1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu mức sãn lòng chi trả cho cải thiện chất lượng dịch vụ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt của người dân tại thị trấn lang chánh, huyện lang chánh, tỉnh thanh hóa

112 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu mức sãn lòng chi trả cho cải thiện chất lượng dịch vụ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt của người dân tại thị trấn lang chánh, huyện lang chánh, tỉnh thanh hóa
Tác giả Ngô Thị Mai Chi
Người hướng dẫn ThS. Hoàng Thị Hằng
Trường học Học viện Nông Nghiệp Việt Nam
Chuyên ngành Kinh tế Nông nghiệp
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • PHẦN I: MỞ ĐẦU (15)
    • 1.1 Tính cấp thiết của đề tài (15)
    • 1.2 Mục tiêu nghiên cứu (16)
      • 1.2.1 Mục tiêu chung (16)
      • 1.2.2 Mục tiêu cụ thể (17)
    • 1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (17)
      • 1.3.1 Đối tượng nghiên cứu (17)
      • 1.3.2 Phạm vi nghiên cứu (17)
  • PHẦN II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN (19)
    • 2.1 Cơ sở lý luận (19)
      • 2.1.1 Một số khái niệm (19)
      • 2.1.2 Vai trò của việc chi trả cho cải thiện chất lượng dịch thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt (28)
      • 2.1.3 Nội dung về mức sẵn lòng chi trả (29)
      • 2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả của người dân cho sử dụng dịch vụ thu gom rác thải (30)
    • 2.2 Cơ sở thực tiễn (31)
      • 2.2.1 Những kết quả nghiên cứu và thực tiễn trên thế giới (31)
      • 2.2.2 Những kết quả nghiên cứu và thực tiễn ở Việt Nam (34)
      • 2.2.3 Các chính sách của chính phủ có liên quan (36)
    • 2.3 Bài học kinh nghiệm (37)
  • PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU (39)
    • 3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu (0)
      • 3.1.1 Đặc điểm tự nhiên (39)
      • 3.1.2 Đặc điểm kinh tế- xã hội (40)
    • 3.2 Phương pháp nghiên cứu (51)
      • 3.2.1 Chọn điểm nghiên cứu (51)
      • 3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu (51)
      • 3.2.3 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu (52)
      • 3.2.4 Phương pháp phân tích số liệu (53)
      • 3.2.5 Phương pháp tạo dựng thị trường CVM- Đánh giá ngẫu nhiên (contingent valuation method (CVM) (53)
    • 3.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu (55)
      • 3.3.1 Các chỉ tiêu phản ánh điều kiện kinh tế xã hội và thực trạng thu gom và xử lý rác thải rắn sinh hoạt (55)
      • 3.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh kết quả nghiên việc mức sẵn lòng trả của các hộ dân trong thị trấn (55)
  • PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (57)
    • 4.1 Thực trạng thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thị trấn (57)
      • 4.1.1 Thông tin chung của các hộ điều tra (57)
      • 4.1.2 Thực trạng chất thải rắn sinh hoạt (58)
      • 4.1.3 Thực trạng thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt ở thị trấn Lang Chánh (59)
      • 4.1.4 Đánh giá của người dân đối với công nhân vệ sinh (65)
      • 4.1.5 Đánh giá của công nhân vệ sinh (67)
    • 4.2 Xác định mức sẵn lòng chi trả của người dân cho cải thiện chất lượng dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt thị trấn Lang Chánh (71)
      • 4.2.1 Xác định mức sẵn lòng chi trả của người dân (71)
      • 4.2.2 Xác định nhu cầu trong việc cải thiện tần suất thu gom (75)
      • 4.2.3 Xác định nhu cầu trong việc cải thiện thời gian thu gom (76)
      • 4.2.4 Xác định nhu cầu trong việc cải thiện hình thức đóng quỹ (77)
      • 4.2.5. Xác định nhu cầu trong việc cải thiện thời gian đóng quỹ (78)
    • 4.3 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tới mức sẵn lòng chi trả của các hộ dân cho cải thiện chất lượng dịch vụ thu gom chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Lang Chánh (78)
      • 4.3.1 Ảnh hưởng của trình độ học vấn đến mức WTP (78)
      • 4.3.2 Ảnh hưởng của số nhân khẩu của hộ đến mức WTP (79)
      • 4.3.3 Ảnh hưởng của nghề nghiệp đến mức WTP (80)
      • 4.3.4 Ảnh hưởng của thu nhập đến mức WTP (82)
      • 4.3.5 Ảnh hưởng của lượng rác thải hàng ngày đến mức WTP (85)
      • 4.3.6 Ảnh hưởng của nơi sinh sống đến mức WTP (86)
    • 4.4 Một số giải pháp nhằm tăng cường và hoàn thiện công tác thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt của các hộ dân (88)
      • 4.4.1 Giải pháp về hoàn thiện cơ chế phân loại, thu gom và xử lý CTRSH (88)
      • 4.4.2 Quản lý mức thu phí hợp lý (90)
      • 4.4.3 Nâng cao nhận thức và hiểu biết của người dân và cán bộ trong thị trấn (90)
      • 4.4.4 Nâng cao thu nhập về mức sống của người dân trong thị trấn (92)
  • PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ (93)
    • 5.1 Kết luận (93)
    • 5.2 Kiến nghị (95)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (97)
    • Hộp 4.2: Ý kiến của người dân về thực trạng bãi rác thị trấn Lang Chánh (64)

