1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn) lệ khảo thí, khảo khóa dưới thời vua lê thánh tông và bài học kinh nghiệm cho đánh giá cán bộ, công chức ở việt nam hiện nay

142 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lệ khảo thí, khảo khóa dưới thời vua Lê Thánh Tông và bài học kinh nghiệm cho đánh giá cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay
Tác giả Trần Thúy Phượng
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Thu Hòa
Trường học Học viện Hành chính Quốc gia
Chuyên ngành Quản lý công
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 142
Dung lượng 2,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (9)
  • 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài (11)
  • 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu (17)
  • 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (17)
  • 5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu (19)
  • 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của nghiên cứu (22)
  • 7. Kết cấu của Luận văn (23)
  • CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHẾ ĐỘ QUAN LẠI VÀ LỆ KHẢO THÍ, KHẢO KHÓA THỜI PHONG KIẾN Ở VIỆT NAM (24)
    • 1.1. Các khái niệm liên quan (24)
      • 1.1.1. Khái niệm quan lại (24)
      • 1.1.2. Khái niệm chế độ quan lại (26)
      • 1.1.3. Lệ khảo thí, khảo khóa (27)
    • 1.2. Sơ lược về chế độ quan lại và lệ khảo thí, khảo khóa thời phong kiến ở Việt Nam . 21 1. Sơ lược về chế độ quan lại (29)
      • 1.2.1.1. Chế độ tuyển chọn quan lại (29)
      • 1.2.1.2. Chế độ sử dụng quan lại (33)
      • 1.2.2. Sơ lược về lệ khảo thí, khảo khóa (40)
    • 1.3. Tính kế thừa có chọn lọc của lịch sử hành chính (44)
      • 1.3.1. Quy luật của tính kế thừa lịch sử (44)
      • 1.3.2. Học hỏi và kế thừa có chọn lọc chế độ quan lại trong lịch sử (46)
        • 1.3.2.1. Sự kế thừa chế độ quan lại của các triều đại phong kiến Việt Nam (46)
        • 1.3.2.2. Học hỏi kinh nghiệm chế độ quan lại của các triều đại phong kiến Trung Quốc (49)
  • CHƯƠNG 2: LỆ KHẢO THÍ, KHẢO KHÓA DƯỚI THỜI VUA LÊ THÁNH TÔNG (1460 – 1497) (57)
    • 2.1. Bối cảnh lịch sử và sự cần thiết ban hành lệ khảo thí, khảo khóa dưới thời Lê Thánh Tông (57)
      • 2.1.1. Bối cảnh lịch sử thời Lê sơ (57)
      • 2.1.2. Sự cần thiết ban hành lệ khảo thí, khảo khóa dưới thời Lê Thánh Tông (60)
    • 2.2. Nội dung lệ khảo thí, khảo khóa dưới thời vua Lê Thánh Tông (68)
      • 2.2.1. Mục đích thực hiện lệ khảo thí, khảo khóa (68)
        • 2.2.1.1. Làm cơ sở để thực hiện các chế độ sử dụng quan lại (68)
        • 2.2.1.2. Nâng cao ý thức đạo đức đội ngũ quan lại triều đình (71)
      • 2.2.2. Kỳ hạn thực hiện lệ khảo thí, khảo khóa (72)
      • 2.2.3. Tiêu chí thực hiện lệ khảo thí, khỏa khóa (74)
      • 2.2.4. Đối tượng thực hiện lệ khảo thí, khảo khóa (76)
      • 2.2.5. Trách nhiệm thi hành lệ khảo thí, khảo khóa (77)
      • 2.2.6. Xử lý kết quả sau khảo thí, khảo khóa (79)
      • 2.2.7. Việc thực hiện lệ khảo thí, khảo khóa dưới thời vua Lê Thánh Tông (80)
    • 2.3. Đánh giá thực hiện lệ khảo thí, khảo khóa dưới thời vua Lê Thánh Tông (84)
  • CHƯƠNG 3: NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY (91)
    • 3.1. Công tác đánh giá cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay (91)
      • 3.1.1. Khái niệm cán bộ, công chức và việc đánh giá cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện (91)
        • 3.1.1.1. Khái niệm cán bộ, công chức (91)
        • 3.1.1.2. Việc đánh giá cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay (92)
      • 3.1.2. Thực trạng công tác đánh giá cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay (96)
        • 3.1.2.1. Những kết quả đạt được trong công tác đánh giá cán bộ, công chức (96)
        • 3.1.2.2. Những hạn chế còn tồn tại trong công tác đánh giá cán bộ, công chức (99)
    • 3.2. Những giá trị tham khảo từ lệ khảo thí, khảo khóa dưới thời vua Lê Thánh Tông (109)
      • 3.2.1. Coi trọng việc thực hiện đánh giá cán bộ, công chức, coi đó là hoạt động tối cần thiết để đảm bảo chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức (109)
      • 3.2.2. Chú trọng việc xây dựng đồng bộ và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật đảm bảo việc đánh giá cán bộ, công chức nghiêm ngặt, chặt chẽ, có hiệu lực hiệu quả (110)
      • 3.2.3. Xây dựng hệ thống tổ chức bộ máy thực hiện công tác đánh giá cán bộ, công chức hoạt động độc lập (112)
      • 3.2.4. Coi trọng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác kiểm tra, đánh giá (113)
      • 3.2.7. Xử lý và sử dụng hiệu quả kết quả đánh giá cán bộ, công chức (118)
    • 3.3. Một số kiến nghị cho công tác đánh giá cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay (119)
      • 3.3.1. Kiến nghị đối với các nghiên cứu tiếp theo (119)
      • 3.3.2. Kiến nghị đối với cơ quan nhà nước, các cấp chính quyền (120)
      • 3.3.3. Kiến nghị đối với đơn vị đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức (122)
      • 3.3.4. Kiến nghị đối với cán bộ, công chức (123)
  • KẾT LUẬN (126)

Nội dung

Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Lịch sử hành chính là một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng, giúp rút ra bài học kinh nghiệm từ quá trình cai trị của ông cha ta, từ đó cải thiện việc xây dựng và ban hành chính sách, pháp luật hiện nay Nhiều công trình nghiên cứu đã được thực hiện từ các góc độ khác nhau về đề tài này Bài viết sẽ tổng quan một số nghiên cứu liên quan, chỉ ra những nội dung đã được khai thác và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu để nâng cao hiệu quả quản lý cán bộ, công chức, góp phần vào việc sử dụng đội ngũ này một cách hiệu quả hơn tại Việt Nam.

Một là, nhóm các bộ sử ghi chép lịch sử thời Lê

Phan Huy Chú là tác giả của Lịch triều hiến chương loại chí, được xem như một bách khoa toàn thư về khoa học xã hội của Việt Nam Tài liệu này đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu và phát triển các lĩnh vực khoa học xã hội Lịch triều hiến chương loại chí bao gồm 49 quyển, cung cấp kiến thức phong phú và đa dạng.

