câu trả lời của nhân vật thứ hai khi tiếp nhận thoại dẫn của đối phương
Ví dụ: (2)
SP1: - Phiền anh thật ngại quá! Tôi rót anh một cốc nước nhé?
SP2: - Cảm ơn cô, chuyện đáng gì đâu
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 15Trong mẫu hội thoại này, thoại dẫn thể hiện sự cảm thán Để có thể biến thoại gợi và thoại đáp là một chỉnh thể hoàn chỉnh, cần phải chú ý đến đặc điểm ngữ pháp của các phát ngôn
1.1.2 Phương tiện giao tiếp phi lời kèm theo nghi thức lời nói
Phương tiện giao tiếp phi lời có thể hiểu là những hành vi ứng xử hoặc là thay hoặc là đi kèm lời nói Tùy vào tình huống giao tiếp mà có những phương tiện giao tiếp phi lời phù hợp Chẳng hạn khi thầy giáo nhận được lời chào từ một học sinh khi đi ngang qua nhau, có thể dùng hành động gật đầu (hoặc kèm theo nụ cười) để thể hiện sự tiếp nhận của mình thay lời nói, nhưng khi gặp một người thầy giáo khác chào hỏi, thì phải có lời đáp kèm theo cái gật đầu, nếu không sẽ bị vi phạm quy tắc lịch sự Đi xe buýt gặp phụ nữ mang thai hay người già thì phải chủ động nhường ghế, vào nhà phải để dép bên ngoài, những cái bắt tay nồng nhiệt, nụ cười cởi mở cảm thông, sự thấu hiểu
từ biểu cảm khuôn mặt hay một sự giúp đỡ đúng lúc đều là những hành động
phi lời mang đến những cách ứng xử văn hóa văn minh
Văn hóa của một quốc gia được đánh giá qua nhiều mặt và trong đó quy tắc ứng xử là một mặt rất quan trọng Một trong những quy tắc ứng xử đó là phép lịch sự, phép lịch sự có thể được thể hiện bằng hành động hoặc lời nói,
nó là một nhân tố quan trọng giúp duy trì các mối quan hệ xã hội và ảnh hưởng đến hiệu quả giao tiếp Như vậy, lịch sự gắn liền với thế giới con người
và mang ý nghĩa xã hội sâu sắc
1.1.3 Sự tồn tại và hoạt động của nghi thức lời nói
Nghi thức lời nói tồn tại trong lời ăn tiếng nói hằng ngày, trong ngôn ngữ sinh hoạt Có thể dễ dàng nhận thấy trong cuộc sống hằng ngày, ở tình huống giao tiếp, trong các tác phẩm văn học miêu tả đời sống nhân vật Chúng ta luôn hướng tới một xã hội ngày càng văn minh hơn, vậy nên việc đưa ngôn ngữ hằng ngày vào nghi thức lời nói là một điều rất quan trọng Việc sử dụng luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 16nghi thức lời nói phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp giúp tạo nên những con người lịch sự, loại bỏ những phát ngôn kém văn hóa, thô lỗ
Nghi thức lời nói đã có từ xa xưa trong những câu ca dao, tục ngữ mà ông cha ta đã để lại, những lời khuyên nhủ về cách ăn, cách nói, cách đứng, cách ngồi,… sao cho phù hợp với lễ nghi:
- Kính trên, nhường dưới (Tục ngữ)
- Đất tốt trồng cây rườm rà Những người thanh lịch nói ra dịu dàng
1.1.4 Tiêu chí nhận diện các khuôn mẫu nghi thức lời nói tiếng Việt
Không phải tất cả ngôn ngữ nào cũng đều có tính chất nghi thức lời nói, những phát ngôn này phải được xã hội công nhận về sự chân thực, lịch thiệp, tạo hiệu quả giao tiếp văn hóa Cả Austin và Searle đều có công trình nghiên cứu phân loại các hành vi ngôn ngữ Vì nghi thức lời nói giúp cho hiệu quả giao tiếp được nâng cao và thể hiện văn hóa của từng dân tộc nên mỗi khuôn mẫu nghi thức lời nói phải được dùng với tần số cao và được dân tộc đó công nhận Có thể xem đây là tiêu chí đầu tiên của một khuôn mẫu nghi thức lời nói
Lấy một vài ví dụ về mệnh đề “Bác vào nhà”, các câu thoại có thể như:
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 17(4) Cháu mời bác vào nhà chơi ạ! Bố cháu đang chờ bác đấy
Từ đây có thể nêu rằng nghi thức lời nói đi kèm với hiệu quả của phát ngôn tương ứng là tiêu chí thứ hai của nghi thức lời nói
1.2 Những lý luận chung của hành vi ngôn ngữ
Ngôn ngữ được phát hiện khi con người có nhu cầu giao tiếp Giao tiếp không chỉ giúp con người trao đổi thông tin mà còn giúp tạo lập mối quan hệ Mỗi cuộc hội thoại sẽ bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố vì thế kết quả cuối cùng của mỗi lần giao tiếp có thể phát triển theo hướng tích cực hoặc tiêu cực Theo Đỗ Hữu Châu thì quá trình giao tiếp là quá trình phải xảy ra theo hai chiều Thông tin phát đi thì cũng phải có thông tin được nhận lại, nếu nói mà không có người nghe và không có ai phản ứng lại thì không gọi là giao tiếp