Nội dung

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Cơ sở lý luận

2.1.1 Một số khái niệm 2.1.1.1 Tổng quan về chất thải rắn sinh hoạt a Khái niệm về chất thải Chất thải là những vật chất, trong một quá trình sản xuất nào đó, không còn khả năng sử dụng nữa và bị loại ra từ quá trình sản xuất đó Chất thải ra từ hoạt động đời sống từ khu dân cư cũng đều là chất thải Chất thải có thể ở dạng khí, rắn, lỏng Chất thải rắn còn được gọi là rác Chỗ nào càng tập trung nhiều sinh vật, con người thì chỗ đó càng có nhiều chất thải

Chất thải là vật chất ở dạng rắn, lỏng, khí hoặc các dạng khác được thải ra từ các hoạt động của con người, bao gồm sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh và dịch vụ (theo Điều 2 của luật BVMT năm 2005) Chất thải rắn sinh hoạt là loại chất thải phát sinh từ các hoạt động của con người, tồn tại ở dạng rắn và bị thải bỏ khi không còn hữu dụng hoặc không còn muốn sử dụng nữa.

Theo nghị định 59/2007/NĐ-CP, chất thải rắn sinh hoạt là những chất thải phát sinh từ hoạt động của con người, chủ yếu từ khu dân cư, cơ quan, trường học và trung tâm dịch vụ Thành phần của chất thải rắn sinh hoạt bao gồm kim loại, sỏi đá, cao su, thủy tinh, giấy vụn và thực phẩm thừa Chất thải rắn sinh hoạt có tác động tiêu cực đến môi trường, đặc biệt là ảnh hưởng đến chất lượng nước.

Chất thải sinh hoạt đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của động vật nước, dẫn đến sự suy giảm đa dạng sinh thái ở sông ngòi và biển Việt Nam, với bờ biển dài và hệ thống sông phong phú, đang chứng kiến sự cạn kiệt nguồn lợi thủy sản, ảnh hưởng đến sinh kế của nhiều người dân phụ thuộc vào nghề đánh bắt và nuôi trồng thủy sản Ô nhiễm môi trường nước đã gây ra tình trạng cá tôm chết hàng loạt tại các đập, đe dọa đến sự bền vững của hệ sinh thái nước ngọt.

Rác thải phân hủy tự nhiên phát tán mùi hôi thối khó chịu, ảnh hưởng lớn đến đời sống người dân qua không khí Việc đốt rác cũng gây ô nhiễm không khí do sản phẩm độc hại như điôxin và SO2, khói từ nơi đốt rác không chỉ làm giảm tầm nhìn mà còn tiềm ẩn nguy cơ cháy nổ và hỏa hoạn.

Rác thải không được thu gom và xử lý sẽ lưu giữ trong đất, làm thay đổi thành phần đất và giảm lượng chất hữu cơ, dẫn đến bạc màu và mất khả năng canh tác Rác thải khó phân hủy, như túi ni lông, tồn tại lâu dài, tạo thành các bức tường ngăn cản quá trình phân hủy và tổng hợp chất dinh dưỡng, từ đó làm giảm độ phì nhiêu và năng suất cây trồng Các chất dễ phân hủy có thể tạo ra độc tố khi ngấm vào đất, gây ô nhiễm môi trường đất.

Rác thải sinh hoạt không chỉ tác động tiêu cực đến môi trường mà còn làm giảm mỹ quan sống, điều này được thể hiện qua cảm nhận của người dân Việc vứt rác bừa bãi và không được thu gom tạo ra những ấn tượng xấu và sự khó chịu cho cộng đồng Hệ quả là nó ảnh hưởng đến các hoạt động phát triển kinh tế xã hội và giao thông.

Thứ năm: rác thải sinh hoạt cũng là nguồn dịch bệnh

Ô nhiễm môi trường không khí, đất và nước có tác động trực tiếp đến sức khỏe con người, đặc biệt là tại các khu dân cư gần khu vực chứa chất thải rắn Các chất ô nhiễm trong đất, nước và không khí có thể xâm nhập vào thực phẩm như rau và động vật, qua đó ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người thông qua chuỗi thức ăn Do đó, việc xử lý chất thải rắn sinh hoạt một cách hiệu quả là rất cần thiết để bảo vệ sức khỏe cộng đồng và môi trường.

➢ Phương pháp chôn lấp chất thải hợp vệ sinh

Phương pháp chôn lấp chất thải rắn là giải pháp chi phí thấp nhất, trung bình từ 1-2 USD/tấn, thường phù hợp với các nước đang phát triển Tuy nhiên, việc chôn lấp đơn thuần không qua xử lý đang gây ra nhiều vấn đề, với khoảng 149 bãi rác cũ không hợp vệ sinh tại Việt Nam, trong đó có 21 bãi thuộc cấp tỉnh - thành phố Nhờ sự hỗ trợ từ nước ngoài, nhiều bãi chôn lấp hợp vệ sinh đã được xây dựng ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Huế, TP Hồ Chí Minh và Bắc Giang Nếu không được kiểm soát, chất thải rắn có thể gây ra nguy cơ cho sức khỏe cộng đồng và môi trường Chôn lấp hợp vệ sinh, với công nghệ đơn giản và linh hoạt, giúp giảm thiểu tiếp xúc giữa con người, môi trường và các chất thải độc hại, đồng thời tập trung chất thải vào khu vực được thiết kế cẩn thận để giảm thiểu tác động xấu (Thu Trang, 2014).