Phan Huy Chú tập trung nghiên cứu các sự kiện từ triều Lê trở về trước, đặc biệt là triều Lê, trong khi triều Nguyễn không được nhắc đến Ông đã ghi chép tường tận về tình hình địa lý, lịch sử, tiểu sử vua chúa, quan lại, và các chính sách của triều Lê, góp phần tái hiện chân thực lịch sử nước ta Năm 1977, cuốn "Lê triều quan chế" do Phạm Văn Liệu dịch và chú giải đã ra mắt, cung cấp cái nhìn toàn diện về bộ máy nhà nước và chế độ quan lại dưới triều Hồng Đức, đồng thời nêu rõ quan chế của các triều trước Cuốn sách này được xác định biên soạn vào cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX, tập trung vào quan chế thời trung đại và cung cấp nhiều chi tiết chưa được đề cập trong các tài liệu khác.

Vào năm 1993, NXB Văn hóa Thông tin đã phát hành lần đầu bộ chính sử Đại Việt sử ký toàn thư, một bộ biên niên sử ghi chép từ thời đại truyền thuyết Kinh Dương Vương.

Bộ chính sử Việt Nam xưa nhất còn tồn tại nguyên vẹn, được biên soạn từ năm 2879 trước công nguyên đến năm 1675 dưới triều đại Lê Gia Tông, là sản phẩm của nhiều đời sử quan trong Sử quán triều Hậu Lê Ngô Sĩ Liên, một sử quan dưới thời vua Lê Thánh Tông, đã chỉnh lý và bổ sung từ hai bộ quốc sử trước đó, tạo nên bộ sử mới hoàn thành vào năm 1479, gồm 15 quyển, ghi lại lịch sử Việt Nam từ thời điểm huyền thoại năm 2879 trước công nguyên.

Vào năm 1427, nhà Hậu Lê được thành lập và bộ sử mang tên Đại Việt sử ký toàn thư ra đời Mặc dù hoàn thành, bộ sử này không được phát hành rộng rãi mà tiếp tục được nhiều đời sử quan trong Quốc sử quán sửa đổi và bổ sung Dưới triều đại vua Lê Huyền Tông, chúa Trịnh Tạc đã chỉ đạo Tham tụng Phạm Công Trứ sửa chữa bộ quốc sử của Ngô Sĩ Liên và biên soạn tiếp lịch sử Việt Nam từ năm 1428 đến 1662 Bộ sử của nhóm Phạm Công Trứ, gồm 23 quyển, chưa hoàn thành công việc khắc in Về sau, chúa Trịnh Căn lại chỉ đạo một nhóm văn quan, đứng đầu là Tham tụng Lê Hy, tiếp tục khảo đính và biên soạn lịch sử từ năm 1663 đến 1675 Bộ quốc sử này, mang tên Đại Việt sử ký toàn thư, gồm 25 quyển, đã được khắc in và phát hành thành công vào năm 1697 Bộ sử ghi chép chi tiết về nhân vật và sự kiện lịch sử qua các triều đại, thể hiện sự chính xác và khách quan của Ngô Sĩ Liên Đại Việt sử ký toàn thư không chỉ có giá trị cho ngành sử học mà còn cho các ngành khoa học xã hội khác, trở thành di sản lịch sử quan trọng trong nghiên cứu về lịch sử Việt Nam.

Lê triều thông sử, do Lê Quý Đôn biên soạn, là một tác phẩm quan trọng trong lịch sử Việt Nam, được hoàn thành vào năm 1749 với 30 quyển, nhưng hiện chỉ còn lại 15 quyển Theo GS Dương Quảng Hàm, Lê Quý Đôn là một nhà bác học nổi bật của thời kỳ Lê mạt, với nhiều tác phẩm giá trị về lịch sử, địa lý và văn hóa Việt Nam Bộ sử này được viết theo thể kỷ truyện, với phần Bản kỷ ghi chép theo lối biên niên từ thời vua Lê Thái Tổ đến vua Lê Cung Hoàng, cung cấp cái nhìn tổng quan về các sự kiện chính trị, quân sự và trị quốc dưới triều Lê.

Năm 2011, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh phát hành cuốn "Lịch sử Việt Nam – từ nguồn gốc đến năm 1884" do GS Nguyễn Phan Quang và TS Võ Xuân Đàn biên soạn Cuốn sách tóm tắt lịch sử Việt Nam từ nền văn hóa sơ khai đến trước cuộc xâm lược của Thực dân Pháp, ghi chép cẩn thận về lịch sử nhà Lê, bao gồm bối cảnh lịch sử, phục hồi và phát triển kinh tế, cùng các chế độ quản lý đất nước Với gần 500 trang, cuốn sách cung cấp những sự kiện lịch sử quan trọng, giúp người đọc dễ dàng tiếp cận thông tin.

Hai là, nhóm các công trình nghiên cứu ngày nay về cải cách hành chính và chế độ quan lại, chế độ cán bộ, công chức

Trong cuốn Sử học và hiện thực, Tập II: “10 cuộc cải cách đổi mới trong lịch sử

Trong bài viết "Cải cách hành chính thời Lê Thánh Tông - xây dựng một nhà nước phong kiến thịnh trị" của GS Văn Tạo, xuất bản năm 2000, tác giả đánh giá cuộc cải cách hành chính dưới triều vua Lê Thánh Tông là một trong ba cuộc cải cách hành chính quan trọng nhất trong lịch sử Việt Nam GS Văn Tạo phân tích các nguyên nhân dẫn đến cải cách và những lĩnh vực mà vua Lê Thánh Tông đã thực hiện trong 38 năm trị vì, bao gồm phân cấp quản lý đất đai và xây dựng bộ máy hành chính Tuy nhiên, nội dung cải cách quan chế vẫn chưa được tác giả nghiên cứu sâu.

Một công trình nghiên cứu có tầm cỡ về mặt khoa học phải kể đến là cuốn sách “Lê

Bài viết "Thánh Tông (1442 - 1497): Con người và sự nghiệp" bao gồm 33 báo cáo khoa học, nhiều trong số đó tập trung vào cải cách và đổi mới dưới triều đại vua Lê Thánh Tông Tập hợp này được trình bày tại Hội thảo khoa học kỷ niệm 500 năm ngày mất của ông vào năm 1997, do Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn phối hợp với Trường Đại học Sư phạm, Viện Sử học, Viện Triết học, và Viện nghiên cứu nhà nước và pháp luật tổ chức Các báo cáo đã cung cấp những nhận thức và kiến giải mới về cuộc đời và sự nghiệp của vua Lê Thánh Tông, bao gồm bài viết nổi bật của PGS.TS Nguyễn về chức danh xã trưởng dưới thời ông.