Phát ngôn được sản sinh trong một quá trình tâm lý bao gồm cả những hoạt động bên trong lẫn bên ngoài của con người Những ngôn ngữ giao tiếp, sinh hoạt hằng ngày đều có mục đích sử dụng riêng của nó, chứa đựng hành luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 18vi của người tham gia giao tiếp như hành vi chào, hành vi cầu khiến, hành vi xin lỗi, hành vi mời,… Ngôn ngữ phục vụ cho con người và được con người kiểm soát, tuân thủ những quy ước của xã hội Nghiên cứu về lý thuyết hành
vi ngôn ngữ, chúng ta có thể hiểu được mối quan hệ giữa kí hiệu ngôn ngữ, từ
đó có thể đưa chúng vào sử dụng cho mục đích giao tiếp
Người tiên phong đặt nền móng cho lý thuyết này là nhà triết học người Anh John L.Austin với công trình đã được ông trình bày bằng 12 chuyên đề tại đại học Havard Sau khi ông mất những chuyên đề này đã được xuất bản
thành sách với tên “How to do things with word” (Hành động như thế nào
bằng lời nói) (1962) Kế thừa công trình của ông, J.Searle đã điều chỉnh và
phát triển nó sâu rộng hơn với công trình “Các hành vi ngôn ngữ” (1969)
Để tạo thành một hành vi ngôn ngữ cũng phải đảm bảo một vài điều kiện, J.L.Austin nêu ra ba điều kiện như sau:
1) Để tạo thành một hành vi ngôn ngữ, người nói phải quan tâm đến bối cảnh xung quanh có thể tiếp nhận thông tin hay không
2) Người phát ngôn phải có mục đích sử dụng khi tạo ra lời nói, mong muốn nhận được kết quả từ đối phương
3) Hành vi ngôn ngữ của người nói phải cam kết làm cho người nghe hiểu được và có thể trả lời kết quả mà người nói mong muốn
Nói là một loại hành động, ngôn ngữ là phương tiện để thực hiện hành động ấy, gọi là hành vi ngôn ngữ Theo Austin, hành vi ngôn ngữ gồm 3 loại lớn đó là hành vi tạo lời, hành vi mượn lời và hành vi ở lời Trong luận văn này chúng tôi thống nhất sử dụng cách dịch về ba loại hành vi trên theo tác giả Đỗ Hữu Châu
Hành vi tạo lời “là hành vi sử dụng các yếu tố ngôn ngữ như ngữ âm, từ,
các kiểu kết hợp từ thành câu… để tạo ra một phát ngôn về hình thức và nội dung” [4, tr.88] Hiểu cách khác, hành vi tạo lời là hành vi thực hiện hành
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 19động “nói một điều gì đó” của người tham gia giao tiếp Nó sẽ tạo ra bao gồm
chuỗi âm thanh, các từ, các kiểu nhấn nhá giọng và ngữ điệu để cấu thành một câu hoàn chỉnh có mục đích
Xét các phán ngôn sau để hiểu rõ hơn:
(8) Cháu cảm ơn cô ạ!
(9) Con nên ăn nhiều rau xanh vào!
(10) Em không được nói chuyện riêng trong giờ học!
(11) Con chào cả nhà ạ!
(12) Cháu xin lỗi chú!
Tương ứng với các phát ngôn trên là các hành vi tạo lời sau:
Phát ngôn (8) – Hành vi cảm ơn
Phát ngôn (9) – Hành vi khuyên nhủ
Phát ngôn (10) – Hành vi yêu cầu
Phát ngôn (11) – Hành vi chào hỏi
Phát ngôn (12) – Hành vi xin lỗi
Tóm lại, để thực hiện mục đích nào đó của mình, trước tiên người nói phải thực hiện hành vi tạo lời
Hành vi ở lời “là những hành vi người nói thực hiện ngay khi nói năng
Hiệu lực của chúng là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ, có nghĩa là chúng gây
ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở người nhận” [4, tr.89].
Chẳng hạn khi một người đưa ra lời mời ai đó khiêu vũ, người tiếp nhận lời mời phải trả lời có hoặc không, vì nếu không trả lời sẽ bị vi phạm quy tắc lịch sự Hành vi ở lời có tính quy ước được xã hội quy định và vận hành thay đổi theo dòng lịch sử… Chúng sẽ giúp duy trì những mối quan hệ đối thoại bền vững hơn, thể hiện những nét đẹp tế nhị trong văn hóa con người qua mọi thời đại Mỗi một con người trong xã hội đều phải tuân thủ theo quy ước ấy
Do đó, hiểu được chức năng của ngôn ngữ, chúng ta không chỉ dùng để luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 20giao tiếp mà còn nắm được các quy tắc để có thể thực hiện các hành vi ngôn ngữ như mời, chào, cám ơn, xin lỗi,… đúng chỗ, đúng lúc, tạo ra hiệu quả giao tiếp cao nhất
Hành vi mượn lời “là hành vi mượn phương tiện ngôn ngữ, mượn
phượng tiện phát ngôn để gây ra một hiệu quả ngoài ngôn ngữ nào đó ở người nghe, người nhận hoặc ở chính người nói” [4, tr.88] Chẳng hạn khi
nghe phát ngôn yêu cầu “Đi rửa chén bát đi!”, người nhận phát ngôn có thể
thực hiện yêu cầu này, hoặc có thể tỏ ra khó chịu, bực tức khi bị yêu cầu, có những hành động lớn tiếng Tất cả những biểu hiện khó chịu, bực tức, hành động lớn tiếng đều nằm trong phạm vi mượn lời, nhưng không nằm trong đích đến của hành vi mượn lời
Hành vi mượn lời được sử dụng rất phổ biến trong cuộc sống hằng ngày Người ta có thể sử dụng một câu hỏi thay thế cho lời chào:
(13) - Cậu lại đi học đàn à?