Phương pháp đốt rác là giai đoạn xử lý cuối cùng cho các loại rác không thể xử lý bằng phương pháp khác, diễn ra ở nhiệt độ cao với sự có mặt của oxy, chuyển hóa rác độc hại thành khí và chất thải rắn không cháy Mặc dù chi phí cao từ 20-30 USD/tấn, quy trình xử lý ngắn chỉ từ 2-3 ngày và diện tích sử dụng chỉ bằng 1/6 so với làm phân hữu cơ cùng công suất Phương pháp này thường được áp dụng ở các nước phát triển, trong khi các nước đang phát triển nên sử dụng quy mô nhỏ để xử lý chất thải độc hại như chất thải bệnh viện, công nghiệp và nông nghiệp Tuy nhiên, việc đốt rác sinh hoạt có thể sinh ra khói độc và dioxin nếu không xử lý khói đúng cách, mà phần xử lý khói là phần tốn kém nhất trong công nghệ đốt rác (Thu Trang, 2014).

Phương pháp ủ sinh học là hình thức xử lý rác thải đơn giản và quy mô nhỏ, trong đó rác được ủ thành đống hoặc luống, có thể nổi trên mặt đất hoặc chìm dưới hố Đống ủ có thể được trát kín bằng bùn, dẫn đến điều kiện kị khí với nhiệt độ có thể tăng lên đến 60-70°C Nếu không được trát kín, đống ủ cần được đảo xới định kỳ để cung cấp oxy Với điều kiện kiểm soát khoa học, quá trình ủ tạo ra nhiệt nhờ sự phân giải gluxit, lipit và protein bởi vi sinh vật kị khí, đặc biệt là vi khuẩn lactobacillus và saccaromyces Thời gian ủ phụ thuộc vào quy mô, nguyên liệu và điều kiện hiếu khí hay kị khí Hiện nay, sản xuất phân compost đã được thực hiện tại một số nhà máy gần khu đô thị ở Việt Nam, sử dụng chất thải hữu cơ làm nguyên liệu đầu vào.

2.1.1.2 Khái niệm về mức sẵn lòng chi trả theo lý thuyết kinh tế học a Cầu người tiêu dùng Theo David Begg (2009): cầu của người tiêu dùng về một hàng hóa được định nghĩa như là mối quan hệ tồn tại giữa giá cả và lượng cầu của hàng hóa tại một thời điểm Mọi điểm trên đường cầu (D) của hàng hóa biểu diễn quan hệ giữa giá cả và lượng cầu tương ứng thể hiện tất cả các mức độ sẵn sàng trả tiền của người tiêu dùng đối với hàng hoá đó Giá cả và lượng cầu tồn tại mối quan hệ nghịch biến, lượng cầu hàng hóa tăng lên khi giá cả hàng hóa thấp đi

Xem xét đường cầu của sản phẩm A tại hình 2.1, người tiêu dùng sẽ mua Q1 đơn vị sản phẩm với giá P1 Nếu giá giảm xuống P2, họ sẽ mua Q2 đơn vị sản phẩm, dẫn đến việc tiêu thụ thêm (Q2 – Q1) đơn vị hàng hóa.

Khi số lượng hàng hóa tiêu thụ gia tăng, mức độ sẵn sàng chi trả của người tiêu dùng cho mỗi đơn vị hàng hóa bổ sung sẽ giảm Điều này hoàn toàn phù hợp với quy luật về hữu dụng cận biên giảm dần, phản ánh nhu cầu của con người.

Theo Philip Kotler, một chuyên gia marketing hàng đầu, nhu cầu là cảm giác thiếu hụt mà con người cảm nhận Nhu cầu của con người rất đa dạng và phức tạp, bao gồm nhu cầu ăn uống, tài sản và dịch vụ Khi nhận thức được nhu cầu, con người sẽ tìm cách thỏa mãn chúng Tùy thuộc vào trình độ nhận thức, môi trường sống và đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người sẽ có những nhu cầu khác nhau.

Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Những kết quả nghiên cứu và thực tiễn trên thế giới

Nghiên cứu của Johnson và cộng sự (2006) tại thành phố Alberta, Canada, đã khảo sát mức sẵn lòng chi trả cho các hoạt động giải trí và thể thao không chuyên của người dân Sử dụng phương pháp định giá ngẫu nhiên và lý thuyết hành vi theo kế hoạch, nghiên cứu đã xác định các yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả này, bao gồm cả các tiêu chuẩn đạo đức cá cược Khảo sát được thực hiện với 967 người, trong đó các đối tượng được đưa ra hai kịch bản giả thuyết: một liên quan đến thể thao và một liên quan đến nghệ thuật Kịch bản thể thao đề xuất mở rộng các chương trình giải trí và thể thao không chuyên, kèm theo việc tăng thuế thu nhập địa phương, trong khi kịch bản nghệ thuật tương tự cũng được khảo sát trên hơn 50% đối tượng tham gia.