Dưới triều Lê Thánh Tông, các bài viết của TS Nguyễn Hoàng Anh và PGS.TS Nguyễn Đức Nhuệ đã nêu bật những cải cách quan trọng trong hệ thống quan lại địa phương và tổ chức chính quyền Những cải cách này tập trung vào việc nâng cao hiệu quả của bộ máy hành chính, phản ánh sự thay đổi trong quản lý và tổ chức chính quyền địa phương trong giai đoạn này.

Cuốn sách "Những bài học từ hai cuộc cải cách hành chính" của TS Bùi Huy Khiên, xuất bản năm 2011, gồm 3 chương trình bày rõ ràng và chi tiết Tác phẩm nêu bật tính tất yếu của cải cách hành chính trong mọi nhà nước và thời đại, đồng thời đánh giá các cuộc cải cách trong lịch sử Việt Nam để rút ra quy luật chung, thành công và rào cản Cuốn sách khái quát hoàn cảnh lịch sử trước và sau cải cách, tập trung vào cải cách bộ máy và quan chế Qua nghiên cứu hai cuộc cải cách, tác giả đưa ra bài học kinh nghiệm nhằm thúc đẩy cải cách hành chính hiện tại ở Việt Nam.

Tác giả Nguyễn Thị Thu Hòa đã thực hiện nghiên cứu khoa học cấp Khoa tại Khoa Hành chính học – Học viện Hành chính vào năm 2010 với đề tài "Những bài học quản lý hành chính nhà nước Việt Nam trong lịch sử" Bài viết của Nguyễn Thanh Lương mang tên “Từ cuộc cải cách hành chính của Lê Thánh Tông suy nghĩ về cải cách hành chính nước ta hiện nay” được đăng trên Tạp chí Giáo dục lý luận số 5 - 2008 Ngoài ra, Nguyễn Hoài Văn cũng có bài viết “Kinh nghiệm sử dụng người tài, xây dựng đội ngũ quan lại thời Lê Thánh Tông” đăng trên Tạp chí Lý luận Chính trị.

Trong các bài viết từ năm 2013, các tác giả đã nhấn mạnh về lệ khảo thí và khảo khóa dưới triều Lê Thánh Tông, được xem là quy định bắt buộc để kiểm tra và đánh giá đội ngũ quan lại Điều này tạo cơ sở cho việc thăng, giáng và thưởng phạt đối với các quan chức trong triều chính.

Ba là, nhóm các công trình nghiên cứu trực tiếp về lệ khảo thí, khảo khóa dưới thời Lê sơ

Nhiều bài viết trên tạp chí nghiên cứu đã phân tích cải cách hành chính, đặc biệt là chế độ kiểm tra, giám sát quan lại dưới triều Lê Thánh Tông Một trong số đó là bài "Phép khảo khóa của nhà nước phong kiến Đại Việt" của Bùi Quý Lộ, đăng trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 12 - 1995, giới thiệu khái lược về lệ khảo khóa của các triều đại như Lê sơ và nhà Nguyễn, cùng ý nghĩa của nó trong việc xây dựng đội ngũ quan lại Bài viết "Khảo thí, khảo khóa thời Lê và việc thực hiện đánh giá năng lực, đạo đức cán bộ, công chức ngày nay" của ThS Nguyễn Thị Thu cũng đề cập đến vấn đề này.

Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn áp dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin để nghiên cứu và phản ánh khách quan các sự kiện lịch sử, đồng thời xem xét sự vận động của chúng trong mối liên hệ chặt chẽ với nhau Mỗi giai đoạn lịch sử bị ảnh hưởng bởi các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội khác nhau, do đó, nghiên cứu về lệ khảo thí, khảo khóa dưới thời vua Lê Thánh Tông được đặt trong bối cảnh lịch sử để phân tích Ngoài ra, luận văn cũng sử dụng phương pháp logic để giải thích mối quan hệ biện chứng giữa các quy định pháp luật và việc thực hiện lệ khảo thí, khảo khóa, cũng như hiệu quả của việc áp dụng thông lệ trong quản lý đội ngũ quan lại triều Lê Thánh Tông.

 Phương pháp nghiên cứu cụ thể:

Phương pháp nghiên cứu tài liệu là yếu tố then chốt trong việc nghiên cứu lịch sử hành chính, vì nó giúp thu thập và phân tích các tài liệu lịch sử quan trọng Luận văn không chỉ dừng lại ở việc mô tả lịch sử mà còn kết hợp với phương pháp sử liệu học, nhằm tái tạo lại lịch sử một cách chân thực và chính xác nhất.

Luận văn sử dụng phương pháp hệ thống, thống kê và logic để phân tích số liệu về chế độ sử dụng quan lại Các số liệu này được tổng hợp từ tài liệu sơ cấp và thứ cấp, nhằm đánh giá vấn đề nghiên cứu trong bối cảnh lịch sử và theo quy luật phát triển khách quan.

Luận văn áp dụng phương pháp phân tích và tổng hợp để làm rõ tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài và ý nghĩa của tài liệu về lệ khảo thí, khảo khóa trong bối cảnh hiện nay Đồng thời, luận văn cũng phân tích chế độ quan lại dưới triều đại vua Lê Thánh Tông, từ đó nêu bật những thành công và hạn chế trong việc thực hiện lệ khảo thí, khảo khóa, nhằm so sánh và tham chiếu lịch sử, cũng như rút ra bài học kinh nghiệm quý báu cho việc đánh giá cán bộ, công chức hiện nay.

Phương pháp tổng hợp được áp dụng để tóm tắt nội dung, đánh giá tổng quan từng phần và chương, cũng như đưa ra kết luận cho toàn bộ Luận văn.

Học viên đã thực hiện khảo sát thực tế và xử lý số liệu dựa trên mục đích, thời gian và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài Cụ thể, họ đã phát phiếu điều tra để khảo sát thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức tại các cơ quan nhà nước, nhằm tìm hiểu về tình hình công tác đánh giá cán bộ, công chức hiện nay.

Địa bàn khảo sát được lựa chọn dựa trên tính dễ tiếp cận và đặc điểm của các đối tượng, nhằm thu thập ý kiến từ đội ngũ cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước ở mọi cấp.

Các cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương bao gồm: Văn phòng Chính phủ, Bộ Nội vụ, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch, cùng nhiều bộ ngành khác.

Các cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh gồm có: Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn,

Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Lạng Sơn, Sở Nội vụ tỉnh Lạng Sơn, Sở Giao thông Vận tải tỉnh Thái Nguyên và Sở Tư pháp tỉnh Hòa Bình là những cơ quan quan trọng trong việc quản lý và phát triển các lĩnh vực liên quan đến lao động, nội vụ, giao thông và tư pháp tại các tỉnh này.