Trong phát ngôn (13) này, người nói đưa ra một câu hỏi tương đương với lời chào và mong muốn một câu trả lời đáp lại thay cho việc chào hỏi hoặc một hành động nào đó như nở nụ cười, một cái gật đầu,…
Người nói cũng có thể dùng một câu thông báo để thay thế cho lời nhắc nhở:
(14) - Đã 12h rồi
Trong phát ngôn (14) này, người nói đưa ra một câu thông báo thay cho một lời nhắc nhở rằng người nghe nên rời đi hoặc thông báo về một sự việc gì
đó sắp diễn ra Cũng có thể thực hiện phát ngôn một cách trực tiếp:
(15) - Đã muộn rồi, cậu có thể đi về được không? Tớ còn việc bận
Tùy vào ngữ cảnh và vai vế của đối phương mà linh hoạt sử dụng hành
vi mượn lời để đạt hiệu quả giao tiếp Nó thể hiện phép lịch sự, sự hiếu khách, văn hóa lễ nghi của người Việt Hành vi mượn lời giúp thể hiện nét văn hóa, tinh thần chỉ của riêng người Việt
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 211.3 Hành vi cầu khiến và hành vi mời
1.3.1 Hành vi cầu khiến
1.3.1.1 Khái niệm hành vi cầu khiến
Hành vi cầu khiến cũng là một hành vi quan trọng trong phạm trù nghi thức lời nói mà chúng ta phải biết để ứng xử với những tình huống giao tiếp cần dùng tới Nghiên cứu hành vi cầu khiến giúp con người dễ dàng hơn trong việc đánh giá cách ứng xử, văn hóa của mỗi người cũng như giúp ích rất nhiều cho chính chúng ta trong cuộc sống khi cần giúp đỡ hay muốn người nghe làm theo yêu cầu của mình
Tìm hiểu về hành vi cầu khiến, đã có công trình của tác giả Nguyễn Văn
Lập với cuốn “Bước đầu tìm hiểu nghi thức lời nói trong tiếng Việt” (1989),
trong đó có giới thiệu sơ lược về hành vi cầu khiến tiếng Việt Ngoài ra còn
có công trình của Đỗ Ảnh “Thử vận dụng quan điểm cấu trúc chức năng để
nhận diện miêu tả câu cầu khiến tiếng Việt” – Tạp chí ngôn ngữ số 1 – 1990
Trong công trình này, Đỗ Ảnh đã nêu ra một vấn đề mới như cấu trúc của câu cầu khiến giúp người đọc hình dung rõ nét hơn về câu cầu khiến
Tiếp đến, còn có công trình của tác giả Diệp Quang Ban “Ngữ pháp
tiếng Việt” và cuốn “Cú pháp tiếng Việt” của Hồ Lê, hai cuốn sách này đưa
ra tiêu chuẩn để nhận diện câu cầu khiến
Nhìn chung, dù đã có khá nhiều công trình nghiên cứu hành vi cầu khiến nhưng vẫn chưa có tài liệu nào định nghĩa một cách đầy đủ Cầu khiến là yêu cầu người khác làm hay không làm một việc gì đó, dùng phương tiện ngôn ngữ hoặc kèm phi ngôn ngữ để thực hiện
Các tín hiệu kèm theo ngôn ngữ cũng giúp cho phần nào hiệu quả diễn đạt được tốt hơn Chẳng hạn khi muốn mời ai đó vào nhà, thông thường sẽ
bằng câu nói “Mời anh/chị/cô/chú vào nhà chơi ạ” thì có thể đi kèm theo sau
đó là một nụ cười, hoặc một động tác tay thể hiện sự mời vào Thực hiện việc luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 22bày tỏ sự đồng cảm của mình với chuyện buồn của người khác, thông thường
có thể dùng lời khuyên nhủ “Chị đừng buồn nữa, ảnh hưởng tới sức khỏe” thì
có thể đi kèm theo một cái ôm, một động tác tay vỗ về an ủi
Cũng như vậy, đối với người tiếp nhận và trả lời phát ngôn, cũng có thể
đi kèm những phương tiện phi lời Khi nhận được lời cầu khiến của đối phương, họ có thể trả lời và kèm theo những cái gật đầu, hoặc lắc đầu, bắt tay (trong một cuộc giao dịch, đàm phán,…)
Hành vi cầu khiến có thể cho chúng ta nhận biết về tuổi tác, vị trí, mối quan hệ của người tham gia đối thoại
Ví dụ:
(16) - Chị giúp em làm bài tập về nhà nhé!
Xét câu phát ngôn ngắn này, dù không có quá nhiều thông tin nhưng người đọc, người nghe có thể hiểu rằng nhân vật trong phát ngôn này có quan
hệ gần gũi, ruột thịt và có vai vế hơn kém nhau
Từ đây, có thể thử nêu ra định nghĩa: Hành vi cầu khiến là một hệ thống
các dấu hiệu bằng lời hoặc phi lời giúp thể hiện mục đích, yêu cầu của người phát ngôn
Để có thể tạo ra kết quả tốt nhất khi sử dụng hành vi cầu khiến, cần phải đảm bảo những yếu tố như:
- Phù hợp với ngữ cảnh, hoàn cảnh giao tiếp
- Phù hợp với vị trí của người tham gia giao tiếp, nhân vật giao tiếp
- Phù hợp và được sử dụng nhiều theo quy chuẩn cộng đồng
Trong tiếng Việt, người nói có thể đưa hành vi cầu khiến ra trước hoặc sau nội dung, ngữ cảnh Ví dụ như:
Trang 231.3.1.2 Các nghi thức lời nói biểu thị hành vi cầu khiến
Dựa vào bản chất của hành vi cầu khiến có thể phân loại các nghi thức lời nói tiếng Việt biểu hiện hành vi cầu khiến sau:
(1) Nghi thức lời nói thể hiện hành vi mời (2) Nghi thức lời nói thể hiện hành vi yêu cầu (3) Nghi thức lời nói thể hiện hành vi ra lệnh (4) Nghi thức lời nói thể hiện hành vi cấm đoán (5) Nghi thức lời nói thể hiện hành vi khuyên nhủ (6) Nghi thức lời nói thể hiện hành vi căn dặn (7) Nghi thức lời nói thể hiện hành vi nhờ vả (8) Nghi thức lời nói thể hiện hành vi van xin
1.3.1.3 Những điều kiện nhận diện các phát ngôn hành vi cầu khiến tiếng Việt
Các phát ngôn hành vi cầu khiến tiếng Việt là kết quả của hành vi tạo lời, được đánh giá dựa trên tiêu chí chân thực hay không chân thực và theo Austin phải đảm bảo điều kiện may mắn nghĩa là thực hiện hành vi tạo lời phải thành công Austin đã chia ra bốn loại điều kiện như sau:
a) Điều kiện nội dung mệnh đề: Là chỉ ra bản chất nội dung của hành vi,
đó là một mệnh đề đơn giản hay là một hàm đề
b) Điều kiện chuẩn bị: nghĩa là những hiểu biết của người nói đối với người nghe như thái độ, câu trả lời, lợi ích, vị trí và mối quan hệ của người nói và người nghe
c) Điều kiện chân thành: tức là tính chân thực của phát ngôn người nói với người nghe, sự hứa hẹn và niềm tin đối với câu trả lời của người nghe d) Điều kiện cơ bản: là trách nhiệm về phát ngôn của chính người nói và
người nghe Chẳng hạn khi nói “Mình sẽ giúp cậu vượt qua khó khăn này” là
người nói đã xác lập niềm tin cho người nghe
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 24Dựa vào sự phân loại các điều kiện này sẽ giúp chúng ta nhận biết rõ ràng về các hành vi cầu khiến
Các chủ thể phát ngôn hành vi cầu khiến tiếng Việt ở ngôi thứ nhất có thể là hàm ẩn hoặc tường minh, nhưng trong hội thoại thường là hàm ẩn nên cấu trúc phát ngôn đa số là khuôn hình câu dưới bậc Chẳng hạn:
+ Ở hành vi ra lệnh, câu sẽ bị tỉnh lược chủ ngữ và chỉ còn lại động từ đảm nhiệm thành phần chính của câu
- Chiều về chị ghé cửa hàng lấy đồ giúp em nghen
- Tuần sau là sinh nhật mình, cậu đừng có mà vắng mặt đấy nha
- Mẹ đã để hộp sữa vào ngăn nhỏ trong cặp của con đấy, nhớ uống sau khi ăn trưa nhé con yêu
+ Ở hành vi nhờ vả, thường đầy đủ thành phần chủ ngữ vị ngữ, theo sau chủ ngữ vị ngữ thường có các từ tình thái, động từ đi kèm
Ví dụ: (21)
- Bạn có thể giúp mình nhặt nó lên không
- Làm ơn giúp tôi với!