Mô hình WTP đối với các chương trình giải trí và thể thao tại Alberta được các tác giả xây dựng:

Mô hình WTP được xác định bởi các yếu tố như mức thuế thu nhập hàng năm ($TAX$), tỷ lệ gia tăng khi tham gia ($SCOPE$), kịch bản giải trí và thể thao ($FIRST$), giới tính ($MALE$), khu vực sống ($RURAL$), thu nhập hàng năm ($INCOME$), và sự ổn định đạo đức khi sử dụng tiền cá cược ($MORAL$) Kết quả khảo sát cho thấy mức sẵn lòng chi trả ước tính hàng năm là 18.33 USD cho việc nâng cấp các chương trình giải trí và thể thao không chuyên, vượt xa mức sẵn lòng chi trả của các hộ gia đình tại Mỹ nhằm bảo vệ các đội tuyển thể thao chuyên nghiệp Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các tiêu chuẩn đạo đức liên quan đến cá cược không ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả của người dân.

Công viên quốc gia Taman Negara tại Malaysia đã được nghiên cứu bởi Zaiton Samdin (2008) về mức sẵn lòng chi trả của khách du lịch cho vé vào cửa, nhằm sử dụng các hàng hóa phi thị trường như vẻ đẹp phong cảnh, rừng nhiệt đới và cuộc sống hoang dã Nghiên cứu áp dụng phương pháp định giá ngẫu nhiên CVM và thu thập dữ liệu thông qua bảng câu hỏi phỏng vấn 180 khách du lịch tại công viên Mẫu khảo sát được phân tầng, chia thành hai nhóm dựa trên quốc tịch: 80 khách Malaysia và 100 khách quốc tế.

Kết quả khảo sát với 100 khách cho thấy rằng 80.6% khách sẵn lòng trả phí vào cửa thấp (3RM), trong khi chỉ 15% đồng ý với mức phí cao (30RM) 23.9% khách trả tiền để vào cửa và sử dụng thiết bị giải trí, 11.1% trả thêm để sử dụng thiết bị tốt hơn, và 56.1% trả phí để tham quan và bảo tồn công viên Mức sẵn lòng chi trả trung bình của khách tham quan là 13.06RM, với khách quốc tế sẵn lòng chi trả 18.47RM, trong khi khách Malaysia chỉ sẵn lòng chi trả 6.32RM Về đặc điểm nhân khẩu học, 60% khách tham quan là nam giới và 53.3% đã kết hôn, độ tuổi chủ yếu từ 26 trở lên.

Trong số khách tham quan, 41.7% thuộc độ tuổi 35, trong khi 31.7% nằm trong độ tuổi từ 18 đến 25 Đáng chú ý, 55.6% là khách quốc tế Về trình độ học vấn, 27.2% có bằng tốt nghiệp trung học, 26.7% đã tốt nghiệp đại học, và 23.9% sở hữu trình độ học vấn sau đại học Hơn nữa, 52.8% khách tham quan có thu nhập dưới mức trung bình.

Khoảng 1000 đô la, 17.2% khách tham quan có thu nhập từ 1001 - 2000 đô la Về thông tin chuyến tham quan, 95 phản hồi cho biết họ tìm hiểu về TNNP qua sách hướng dẫn du lịch, trong khi 91 phản hồi nhận được thông tin từ gia đình và bạn bè Hầu hết khách tham quan (158 phản hồi) liên tưởng TNNP với rừng nhiệt đới, 93 phản hồi liên quan đến sự đa dạng động thực vật, và 93 phản hồi nhắc đến cuộc sống hoang dã Về phương tiện di chuyển, 25.4% khách tham quan đến TNNP bằng xe cá nhân, 23% bằng xe tham quan, 21% bằng xe công cộng và 12.2% bằng thuyền (Zaiton Samdin, 2008).

Nghiên cứu của Richad D Carson và Robert Cameron Mitchell (1993) đã áp dụng phương pháp CVM để xác định mức sẵn lòng chi trả cho việc cải thiện chất lượng nước tại các khu vực đua thuyền, câu cá và bơi công cộng ở Boston Kết quả cho thấy mức sẵn lòng chi trả cho người đua thuyền khoảng 93$, cho người câu cá khoảng 70$, và cho người bơi khoảng 78$ Tổng mức sẵn lòng chi trả trung bình đạt khoảng 242$/năm, được sử dụng làm cơ sở để triển khai các hoạt động làm sạch nước tại các khu vực cộng đồng ở Boston.

Sông Mississippi ở Châu Mỹ là đối tượng nghiên cứu của Diane Hite, Darren Hudson và Walaiporn Intarapapong (2002), những người đã áp dụng phương pháp CVM để đánh giá giá trị kinh tế của việc sử dụng nước từ con sông này.

Sông Mississippi đang đối mặt với tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng do sản xuất nông nghiệp, dẫn đến suy giảm chất lượng nước tại các vùng đồng bằng Châu Mỹ La Tinh Hệ quả của tình trạng này không chỉ ảnh hưởng đến môi trường mà còn tác động xấu đến sức khỏe con người và các loài sinh vật phụ thuộc vào dòng sông Nghiên cứu cho thấy, tổng chi phí cho chương trình cải thiện môi trường nước ở sông Mississippi tại các điểm nghiên cứu ước tính từ 59 triệu đến 119 triệu đô la, đồng thời đây cũng là giá trị kinh tế mà chương trình có thể mang lại nếu được triển khai.