Cơ quan hành chính nhà nước cấp huyện tại tỉnh Lạng Sơn bao gồm Ủy ban nhân dân huyện Hữu Lũng, Ủy ban nhân dân huyện Chi Lăng, và các phòng ban như Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Lạng Giang, Phòng Nội vụ huyện Hữu Lũng, Phòng Văn hóa – Thể thao và du lịch Thành phố Lạng Sơn, cùng với Phòng Tài Chính – Kế hoạch Thành phố Lạng Sơn.

Cơ quan hành chính nhà nước cấp xã tại Việt Nam bao gồm Ủy ban nhân dân xã Sơn Hà thuộc huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn; Ủy ban nhân dân xã Mai Pha tại Thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn; và Ủy ban nhân dân xã Quang Thịnh thuộc huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

Đối tượng phát phiếu khảo sát bao gồm đội ngũ cán bộ, công chức làm việc tại các cơ quan hành chính nhà nước trong khu vực khảo sát, với các vị trí như chuyên viên cao cấp, chuyên viên chính, chuyên viên, cán sự và nhân viên đang công tác tại cơ quan thực hiện điều tra.

Thời gian thực hiện điều tra khảo sát ý kiến cán bộ, công chức diễn ra từ tháng 01 năm 2019 đến tháng 02 năm 2020 Trong giai đoạn này, các cơ quan nhà nước đã hoàn thiện việc đánh giá cán bộ, công chức hàng năm, giúp việc tiếp cận đối tượng khảo sát đạt hiệu quả cao hơn.

Theo thống kê của Bộ Nội vụ, tổng biên chế công chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước năm 2019 là 259.598 biên chế, không bao gồm biên chế của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, và các đơn vị sự nghiệp công lập Trong đó, 105.189 biên chế thuộc các cơ quan, tổ chức hành chính của Bộ và cơ quan ngang Bộ, 151.906 biên chế thuộc cơ quan của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, 1.068 biên chế tại các cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài, 686 biên chế cho các Hội có tính chất đặc thù, và 749 biên chế là công chức dự phòng.

Theo Phụ lục 3 về Thống kê số lượng biên chế cán bộ, công chức, tổng số cán bộ, công chức trong các đơn vị khảo sát là 29.387 biên chế, chiếm 11,32% tổng biên chế cả nước Trong số 400 phiếu khảo sát phát ra, có 387 phiếu thu về, trong đó 382 phiếu hợp lệ và 5 phiếu không hợp lệ Lượng phiếu khảo sát tương đương với 1,35% tổng số cán bộ, công chức hành chính hiện đang làm việc trong các đơn vị này.

Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của nghiên cứu

Mọi nhà nước, trong mọi thời đại, đều cần thiết phải thúc đẩy sự phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội, trong đó việc xây dựng đội ngũ quan lại với hệ thống chính sách hợp lý là nhiệm vụ thiết yếu Điều này lý giải vì sao các vị vua thời xưa đã dành sự quan tâm lớn đến việc thể chế hóa quy định nhà nước và đưa hoạt động của nhà nước vào khuôn khổ pháp luật.

Đề tài này đánh giá tác động và hiệu quả của việc thực thi chính sách sử dụng quan lại, đặc biệt là trong lĩnh vực lệ khảo thí và khảo khóa Qua đó, nó chỉ ra ảnh hưởng đến đội ngũ quan lại và toàn bộ nền hành chính nhà nước Để một quốc gia phát triển, cần có đội ngũ quan lại có đức, có tài, cùng với chế độ chính sách rõ ràng, công khai và minh bạch dành cho họ.

Nghiên cứu chỉ ra sự thành công của cải cách hành chính thời Lê sơ, đặc biệt là chính sách đối với chế độ quan lại và lệ khảo thí, khảo khóa dưới triều vua Lê Thánh Tông Những bài học kinh nghiệm từ giai đoạn này có thể được áp dụng để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong quá trình cải cách hành chính hiện nay.

Nghiên cứu này đóng góp vào việc làm phong phú kiến thức về đánh giá đội ngũ quan lại trong lịch sử hành chính nhà nước Việt Nam.

Để nâng cao hiệu quả trong quá trình ban hành chính sách và công tác quản lý, đánh giá cán bộ, công chức ở nước ta, cần rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu Những kinh nghiệm này sẽ giúp cải thiện quy trình làm việc, tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm trong quản lý, đồng thời đảm bảo rằng các chính sách được thực hiện một cách hiệu quả và phù hợp với nhu cầu thực tiễn.

Đề tài nghiên cứu đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng, ban hành và thực thi các chính sách đánh giá cán bộ, công chức Nó góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, quản lý hiệu quả và lựa chọn đúng người tài, từ đó sắp xếp đúng người vào đúng việc.

Kết cấu của Luận văn

Luận văn “Lệ khảo thí, khảo khóa dưới thời Lê Thánh Tông và bài học kinh nghiệm cho đánh giá cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay” được tổ chức thành 3 chương, nhằm phân tích và rút ra những bài học kinh nghiệm từ hệ thống khảo thí lịch sử để áp dụng vào việc đánh giá cán bộ, công chức hiện tại tại Việt Nam.

Chương 1: Những vấn đề chung về chế độ quan lại và lệ khảo thí, khảo khóa thời phong kiến ở Việt Nam

Chương 2: Lệ khảo thí, khảo khóa dưới thời vua Lê Thánh Tông (1460 – 1497) Chương 3: Những bài học kinh nghiệm cho công tác đánh giá cán bộ, công chức ở

Việt Nam hiện nay luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHẾ ĐỘ QUAN LẠI VÀ LỆ KHẢO THÍ, KHẢO KHÓA THỜI PHONG KIẾN Ở VIỆT NAM

Các khái niệm liên quan

Khái niệm “quan lại” ở Việt Nam và trên thế giới hiện nay có nhiều cách giải thích khác nhau Từ “quan lại” có nguồn gốc từ “mandarin” trong tiếng Pháp, được vay mượn từ “mandarim” trong tiếng Bồ Đào Nha từ năm 1581, chỉ các viên chức đứng đầu các cấp hành chính ở Mã Lai, Trung Quốc và Việt Nam từ năm 1514 Theo Từ điển lịch sử của ngôn ngữ Pháp, “mandarim” có nghĩa là “cố vấn Nhà nước”, xuất phát từ chữ Phạn “mantrin” qua tiếng Mã Lai “mantari” Từ này được sử dụng để chỉ “viên chức cao cấp” ở châu Á từ năm 1604 Chỉ những người làm quan mới được gọi là “quan lại”, không phải tất cả những người làm việc trong bộ máy nhà nước phong kiến Ở Việt Nam, “quan” là những người làm việc trong bộ máy nhà nước phong kiến, thực dân từ cấp trung ương đến địa phương, được tuyển bổ chủ yếu qua khoa cử “Lại” là viên chức làm việc trong các cơ quan ở triều đình hoặc các cấp địa phương, có nhiệm vụ thảo giấy tờ và có thể chuyển thành quan nếu có công lao và thành tích.