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 25- Ở nhà trông cho chị nồi canh nhé
- Anh giúp tôi xử lý mấy tập tài liệu kia với nhé, cảm ơn anh
- Cậu giảng lại giúp tớ bài này với, tớ chưa hiểu lắm
Các phát ngôn cầu khiến tiếng Việt mang đặc tính hành động, khi người nói tạo ra phát ngôn thì cũng đồng thời thực hiện một hành vi cụ thể trong hiện thực Không phải hành vi cầu khiến nào cũng trở thành nghi thức lời nói, mà chỉ khi hành vi cầu khiến phục vụ cho mối quan hệ có liên quan giữa người với người
1.3.2 Hành vi mời
1.3.2.1 Khái niệm hành vi mời
Mời là một nghi thức phổ biến mà tất cả các dân tộc trên thế giới đều sử
dụng đến Theo Từ điển tiếng Việt “mời là tỏ ý mong muốn, yêu cầu người
khác làm việc gì một cách lịch sự, trân trọng” Mời bày tỏ thái độ cầu khiến
của người nói đối với người nghe, thúc giục người nghe thực hiện một hành
vi nào đó nhằm thỏa mãn cả hai bên tham thoại Lời mời thể hiện thái độ lịch
sự, kính trọng, thân thiện và xuất phát từ lợi ích giữa người nói lẫn người nghe Đây được xem như nét nghĩa chính của một lời mời
Theo bảng phân loại tại lời của Austin (1962) hành vi mời thuộc nhóm
hành vi Hành sử còn theo Searle thì mời thuộc nhóm hành vi Điều khiển
Searle xác định nhóm hành vi điều khiển theo bốn tiêu chí phân loại:
1 Đích ở lời: Đặt người nghe vào trách nhiệm thực hiện một hành động trong tương lai
2 Hướng khớp ghép: Là sự ăn khớp giữa lời nói và hiện thực theo hai chiều từ ngôn ngữ đến hiện thực và từ hiện thực đến ngôn ngữ
3 Trạng thái tâm lý: Là điều kiện chân thành của hành vi tại lời Khi thực hiện một hành vi nào đó, người ta có thể biểu hiện lòng tin, sự mong muốn, sự hối tiếc, ăn năn,…
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 264 Nội dung mệnh đề: Hành động tương lai của người tiếp nhận nội dung
Điểm thống nhất giữa hai ông trong quan niệm về hành vi mời là đặt người nghe vào trách nhiệm thực hiện một hành động nào đó trong tương lai
mà phát ngôn mở đầu đã đặt ra
Ngoài ra, lời mời còn một nét nghĩa khác được sử dụng trong một vài trường hợp đặc biệt Ở những trường hợp này, mời mang nét nghĩa là muốn
“đuổi” khéo người nghe đi, cũng là để nhằm thỏa mãn mong muốn của
mình nhưng ở nét nghĩa này lời mời không mang tính chất thân thiện nữa mà thay vào đó là sự dứt khoác, bất bình, phẫn nộ Nét nghĩa này của lời mời chỉ được sử dụng trong một vài trường hợp cá biệt, khi người nói dù đang rất bất bình nhưng vẫn muốn thể hiện được phép lịch sự tối thiểu đối với người
nghe Chẳng hạn “Tôi mời anh ra khỏi nhà tôi ngày lập tức” Vì vậy, khi sử
dụng lời mời mang nét nghĩa này cần phải chú ý hoàn cảnh giao tiếp, vị trí giao tiếp,…
Từ đây, chúng tôi thử nêu định nghĩa của lời mời dựa theo nét nghĩa
chính của nó: Mời là hành vi của người nói cầu khiến người nghe thực hiện
một mong muốn nào đó của mình xuất phát từ lợi ích của chính người nói hoặc của đôi bên
1.3.2.2 Phân biệt “Mời” và một số vị từ cùng nghĩa
Mời là hành vi cầu khiến tiếng Việt trên thực tế mang nét nghĩa gần giống với một số hành vi cầu khiến khác như ra lệnh, yêu cầu, đề nghị,… vì vậy cần phân biệt để tránh dẫn đến lỗi ứng xử đáng tiếc
Mời, yêu cầu, ra lệnh, đề nghị,… đều có mục đích chung là muốn người nghe thực hiện một việc gì đó theo mong muốn của người nói Tuy nhiên, đối với yêu cầu, ra lệnh, đề nghị,… thường mang tính ép buộc người nghe Để xét những hành vi cầu khiến này trong một cuộc tham thoại có thể hiện tính lịch luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 27sự hay không phải nhìn nhận thêm vào ngữ cảnh, con người Ít nhiều những hành động cầu khiến ra lệnh, yêu cầu, đề nghị,… này đều có chút đụng chạm đến người nghe như lợi ích, phải chịu trách nhiệm về việc làm của mình và người nghe phải thực hiện như mệnh lệnh Trong khi đó, mời mang nét nghĩa chung thiên về lịch sự nhiều hơn, người đưa ra lời mời dành cho người nghe nhiều tình cảm thân thiện, về nguyên tắc thì người thực hiện sẽ
có lợi ích và được tôn trọng
Nghi thức mời dựa trên mối quan hệ thân mật giữa người nói và người nghe, vai vế tôn ti và hoàn cảnh mà hành vi này diễn ra, ở nghi thức này, người nghe hoàn toàn nắm quyền tự do chủ động có thể hay không từ chối lời mời Còn đối với ra lệnh, yêu cầu hay đề nghị giống như bắt người nghe nhất định phải làm theo như một mệnh lệnh Chẳng hạn:
(22) - Mời anh đến gặp tôi tại văn phòng vào 9 giờ sáng mai được
không nhỉ?