2.2.2 Những kết quả nghiên cứu và thực tiễn ở Việt Nam

* Thị trấn Trâu Qùy và xã Kiêu Kỵ - Gia Lâm - Hà Nội

Nghiên cứu của Nguyễn Văn Song & cộng sự (2011) xác định mức sẵn lòng chi trả (WTP) của hộ nông dân cho dịch vụ thu gom, quản lý và xử lý chất thải rắn tại thị trấn Trâu Quỳ và xã Kiêu Kỵ, huyện Gia Lâm, Hà Nội Sử dụng phương pháp định giá ngẫu nhiên CVM, nghiên cứu khảo sát 116 hộ dân và giả định rằng chất lượng dịch vụ môi trường sẽ được cải thiện với nhiều chuyến chuyên chở chất thải hơn và cảnh quan xanh sạch đẹp Mức chi trả của một người dao động từ 0 đến 20.000 đồng/tháng, với mức WTP bình quân là 6.000 đồng/tháng Biến thu nhập có ảnh hưởng lớn nhất đến WTP, trong đó cá nhân có thu nhập từ 3 triệu đồng trở lên sẵn lòng chi trả 20.000 đồng, trong khi 50% cá nhân có thu nhập dưới 1 triệu đồng không có mức chi trả Mức WTP cũng khác nhau theo nghề nghiệp, với người làm trong khu vực nhà nước có WTP cao nhất (8.500 đồng/tháng) và nông dân thấp nhất (3.800 đồng/tháng) Trình độ học vấn và giới tính cũng ảnh hưởng đến WTP, với nam giới có mức WTP cao hơn nữ giới (6.673 đồng so với 5.390 đồng) Người cao tuổi có ý thức bảo vệ môi trường tốt hơn, và hộ gia đình đông người có mức WTP thấp hơn.

* Xã An Đồ - Bình Lục - Hà Nam

Nguyễn Thị Hồng Mai (2015) đã thực hiện nghiên cứu về mức sẵn lòng chi trả cho cải thiện chất lượng dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt tại xã An Đồ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam, sử dụng phương pháp định giá ngẫu nhiên CVM với 172 hộ gia đình tham gia phỏng vấn Nghiên cứu áp dụng mô hình hồi quy tuyến tính OLS để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả (WTP) của người dân Kết quả cho thấy giới tính, tuổi và nghề nghiệp của chủ hộ không có ý nghĩa thống kê, trong khi các yếu tố khác ảnh hưởng đến WTP đạt 58% Mức WTP trung bình được khảo sát là 4.956 đồng/người/tháng, với mức cao nhất là 20.000 đồng/người/tháng Tác giả đã đề xuất các chính sách nhằm nâng cao nhận thức và mức sẵn lòng chi trả của người dân đối với dịch vụ thu gom rác thải, góp phần chống ô nhiễm môi trường.

*Thành phố Cao Lãnh - Đồng Tháp

Nghiên cứu của Phan Đình Hùng (2011) về mức sẵn lòng chi trả của người dân cho dịch vụ cấp nước sạch tại Thành phố Cao Lãnh sử dụng phương pháp định giá ngẫu nhiên CVM với 172 hộ gia đình tham gia Phân tích hồi quy tuyến tính cho thấy một số yếu tố như giới tính, tuổi và nghề nghiệp của chủ hộ không có ý nghĩa thống kê, trong khi các yếu tố khác ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả (WTP) của người dân chiếm 58% Kết quả cho thấy mức sẵn lòng chi trả trung bình cho 1m3 nước sạch là 4.956 đồng, với hơn 50% người dân sẵn lòng trả dưới 5.000 đồng/m3 Tác giả đề xuất các chính sách nhằm nâng cao nhận thức và mức sẵn lòng chi trả của người dân, đồng thời bảo vệ nguồn tài nguyên nước và chống ô nhiễm môi trường.

2.2.3 Các chính sách của chính phủ có liên quan

Quản lý rác thải ở Việt Nam vẫn còn mới mẻ, nhưng nhà nước và các cơ quan quản lý đã nỗ lực phối hợp để ban hành nhiều văn bản và xây dựng khung pháp lý phù hợp Điều này tạo cơ sở cho các hoạt động bảo vệ môi trường, đặc biệt là trong công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt.

Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2021 và định hướng đến năm 2030 đặt ra các mục tiêu cụ thể, bao gồm tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt đạt 90%, xử lý và tiêu hủy 60% chất thải nguy hại, cùng với việc xử lý 100% chất thải y tế Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan chủ quản và triển khai thực hiện các mục tiêu này.

Luật BVMT (sửa đổi) 2020 quy định về kinh phí thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) dựa trên khối lượng phát sinh Luật cũng khuyến khích việc phân loại CTRSH tại nguồn thành 5 loại: chất thải rắn có khả năng tái chế, chất thải thực phẩm, chất thải hữu cơ dễ phân hủy, chất thải nguy hại, chất thải cồng kềnh, và chất thải rắn sinh hoạt thông thường khác.

Bài học kinh nghiệm

Nghiên cứu này áp dụng phương pháp định giá ngẫu nhiên CVM để xác định mức sẵn lòng chi trả của các hộ gia đình cho việc thu gom và xử lý chất thải rắn Dữ liệu được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp người dân bằng bảng câu hỏi đã được thiết kế sẵn Nghiên cứu cũng phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả của người dân và hộ gia đình.

Bài học đầu tiên và quan trọng nhất là nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường Điều này giúp họ hiểu rõ tầm quan trọng của môi trường và khuyến khích ý thức tự giác tham gia, sẵn sàng chi trả cho việc thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt.

Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý và giám sát dịch vụ thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt, đồng thời kịp thời xử lý các sơ suất ảnh hưởng đến dịch vụ này Sự kết hợp giữa các hộ nông dân và các tổ chức, cơ quan chính quyền là cần thiết để nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý chất thải.

Bài học thứ ba nhấn mạnh tầm quan trọng của tính sáng tạo và hiệu quả trong dịch vụ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt Cần áp dụng các biện pháp hợp lý để xử lý rác và chất thải rắn một cách hiệu quả.

Bài học thứ tư nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hoàn thiện hành lang pháp lý và quản lý mức phí hợp lý cho dịch vụ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi để các hộ nông dân tích cực tham gia, từ đó cải tạo cảnh quan môi trường sống.

Để dịch vụ thu gom và xử lý chất thải rắn phát triển bền vững, cần nâng cao chất lượng dịch vụ thu gom và khuyến khích sự tham gia tích cực của người dân.

ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

Phương pháp nghiên cứu

Thị trấn Lang Chánh được chọn làm điểm nghiên cứu điển hình do là trung tâm kinh tế phát triển nhanh và đông dân cư Tuy nhiên, môi trường tại đây đang đối mặt với nguy cơ ô nhiễm cao do lượng chất thải rắn sinh hoạt lớn từ người dân Công tác vệ sinh môi trường ở các khu dân cư còn yếu kém và chưa được chú trọng Do đó, việc nâng cao chất lượng dịch vụ môi trường là cần thiết để đảm bảo chất lượng cuộc sống cho người dân.

3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu

Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp bao gồm việc tìm kiếm thông tin từ các nguồn tài liệu có sẵn trên internet, báo chí, tạp chí và các báo cáo liên quan đến quy hoạch nông thôn mới tại thị trấn Lang Chánh trong các năm 2017, 2018 và 2019 Ngoài ra, cần tham khảo các tài liệu và báo cáo về tình hình thu gom và xử lý chất thải rắn tại địa phương.

Để thu thập số liệu sơ cấp cho nghiên cứu, tôi đã tiến hành phỏng vấn trực tiếp qua phiếu điều tra với số lượng tác nhân tham gia Tài liệu thu thập phản ánh các điều kiện kinh tế xã hội của người được điều tra, bao gồm giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp và tuổi Mục tiêu là xác định ảnh hưởng của những yếu tố này đến mức sẵn lòng chi trả của người tham gia.

Phương pháp nghiên cứu này áp dụng phỏng vấn và phát phiếu điều tra các gia đình tại thị trấn Lang Chánh để xác định mức sẵn lòng chi trả (WTP) của người dân cho việc cải tạo môi trường sống Phiếu điều tra bao gồm các thông tin như địa chỉ, số nhân khẩu, nghề nghiệp, thu nhập bình quân, khối lượng và thành phần rác thải tại hộ gia đình, phương pháp thu gom, phương tiện vận chuyển, cũng như ảnh hưởng của rác thải đến đời sống Ngoài ra, phiếu còn khảo sát ý thức của người dân trong việc thu gom rác thải sinh hoạt, ý kiến đánh giá và đề xuất của họ về công tác thu gom, môi trường, và mức sẵn lòng chi trả cho dịch vụ thu gom và xử lý chất thải rắn.

Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn 120 hộ gia đình và cá nhân tại thị trấn Lang Chánh, phân bổ đều ở 3 khu phố: Chí Linh, Lê Lai và Lê Lợi, mỗi khu phố có 40 hộ Việc chọn mẫu được thực hiện ngẫu nhiên, đảm bảo sự cân đối về trình độ học vấn, thu nhập, lứa tuổi và đa dạng nghề nghiệp.

Phố Chí Linh, tọa lạc tại trung tâm thị trấn, đang chứng kiến sự phát triển kinh tế nhanh chóng, nâng cao mức sống của người dân Tuy nhiên, vấn đề rác thải sinh hoạt đang trở thành thách thức cần được giải quyết tại đây.

- Phố Lê Lai, tâp trung đông dân cư ,chủ yếu hoạt động buôn bán, lượng rác thải phát sinh nhiều, ý thức người dân còn chưa tốt

- Phố Lê Lợi, nằm rìa thị trấn, chủ yếu là làm nông nghiệp, lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh ít nhưng ý thức người dân chưa cao

3.2.3 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu

Sử dụng phần mềm Excel để tổng hợp và xử lý số liệu thu thập theo các chỉ tiêu nghiên cứu nhằm phản ánh thực trạng thu gom và xử lý rác thải, cũng như mức sẵn sàng chi trả (WTP) của người dân để cải thiện chất lượng dịch vụ thu gom rác thải rắn sinh hoạt trên địa bàn.

3.2.4 Phương pháp phân tích số liệu

Phương pháp thống kê mô tả được sử dụng để phân tích mức sẵn lòng chi trả của người dân trong thị trấn cho việc cải thiện dịch vụ thu gom chất thải rắn sinh hoạt, dựa trên các tiêu chí như độ tuổi, trình độ học vấn, thu nhập, giới tính và số nhân khẩu.

* Phương pháp thống kê so sánh

Dựa trên số liệu điều tra, bài viết so sánh mức sẵn lòng chi trả (WTP) của người dân cho việc nâng cao chất lượng dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt, dựa trên các chỉ tiêu như độ tuổi, trình độ học vấn và thu nhập Mục tiêu là xác định mức sẵn lòng chi trả thực tế của các hộ gia đình và phân tích mức WTP của người dân đối với dịch vụ thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại thị trấn.