Theo Từ điển Tiếng Việt, "quan lại" là khái niệm kết hợp từ hai thuật ngữ "quan" và "lại" "Quan" chỉ những viên chức có quyền lực trong bộ máy nhà nước phong kiến và thực dân, trong khi "lại" là những viên chức sơ cấp chuyên làm việc văn phòng trong bộ máy nhà nước phong kiến.

Theo Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam, "quan lại" chỉ những người đảm nhiệm các chức vụ từ cấp huyện trở lên trong bộ máy nhà nước phong kiến và thuộc địa, trong đó những người điều hành được gọi là quan, còn những người thừa hành được gọi là lại.

Theo Từ điển Hán Việt, “quan lại” đề cập đến những người cai trị trong nhà nước phong kiến, với sự phân biệt rõ ràng trong bộ máy hành chính giữa “quan” (viên chức có trách nhiệm) và “lại” (người thừa hành).

Trong nhiều tài liệu, "quan" được hiểu là những người giữ vị trí lãnh đạo, điều hành công việc và quản lý dân, trong khi "lại" là những người thực hiện nhiệm vụ dưới sự chỉ đạo của quan Quan được vua bổ nhiệm và đứng đầu trong các cơ quan nhà nước, còn lại là viên chức thừa hành, do triều đình hoặc quan lựa chọn, có vai trò ổn định trong bộ máy hành chính Việc phân biệt rõ ràng giữa "quan" và "lại" là rất quan trọng, giúp thiết lập cơ chế tổ chức, xác định quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm của từng đối tượng trong bộ máy nhà nước phong kiến.

Khi nói về “quan lại” trong nhà nước phong kiến, ba yếu tố chính thường được nhắc đến là chức quan, phẩm hàm và tước vị Chức quan chỉ nhiệm vụ cụ thể của người làm quan, ví dụ như Thượng thư các bộ hay Đô ngự sử Tước vị là danh hiệu khen thưởng của triều đình, thường tương đương với chức quan nhưng có thể có phẩm tước cao mà chức lại thấp Phẩm hàm thể hiện cấp bậc của quan lại, được phân chia thành chín bậc từ nhất phẩm đến cửu phẩm, mỗi bậc lại có hai trật: chánh và tòng, tổng cộng là 18 trật Hàm Tản quan là danh hiệu vinh dự cho các quan, không đi kèm với nhiệm vụ hay thực quyền, và cũng có sự phân biệt cao thấp giữa các hàm như “Đại Phu” và “Lang”.

Thượng tướng quân là cấp bậc cao hơn so với Đại tướng quân, và huân hàm là danh hiệu vinh dự được phong tặng dựa trên công trạng Danh hiệu này chỉ được trao cho những công thần như Thượng Trụ Quốc, Chính Trị Thượng Khanh, và Thượng Hộ Quân.

Khái niệm “quan lại” đề cập đến những cá nhân làm việc trong bộ máy nhà nước quân chủ phong kiến Trong đó, “quan” là những người có phẩm hàm, tước vị và chức vụ, được tuyển chọn qua nhiều phương pháp như khoa cử, tiến cử và tập ấm Còn “lại” là những người được tuyển chọn để thực hiện các công việc cụ thể tại các nha môn, từ triều đình đến cấp huyện, nhằm hỗ trợ cho các quan.

1.1.2 Khái niệm chế độ quan lại

Chế độ quan lại, hay còn gọi là quan chế, là yếu tố quan trọng trong các triều đại quân chủ phong kiến, giúp xây dựng bộ máy nhà nước và thực hiện chính sách của vua và triều đình Theo Sổ tay từ ngữ lịch sử, quan chế được định nghĩa là các quy định về tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn của hệ thống cơ quan và quan chức từ trung ương đến địa phương trong triều đình phong kiến.

Quan chế là hệ thống định chế pháp luật được áp dụng trong thời phong kiến, theo Bách khoa toàn thư Wikipedia Từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông định nghĩa ngắn gọn rằng quan chế là chế độ tổ chức quan lại trong thời kỳ này.

Chế độ quan lại không chỉ là các quy định pháp luật riêng lẻ mà còn bao gồm việc xây dựng và vận hành theo những quy định chính trị, pháp luật và đạo đức nhất định Nó thể hiện qua các nguyên tắc về tuyển chọn, sử dụng, đào tạo, quản lý và kiểm tra quan lại, cùng với chế độ trách nhiệm chính trị và đạo đức, đãi ngộ, khen thưởng và xử phạt Quy trình này từ tổ chức đến thực hiện các quy định nhằm xây dựng đội ngũ quan lại cho bộ máy hành chính nhà nước phản ánh trình độ tổ chức và tầm nhìn của chế độ Khảo thí, khảo khóa là hoạt động kiểm tra, đánh giá việc thực hiện công vụ của đội ngũ quan lại trong triều.

1.1.3 Lệ khảo thí, khảo khóa

Trong Từ điển Tiếng Việt, "Lệ" được định nghĩa là những quy định lâu đời đã trở thành thói quen, mà mọi người thường tuân theo Nó cũng ám chỉ những hành động được lặp đi lặp lại nhiều lần, tự nhiên hình thành thói quen trong cuộc sống hàng ngày.

Theo cuốn Từ điển từ ngữ lịch sử phổ thông, “Lệ” được hiểu là những quy định tập thể bắt buộc mọi người thực hiện Trong nhà nước phong kiến, vua chúa ban hành quy định dưới dạng lệnh, khẩu lệnh, chiếu chỉ, dụ, lệ,… có tính chất tương tự như hệ thống pháp luật hiện nay Trước khi pháp luật được ban hành thành văn bản, triều đình phong kiến đã sử dụng các quy định này để đảm bảo tính bắt buộc và thống nhất trong việc thực hiện quy định chung của nhà nước Do đó, “Lệ” dưới thời phong kiến có thể được hiểu tương tự như “pháp luật” ngày nay.

Theo cuốn Sổ tay từ ngữ lịch sử – Quan chế, “Khảo thí” là một hình thức thi tuyển không theo định kỳ, không nhằm cấp học vị, mà nhằm mục đích tuyển chọn nhân tài làm quan hoặc đánh giá trình độ của quan lại Trong khi đó, “khảo khóa” là kỳ thi nhằm kiểm tra đạo đức, tư cách, trình độ và năng lực của đội ngũ quan lại trong triều.

Khảo khóa, theo Từ điển bách khoa Việt Nam, là hình thức sát hạch định kỳ các quan lại về năng lực và phẩm chất trong các vương triều phong kiến Việt Nam Thời hạn khảo khóa thay đổi theo từng triều đại, thường từ 1 đến 15 năm, với thời Lê – Trịnh phổ biến là ba năm, chia thành hai giai đoạn: sơ khảo và thông khảo Bộ Lại là cơ quan quyết định kết quả khảo khóa, với tiêu chuẩn xét duyệt dựa vào việc hoàn thành trách nhiệm, năng lực cai trị, tín nhiệm của dân chúng và phẩm chất đạo đức Thời Lý, các quan chức được xếp thành các hạng dựa trên văn học, nết tốt và sự siêng năng.