(23) - Yêu cầu anh đến văn phòng gặp tôi vào 9 giờ sáng mai!
Ở ví dụ (22) có thể thấy người nói đưa ra quyền chủ động trả lời câu hỏi cho người nghe, suy nghĩ đến lợi ích của người nghe và người nghe có thể có hai câu trả lời Một là đồng ý và sẽ đến gặp người nói vào 9 giờ sáng mai, hoặc có thể trả lời bận một công việc gì đó (hợp tình hợp lí) và hẹn lại thời gian thích hợp Còn với ví dụ (23), hành động cầu khiến này giống như một mệnh lệnh giữa cấp trên đối với cấp dưới hoặc giữa hai người có vị trí xã hội hoặc vai vế chênh lệch nhau Ở ví dụ này, người nói không hề để ý đến lợi ích của người nghe, mà muốn người nghe nhất định phải thực hiện lời cầu khiến của mình Tương tự như vậy, người nghe trong hoàn cảnh này cũng chỉ có một sự lựa chọn duy nhất là thực hiện theo yêu cầu của người nói
Hành vi cầu khiến mời và ra lệnh, yêu cầu, đề nghị,… có những nét khác biệt rất rõ ràng của hiệu lực tại lời Tiếp đến, lời mời có thể đóng vai trò là phát ngôn mở đầu, vừa có thể là phát ngôn hồi đáp trong cuộc tham thoại Chẳng hạn:
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 28(24) SP1: - Chai rượu này là loại rượu ngon và hiếm lắm Tớ mời cậu
một ly nhé?
SP2: - Được thôi, mời cậu
(25) SP1: Đến giờ rồi, chúng ta cùng vào thôi
SP2: Mời anh
Còn các hành vi cầu khiến yêu cầu, ra lệnh, đề nghị thường đảm nhiệm chức năng mở thoại
1.3.2.3 Các động từ biểu thị hành vi mời
Trong quá trình nghiên cứu tài liệu, chúng tôi nhận thấy có một số động
từ biểu thị hành vi mời như: Mời, rước,… với dạng:
Những động từ ngữ vi này biểu thị hành vi mời ở các mức độ, các phạm trù khác nhau, tùy thuộc vào ngữ cảnh mà lựa chọn sử dụng chúng để đạt hiệu quả giao tiếp tốt nhất
Động từ mời là động từ được xem như biểu thị chính cho hành vi mời vì
có số lần xuất hiện cũng như được sử dụng nhiều nhất Chẳng hạn như:
(26)
- Mời chị vào nhà em chơi
- Con mời ba mẹ dùng cơm ạ
- Mời anh dùng bữa cơm với chúng tôi cho vui
- Mời bác vào lựa rau, rau hôm nay tươi lắm bác ạ
Ngoài ra, còn có các động từ như xin mời, kính mời Chẳng hạn như: (27)
- Xin mời quý khách!
- Bây giờ, xin mời các bạn đặt câu hỏi cho tôi
- Xin mời bà xơi trầu ạ
Mời/Rước + SP2 + C
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 29- Trân trọng kính mời ông/bà/cô/bác đến chung vui cùng gia đình chúng cháu
Động từ “kính mời” còn xuất hiện trong những bài văn khấn, cúng, Vì
động từ này thể hiện sự bày tỏ lòng thành kính cao hơn mời, xin mời, dùng cho các bậc bề trên, những đối tượng ở thế giới vô hình Chẳng hạn bài văn khấn về văn phòng cơ quan mới:
(28)… Hôm nay là ngày… tháng… năm…, tín chủ con thành tâm sắm
sửa lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương dâng lên trước án , lòng thành tâu rằng: tín chủ con chuyển văn phòng mới tại xử này (địa chỉ)…(nếu là cơ quan, công xưởng thì khấn là tín chủ con là Giám đốc hay Thủ trưởng của toàn thể công ty), nay muốn khởi đầu việc kinh doanh (hoặc sản xuất) phục vụ nhân sinh, phục vụ sinh hoạt Do đó chúng con chọn được ngày lành tháng tốt sắm sanh lễ vật cáo yết Tôn thần dâng cùng Bách linh,… cúi mong soi sét
Chúng con xin kính mời các ngài quan Đương niên quan, Đương cảnh, quan Thần linh Thổ địa, Định phúc Táo quân cùng các ngài Địa chùa Long mạch cùng tất cả các Thần linh cai quản khu vực này phù hộ linh thiêng giáng hiện trước hương án, thụ hưởng lễ vật, chứng giám lòng thành Cúi xin các vị phù hộ cho chúng con buôn bán hanh thông làm ăn thuận lợi, lộc tài vượng tiến, cần gì được nấy, nguyện gì cũng thành
Tín chủ con lại mời các vị Tiền chủ, hậu chủ cùng chư hương linh y thảo phụ mộc ngụ trong khu vực này, xin hãy tới đây hưởng thụ lễ vật, phụng trị cho tín chủ con làm ăn buôn bán gặp nhiều may mắn
Chúng con lễ bạc tâm thành trước ăn kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì
Ngoài động từ mời thì động từ “rước” cũng được sử dụng trong lời mời
Rước trong từ điển tiếng Việt nghĩa là đón về một cách trang trọng, theo lễ luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 30nghi Động từ rước nhằm thể hiện sự tôn kính đối với người nghe, thường là người có vị trí cao hơn và hay được sử dụng ở miền Bắc Việt Nam Kèm theo
lời mời phía sau thường có từ “ạ” thể hiện sự nhún nhường và thân phận thấp
hơn của người mời
Ví dụ: (29)
- Con xin rước các cụ vào mâm cỗ ạ
- Xin rước bà cả ngồi chơi ạ
- Dạ, con xin rước quan vào nhà con ạ
- Rước ông vào chơi! (Một huyện ăn Tết – Vũ Trọng Phụng)
- Rước ông lên đây, ta kéo vài điếu chơi
Ngày nay, động từ rước ít được dùng hơn vì ngữ cảnh sử dụng hạn chế
và quá mang tính nghi thức Trong một số nghi lễ cưới hỏi của Việt Nam,
cụm từ “rước dâu” vẫn còn được sử dụng