3.2.5 Phương pháp tạo dựng thị trường CVM- Đánh giá ngẫu nhiên (contingent valuation method (CVM) a) Cơ sở lý thuyết của phương pháp tạo dựng thị trường (CVM)

CVM là phương pháp ước lượng giá trị của dịch vụ môi trường, cụ thể là cải thiện chất lượng dịch vụ thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại thị trấn Lang Chánh, huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa.

Phương pháp này tập trung vào việc nghiên cứu khả năng bằng lòng chi trả (Willingness to Pay - WTP) của người dân để cải thiện chất lượng dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt.

Phương pháp CVM tạo ra một thị trường giả định, trong đó các cá nhân trong mẫu điều tra được xem như những người tham gia thị trường Câu hỏi phỏng vấn quan trọng là mức giá mà ông (bà), anh (chị) sẵn sàng chi trả để sử dụng dịch vụ thu gom rác thải khi chất lượng dịch vụ được cải thiện.

Trong đề tài viễn cảnh, quy trình thu gom rác thải bắt đầu từ từng hộ gia đình, sau đó được chuyển đến bãi tập kết tại các phố Tại đây, Trung tâm vệ sinh môi trường huyện sẽ tiến hành thu gom và chuyên chở rác thải đến trạm cân điện tử Sau khi cân xong, rác thải sẽ được đưa đến bãi tập kết để xử lý, nơi các băng tải sẽ vận chuyển rác đến máy đập thô để nghiền nát.

Rác thải tại đây được xử lý theo hai loại: rác thải cứng và rác thải mềm Rác thải cứng sẽ được đập nát và đưa vào lò đốt để tạo ra xỉ, dùng làm vật liệu xây dựng Trong khi đó, rác thải mềm sau khi nghiền nát sẽ được ủ thành phân vi sinh, phục vụ cho cây trồng công nghiệp và cây lâu năm.

Thị trấn sẽ xây dựng thêm 2 – 3 lò đốt rác thải Losiho 500 với công nghệ tiên tiến nhằm giảm ô nhiễm môi trường và tiết kiệm chi phí vận chuyển Mức sẵn sàng chi trả (WTP) được đề xuất dao động từ 5000 đồng đến 18000 đồng.

Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu

3.3.1 Các chỉ tiêu phản ánh điều kiện kinh tế xã hội và thực trạng thu gom và xử lý rác thải rắn sinh hoạt

* Các chỉ tiêu phản ánh điều kiện kinh tế xã hội

- Chỉ tiêu về diện tích đất đai, phân loại đất đai

- Chỉ tiêu về số hộ, số nhân khẩu, số lao động

- Chỉ tiêu về cơ sở hạ tầng như đường giao thông, cơ sở hạ tầng du lịch, hệ thống thủy lợi, điện-nước sạch

- Chỉ tiêu về tốc độ phát triển kinh tế, thu nhập bình quân một người dân

- Chỉ tiêu về văn hóa- xã hội như: Công tác giáo dục-đào tạo, công tác y tế, công tác thông tin tuyên truyền, thể dục thể thao

* Các chỉ tiêu phản ánh thực trạng thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt trong địa bàn nghiên cứu

- Lượng chất thải rắn sinh hoạt hàng ngày

- Tỷ lệ người dân phân loại chất thải rắn sinh hoạt

- Hình thức xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại hộ điều ttra

- Mức độ hài lòng đối với công nhân vệ sinh môi trường

- Chi phí chỉ trả cho dịch vụ thu gom và xử lý chất thải rắn hiện tại

- Mức độ mong muốn cải thiện chất lượng dịch vụ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt ở địa phương

3.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh kết quả nghiên việc mức sẵn lòng trả của các hộ dân trong thị trấn