Sơ lược về chế độ quan lại và lệ khảo thí, khảo khóa thời phong kiến ở Việt Nam 21 1 Sơ lược về chế độ quan lại

1.2.1 Sơ lược về chế độ quan lại

1.2.1.1 Chế độ tuyển chọn quan lại

Trong quá trình tuyển chọn quan lại, các triều đại phong kiến Việt Nam đã áp dụng nhiều phương pháp khác nhau để đảm bảo tính công minh và chính trực, nhằm không bỏ sót nhân tài và tránh nhầm lẫn Mỗi triều đại có cách thức lựa chọn riêng, từ chế độ tập ấm cổ xưa đến chế độ khoa cử được thiết lập dưới triều Lý Ngoài ra, các triều Trần và Lê còn thực hiện chế độ tiến cử và bảo cử, yêu cầu các quan lớn phải đề cử người có tài đức hoặc danh vọng để triều đình xem xét bổ nhiệm.

 Chế độ nhiệm tử (tập ấm)

Nhiệm tử, hay còn gọi là tập ấm, là hình thức tuyển chọn quan lại xuất hiện sớm nhất ở nước ta, phản ánh tập quán chính trị "con vua thì lại làm vua" Tập ấm được xem là phúc đức và ân huệ từ cha ông, trong đó vua gia ân cho con cháu của các quan lại có công tích Sau khi qua đời, con cháu sẽ được cấp bằng ấm sinh, ấm thụ, ấm tôn dựa trên chức tước và phẩm trật của tổ tiên để đào tạo thành quan, thường có thời hạn nhất định.

Theo quy định, con cháu được bổ nhiệm vào chức vụ nhờ ân trạch của tổ tiên Nếu không có con trai, họ có thể nhận nuôi một người thân trong họ để hưởng tập ấm Ví dụ, vào năm 1460, triều Lê sơ đã ra sắc chỉ cho phép các quan nuôi con người thân thích nếu không có con trai, chỉ được một người Năm 1478, quy định bổ dụng con cháu quan viên được xác định, trong đó cháu trưởng các tước công, hầu, bá, tử, nam và con trưởng quan văn võ nhị, tam phẩm sẽ được bổ làm tản quan từ phẩm bậc bốn đến tám Những người có thành tích học tập tốt sẽ được tuyển vào Sùng văn quán, trong khi Lại bộ sẽ chọn bổ nhiệm vào các chức vụ điển nghĩa và tư huấn.

Các triều Lý, Trần có lệ thừa ấm, hễ con các quan thì lại được bổ làm quan Ở triều

Lê vẫn có lệ thừa ấm, với khoa nhiệm tử nhằm bổ dụng con cái các quan Triều Nguyễn cũng áp dụng lệ tập ấm, trong đó quan chính nhất phẩm được tập ấm theo hàng tùng lục, gọi là ấm thọ, còn bậc thấp nhất là các quan tùng ngũ được một người con tập ấm gọi là ấm sinh Tuy nhiên, phép thế tập ở Việt Nam không giống như ở các nước châu Âu, vì lệ tập ấm chỉ tồn tại trong một hai đời Thực tế cho thấy, chế độ tập ấm thời phong kiến ở Việt Nam chỉ mang tính chất như một phần thưởng để động viên quan lại, chứ không phải là nguồn chính để tuyển dụng vào bộ máy nhà nước.

 Chế độ khoa cử (thi cử)

Chế độ khoa cử là con đường chủ yếu và rộng rãi nhất vào quan trường thời phong kiến, bắt đầu từ triều Lý và kéo dài đến khi chế độ phong kiến suy vong Ban đầu, việc tổ chức thi chưa ổn định, với khoảng 12 năm mới có một kỳ thi trong thời nhà Lý Đến năm Kỷ Hợi (1239) dưới triều Trần Thái Tông, quy định thi được ấn định 7 năm một lần, và sau đó, thời vua Thái Tông nhà Lê, tần suất thi được rút ngắn còn 3 năm một lần Khoa cử đã được chấp nhận và thực hiện liên tục từ thời kỳ Hậu Lê cho đến cuối thời nhà Nguyễn.

Thời phong kiến, các khoa thi được chia thành ba cấp: thi Hương, thi Hội và thi Đình Thi Hương diễn ra tại các địa phương, trong khi thi Hội tổ chức tại kinh đô Những thí sinh đỗ thi Hội sẽ tham gia thi Đình, nơi họ có thể phải làm bài thi do vua trực tiếp ra đề Mục đích chung của các khoa thi là lựa chọn nhân tài phục vụ cho sự phát triển của quốc gia, mặc dù cách thức tổ chức và nội dung thi có sự khác biệt giữa các vương triều Nội dung các đề thi thường xoay quanh kinh sách Nho giáo, thơ phú và quan điểm về đạo trị nước Những người đạt thành tích cao trong thi Hội được gọi là Tiến sĩ và có cơ hội đảm nhận các chức vụ cao cấp trong triều đình.

Chế độ khoa cử bắt đầu từ năm 1075 dưới triều Lý Nhân Tông, chủ yếu là chế khoa với các kỳ thi mở bất thường theo chiếu chỉ của vua, chỉ có 6 kỳ thi được tổ chức Đến triều Lê, khoa cử chuyển sang thường khoa, nhằm tuyển chọn quan lại có đức có tài Triều Lê sơ nhấn mạnh tầm quan trọng của việc lựa chọn kẻ sĩ qua thi cử, với mục tiêu xây dựng đội ngũ nhân tài cho đất nước Nhà Lê sơ đã ban hành các thể lệ và nguyên tắc thi cử, chính thức hóa chế độ khoa cử từ năm Thiệu Bình thứ 5 (1438).

Trong suốt 100 năm triều Lê sơ, với nguyên tắc “hữu giáo vô loài”, đội ngũ quan lại đã được xây dựng bằng khoa bảng nổi trội hơn các giai đoạn phong kiến trước và sau Mỗi 3 năm, triều đình tổ chức thi lớn, quy định này đã tạo ra 31 khoa thi với 1007 tiến sĩ, trong tổng số 182 khoa thi và 2898 tiến sĩ của toàn bộ thời kỳ lịch sử phong kiến.

Khoa cử tiếp tục được tổ chức trong các triều đại sau, với kỳ thi cuối cùng diễn ra ở Bắc Kỳ vào năm 1915 và Trung Kỳ vào năm 1918 dưới triều Khải Định của nhà Nguyễn.

Trong suốt 1000 năm chế độ khoa cử phong kiến Việt Nam, đã có hàng ngàn Tiến sĩ và 55 Trạng nguyên được ghi danh, cho thấy khoa cử là con đường rộng mở cho các sĩ phu tham gia vào quan trường và cống hiến cho xã hội.