Các động từ mời, xin mời, rước, xin rước được thể hiện linh hoạt tùy theo ngữ cảnh để phù hợp với vị trí người phát ngôn
Trong lời nói của người dân Nam Trung Bộ còn tồn tại từ “thưa”, “xin” thay cho từ “mời” mang hơi hướng tính lễ nghi với cú pháp:
Ví dụ: (30)
- Dạ thưa ông lên xơi cơm
- Dạ thưa bà, bà vào nhà con chơi ạ
- Thưa bà, ngoài trời nắng to, bà vào nhà con nghỉ ngơi xơi nước cho khỏe ạ
- Xin ông cứ vào chơi… Và có việc gì ông cứ bảo tôi cũng được ạ
Thưa/Xin+ SP2 + C
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 31- Xin mời cậu Tú sang bên tòa nhà trái kia ạ
Trong văn hóa giao tiếp của người Việt, ngoài yếu tố lịch sự thì yếu tố khiêm tốn cũng là một yếu tố thường xuyên xuất hiện Trong một tình huống mời khách đến nhà dùng bữa, người mời bao giờ cũng tỏ thái độ khiên tốn, đánh giá phần mình chuẩn bị không đáng là bao, chưa đủ chu đáo
Ví dụ: (31)
- Mời bà xơi tạm miếng trầu
- Mời anh vào dùng bữa cơm đạm bạc này cùng chúng tôi
- Mời cụ ngồi tạm đây Cháu vào rót cho cụ ấm trà
- Bữa cơm chẳng đáng là bao nên anh đừng khách sáo, cứ dùng tự nhiên nhé
Ngoài ra sự khiêm tốn còn được thể hiện trong lối nói nói giảm “bữa
cơm xoàng, chén rượt nhạt, bữa cơm đạm bạc, miếng trầu,…” Tất cả những
ý nói khiêm tốn này đều hướng đến lối văn hóa giao tiếp lịch sự, nhã nhặn, không khoe khoang
Chắc chắn ai trong chúng ta cũng đã một lần từng thể hiện hành vi mời với người khác, hành vi mời rất phổ biến trong đời sống và được thể hiện đa dạng, có khi mời tường minh, khi thì mời hàm ẩn, mời bằng lời nói, mời bằng văn bản,… đương nhiên mỗi loại sẽ tạo những hiệu quả khác nhau Chúng tôi sẽ đề cập rõ hơn những khía cạnh của hành
vi mời trong chương 2 của luận văn
1.3.2.4 Giá trị dụng học của hành vi mời
Không chỉ riêng Việt Nam mà thế giới cũng đều coi trọng văn hóa giao tiếp Mỗi một đất nước sẽ có mỗi bản sắc văn hóa riêng, cùng với đó quy tắc ứng xử, những định ước về lời ăn tiếng nói cũng sẽ khác nhau Ở Việt Nam cũng có rất nhiều tác giả đã nghiên cứu về bản sắc văn hóa của dân tộc mình, trong đó có tác giả Trần Ngọc Thêm đã khái quát những đặc trưng cơ bản về luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 32văn hóa giao tiếp của người Việt qua cuốn “Tìm về bản sắc văn hóa Việt
Nam” như sau:
+ Trước hết, so sánh thái độ giao tiếp của người Việt Nam và người nước ngoài, chúng ta có thể thấy được người Việt luôn có mong muốn được giao tiếp nhưng lại bị tính rụt rè, ngại tiếp xúc với người lạ cản trở Việc này được thể hiện rõ trong mong muốn giao lưu ngôn ngữ với người nước ngoài
Ở thời đại bây giờ tiếng Anh là một thứ tiếng phổ biến trên thế giới mà ai cũng nên tiếp cận để phát triển bản thân.Có rất nhiều học sinh hiện nay học rất giỏi về ngữ pháp, từ vựng của môn tiếng Anh nhưng phát âm lại ở mức trung bình Cách tốt nhất để phát âm chuẩn là thường xuyên trò chuyện cùng với người bản xứ để thuần thục trong cách phát âm, Việt Nam là đất nước đang phát triển du lịch, vì vậy cơ hội trò chuyện với người nước ngoài đã trở nên dễ dàng hơn rất nhiều Tuy nhiên, việc rụt rè, sợ sai, khiến các em khó hoàn chỉnh được cách phát âm
Chỉ khách khí, rụt rè với người lạ còn đối với người thân quen thì người Việt Nam lại có tính cộng đồng rất cao, họ rất thích thăm viếng Thăm viếng vừa là để thỏa mãn nhu cầu công việc vừa để gắn kết tình cảm giữa những người thân quen Ngoài ra, họ còn rất hiếu khách, người Việt luôn cố gắng tiếp đãi khách khứa một cách chu đáo nhất khi khách đến chơi nhà
+ Xét về quan hệ giao tiếp thì Việt Nam vốn là một đất nước đi lên từ ngành nông nghiệp Cùng nhau làm làm ruộng, làm nông, gặt lúa, thành quả làm ra có nhiều thì cùng hưởng nhiều, có ít thì cùng hưởng ít, quan hệ có qua
có lại, quan tâm lâm lẫn nhau dù thân hay sơ gắn với câu “Hàng xóm tối lửa tắt
đèn có nhau” hay “Bán anh em xa mua láng giềng gần” khiến người Việt rất
xem trọng tình cảm, vì thế lấy tình cảm làm nguyên tắc ứng xử trong giao tiếp + Về đối tượng giao tiếp: Sự quan tâm đối với người khác do tính cộng đồng tạo thành khiến người Việt hình thành thói quen tìm hiểu, quan sát, đánh luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 33giá thông tin… của đối tượng giao tiếp Mặc khác để có thể giao tiếp đúng mực với đối tượng đó Nhờ đặc tính này, người Việt có kinh nghiệm phân loại đối tượng mà mình giao tiếp rất phong phú, ông bà thời xưa còn để lại một kho tàng kinh nghiệm xem tướng số vẫn tồn tại cho đến ngày nay
+ Về chủ thể giao tiếp thì người Việt rất xem trọng danh dự và thể diện,
sự tôn trọng của mọi người Vì thế họ luôn cố gắng khéo léo trong những tình huống giao tiếp để tránh bị hiểu nhầm và làm ảnh hưởng đến người khác + Về cách thức giao tiếp thì người Việt ưa sự tế nhị, hướng đến những lối nói văn minh để giữ thể diện cho cả bản thân và người đối thoại Do đó, thói quen cân nhắc và lựa chọn kỹ lời nói trước khi phát ngôn được hình
thành “Lời nói – gói vàng” là điều người Việt luôn nhắc nhở bản thân
Hành vi mời cũng nằm trong nghi thức lời nói theo nguyên tắc lịch sự của người Việt Cùng là nghi thức lời nói biểu hiện sự cầu khiến nhưng nếu thay lời mời bằng hành vi yêu cầu thì giá trị của câu nói sẽ bị thay đổi ngay lập tức, người nghe có thể hiểu lầm và bị ảnh hưởng đến thể diện Từ đấy, hành vi mời đã ra đời giúp thêm một nét đẹp trong cách ứng xử Lời mời không chỉ thể hiện tính hiếu khách của chủ thể mà còn bao gồm tình cảm của chủ thể đối với người nhận lời mời Mỗi vùng miền đều có những nét riêng trong văn hóa mời và đều là những văn hóa đáng trân trọng
Về nguyên tắc, người mời và người được mời phải có mối quan hệ quen biết lẫn nhau như bạn bè, người thân trong gia đình, cơ quan, hàng xóm,… thì lời mời mới có thể được thực hiện Tuy nhiên, với bản tính hiếu khách, dù là khách không thân thiết thì người Việt vẫn mời chào theo kiểu xã giao Việc này giúp mở đầu câu chuyện giữa hai bên và giúp cho cuộc đối thoại trở nên nhẹ nhàng, thoải mái hơn Ngoài ra, cho dù là không quen biết nhưng xuất phát từ lợi ích bản thân thì lời mời vẫn sẽ xuất hiện trong một vài trường hợp như mời mua hàng, mời dùng thử sản phẩm,…
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 34Ví dụ:
(32) – Gian hàng của chúng tôi mới về dòng mỹ phẩm mới, mời quý
khách vào dùng thử và cảm nhận
(33) – Cô ơi, vào mua rau này, rau hôm nay tươi lắm
(34) – Ghé hàng tôi mới về nhiều quần áo đẹp lắm này
Sử dụng lời mời ngoài việc phải xem xét ngữ cảnh giao tiếp thì còn phải xác định được vị trí giao tiếp để xưng hô cho phù hợp Các từ xưng hô được
sử dụng theo từng cặp phù hợp với vị thế xã hội của cả hai bên đối thoại, thể hiện thái độ tình cảm giữa người nói với người nghe Ở các phát ngôn ứng với hành vi mời, ngoài việc phải tuân thủ theo quy tắc xưng hô nói chung thì người mời còn phải đảm bảo được tính lịch sự của lời mời với từng đối tượng
và hình thức mời nhất định
Sử dụng lời mời cũng sẽ tạo ra những giá trị nhất định cho cả người mời
và người được mời Đối với người mời, lời mời sẽ có các giá trị như:
a) Lời mời thể hiện mong muốn của SP1 với SP2:
Để thực hiện mong muốn cầu khiến của mình, người nói đã sử dụng lời mời
Ví dụ:
(35) – Con xin rước quan vào nhà chơi ạ, ngoài đấy nắng to lắm
(36) – Gặp bữa mời anh vào dùng cơm với chúng em cho vui
(37) – Không mấy khi ông sang chơi đây với thầy đồ tôi, tôi rất lấy làm
hân hạnh Gọi là có chén rượu nhạt, mời ông xơi tạm
(38) – Xin mời bà ăn trầu, uống nước, rồi thì ai vào việc nấy đi cho Xem
chừng công việc hãy còn nhiều lắm, ta phải làm gấp mới được!
Những phát ngôn trên thể hiện lời mời của người nói và mong muốn luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 35người nghe sẽ chấp nhận lời mời của mình
b) Lời mời gián tiếp giúp SP1 có cơ hội trình bày một sự việc gì đó với SP2:
Khi muốn kể hoặc trình bày cho người nghe một việc gì đó ngay lập tức,
người nói sẽ dùng lời mời “ngồi xuống đây” để khiến người nhận lời mời
thực hiện mong muốn của người nói ngay tức thì
Ví dụ:
(39) - Ông Giáo, ông nghĩ tôi nói có phải không? Ông ngồi xuống đây,
tôi thưa câu chuyện
(40) – Mợ ngồi, tôi nói câu chuyện
(41) – Hãy còn sớm, chị đi đâu mà vội, ngồi xuống đây em kể chị nghe
chuyện này hấp dẫn lắm
Thường thì những lời mời gián tiếp không sử dụng động từ ngữ vi
“mời” như những trường hợp trên đây sẽ dùng trong ngữ cảnh hai bên tham
thoại có quen biết nhau, người nói sẽ gây sự chú ý tò mò cho người nghe bằng lời mời
c) Lời mời thể hiện tình cảm, thái độ của SP1 với SP2:
Trong lời mời khách đến nhà chơi, hoặc những sự kiện mà người mời chuẩn bị thì người mời lúc nào cũng thể hiện thái độ khiêm tốn trước sự chuẩn bị của mình, cho rằng là chưa hoàn hảo
Ví dụ:
(42) – Thưa cụ, chả mấy khi cụ quá bộ lên chơi, xin mời cụ xơi với chị
em cháu một bữa cơm xoàng
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 36(43) – Mời anh ngồi vào ăn cơm với chúng tôi luôn, cũng không kịp
chuẩn bị gì nhiều, anh đừng chê cười nhé
Lời mời còn thể hiện tình cảm của người mời như yêu thương, quý mến, trân trọng, kính nể đối với người nhận lời mời
Ví dụ:
(44) – Ngày mai là sinh nhật tớ mà cậu không đến là tớ buồn đấy nhé (45) – Em đừng buồn nữa, anh mời em đi ăn cho khuây khỏa nhé
(46) – Nhờ anh chỉ bảo mà em mới được lên chức nhanh như vậy, em có
thể mời anh đi ăn xem như lời cảm ơn được không?
(47) – Con xin rước quan lớn vào nhà con dùng chén trà ạ
d) Ngoài người nói, người nghe cũng nhận được giá trị của lời mời chẳng hạn như có thể biết được vị trí của mình đối với người mời Nếu với
người không quá thân quen, người mời sẽ dùng kiểu xã giao, mời “lơi” khách
Với những lời mời như thế này, người nói không nói rõ cụ thể địa điểm
và thời gian, chỉ nói chung chung và cũng không chú trọng lắm câu trả lời từ người hồi đáp và người hồi đáp cũng chỉ trả lời theo đúng phép lịch sự Đây là những kiểu mời trong những tình huống bắt buộc phải mời theo phép lịch sự
để giữ mối quan hệ
Ngoài ra, lời mời đối với những người thân quen còn thêm vào những yếu tố khác giúp tạo ra sự thoải mái, tự nhiên cho người được mời
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 37Ví dụ:
(52) – Cậu vào nhà chơi đi, ngại gì, toàn người nhà cả
(53) – Cháu vào ăn cơm với gia đình bác luôn nào, cứ tự nhiên như ở
nhà nha cháu, bác xem cháu như con gái bác ấy mà
(54) – Chú ăn thêm đi này, cứ ăn thoải mái vào, tôi biết chú thích ăn nên
nấu nhiều lắm
(55) – Này, lát nữa tớ mời cậu đi ăn nha, hôm nay bạn thân cậu sẽ chiêu
đãi cậu những món thật ngon
Với những lời mời như thế này, người nhận lời mời biết được rằng họ được người mời dành tình cảm yêu thương cho và nó có giá trị tinh thần rất lớn Đây là kiểu mời mang lại hiệu quả giao tiếp cao giúp tạo mối quan hệ thân thiết hơn giữa hai bên tham thoại
Tóm lại, hành vi mời trong giao tiếp tiếng Việt rất phong phú, đa dạng,
nó góp phần tạo nên những nét đẹp trong văn hóa giao tiếp của người Việt Vì thế, chúng tôi đã chọn hành vi mời làm đề tài của luận văn Ở các chương sau chúng tôi sẽ đi sâu hơn vào tìm hiểu nghiên cứu về hành vi mời trong thoại dẫn và thoại đáp của nó
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Những vấn đề về lý thuyết nghi thức lời nói, hành vi ngôn ngữ và hành
vi cầu khiến nói chung trong chương này sẽ làm nền tảng cho việc nghiên cứu của chúng tôi trong luận văn này Tìm hiểu về nghi thức lời nói là để hiểu được bản chất sự giao tiếp xã hội giữa con người, ngoài ra chúng tôi còn nghiên cứu thêm về lý thuyết hành vi ngôn ngữ, hành vi ngôn ngữ được chia
ra thành ba loại đó là hành vi tạo lời, hành vi tại lời, hành vi mượn lời và cách
nhận biết chúng
Dựa vào các công trình nghiên cứu có liên quan chúng tôi đã đưa luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 38ra khái niệm về hành vi cầu khiến và phân loại các nghi thức lời nói thuộc hành vi cầu khiến, khái niệm hành vi mời và cách phân biệt hành
vi mời với các hành vi thuộc phạm trù cầu khiến khác như ra lệnh, yêu cầu, đề nghị,… Chúng tôi xác định động từ biểu thị chính của hành vi
mời là động từ ngữ vi “Mời” và “Rước” Trong chương 1 chúng tôi
cũng chỉ ra giá trị dụng học của hành vi mời
Tóm lại, những vấn đề lý thuyết ở chương này làm tiền đề giúp chúng tôi nhận biết rõ ràng các khái niệm liên quan tới đề tài, từ đó thu thập và khảo sát đúng ngữ liệu cho các chương sau
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 39(56) - Tôi yêu cầu anh ra ngoài ngay lập tức
(57) - Tôi cấm em không được nói chuyện riêng trong giờ học nữa
(58) - Yêu cầu anh chấp hành mệnh lệnh
(59) - Xin mời anh ngồi chỗ này
(60) - Tất cả im lặng
(61) - Trật tự
Xét các thành phần tạo nên câu có thể chia câu cầu khiến thành hai loại
là câu cầu khiến tường minh và câu cầu khiến nguyên cấp (hay còn gọi là câu cầu khiến hàm ẩn) Qua những ví dụ trên, có thể thấy rằng câu cầu khiến tường minh là loại câu cầu khiến có sử dụng động từ cầu khiến như
“yêu cầu, cấm, mời…”(ví dụ 56, 57, 58, 59) Câu cầu khiến nguyên cấp là
loại câu cầu khiến có chủ ngữ và vị ngữ bị rút gọn, chỉ có nội dung cầu khiến (ví dụ 60, 61) Từ định nghĩa của câu cầu khiến tường minh chúng
tôi có thể thử nêu ra định nghĩa hành vi mời tường minh là: hành vi mời có
sử dụng động từ ngữ vi mang nội dung mời như “mời, rước” để cầu khiến người được mời thực hiện một việc gì đó
Cũng như các loại hành vi ngôn ngữ khác, hành vi mời cũng có những công thức dùng cho cả người nói lẫn người đáp sẽ được tìm hiểu kỹ hơn ở phần sau luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si