* Các chỉ tiêu phản ánh điều kiện kinh tế xã hội của đối tượng điều tra

- Các chỉ tiêu về giới tính, trình độ văn hoá, mức thu nhập, nghề nghiệp

* Các chỉ tiêu phản ánh mức sẵn lòng chi trả

- Số người sẵn lòng chi trả và không sẵn lòng chi trả

- Các mức sẵn lòng chi trả khác nhau

- Mức sẵn lòng chi trả bình quân

- Thời gian thu gom rác thải tại các hộ

- Mục đích đóng góp quỹ

- Thời gian và hình thức đóng góp quỹ

- Các yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng trả: Trình độ học vấn, số nhân khẩu, nghề nghiệp, thu nhập, lượng rác thải hàng ngày, nơi sinh sống.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Ngày đăng: 24/07/2023, 02:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Quyết định số 236/2019/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh về ban hành chính sách hỗ trợ xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn 2020-2025 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 236/2019/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh về ban hành chính sách hỗ trợ xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn 2020-2025
Nhà XB: Hội đồng nhân dân tỉnh Thanh Hóa
Năm: 2019
12. Quyết định số 21/2019/QĐ-UBND của UBND tỉnh quy định mức giá tối đa dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 21/2019/QĐ-UBND của UBND tỉnh quy định mức giá tối đa dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
Năm: 2019
13. Nguyễn Văn Song(2012), Giáo trình Kinh tế Tài nguyên và Môi trường, Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế Tài nguyên và Môi trường
Tác giả: Nguyễn Văn Song
Nhà XB: Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam
Năm: 2012
14. Nguyễn Văn Song (2011), Xác định mức sẵn lòng chi trả của các hộ nông dân về dịch vụ thu gom, quản lý và xử lý chất thải rắn sinh hoạt ở địa bàn huyện Gia Lâm - Hà Nội, Tạp chí Khoa học và phát triển 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định mức sẵn lòng chi trả của các hộ nông dân về dịch vụ thu gom, quản lý và xử lý chất thải rắn sinh hoạt ở địa bàn huyện Gia Lâm - Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Văn Song
Nhà XB: Tạp chí Khoa học và phát triển
Năm: 2011
16. Phong Sắc (2020), Môi trường: Quản lý và xử lý chất thải rắn, bản tin của báo Thanh Hóa http://baothanhhoa.vn/nong-thon-moi/huyen-lang-chanh-no-luc-thuc-hien-tieu-chi-moi-truong-trong-xay-dung-nong-thon-moi/12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi trường: Quản lý và xử lý chất thải rắn
Tác giả: Phong Sắc
Nhà XB: báo Thanh Hóa
Năm: 2020
17. UBND thị trấn Lang Chánh, “ Báo cáo tình hình kinh tế xã hội năm 2017 và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2017” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình kinh tế xã hội năm 2017 và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2017
Tác giả: UBND thị trấn Lang Chánh
Năm: 2017
18. UBND thị trấn Lang Chánh, “ Báo cáo tình hình kinh tế xã hội năm 2018 và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2018” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình kinh tế xã hội năm 2018 và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2018
Tác giả: UBND thị trấn Lang Chánh
Năm: 2018
19. UBND thị trấn Lang Chánh, “ Báo cáo tình hình kinh tế xã hội năm 2019 và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2019” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình kinh tế xã hội năm 2019 và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2019
Tác giả: UBND thị trấn Lang Chánh
Năm: 2019
20. UBND thị trấn Lang Chánh, “ Thống kê, kiểm kê diện tích đất đai năm 2017” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê, kiểm kê diện tích đất đai năm 2017
Tác giả: UBND thị trấn Lang Chánh
Năm: 2017
21. UBND thị trấn Lang Chánh, “ Thống kê, kiểm kê diện tích đất đai năm 2018” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê, kiểm kê diện tích đất đai năm 2018
Tác giả: UBND thị trấn Lang Chánh
22. UBND thị trấn Lang Chánh, “ Thống kê, kiểm kê diện tích đất đai năm 2019” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê, kiểm kê diện tích đất đai năm 2019
Tác giả: UBND thị trấn Lang Chánh
Năm: 2019
23. Phòng Tài nguyên môi trường UBND thị trấn Lang Chánh - Huyện Lang Chánh - Tỉnh Thanh Hóa.II. Tài liệu Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu Tiếng Anh
Tác giả: Phòng Tài nguyên môi trường UBND thị trấn Lang Chánh
Nhà XB: Huyện Lang Chánh
24. David Begg( Economics – 9th edition; 2009). Kinh tế học vi mô. Nhà xuất bản thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học vi mô
Tác giả: David Begg
Nhà XB: Nhà xuất bản thống kê
Năm: 2009
25. Cost–Benefit Analysis and the Environment;1993 Nick Hanley và Clive L. Spash Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cost–Benefit Analysis and the Environment
Tác giả: Nick Hanley, Clive L. Spash
Năm: 1993
26. Environmental Economics: An Elementary Introduction;1993 R. Kerry Turner , David W. Pearce và Ian Bateman Sách, tạp chí
Tiêu đề: Environmental Economics: An Elementary Introduction
Tác giả: R. Kerry Turner, David W. Pearce, Ian Bateman
Năm: 1993
27. Principles of Economics 3rd Edition 2003 , N. Gregory Mankiw Sách, tạp chí
Tiêu đề: Principles of Economics 3rd Edition
Tác giả: N. Gregory Mankiw
Năm: 2003
28. Philip Kotler, Gary Amstrong (2001), Principles of marketing, Prentice Hall, 5th edition Sách, tạp chí
Tiêu đề: Principles of marketing
Tác giả: Philip Kotler, Gary Amstrong
Nhà XB: Prentice Hall
Năm: 2001
29. Diane Hite, Darren Hudson và Walaiporn Intarapapong (2002): “ Willingness to Pay for Water quality Improvements: The Case ofPrecesion Application” Technology, Journal of Agricultural and Resource Economics 27(2): 433-449 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Willingness to Pay for Water quality Improvements: The Case of Precesion Application
Tác giả: Diane Hite, Darren Hudson, Walaiporn Intarapapong
Nhà XB: Journal of Agricultural and Resource Economics
Năm: 2002
30. Kenneth Arrow and Robert Solow (1993): “ Report of the NOAA Panel on Contigent Valuation”. US Federal Register, 15 January, vol 58, no 10. . 31. Bruce K. Johnson, John C. Whitehead, Daniel S. Mason, Gordon J. Walker Sách, tạp chí
Tiêu đề: Report of the NOAA Panel on Contigent Valuation
Tác giả: Kenneth Arrow, Robert Solow
Nhà XB: US Federal Register
Năm: 1993
(2006), Willingness to pay for amatuer sport and recreation programs Sách, tạp chí
Tiêu đề: Willingness to pay for amatuer sport and recreation programs
Năm: 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w