 Chế độ tiến cử - bảo cử

Chế độ tiến cử và bảo cử có nhiều điểm tương đồng, nhưng khác nhau về hình thức Tiến cử là khi một cá nhân tự nhận thấy mình có đủ tài năng và đức độ để đảm nhận công việc, từ đó tự tiến cử bản thân Trong khi đó, bảo cử yêu cầu một người có danh vọng, đang giữ chức vụ trong triều đình giới thiệu và đảm bảo về tài đức của người được tiến cử Triều đình sẽ lựa chọn những người có tài đức vượt trội mà không chỉ dựa vào thân phận.

Theo quy định này, những người có tài năng và đức độ sẽ được nhà vua trọng dụng mà không cần trải qua kỳ thi nào Điều này nhằm khắc phục tình trạng thiếu nhân lực trong bộ máy nhà nước, đặc biệt trong giai đoạn mới thành lập triều đại hoặc trong bối cảnh xã hội biến động Người được tiến cử phải có uy tín, trách nhiệm, và thực sự có năng lực, kinh nghiệm để đáp ứng yêu cầu công việc.

Trong Đại Việt sử ký toàn thư, có ghi nhận rằng việc tiến cử người hiền tài và loại bỏ kẻ bất tài là nhiệm vụ quan trọng của chính trị Cần phải sử dụng người tài mà không do dự, đồng thời loại bỏ kẻ gian một cách kiên quyết Từ nay, các cơ quan nhà nước phải xem xét và đề bạt những người liêm khiết, có tài năng và trung thực, trong khi những kẻ tham nhũng, không đủ năng lực sẽ bị xử lý nghiêm khắc Ai vi phạm quy định này sẽ phải chịu hình phạt nặng nề.

Năm 1429, sau khi phục hồi nền độc lập cho đất nước, vua Lê Thái Tổ đã ra chiếu chỉ yêu cầu các đại thần từ tam phẩm trở lên có trách nhiệm tiến cử người hiền tài.

Trong thời kỳ Lê Thánh Tông, việc tiến cử và bảo cử được quản lý nghiêm ngặt theo luật pháp Cụ thể, Điều 174 Bộ luật Hồng Đức quy định rằng người bảo cử phải lập hồ sơ chi tiết về người được bảo cử và trình lên cơ quan có thẩm quyền Nếu cử được người có tài năng trung bình, sẽ được thăng tước hai bậc; nếu cử được người tài đức vẹn toàn, sẽ nhận được phần thưởng xứng đáng.

Tính kế thừa có chọn lọc của lịch sử hành chính

Khái niệm “kế thừa” được áp dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, bao gồm cả khoa học hành chính Theo Từ điển Tiếng Việt, “kế thừa” có nghĩa là thừa hưởng, gìn giữ và phát huy những giá trị tinh thần Trong thực tế, “kế thừa” thường đi đôi với “phát triển”, tạo thành cặp khái niệm bổ sung và hỗ trợ lẫn nhau.

Trong khoa học hành chính, kế thừa là việc bảo tồn và duy trì những đặc điểm ưu việt của chế độ và chính sách cũ trong chế độ mới Đây là mối liên hệ khách quan giữa cái mới và cái cũ, thể hiện sự phát triển của mọi ngành khoa học, bao gồm cả khoa học hành chính Phát triển không chỉ là bảo tồn mà còn là mở rộng, bổ sung và hoàn thiện những đặc tính vốn có Do đó, để phát triển lịch sử hành chính, cần kế thừa những đặc điểm ưu việt của chế độ cũ, từ đó nâng cao trình độ và đạt đến sự hoàn thiện tối ưu.

Trong lịch sử nhận thức khoa học, lý thuyết khoa học phát triển qua nhiều hình thức khác nhau, bao gồm việc bổ sung, hoàn thiện hoặc mở rộng các lý thuyết cũ, và thậm chí là sự kết hợp giữa các lý thuyết đối lập Tương tự, trong lịch sử hành chính, mỗi chế độ và chính sách mới được ban hành bởi các triều đại đều dựa trên việc cải tiến hoặc khắc phục những thiếu sót của các chế độ trước đó, nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Tính kế thừa trong lịch sử đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng và phát triển đất nước qua các giai đoạn khác nhau Mỗi triều đại mới không loại bỏ hoàn toàn chế độ cũ mà kế thừa những mặt tích cực còn phù hợp Các triều đại mới bổ sung và hoàn thiện chế độ, chính sách để phù hợp với điều kiện lịch sử đương thời, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển quốc gia Tư tưởng xây dựng nhà nước pháp quyền đã xuất hiện từ thời cổ đại và được nhiều quốc gia kế thừa, phát triển Nhiều nhà tư tưởng cổ đại đã mong muốn xây dựng một nhà nước pháp quyền lý tưởng, nơi con người được sống trong hòa bình dưới sự quan tâm của nhà nước Trong thời phong kiến, các quốc gia vẫn cố gắng xây dựng nhà nước pháp quyền thông qua quan điểm về pháp luật và đạo đức Đến thời kỳ cách mạng dân chủ tư sản, những tư tưởng này được áp dụng ở nhiều nước tư sản Hiện nay, nhiều quốc gia đang theo đuổi việc xây dựng nhà nước pháp quyền, trong đó Việt Nam hướng tới xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thượng tôn pháp luật và đảm bảo quyền con người trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội.

Trong lịch sử phong kiến Việt Nam, mặc dù yếu tố nhà nước pháp quyền chưa rõ nét như ở các quốc gia khác, nhưng quan điểm xây dựng nhà nước pháp quyền đã hình thành và phát triển qua thời gian Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn nhấn mạnh tư tưởng "khoan dân", coi trọng nhân dân để xây dựng xã hội thịnh trị Vua Lê Thánh Tông, với lập trường yêu nước, đã kết hợp lễ trị và pháp trị, chú trọng đến đời sống vật chất của nhân dân và xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đặc biệt là Bộ luật Hồng Đức Tư tưởng xây dựng nhà nước pháp quyền đã được phát triển cao độ và trở thành sản phẩm của xã hội văn minh Sau thời Lê Thánh Tông, các triều đại tiếp tục học hỏi và phát triển hệ thống pháp luật, tạo hành lang pháp lý thống nhất Những chế độ, chính sách hợp lý sẽ được kế thừa và phát triển, trong khi những chính sách không hiệu quả sẽ bị sửa đổi hoặc loại bỏ, nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước Mỗi giai đoạn, mỗi nhà nước đều tiếp thu kinh nghiệm để đưa đất nước phát triển bền vững.

1.3.2 Học hỏi và kế thừa có chọn lọc chế độ quan lại trong lịch sử

1.3.2.1 Sự kế thừa chế độ quan lại của các triều đại phong kiến Việt Nam

Mặc dù trải qua hơn 1000 năm Bắc thuộc dưới sự thống trị của thực dân phương Bắc, nhân dân ta vẫn giữ vững tinh thần độc lập Ngay khi giành lại một phần lãnh thổ, triều đình đã thiết lập các chế độ chính trị và quan lại phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội, tạo niềm tin cho dân chúng về một đất nước và chính quyền mới Qua nhiều cuộc đấu tranh cải cách, chính sách quan lại dưới sự cai quản của các dòng tộc ngày càng phát triển.

Khi Lý Công Uẩn lên ngôi, ông đã thay thế triều đại Tiền Lê bằng một triều đại nhân đức và khoan từ, xây dựng lại hệ thống hành chính từ trung ương đến địa phương Ông chú trọng đến việc thành lập các Đài để giám sát đạo đức của Vua và quan lại Mặc dù bộ máy nhà nước đơn giản, nhưng đã được tổ chức quy củ hơn Chính sách tuyển chọn quan lại cũng được cải thiện, với việc xây dựng Văn Miếu vào năm 1070 để thờ Khổng Tử và thành lập Quốc Tử Giám vào năm 1076, cùng với kỳ thi minh kinh bác học đầu tiên Tuy nhiên, chế độ đãi ngộ quan lại vẫn còn sơ sài cho đến năm 1162, khi kỳ khảo công đầu tiên được thực hiện, đánh giá chất lượng đội ngũ quan văn và quan võ, thể hiện sự chú trọng đến năng lực của quan lại trong triều.

Thời Trần, nhà nước phong kiến quý tộc được xây dựng theo hướng quan liêu, với bộ máy nhà nước phân chia theo thứ bậc và có sự phân công nhiệm vụ cụ thể Chính sách quan lại không có nhiều điểm nhấn so với các triều đại trước, chủ yếu dựa vào việc lựa chọn từ con cái của quan lại và quý tộc, với thi cử diễn ra 7 năm một lần nhưng hạn chế đối tượng dự thi Các chức vụ cao cấp chủ yếu nằm trong tay quý tộc, trong khi việc ban cấp Thái ấp điền trang là điểm mạnh của triều Trần Chế độ kiêm chức và khảo công cũng diễn ra, nhưng khảo công chỉ mang tính hình thức do thời gian thực hiện dài (15 năm một lần), phản ánh sự chú trọng ít đến việc kiểm tra đội ngũ quan lại, chủ yếu là hoàng thân quốc thích và dòng dõi quý tộc.

Thời Lê sơ, dưới triều đại Lê Thánh Tông, việc xây dựng và ban hành chính sách nhà nước đã có nhiều thay đổi quan trọng, với việc thiết lập một nhà nước quân chủ chuyên chế và đề cao quyền lực của nhà vua Ông đã thực hiện các chính sách kinh tế, văn hóa, xã hội phù hợp với nhu cầu của người dân, đồng thời cải cách hành chính hiệu quả bằng cách tổ chức lại bộ máy nhà nước, phân công rõ ràng quyền hạn và trách nhiệm của từng cơ quan Lê Thánh Tông cũng chú trọng đến việc tuyển chọn quan lại có thực tài và trung thực thông qua khoa cử, đồng thời thường xuyên đánh giá trình độ và phẩm chất của đội ngũ này Đặc biệt, ông đã quy định lệ khảo thí, khảo khóa thành một quy định bắt buộc, với thời gian thực hiện là 3 năm, nhằm đảm bảo việc kiểm tra và đánh giá đội ngũ quan lại trở thành một phần thiết yếu trong quản lý nhà nước.

Sau khi thời Lê sơ kết thúc, nhà Mạc và triều Lê Trung Hưng tập trung vào việc củng cố quân đội và bộ máy nhà nước, duy trì các chính sách quản lý tương tự như thời Lê sơ Cả hai triều đại đều thực hiện chính sách tuyển chọn quan lại qua khoa cử, tổ chức kỳ thi ba năm một lần, từ đó lựa chọn được đội ngũ quan lại chất lượng Tuy nhiên, nhà Mạc với chính sách sử dụng quan lại cởi mở trong thời kỳ loạn lạc đã dẫn đến tình trạng tham nhũng trong đội ngũ này.

Thời chúa Trịnh, chế độ khảo hạch được chú trọng để kiểm tra năng lực quan lại, nhằm loại bỏ những người không đủ khả năng Tuy nhiên, các triều đại sau đó lại chỉ chú ý đến số lượng, dẫn đến sự giảm sút về kỹ năng và kiến thức của đội ngũ quan lại Đến thời Nguyễn, việc tuyển chọn và sử dụng quan lại được cải thiện với Bộ luật Gia Long, ban hành các chính sách nghiêm ngặt và hiệu quả hơn Chính sách đào tạo, tuyển dụng và bổ nhiệm quan lại được xây dựng quy củ, cụ thể và chặt chẽ, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ này.

Chế độ quan lại trong các triều đại phong kiến Việt Nam luôn có sự kế thừa và học hỏi từ các triều đại trước Sự tiếp nhận và phát triển này phụ thuộc vào điều kiện và hoàn cảnh của từng vương triều.

1.3.2.2 Học hỏi kinh nghiệm chế độ quan lại của các triều đại phong kiến Trung Quốc

Trong quá trình xây dựng và cách tân đất nước, nhiều triều đại phong kiến Việt Nam đã học hỏi kinh nghiệm quản lý từ các quốc gia khác Tuy nhiên, sau 1000 năm đô hộ của thực dân phương Bắc, nền văn hóa – xã hội Việt Nam đã chọn lọc các chế độ và chính sách phù hợp với nhu cầu phát triển của đất nước Trung Quốc, với bề dày lịch sử phong kiến, đã cung cấp nhiều kinh nghiệm quý báu trong quản lý và sử dụng quan lại.

Trong hơn 2000 năm lịch sử phong kiến, từ thời Tần đến thời Thanh, chế độ quan lại Trung Quốc đã trải qua nhiều biến đổi qua các triều đại Khác với Đại Việt, nơi có nhiều năm bị đô hộ, Trung Hoa cổ đại đã phát triển thành một quốc gia rộng lớn với tiềm năng kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội phong phú.

Chính quyền triều Lê được xem là sản phẩm của quá trình tiếp nhận và sáng tạo có chọn lọc từ mô hình bộ máy Trung Hoa, phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam Thực tế cho thấy, chế độ quan lại của Trung Quốc đã trải qua nhiều thay đổi qua các triều đại, với các triều đại sau thường thực hiện nhiều cải cách hơn so với các triều đại trước.

Có thể tóm lược một số đặc điểm về quan chế Trung Quốc dưới thời phong kiến đã được Đại Việt ta học hỏi như sau:

 Về tổ chức bộ máy quan lại

LỆ KHẢO THÍ, KHẢO KHÓA DƯỚI THỜI VUA LÊ THÁNH TÔNG (1460 – 1497)

NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Ngày đăng: 24/07/2023, 03:10

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm