Địa danh ở tỉnh Sóc Trăng và địa danh vùng Tây Nam Bộ được hình thành trong một khu vực đa tộc người, ở đó các tộc người có mối quan hệ gắn bó, tác động qua lại với nhau về văn hóa, lịch
Trang 3i
nghiên cứu của luận án là trung thực, khách quan, đến nay chưa được công bố chính thức
ở bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác Tác giả hoàn toàn chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình
Trà Vinh, ngày tháng năm 2023
Trang 4ii
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU iv
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Cách tiếp cận và Phương pháp nghiên cứu 4
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 9
7 Kết cấu của luận án 9
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÍ LUẬN 11
VÀ KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 11
1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 11
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về địa danh 11
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa văn hóa và địa danh 15
1.1.3 Các công trình nghiên cứu về văn hóa và địa danh ở tỉnh Sóc Trăng 17
1.2 CƠ SỞ LÍ LUẬN 20
1.2.1 Các khái niệm cơ bản 20
1.2.2 Lí thuyết nghiên cứu và bộ tiêu chí giải mã địa danh 28
1.3 KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 34
1.3.1 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển tỉnh Sóc Trăng 34
1.3.2 Tổng quan về địa lí, kinh tế, xã hội, dân cư 37
1.3.3 Đặc điểm về ngôn ngữ và văn hóa 40
1.4 KẾT QUẢ THU THẬP VÀ PHÂN LOẠI ĐỊA DANH Ở TỈNH SÓC TRĂNG 44 CHƯƠNG 2: NGÔN NGỮ NGƯỜI VIỆT QUA ĐỊA DANH 48
Ở TỈNH SÓC TRĂNG 48
Trang 5iii
2.1.3 Tên các hiện tượng, màu sắc tự nhiên 68
2.2 PHẢN ÁNH TÂM LÍ VĂN HÓA NGƯỜI VIỆT 72
2.2.1 Ước vọng bình an, thịnh vượng, giàu có 74
2.2.2 Ước vọng đổi đời, cuộc sống tươi đẹp 76
2.2.3 Tâm lí thích dùng số thứ tự và vị trí đi cùng địa danh 77
CHƯƠNG 3: PHONG TỤC TẬP QUÁN, TÍN NGƯỠNG TÔN GIÁO 82
CỦA NGƯỜI VIỆT QUA ĐỊA DANH Ở TỈNH SÓC TRĂNG 82
3.1 PHONG TỤC, TẬP QUÁN CỦA NGƯỜI VIỆT QUA ĐỊA DANH 82
3.1.1 Phong tục của người Việt qua địa danh 84
3.1.2 Tập quán của người Việt qua địa danh 88
3.2 TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO CỦA NGƯỜI VIỆT QUA ĐỊA DANH 99
3.2.1 Tín ngưỡng của người Việt thể hiện qua địa danh 99
3.2.2 Tôn giáo của người Việt thể hiện qua địa danh 105
CHƯƠNG 4: Ý THỨC TỘC NGƯỜI VÀ QUÁ TRÌNH GIAO LƯU 113
VĂN HÓA CỦA NGƯỜI VIỆT QUA ĐỊA DANH Ở TỈNH SÓC TRĂNG 113
4.1 GIỮ GÌN BẢN SẮC VĂN HÓA NGƯỜI VIỆT QUA ĐỊA DANH 114
4.1.1 Ý thức người Việt qua huyền thoại, truyền thuyết địa danh 114
4.1.2 Ý thức tộc người về người anh hùng, các sự kiện lịch sử 124
4.2 GIAO LƯU, TIẾP BIẾN VĂN HÓA NGƯỜI VIỆT QUA ĐỊA DANH 129
4.2.1 Giao lưu, tiếp biến văn hóa người Việt, Hoa, Khmer qua địa danh 131
4.2.2 Giao lưu, tiếp biến văn hóa người Việt với các dân tộc khác qua địa danh 134 KẾT LUẬN 145
DANH MỤC CÁC BÀI BÁO ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1
PHỤ LỤC 1
Trang 7Để tìm hiểu về đời sống văn hóa, lịch sử của một địa phương nào đó, các nhà ngôn ngữ thường lấy địa danh để lí giải vì địa danh là chứng nhân của những biến cố lịch sử, ghi nhận tiến trình tiếp xúc và giao lưu văn hóa các tộc người cùng sinh sống trong không gian và thời gian nhất định nào đó Nghiên cứu địa danh trong mối tương quan với văn hóa người Việt ở tỉnh Sóc Trăng là nghiên cứu những thành tố quan trọng của văn hóa người Việt ở địa phương và vùng Tây Nam Bộ Ở đó, những thành tố văn hóa quan trọng như ngôn ngữ người Việt, phong tục tập quán, tín ngưỡng tôn giáo, ý thức và giao lưu văn hóa của người Việt sẽ được chúng tôi triển khai, giải mã qua địa danh ở tỉnh Sóc Trăng
Địa danh ở tỉnh Sóc Trăng và địa danh vùng Tây Nam Bộ được hình thành trong một khu vực đa tộc người, ở đó các tộc người có mối quan hệ gắn bó, tác động qua lại với nhau về văn hóa, lịch sử, địa lí, dân cư, ngôn ngữ,… vì vậy, nghiên cứu văn hóa người Việt qua địa danh góp phần làm sáng rõ đặc điểm văn hóa người Việt ở Sóc Trăng, mối quan hệ của người Việt với các tộc người trong cùng địa vực, với tự nhiên, con người hay xã hội Bởi, văn hóa là sản phẩm của con người tạo ra trong quá trình lao động sản xuất, là thể hiện tính cách riêng biệt của các tộc người, là sự tri nhận về các hiện tượng, đặc điểm sự vật thể hiện qua cách đặt tên địa danh
1.2 Về mặt thực tiễn
Nghiên cứu văn hóa người Việt qua địa danh ở tỉnh Sóc Trăng nói riêng và vùng Tây Nam Bộ nói chung là việc làm góp phần hoàn thiện mảng nghiên cứu yếu tố văn hóa, tộc người qua địa danh còn khá mới ở Việt Nam Trong giai đoạn hiện nay, vùng
văn hóa Tây Nam Bộ được Chính phủ quan tâm theo chương trình nghiên cứu khoa học
trọng điểm Tây Nam Bộ (công văn số 5798/VPCP-KGVX ngày 17/7/2013) Vì thế,
nghiên cứu văn hóa người Việt ở tỉnh Sóc Trăng tài mang tính cấp thiết, sẽ là nguồn tài liệu quan trọng trong tổng thể nghiên cứu về văn hóa vùng Tây Nam Bộ
Qua tìm hiểu, chúng tôi thấy rằng nghiên cứu về địa danh vùng Tây Nam Bộ đã
có một số công trình luận văn Thạc sĩ, Tiến sĩ được thực hiện ở các tỉnh Tiền Giang, Đồng Tháp, Sóc Trăng, Trà Vinh, Vĩnh Long,… Tuy nhiên, đề tài văn hóa người Việt qua địa danh ở tỉnh Sóc Trăng chưa có tác giả nghiên cứu Đặc biệt, mảng văn hóa tộc
Trang 8hình của vùng Tây Nam Bộ mà còn là tình hình chung của cả nước
Sóc Trăng là một khu vực có nhiều tộc người sinh sống: Việt, Hoa, Khmer,… ẩn chứa trong địa danh nhiều giá trị văn hóa tộc người và đang được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Là một người con Tây Nam Bộ, chúng tôi nhận thấy rằng cần phải nghiên cứu giới thiệu với người dân Tây Nam Bộ nói riêng và người dân cả nước những giá trị, đặc điểm về văn hóa người Việt qua địa danh nơi đây cũng như tìm hiểu thêm về tâm tư tình cảm của người Việt trong quá trình cộng cư và khai phá vùng đất mới
2 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
3.1 Câu hỏi nghiên cứu
Với luận án Văn hóa người Việt qua địa danh ở tỉnh Sóc Trăng, chúng ta cần đặt
ra một số câu hỏi khi khảo sát, nghiên cứu
- Thành tố văn hóa người Việt qua địa danh ở tỉnh Sóc Trăng có những đặc điểm
cơ bản nào về mặt ngôn ngữ?
- Có những phương diện cơ bản nào về phong tục tập quán, tín ngưỡng tôn giáo của người Việt thể hiện qua địa danh của địa phương?
- Có những đặc điểm cơ bản nào về ý thức người Việt thể hiện qua địa danh ở tỉnh Sóc Trăng?
3.2 Các giả thuyết nghiên cứu
Để thực hiện đề tài Văn hóa người Việt qua địa danh ở tỉnh Sóc Trăng, tác giả
đưa ra các giả thuyết sau:
Ngôn ngữ người Việt qua địa danh ở tỉnh Sóc trăng phản ánh quá trình lao động sản xuất và tâm lí văn hóa tộc người Quá trình cộng cư khai phá vùng đất mới đã ghi dấu nhiều địa danh chỉ tên các làng nghề, tên của các loài động vật thực vật, tên các hiện tượng, màu sắc tự nhiên,… tồn tại cho đến ngày nay Tâm lí văn hóa người Việt được phản ánh qua những địa danh mang ước vọng giàu có, bình an, thịnh vượng, ước vọng đổi đời và mong muốn có cuộc sống tươi đẹp, những địa danh chứa đựng tâm lí kiêng
kị, tâm lí thích dùng số thứ tự và vị trí đi cùng địa danh,…
Nghiên cứu văn hóa người Việt qua địa danh cho ta thấy được những phong tục tập quán, tín ngưỡng tôn giáo còn lưu dấu khá nhiều ở các địa danh của tỉnh Sóc Trăng
Trang 9Ý thức người Việt qua địa danh ở tỉnh Sóc Trăng biểu hiện qua hai nội dung cơ bản: Giữ gìn bản sắc văn hóa tộc người qua địa danh và giao lưu, tiếp biến văn hóa của
người Việt qua địa danh
3 Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát: Mục tiêu tổng quát của luận án làm bật nổi những giá trị, đặc điểm của văn hóa người Việt qua địa danh ở tỉnh Sóc Trăng
- Mục tiêu cụ thể: Để đạt được mục tiêu tổng quát, chúng tôi chia làm hai mục
tiêu cụ thể về mặt lí luận và thực tiễn
Về mặt lí luận: Luận án cung cấp nguồn tư liệu tổng quát về văn hóa người Việt
qua địa danh, làm cơ sở cho việc nghiên cứu các phương diện khác về văn hóa, ngôn ngữ ở tỉnh Sóc Trăng Đồng thời, làm sáng rõ mối quan hệ giữa văn hóa và địa danh, xây dựng được khung lí thuyết khi nghiên cứu địa danh dưới góc nhìn văn hóa học Đề tài góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa người Việt qua địa danh của tỉnh Sóc Trăng và vùng Tây Nam Bộ
Về mặt thực tiễn: Qua việc nghiên cứu đề tài Văn hóa người Việt qua địa danh ở tỉnh Sóc Trăng, luận án chỉ ra những thành tố văn hóa người Việt qua địa danh như ngôn
ngữ tộc người, phong tục tập quán, tín ngưỡng tôn giáo tộc người, ý thức tộc người, quá trình giao lưu giữa các tộc người anh em trong quá trình cộng cư khai phá vùng đất mới Luận án có thể là tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu văn hóa tộc người cho các công trình tiếp theo; là nguồn tài liệu phụ vụ giảng dạy, nghiên cứu cho các nhà ngôn ngữ học, văn hóa học,… Công trình góp phần bảo tồn những giá trị văn hóa người Việt qua địa danh của địa phương và vùng Tây Nam Bộ
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Với đề tài Văn hóa người Việt qua địa danh ở tỉnh Sóc Trăng, chúng tôi xác định đối tượng nghiên cứu là văn hóa của người Việt tồn tại trong
địa danh ở tỉnh Sóc Trăng bao gồm các thành tố văn hóa như: ngôn ngữ người Việt, phong tục tập quán, tín ngưỡng tôn giáo tộc người; ý thức tộc người và quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa
Trang 104.2 Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi về nội dung: đề tài thuộc chuyên ngành văn hóa học nằm trong mối
tương quan với ngôn ngữ học (từ vựng học) Tuy nhiên, yêu cầu nội hàm của đề tài là nghiên cứu những giá trị, đặc điểm của các thành tố văn hóa của người Việt qua địa danh ở tỉnh Sóc Trăng Cụ thể bao gồm các nội dung về ngôn ngữ người Việt, phong tục tập quán, tín ngưỡng tôn giáo người và ý thức và giao lưu tiếp biến văn hóa của người Việt
Phạm vi về không gian: không gian được xác định là địa bàn tỉnh Sóc Trăng, nơi
lưu giữ nhiều truyền thống văn hóa của các người Việt, Hoa, Khmer,… Trong đó, luận
án nghiên cứu trọng tâm ở văn hóa người Việt Không gian văn hóa không chỉ được nhìn nhận trong hoàn cảnh không văn hóa hiện tại mà còn được tìm hiểu về không gian xưa của tỉnh Sóc Trăng (không gian có ảnh hưởng đến văn hóa người Việt trong từng thời kì lịch sử)
Phạm vi về thời gian: phạm vi thời gian được khảo sát, tổng hợp địa danh (tính
từ năm 2018) Tuy nhiên, thời gian nghiên cứu tương đồng với không gian nghiên cứu, tính từ khi lưu dân người Việt tiến vào Nam và vùng đất Sóc Trăng xưa Thời gian được xác định vào nửa cuối thế kỷ XVIII, khi vùng đất Sóc Trăng được tiếp quản dưới thời nhà Nguyễn, lúc này Sóc Trăng có tên là Ba Thắc, thuộc dinh Vĩnh Trấn (sau đổi thành Vĩnh Thanh) thuộc phủ Gia Định Tuy đối tượng địa danh được nghiên cứu là địa danh đang tồn tại ở thời điểm nghiên cứu nhưng những địa danh từng tồn tại trong quá khứ cũng được khảo sát, phân tích để góp phần lí giải những vấn đề liên quan đến các thành
tố văn hóa được đề cập trong luận án
5 Cách tiếp cận và Phương pháp nghiên cứu
5.1 Cách tiếp cận
Trong luận án này chúng tôi sử dụng cách tiếp cận liên ngành – một trong những cách tiếp cận khá phổ biến trong nghiên cứu văn hóa, nhân học văn hóa và một số ngành khoa học xã hội khác Cách tiếp cận liên ngành là cách tiếp cận một đối tượng nghiên cứu bằng nhiều cách thức, dựa trên dữ liệu có ở nhiều chuyên ngành khác nhau Vì về căn bản, văn hóa là một thực thể sinh động, là sản phẩm của quá trình mà con người tác
Trang 11nhiều đến các ngành khoa học khác trong hoạt động thực tiễn nên chọn cách tiếp cận này chúng ta có thể nhìn nhận vấn đề một cách có hệ thống, theo nguyên tắc tổng thể Các tiếp cận liên ngành gồm có các cách tiếp cận khác nhau:
Cách tiếp cận nhân học: Nhân học văn hóa
Cách tiếp cận sử học: Sử học văn hóa
Cách tiếp cận xã hội học: Xã hội học văn hóa
Cách tiếp cận kinh tế học: Kinh tế học văn hóa
Về cách thức sử dụng: có thể sử dụng cách tiếp cận liên ngành để làm phương tiện ứng dụng nghiên cứu cho ngành khác Dùng lí thuyết của ngành này áp dụng vào các ngành khác để xem xét hiệu quả Tìm ra những đặc điểm nổi trội, giao thoa giữa các ngành khoa học
Về mặt ý nghĩa: Cách thức tiếp cận này giúp cho người nghiên cứ có cái nhìn tổng quát, hệ thống đối tượng nghiên cứu, đem đến cái nhìn toàn diện về đối tượng Sử dụng các phương pháp liên ngành khác nhau giúp cho nhà nghiên cứu có thêm nhiều phương tiện, công cụ để giải mã các thành tố, giá trị văn hóa trong nghiên cứu
Đối với trường hợp nghiên cứu văn hóa người Việt qua địa danh ở tỉnh Sóc Trăng, cách tiếp cận liên ngành giúp chúng tôi nhận diện được các tầng, lớp văn hóa tồn tại trong địa danh nhờ vào cách tiếp cận theo hướng lịch sử văn hóa Cách tiếp cận nhân học văn hóa giúp người nghiên cứu nhìn nhận được vai trò, đặc điểm của chủ thể văn hóa trong cách thức tạo ra (đặt tên) địa danh cũng như tâm lí của tộc người trong việc hình thành tên gọi của địa danh Cách tiếp cận xã hội giúp tác giả thấy được tác động của xã hội đối với đối tượng nghiên cứu Đặc biệt, khi bộ máy nhà nước thay đổi thì tâm
lí xã hội thay đổi theo Điều này đã có những tác động rất nhiều đến việc hình thành địa danh của tỉnh trong lịch sử Cái khó của cách tiếp cận này là người nghiên cứu phải sử dụng nhiều nguồn tư liệu khác nhau, cần phải có sự hiểu biết khá rộng về các ngành khoa học xã hội, có cái nhìn hệ thống và tính khái quát hóa cao trong khi nghiên cứu Tuy nhiên, nếu thực hiện tốt cách tiếp cận này, vấn đề nghiên cứu sẽ được nhìn nhận, lí giải thấu đáo, rõ ràng hơn khi đặt trong nhiều mối liên hệ của các ngành khoa học xã hội
Trang 12vùng đất nào đó Đặc biệt, văn hóa dân gian chứa đựng nhiều lớp văn hóa giá trị của dân tộc (trong đó có địa danh) Các bình diện như ngôn ngữ, phong tục tập quán, tín ngưỡng tôn giáo, tri thức dân gian, các quan niệm, truyền thống dân tộc, kinh nghiệm trong lao động sản xuất,… được các tác giả dân gian cẩn trọng lưu lại và truyền thụ qua nhiều thế
hệ Có nhiều địa danh ra đời gắn liền với các truyền thuyết, sử tích của tộc người nên giải mã địa danh không thể bỏ qua hướng tiếp cận này Có thể nói, sử dụng cách tiếp cận văn hóa dân gian để giải mã địa danh là một trong những cách thức phù hợp trong nghiên cứu địa danh dưới góc nhìn văn hóa
5.2 Phương pháp nghiên cứu
+ Phương pháp phân tích và tổng hợp: đối với phương pháp phân tích, các tài
liệu thứ cấp và sơ cấp sẽ được tác giả tập hợp, nhận diện tìm ra các khía cạnh có thể phục vụ cho việc giải mã văn hóa tộc người qua địa danh; các tài liệu sách, báo, các luận văn, luận án nghiên cứu liên quan đến đề tài cũng được phân tích, sử dụng, phục vụ cho nghiên cứu
Sau quá trình phân tích tài liệu, tác giả nghiên cứu sẽ đưa ra một hệ thống lí thuyết, được xem là giả định khoa học dựa trên những tài liệu, những thông tin có được trong quá trình thu thập tài liệu liên quan đến đề tài
Phương pháp này có một số thuận lợi nhất định Chúng ta có thể phân tích cụ thể từng địa danh, đặc biệt là các địa danh chứa đựng nhiều tầng, lớp văn hóa khác nhau Dựa trên các đặc điểm địa danh có cùng hình thức cấu tạo, chứa đựng các đặc điểm văn hóa giống, hoặc gần giống nhau, chúng ta có thể tổng hợp chúng lại và phân loại theo từng nhóm nội dung nghiên cứu Tuy nhiên, khó khăn của phương pháp này khi nghiên cứu địa danh là đòi hỏi người nghiên cứu phải có cái nhìn vừa chi tiết lại vừa biết cách
hệ thống (có cái nhìn khái quát hóa) tốt các vấn đề
+ Phương pháp thống kê và phân loại; trước khi giải mã những đặc trưng văn
hóa tộc người qua địa danh tỉnh Sóc Trăng, tác giả đề tài thực hiện việc thống kê và phân loại địa danh: Thống kê phần trăm địa danh các tộc người so với tổng thể địa danh của tỉnh, mục đích thấy được tỉ lệ hay sự đóng góp, ảnh hưởng, thậm chí là chi phối của các tộc người trong việc hình thành tên gọi địa danh Phân loại địa danh theo những
Trang 13ngữ; địa danh phản ánh phong tục tập quán, tín ngưỡng tôn giáo; địa danh phản phán tâm lí tộc người Trong quá trình này, tác giả tiến hành phân loại trước và thống kê sau Đây là phương pháp rất quan trọng vì ngữ liệu khảo sát thống kê là minh chứng khách quan cho quá trình nghiên cứu, nhận định các đặc điểm văn hóa người Việt qua địa danh cũng như thấy được sự đa dạng văn hóa thông qua cách đặt tên địa danh của người Việt Khó khăn của phương pháp này khi vận dụng vào nghiên cứu địa danh là số lượng khảo sát về địa danh khá lớn, việc phân loại và xếp các địa danh vào một nhóm cũng là một vấn đề không dễ dàng
+ Phương pháp nghiên cứu lịch sử: Phương pháp nghiên cứu lịch sử là phương
pháp nghiên cứu bằng cách tìm nguồn gốc phát sinh (nguồn gốc xuất xứ, hoàn cảnh nảy sinh), quá trình phát triển và biến hóa (điều kiện, hoàn cảnh, không gian, thời gian…
có ảnh hưởng) để phát hiện bản chất và quy luật vận động của đối tượng Địa danh và lịch sử địa danh (ra đời và thay đổi) luôn nằm trong sự vận động và biến đổi của xã hội Việc tìm về nguồn gốc địa danh và những thay đổi tên địa danh trong lịch sử cũng là cách giải mã các lớp văn hóa ẩn chứa trong từng địa danh của địa phương Có những địa danh tồn tại cho đến ngày hôm nay đã trải qua nhiều lần thay đổi tên gọi, hoặc song song tồn tại hai tên gọi (tên gọi địa danh hành chính, tên gọi địa danh dân gian) Nhờ vào phương pháp lịch sử, chúng ta có thể thấy rõ được quá trình đặt tên cũng như việc hiểu được nguyên nhân thay đổi tên gọi của địa danh; thấy được giá trị của tên gọi địa danh theo từng thời kỳ khác nhau Khó khăn của phương pháp này là người nghiên cứu phải sưu tầm nhiều tài liệu cổ có liên quan đến địa danh, tham khảo từ nhiều tài liệu thứ cấp, sơ cấp khác nhau, thậm chí có liên quan đến việc phỏng vấn chuyên gia, những người lớn tuổi tại địa phương,… mới có thể làm rõ được các lớp tên gọi hay lịch sử tên gọi của địa danh đang nghiên cứu
+ Phương pháp so sánh: so sánh là phương pháp thường được sử dụng trong
nghiên cứu khoa học Việc so sánh các đối tượng cùng loại có thể cho ta nhận ra được nét tương đồng và dị biệt của các đối tượng, từ đó thấy được những nét riêng của đối tượng nghiên cứu Trong công trình này, chúng tôi so sánh địa danh các người Việt, Hoa, Khmer,… trong tỉnh và vùng Tây Nam Bộ để nhận diện được nét đặc trưng văn
Trang 14hóa của người Việt so với các tộc người anh em qua cách đặt tên địa danh Đặc biệt, so sách về cách đặt tên của những địa danh cùng dạng ở các địa phương khác để đi đến một kết luận thuyết phục hơn về nguyên nhân hình thành địa danh, về các thành tố văn hóa tồn tại trong địa danh
+ Phương pháp điều tra điền dã: phương pháp điều tra, điền dã dân tộc học được
chúng tôi thực hiện trong đề tài này nhằm thu thập cứ liệu qua quá trình đi thực tế bằng cách quan sát, thu thập, ghi chép và chọn lọc, mục đích giúp cho việc giải mã các thành
tố văn hóa người Việt qua địa danh tỉnh Sóc Trăng được khách quan và độ tin cậy cao hơn Về cách thức tiến hành được chia ra nhiều đợt trong nhiều năm (bắt đầu năm 2018) Trước khi thực hiện đề tài tác giả tiến hành thu thập địa danh hành chính từ các ban ngành đoàn thể và các địa danh dân gian tồn tại trên địa bàn Cũng với phương pháp này, việc lựa chọn các địa danh chứa đựng các yếu tố văn hóa lịch sử để điền dã là rất quan trọng Hoạt động ghi chép, quan sát các địa danh đã được lựa chọn giúp người nghiên cứu có được cái nhìn đối sánh của từng thời kỳ lịch sử thông qua các tư liệu cổ hay nhờ vào các câu chuyện kể của người sống trong vùng đất – nơi địa danh đang tồn tại
+ Phương pháp phỏng vấn (phỏng vấn chuyên gia và phỏng vấn những người
cao tuổi ở địa phương) Mục đích của việc phỏng vấn nhằm hiểu rõ hơn về lịch sử ra đời của địa danh cũng như xin ý kiến của chuyên gia về nguồn gốc, cách thức đặt tên địa danh của người Việt ở tỉnh Sóc Trăng Trước khi tiến hành phỏng vấn tác giả thực hiện việc chọn mẫu (lựa chọn địa danh) sao cho đảm bảo các yêu cầu sau: địa danh được lựa chọn khảo sát phỏng vấn phải là những địa danh tiêu biểu minh chứng tốt cho các nội dung cần làm rõ của luận án Các địa danh được lựa chọn ngoài việc phản ánh những nội dung nghiên cứu còn chứa đựng bên trong các lớp văn hóa, địa danh gắn bó với lịch
sử của người Việt hay nhiều tộc người trong vùng, thậm chí có nhiều cách lí giải hay các giả thuyết khác nhau Các chuyên gia lựa chọn phỏng vấn đương nhiên họ là những người có hiểu biết về lịch sử văn hóa của địa phương, đặc biệt là lĩnh vực địa danh Bên cạnh đó, những người lớn tuổi của địa phương, các cụ trong Ban trị sự của các đình,… cũng được lựa chọn xin phỏng vấn Thuận lợi của phương pháp này khi vận dụng trong nghiên cứu địa danh là giúp cho người nghiên cứu có cái nhìn khái quát, toàn diện hơn
về địa danh Đồng thời, “tiếng nói của người trong cuộc” bao giờ cũng khách quan hơn Người nghiên cứu địa danh sẽ hạn chế được những nhìn nhận, kết luận chủ quan của
Trang 15người viết Tuy nhiên, việc đến địa bàn nghiên cứu thực hiện lựa chọn địa danh, xin phỏng vấn, quan sát các hoạt động đời sống, văn hóa tại địa phương, không phải là việc
dễ dàng cho người nghiên cứu
Cần khẳng định, việc phân chia các phương pháp trong nghiên văn hóa người Việt qua địa danh ở tỉnh Sóc Trăng nói riêng và nghiên cứu khoa học nói chung chỉ mang tính chất tương đối Trong quá trình khảo sát và nghiên cứu, đôi khi cùng một vấn
đề, chúng tôi có thể sử dụng linh hoạt nhiều phương pháp khác nhau Mục đích cùng làm rõ vấn đề cần chứng minh hay khẳng định chân lí Việc kết hợp hay phát sinh các phương pháp khác trong nghiên cứu khoa học có thể xem là điều tất yếu
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Ý nghĩa khoa học: nhìn chung, kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm rõ mối quan hệ giữa hai phạm trù văn hóa và ngôn ngữ hay hướng nghiên cứ ngôn ngữ dưới góc nhìn văn hóa học Luận án xây dựng đề cương nghiên cứu văn hóa người Việt bao gồm các yếu tố cơ bản về ngôn ngữ; phong tục tập quán, tín ngưỡng tôn giáo; ý thức
và giao lưu văn hóa của người Việt, góp phần định hình khung nghiên cứu văn hóa người Việt qua địa danh Đây cũng là một lĩnh vực khá mới trong nghiên cứu văn hóa có đối tượng là địa danh
Ý nghĩa thực tiễn: Địa danh là một thực thể văn hóa sinh động, luôn biến đổi với những biến đổi, tác động của xã hội, chính trị, tâm lí tộc người,… Địa danh lưu lại những
ký ức lịch sử, có giá trị về mặt văn hóa tộc người qua từng thời kì của lịch sử Việc bảo lưu địa danh có ý nghĩa gìn giữ các giá trị truyền thống của tộc người của vùng đất – nơi địa danh ra đời Luận án sau khi hoàn thiện có thể là nguồn tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy, nghiên cứu văn hóa, ngôn ngữ khu vực Tây Nam Bộ
Trong xu thế hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế hiện nay, việc bảo lưu các giá trị truyền thống càng trở nên quan trọng Xu hướng đặt địa danh theo các con số, tên có yếu nước ngoài đang rất phổ biến và không mang lại nhiều ý nghĩa, giá trị trong tình hình hiện nay, đặc biệt là giá trị về mặt nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án bao gồm 4 nội dung tương ứng với 4 chương:
Nội dung thứ nhất: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lí luận và khái quát
địa bàn nghiên cứu Ở nội dung đầu tiên, tác giả luận án tiến hành khảo sát các công
Trang 16trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến địa danh, các công trình nghiên cứu
về mối quan hệ giữa văn hóa và địa danh, các công trình nghiên cứu văn hóa và địa danh
ở tỉnh Sóc Trăng để có cái nhìn tổng thể, giúp tác giả định vị được công trình nghiên cứu tiếp theo Bên cạnh đó, các khái niệm công cụ và các lí thuyết nghiên cứu, nguyên tắc tiếp cận nghiên cứu, khảo sát địa bàn nghiên cứu cũng được tác giả trình bày lần lượt
ở chương này
Nội dung nghiên cứu tiếp theo: Ngôn ngữ người Việt qua địa danh ở tỉnh Sóc
Trăng Ngôn ngữ là một trong những nét văn hóa đặc trưng, khu biệt các tộc người với
nhau Ở chương này, tác giả trình bày hai vấn đề: ngôn ngữ phản ánh quá trình lao động sản xuất và tâm lí văn hóa tộc người Việt qua địa danh ở tỉnh Sóc Trăng Trong đó, ngôn ngữ phản ánh quá trình lao động của người Việt bao gồm tên các làng nghề, tên của những loài động thực vật, tên các hiện tượng, màu sắc tự nhiên Ngoài ra, ngôn ngữ phản ánh tâm lí người Việt được trình bày ở ba phần: tâm lí ước vọng an bình, thịnh vượng, giàu có; ước vọng đổi đời, cuộc sống tươi đẹp, và tâm lí thích dùng số thứ tự đi cùng địa danh
Nội dung nghiên cứu thứ 3: Phong tục tập quán, tín ngưỡng tôn giáo người Việt
qua địa danh ở tỉnh Sóc Trăng Nội dung chính yếu của phong tục tập quán, tín ngưỡng
tôn giáo của người Việt qua địa danh ở tỉnh Sóc Trăng được người Viết trình bày ở hai nội dung: về phong tục tập quán bao gồm phong tục kiêng kị gọi tên các con vật linh thiêng, kiêng húy hoàng tộc và các gia tộc quan lại trong xã hội quân chủ chuyên chế; tập quán về hoạt động sản xuất, về lựa chọn nơi cư trú và tổ chức xã hội Về tín ngưỡng chúng tôi tìm hiểu tín ngưỡng sùng bái tự nhiên và tín ngưỡng sùng bái con người Về tôn giáo, người viết nghiên cứu các địa danh phản ánh Phật giáo, địa danh phản ánh Công giáo, Tin Lành
Nội dung cuối cùng: Ý thức và quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa của người
Việt qua địa danh ở tỉnh Sóc Trăng Phần này tác giả trình bày hai nội dung chính: ý
thức về việc giữ gìn bản sắc văn hóa người Việt qua địa danh và quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa của tộc người Việt với các tộc người anh em trong cùng không gian văn hóa của tỉnh
Trang 17CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ
LÍ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Như phần trên đã trình bày, vấn đề nghiên cứu địa danh trên thế giới đã có những thành tựu lớn nhưng ở Việt Nam vẫn còn mới mẻ và đang trong giai đoạn phát triển Qua khảo sát của chúng tôi, lĩnh vực nghiên cứu địa danh dưới góc nhìn văn hóa tộc người lại càng ít hơn bởi lẽ đây là một chuyên ngành hẹp và khởi nguồn sau cả nghiên cứu địa danh Cụ thể về tình hình nghiên cứu về địa danh và văn hóa người Việt qua địa danh ở thế giới và Việt Nam như sau:
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về địa danh
Trên thế giới, nghiên cứu về địa danh đã có từ rất sớm, các công trình được ghi nhận ở Trung Quốc cơ bản là những bản ghi chép về địa danh tuy nhiên, chưa có những công trình nghiên cứu một cách hệ thống Tại Châu Âu, thành tựu về khoa học nghiên cứu địa danh được ghi nhận vào cuối thế kỉ XIX, ở phương Tây bộ môn địa danh học chính thức được ra đời Ở Nga, vào những năm 1960, đã có nhiều công trình đi đầu và đạt nhiều thành tựu trong nghiên cứu lí luận về địa danh học Một số công trình tiêu biểu
như: E.M Murzaev với Những khuynh hướng nghiên cứu địa danh học, I.U.A Kapenko
Bàn về địa danh học đương đại,… Hai công trình được cho là trình bày một cách tổng
hợp và toàn diện về địa danh là: Những nguyên lí của địa danh học và Địa danh học là
gì của A.V Supenranxkaja Ngoài ra còn có một số công trình khác ở Pháp, Anh, Mĩ,
Trung Quốc,… cũng góp phần xây dựng nền lí luận về địa danh học ngày càng hoàn thiện hơn Trước đây, để phục vụ cho công cuộc xâm lược và thống trị nhân dân ta, triều đình phong kiến phương Bắc đã nghiên cứu địa danh Việt Nam trong các sách sử và tài
liệu như: Tiền Hán thư, Địa lí chí, Thủy kinh của Tang Khâm đời Hán; Thái bình hoàn
vũ ký của Nhạc Sử (đời Tống),… Để phục vụ cho mục đích cai trị, khai thác thuộc địa
thực dân Pháp cũng đưa nhiều chuyên gia nghiên cứu về đất nước, con người Việt Nam,
trong đó có địa danh Có thể kể tên một số công trình tiêu biểu như: Nghiên cứu về tập
quán và ngôn ngữ của người Lô Lô và La Quả của A Bonifacy (1908); Tài liệu nghiên cứu ngôn ngữ Stiêng của H Maspero (1955)
Cũng như địa danh học thế giới, địa danh học Việt Nam cũng có quá trình xuất hiện khá lâu đời Song mức độ phát triển tương đối chậm chạp Các công trình nghiên cứu về địa danh ở Việt Nam có thể chia ra các giai đoạn như thời Bắc thuộc, thời Pháp
Trang 18đô hộ và hậu Pháp Các nhà nghiên cứu trong nước cũng bắt đầu nghiên cứu địa danh ở
nước ta, một số công trình tiêu biểu như: Dư địa chí của Nguyễn Trãi (1435), Lịch triều
hiến chương loại chí của Phan Huy Chú (1821), Phương Đình dư địa chí của Nguyễn
Văn Siêu (1900),…
Ngày nay, địa danh học ở nước ta đã phát triển hơn trên cơ sở khoa học hiện đại, tuy nhiên vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu thật đầy đủ, thật hoàn chỉnh về địa
danh Việt Nam Nhiều công trình xuất hiện rời rạc trên các báo và tạp chí như: Việc tìm
sử liệu trong ngôn ngữ dân tộc (1967), Tiếng Việt trên các miền đất nước (1989) của
Hoàng Thị Châu; Phương pháp vận dụng địa danh học trong nghiên cứu địa lí học lịch
sử cổ đại Việt Nam (1984) của Đinh Văn Nhật,… Năm 1993, Nhà xuất bản Văn hóa đã
cho ra mắt bạn đọc công trình nghiên cứu của Vương Hồng Sển, Tự vị tiếng Việt miền
Nam Đây là một công trình sưu tập, biên khảo khá công phu về nguồn gốc từ tiếng Việt
miền Nam Phần đóng góp quý báu của tác giả là sự so sánh, đối chiếu nguồn gốc của địa danh với các yếu tố ngôn ngữ khác, đặc biệt là ngôn ngữ Khmer mà tác giả cho là
có sự tương đồng hoặc vay mượn Công trình đã dựa trên sự tiếp thu những kinh nghiệm của những người đi trước nhưng phần lớn vẫn là sự hiểu biết, vốn sống thực tế và những kinh nghiệm của bản thân tác giả để có được một cách hiểu sâu sắc, tường tận về tiếng nói miền Nam cũng như những địa danh được giới thiệu
Cũng cần đề cập đến quyển “Lược khảo nguồn gốc địa danh Nam Bộ”, Nhà xuất
bản Văn nghệ, năm 1999 của Bùi Đức Tịnh Tác giả đã chỉ ra được một số vấn đề quan trọng về địa danh ở Nam Bộ Theo tác giả, địa danh dùng cho 4 loại thể: (1) Các vật thể thiên nhiên với cách gọi tên đặc biệt của Nam Bộ như: bãi, bàu, bưng; (2) Các vị trí có liên quan đến giao thông như: bến, cầu; (3) Các vị trí tập hợp dân cư như: chợ, xóm; (4) Các đơn vị hành chính quân sự như: dinh, đồn,… Cách đặt tên cho từng loại vật thể đã được Bùi Đức Tịnh giải thích trong công trình này Ngoài ra, ông cũng đi sâu tìm hiểu những biến đổi liên hệ đến địa danh, đến từ tố thường thấy trong các loại địa danh ở Nam Bộ: Ba, Bà, Cái, Trà,…
Năm 2000, Nguyễn Văn Âu cho ra đời công trình “Một số vấn đề về địa danh
học Việt Nam” (Nhà xuất bản Đại học Quốc gia, Hà Nội) Đây là công trình có tính
chuyên khảo về địa danh trong ngành khoa học về địa danh ở nước ta Công trình chia làm hai phần lớn: phần khái quát và phần địa danh cụ thể Ở phần khái quát, tác giả đã giới thiệu những cơ sở lí luận chung cho việc nghiên cứu địa danh như: khái niệm, đặc
Trang 19điểm, phân loại, phân vùng địa danh Việt Nam Tác giả cũng đã đi vào nghiên cứu từng loại địa danh trong phần địa danh cụ thể, trong đó có thể xếp thành hai loại lớn: địa danh chỉ địa hình và địa danh hành chính Riêng phần này còn mang tính khái quát, sơ lược, chưa đề cập đến những địa danh ở Nam Bộ nói chung và địa danh Sóc Trăng nói riêng
Trong quyển Tìm hiểu nguồn gốc địa danh Nam Bộ và tiếng Việt văn học, Nhà
xuất bản Khoa học xã hội, năm 2002 của Lê Trung Hoa, tác giả đã dành một phần công trình để bàn về địa danh, nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi, sai lệch một số địa danh ở Việt Nam Ông còn đưa ra các phương pháp cơ bản trong việc nghiên cứu địa danh, nguồn gốc, ý nghĩa của thành tố chung “Cái” trong địa danh Nam Bộ một cách rất chi
tiết, cụ thể Năm 2003, tác giả Lê Trung Hoa trong quyển Nguyên tắc và phương pháp
nghiên cứu địa danh: Địa danh Thành phố Hồ Chí Minh (Nhà xuất bản Khoa học Xã
hội), đã nêu một hệ thống lí luận về việc nghiên cứu địa danh ở Thành phố Hồ Chí Minh như: khái niệm địa danh, phân loại địa danh, phương thức cấu tạo địa danh Thành phố
Hồ Chí Minh, chức năng và ý nghĩa của việc nghiên cứu địa danh,… Kết hợp với việc nêu lí thuyết, tác giả cũng chú trọng đến việc giải thích nguồn gốc của một số địa danh
ở Thành phố Hồ Chí Minh như Sài Gòn, Chợ Lớn, Nhà Bè,…
Huỳnh Công Tín trong chuyên đề: “Địa danh ở đồng bằng Nam Bộ”, Ngữ học
Trẻ, Hội Ngôn ngữ học Việt Nam tại Hà Nội, năm 2003 đã giúp người đọc có dịp hiểu
rõ hơn về địa danh ở Nam Bộ Tác giả đi sâu giải thích các kiểu định danh ở Nam Bộ, các thành tố khởi đầu: “Cái”, “Rạch”, “Giồng”, “Chợ”, “Cù lao”, “Ba”, “Vàm”,…; các địa danh có chứa yếu tố “Tân”, “Mỹ”, “An”,…
Năm 2005, Nguyễn Hữu Hiếu cho ra đời quyển Tìm hiểu nguồn gốc địa danh
Nam Bộ qua chuyện tích và giả thuyết (Nhà xuất bản Khoa học xã hội) Công trình được
chia làm hai phần Phần một là phần khái quát về địa danh Nam Bộ Trong phần này, tác giả đã đi sâu nghiên cứu một số đặc điểm về địa danh Nam Bộ Phần hai là phần giới thiệu nguồn gốc của một số địa danh Nam Bộ từ những chuyện kể, giả thuyết trong dân gian
Năm 2006, Nhà xuất bản Khoa học xã hội đã xuất bản quyển Địa danh học Việt
Nam của tác giả Lê Trung Hoa Đây là công trình đặc biệt chuyên sâu về địa danh trên
cơ sở tổng hợp những kết quả nghiên cứu trước đây của tác giả cùng với việc đi sâu nghiên cứu những vấn đề địa danh trên từng phương diện cụ thể và sâu sắc Công trình
có thể được chia làm hai phần chính Phần đầu là phần tác giả tập trung vào việc xác lập
Trang 20những cơ sở lí thuyết chung về địa danh cùng với việc tìm hiểu những vấn đề cụ thể của địa danh Việt Nam Tác giả cũng đã tìm hiểu và lí giải về nguồn gốc cũng như ý nghĩa của một số địa danh ở Nam Bộ trong phần phụ lục của công trình
Bên cạnh đó là bốn cuốn từ điển địa danh đáng chú ý: Sổ tay địa danh Việt Nam (Nhà xuất bản Lao động ấn hành 1996) của Đinh Xuân Vịnh, Sổ tay địa danh Việt Nam (Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành 1998) của Nguyễn Dược - Trung Hải, Từ điển bách
khoa địa danh Hải Phòng (Nhà xuất bản Hải Phòng ấn hành 1998) do Ngô Đăng Lợi
chủ biên và Từ điển địa danh thành phố Sài Gòn - Hồ Chí Minh (Nhà xuất bản Trẻ ấn
hành 2003) do Lê Trung Hoa chủ biên Trong đó, đáng chú ý là công trình cấp nhà nước
Địa danh học Việt Nam của Lê Trung Hoa (2018), tái bản lần thứ 3 do Nhà xuất bản
Khoa học xã hội Việt Nam xuất bản Công trình đưa ra các khái niệm về địa danh và cách đặt tên địa danh ở Việt Nam cũng như giải thích về ý nghĩa và nguồn gốc của địa danh
Trong hơn một thập kỷ qua, có khá nhiều công trình nghiên cứu địa danh dưới góc nhìn của ngôn ngữ học Trong đó đáng chú ý một số công trình luận văn thạc sĩ và
luận án như: Nghiên cứu địa danh tỉnh Sóc Trăng, Nguyễn Thúy Diễm (2012), luận văn
thạc sĩ chuyên ngành Ngôn ngữ học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố
Hồ Chí Minh Đây là công trình nghiên cứu công phu, khoa học nhất về địa danh của tỉnh Sóc Trăng từ trước đến này dưới góc nhìn của ngôn ngữ học Tác giả đã có những khảo sát thống kê khá đầy đủ về số lượng địa danh của tỉnh cũng như các phân loại, nhận định các đặc trưng của địa danh của địa phương khá rõ ràng và đầy đủ Và đây cũng là công trình quan trọng để tác giả có thể tiếp thu triển khai các hướng nghiên cứu tiếp theo – địa danh dưới góc nhìn văn hóa học Ngoài ra, có thể nói đến luận án tiến sĩ
của Nguyễn Văn Loan (2012), Khảo sát địa danh ở Hà Tĩnh, Trường Đại học Vinh, Thành phố Hải Phòng; luận án tiến sĩ của Trần Văn Sáng (2013), Địa danh có nguồn
gốc ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở Tây Thừa Thiên Huế, Viện Khoa học Xã hội, Hà Nội
Qua việc khảo sát các công trình nghiên cứu về địa danh ở Việt Nam, có thể khẳng định, cho đến nay những đóng góp của các tác giả kể trên là đáng ghi nhận Các công trình kể trên có vai trò quan trọng trong việc “định vị” công trình đang nghiên cứu, đồng thời cũng là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng cho việc triển khai tốt đề tài đang nghiên cứu Và việc chọn đối tượng nghiên cứu địa danh dưới góc nhìn văn hóa học là
Trang 21một cách tiếp cận mới, theo hướng tiếp cận liên ngành, mở ra một hướng đi mới cho
nghiên cứu về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa văn hóa và địa danh
Mối quan hệ giữa văn hóa và địa danh hay nói rộng ra là giữa văn hóa và ngôn ngữ là mảng đề tài còn khá là mới ở Việt Nam Trong hơn một thập niên trở lại đây, vấn
đề nghiên cứu văn hóa có đối tượng là ngôn ngữ diễn ra khá phổ biến, nhất là đề tài địa danh dưới góc nhìn văn hóa học Trong phạm vi khảo sát, thống kê các công trình liên quan đến đề tài đang nghiên cứu (Văn hóa người Việt qua địa danh ở tỉnh Sóc Trăng), tác giả ghi nhận được một số công trình liên quan chủ yếu là các luận án, luận văn thạc
sĩ Ngoài ra, còn có một số công trình từ điển địa danh văn hóa và các công trình khác
có liên quan đến địa danh văn hóa
Các luận án, luận văn có thể kể đến công trình Văn hóa qua địa danh Việt ở tỉnh
Đồng Nai, Võ Nữ Hạnh Trang (2006), luận văn Thạc sĩ, trường Khoa học xã hội và
Nhân văn, Thành phố Hồ Chí Minh; công trình Khía cạnh văn hóa của địa danh ở tỉnh
Đồng Tháp, Nguyễn Thị Ngọc Bích (2008), trường Khoa học xã hội và Nhân văn Thành
phố Hồ Chí Minh; Văn hóa qua địa danh tỉnh Khánh Hòa, Huỳnh Lê Thị Xuân Phương (2009), luận án tiến sĩ Địa danh Vĩnh Long qua góc nhìn văn hóa dân gian, Ngô Thị Thanh (2017), luận án tiến sĩ Địa danh Tây Nam Bộ dưới góc nhìn Văn hóa học của tác
giả Võ Nữ Hạnh Trang (2020), trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh Nội dung chính yếu các công trình có cái nhìn khái quát những đặc trưng văn hóa qua địa danh ở nhiều phương diện vật chất và tinh thần, chủ thể, không gian và thời gian văn hóa, hay dưới lí thuyết tiếp cận văn hóa dân gian
Có thể khẳng định, các công trình của luận án, luận văn trong hơn thập niên trở lại đây nghiên cứu địa danh dưới góc nhìn văn hóa đã góp phần vào mảng đề tài về mối quan hệ văn hóa và địa danh Mảng đề tài còn khá mới trong lĩnh vực nghiên cứu văn hóa và ngôn ngữ Các công trình trên có vai trò quan trọng trong việc tham khảo, “định vị” luận án, định vị các công trình nghiên cứu tiếp theo
Các công trình từ điển địa danh văn hóa: Các công trình dạng này chủ yếu cung
cấp cho người đọc một bức tranh di sản địa danh – văn hóa lịch sử Việt Nam Các địa
danh chứa đựng các thành tố văn hóa Việt Nam có thể dẫn ra, cụ thể như: công trình Từ
điển địa danh văn hóa lịch sử Việt Nam của tác giả Nguyễn Như Ý (chủ biên), Nhà xuất
bản Giáo dục Việt Nam ấn hành năm 2013 (tái bản lần 1) Công trình tập hợp một lượng
Trang 22lớn kiến thức về văn hóa lịch sử, kiến trúc, di tích lịch sử, các di sản,… của Việt Nam Đây là công trình công phu, khái quát nhiều giá trị từ các địa danh trên cả nước Thêm
vào đó, nhóm tác giả Nguyễn Như Ý còn có công trình Từ điển văn hóa địa danh du
lịch Việt Nam do Nhà xuất bản Khoa học Xã hội xuất bản năm 2004 Công trình miêu
tả gần 5000 mực từ đại danh văn hóa và thắng cảnh di tích lịch sử, di chỉ khảo cổ học, các làng nghề truyền thống,… trên mọi miền đất nước
Tiếp theo là công trình Từ điển địa danh lịch sử - văn hóa Thế giới và Việt Nam
(giản lược) của hai tác giả Phùng Ngọc Kiên và Phùng Ngọc Bính biên soạn, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin ấn hành năm 2006 Công trình hướng tới lí giải xuất xứ, quá trình hình thành và biến đổi địa danh từ góc độ văn hóa lịch sử trong mối liên hệ giữa ngôn ngữ và địa lí Ngoài ra công trình còn đi đến việc lí giải mối quan hệ giữa địa danh
và văn hóa, tác giả cho rằng: địa danh gắn với ngôn ngữ của một vùng đất ở từng thời điểm cụ thể Ngôn ngữ lại gắn liền với những nét đặc thù về văn hóa – lịch sử, điều kiện
tự nhiên của vùng đất ấy Chính vì thế, quá trình hình thành và biến đổi của một địa danh đều có thể gợi ra lịch sử văn hóa của vùng đất đó
Nhóm các công trình này đa phần đi vào lí giải địa danh dưới góc nhìn văn hóa Hiện nay, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách có hệ thống về mối quan hệ giữa hai phạm trù văn hóa và địa danh
Các công trình địa danh văn hóa: các công trình dạng này thường lí giải địa danh
về mặt nguyên nhân hình thành, cấu tạo địa danh, lí giải theo sử tích, giai thoại và đặc biệt là làm nổi bật các giá trị văn hóa của địa danh Số ít các công trình bàn về mối quan
hệ giữa văn hóa và địa danh có thể kể đến công trình Tryện kể dân gian Nam Bộ của tác
giả Nguyễn Hữu Hiếu, xuất bản năm 1987 do Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành Công trình bao gồm những câu chuyện kể về nhiều sự tích, giải thích sự ra đời của một số địa danh Nam Bộ và các nhân vật lịch sử, danh nhân văn hóa Công trình
Ngôn ngữ văn hóa Nam Bộ của tác giả Hồ Xuân Mai, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
ấn hành năm 2015 Công trình nghiên cứu trên nhiều bình diện về ngôn ngữ và văn hóa Trong đó, tác giả có bàn luận đến mối quan hệ giữa Văn hóa và ngôn ngữ Nội dung này
có thể dùng là quan điểm tham khảo tốt cho luận án
Tiếp theo, công trình Chuyện địa danh và chữ nghĩa Nam Bộ của tác giả Huỳnh
Công Tín (tái bản lần thứ nhất), do Nhà xuất bản Văn hóa - Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 2018 Công trình gồm hai phần Phần thứ nhất giải thích địa
Trang 23danh theo dạng hỏi đáp và phần thứ hai là chuyện chữ nghĩa, tác giả lí giải những từ, ngữ khó trong chữ nghĩa Nam Bộ Công trình tiếp cận theo nguyên tắc lịch sử để lí giải
về địa danh Nam Bộ cũng như làm nổi bật nét đặc trưng văn hóa sông nước của vùng
đất và tính cách con người nơi đây Ngoài ra, có thể kể đến công trình Sử tích và giai
thoại địa danh Việt Nam của tác giả Vũ Ngọc Khánh, xuất bản năm 2022, Nhà xuất bản
Văn hóa Dân tộc Công trình tập hợp khá nhiều giai thoại địa danh, phản ánh nhận thức của người dân về việc lí giải sự ra đời của địa danh Việt Nam, có giá trị về mặt văn hóa qua địa danh, làm thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu tri thức và thẩm mĩ, lòng tự hào về vùng đất mình đang sống
1.1.3 Các công trình nghiên cứu về văn hóa và địa danh ở tỉnh Sóc Trăng
Theo tìm hiểu của chúng tôi, các nhà nghiên cứu thuộc khoa học xã hội rất quan tâm đến địa bàn nghiên cứu tỉnh Sóc Trăng, đặc biệt là các nhà văn hóa học, ngôn ngữ học, văn học và dân tộc học Bởi lẽ, đặc trưng văn hóa của địa phương này là kết quả của quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa của các tộc người anh em Việt, Hoa, Khmer,… Kết quả khảo sát cho thấy các công trình nghiên cứu về văn hóa ở tỉnh Sóc Trăng khá
đa dạng, đặc biệt là Văn hóa người Khmer Nam Bộ ở tỉnh Sóc Trăng Tuy nhiên, nghiên cứu về địa danh của của tỉnh khá hạn chế, ngoại trừ công trình của Nguyễn Thúy Diễm,
Nghiên cứu địa danh tỉnh Sóc Trăng, 2012, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Ngôn ngữ
học trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh là công trình nghiên cứu một cách hệ thống và khoa học về địa danh của tỉnh
Các công trình nghiên cứu về văn hóa ở tỉnh Sóc Trăng có thể dẫn ra như: công
trình Chuyện cũ ở Sốc – Trăng của tác giả Vương Hồng Sển (di cảo tập 1 & tập 2), nhà
xuất bản Trẻ ấn hành năm 2020, in lần thứ nhất Công trình tái hiện lại nhũng hồi ức về vùng đất Sóc Trăng xưa Các câu chuyện được ghi lại về các địa danh, nhân vật lịch sử của Sóc Trăng giai đoạn 1945 – 1947 Công trình là nguồn tài liệu tham khảo tốt về một giai đoạn lịch sử của địa phương nghiên cứu, giúp người nghiên cứu hiểu rõ hơn về bối cảnh không gian và thời gian của những địa danh ở Sóc Trăng được miêu tả trong gia đoạn trước 1975
Tiếp theo, công trình Ăn cơm mới, nói chuyện cũ: Hậu Giang – Ba Thắc của tác
giả Vương Hồng Sển, do nhà xuất bản Trẻ xuất bản năm 2012 Công trình ghi lại những nếp sinh hoạt, các sự kiện, nhân vật và đất đai thủy thổ của miền Nam, đặc biệt là Hậu Giang đầu thế kỉ 20 Trong công trình này, tác giả đã có cái nhìn khá bao quát về vùng
Trang 24đất Nam Bộ xưa, đặc biệt có một phần nội dung khá lớn nói về Sóc Trăng có thể dùng làm tài liệu tham khảo tốt cho luận án
Bên cạch đó các công trình nghiên cứu về văn hóa ở tỉnh Sóc Trăng có thể kể đến
công trình Chuyện ăn uống của người bình dân Sóc Trăng, nhìn từ góc độ văn hóa dân
gian của tác giả Trần Minh Thương, nhà xuất bản Khoa học Xã hội xuất bản năm 2015
Công trình trình bày những đặc điểm và chức năng của văn hóa ẩm thực dân gian ở tỉnh Sóc Trăng Tuy nhiên, công trình này ít có tính tham khảo cho tác giả khi nghiên cứu
công trình nghiên về phương diện văn hóa qua địa danh Công trình Văn hóa phi vật thể
các dân tộc ở tỉnh Sóc Trăng của nhóm tác giả Lâm Nhân, Triệu Thế Hùng, Nguyễn
Thái Hòa (chủ biên), nhà xuất bản Hội nhà văn, 2017 và công trình Văn hóa phi vật thể
của người Khơ Me, tác giả Trần Minh Thương (Nhà xuất bản Mỹ thuật Hà Nội, năm
2016) cũng là các công trình cần khảo sát, tiếp nhận khi nghiên cứu, đặc biệt là về phương diện văn hóa tộc người Hai công trình trên ngoài việc trình bày cơ sở lí luận, tổng quan về môi trường tự nhiên còn giới thiệu đến người đọc về ngữ văn truyền miệng
và nghệ tuật trình diễn dân gia, đặc biệt phương diện về tập quán, tín ngưỡng và tôn giáo, nghi lễ vòng đời, lễ hội truyền thống,… được xem là nghiên cứu trọng tâm của hai công trình
Nhóm các công trình nghiên cứu về lĩnh vực văn hóa ở tỉnh Sóc Trăng có thể kể
đến công trình nghiên cứu về Vấn đề dân tộc và tôn giáo ở Sóc Trăng của tác giả Trần
Hồng Liên, nhà xuất bản Khoa học Xã hội ấn hành năm 2002 Công trình bao gồm nhiều bài viết về vấn đề dân tộc và tôn giáo ở Sóc Trăng có thể dùng làm tài liệu tham khảo
tốt cho luận án Công trình luận án tiến sĩ của tác giả Lê Thị Tâm (2020), Giữ gìn và
phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở tỉnh Sóc Trăng hiện nay, viện Khoa học Xã hội,
Viện Hàm Lâm Khoa học Xã hội Việt Nam Công trình nghiên cứu về thực trạng, xác định bản sắc văn hóa dân tộc ở tỉnh Sóc Trăng từ đó đưa ra các giải pháp giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở tỉnh Sóc Trăn Tài liệu có thể tham khảo tốt cho vấn đề dân tộc tôn giáo khi nghiên cứu địa danh ở tỉnh Sóc Trăng
Từ kết quả khảo sát các công trình nghiên cứu về văn hóa của tỉnh Sóc Trăng, chúng ta có thể đi đến kết luận các công trình trên nghiên cứu văn hóa ở tỉnh Sóc Trăng trên nhiều phương diện Tuy nhiên, những công trình liên quan gần đến đề tài đang nghiên cứu còn khá hạn chế Đặc biệt, nghiên cứu văn hóa qua địa danh của tỉnh chưa
có công trình nào
Trang 25Các công trình nghiên cứu về địa danh ở tỉnh Sóc Trăng: khảo sát về các công
trình nghiên cứu về địa danh của tỉnh Sóc Trăng, chúng tôi ghi nhận được một số bài báo khoa học được đăng tải trên một số tạp chí khoa học, một số tham luận được in trong
tài liệu Hội thảo cấp tỉnh (Sóc Trăng) Ngoại trừ công trình Nghiên cứu địa danh tỉnh
Sóc Trăng của tác giả Nguyễn Thúy Diễm như đã giới thiệu ở trên, nghiên cứu về lĩnh
vực ngôn ngữ học một cách có hệ thống, khoa học về địa danh của tỉnh thì rất ít công trình nghiên cứu về địa danh ở tỉnh Sóc Trăng
Công trình có liên quan đến địa danh Sóc Trăng có thể kể đến các tham luận Nguồn
gốc và ý nghĩa một số địa danh ở tỉnh Sóc Trăng của Lê Trung Hoa, Nguồn gốc địa danh hành chính tỉnh Sóc Trăng của Nguyễn Thanh Bình, Vài nét về việc định cư, khai phá vùng đất Sóc Trăng (giữa thế kỉ XVIII và giữa thế kỉ XIX) của Lê Văn Nam, in trong
Hội thảo khoa học Lịch sử hình thành và phát triển tỉnh Sóc Trăng trước 1945 tổ chức năm 2000 Hội thảo đề cập đến nhiều nội dung, từ văn hóa, kinh tế, chính trị, dân tộc học cho tới đời sống xã hội dân cư trong vùng trước 1945 Đây là một trong những nguồn tài liệu tham khảo rất quan trọng để tác giả có cái nhìn tổng quan về đối tượng nghiên cứu, và trên nhiều bình diện khác nhau
Ngoài ra, nghiên cứu địa danh của tỉnh Sóc Trăng cũng được ghi nhận ở một số
tạp chí khoa học như: bài viết Nguyên nhân biến đổi địa danh ở tỉnh Sóc Trăng của
Nguyễn Thúy Diễm, 2019, Tạp chí khoa học Đại học Đồng Tháp Các bài viết của tác
giả Nguyễn Minh Ca: Giá trị phản ánh hiện thực của địa danh ở tỉnh Sóc Trăng (Tạp chí khoa học Đại học Đồng Tháp), Địa danh tỉnh Sóc Trăng dưới góc nhìn dân tộc học,
Địa danh Sóc Trăng dưới góc nhìn chủ thể văn hóa, Địa danh Sóc Trăng dưới góc nhìn không gian văn hóa, Địa danh Sóc Trăng dưới góc nhìn thời gian văn hóa (Tạp chí Kinh
tế - Công nghiệp Đại học Kinh tế Công nghiệp Long An),… Qua việc khảo sát các công trình nghiên cứu liên quan đến địa danh ở tỉnh Sóc Trăng, chúng ta có thể đi đến kết luận: các công trình nghiên cứu về địa danh còn khá hạn chế, nếu có chỉ tồn tại trong một số công trình nghiên cứu địa danh Nam Bộ, một số tham luận Hội thảo và số ít bài viết in trên các Tạp chí khoa học Tuy vậy, đây vẫn là nguồn tài liệu tham khảo tốt cho việc triển khai đề tài luận án
Như vậy, việc nghiên cứu văn hóa qua địa danh đã và đang được nhiều nhà khoa học quan tâm Tuy nhiên, các nghiên cứu vẫn chưa đi vào chiều sâu gắn địa danh dưới
Trang 26nhiều góc nhìn và cách tiếp cận vẫn còn chịu ảnh hưởng của các trường phái lí thuyết của ngôn ngữ học…
Vấn đề nghiên cứu địa danh dưới góc nhìn văn hóa học là một vấn đề thú vị, có
ý nghĩa trong việc giải mã văn hóa tộc người qua địa danh, lưu giữ những giá trị
về văn hóa – lịch sử của người Việt nói riêng và người Việt vùng Tây Nam Bộ nói chung (Nguyễn Minh Ca, 2021, tr 30)
Những tư liệu quý giá vừa nêu đã và đang hỗ trợ tốt cho chúng tôi rất nhiều trong quá trình khảo sát, nghiên cứu và thực hiện đề tài
Có thể kết luận rằng, các công trình được nêu trên có vai trò quan trọng trong việc định vị được vị trí của luận án của người nghiên cứu, là nguồn tư liệu quan trọng giúp tác giả luận án có những cơ sở, định hướng, triển khai phù hợp trong quá trình nghiên cứu
1.2 CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.2.1 Các khái niệm cơ bản
1.2.1.1 Khái niệm địa danh
Vấn đề định nghĩa về địa danh cho đến nay vẫn còn nhiều tranh luận của các nhà nghiên cứu Mỗi tác giả đều có phương pháp tiếp cận riêng với nhiều góc độ, nhiều phương diện khác nhau nên đã đưa ra những định nghĩa khác nhau Sau đây là một số định nghĩa tương đối phổ biến và được các nhà ngôn ngữ học quan tâm Tác giả G M Kert cho rằng:
Địa danh là tên gọi được đặt cho các đối tượng địa lí, ra đời trong một khu vực
có người sinh sống, được tạo ra bởi một cộng đồng dân cư, một tộc người Chúng
là một phần không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày và các hoạt động chính trị - xã hội ở nơi đó” (dẫn theo Nguyễn Tấn Anh, 2008, tr.16)
Một số từ điển ở nước ta thường giải thích địa danh theo lối chiết tự có nghĩa là
tên đất Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh cho rằng địa danh là “tên các miền đất (nom
de terre)” (Đào Duy Anh, 1932, tr.268) Còn trong Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê
lại định nghĩa: “Địa danh: tên đất, tên địa phương” (Hoàng Phê và các cộng sự, 2002,
tr.304) Khái niệm này chỉ đưa ra cách hiểu chung chung về địa danh, khó có thể xác định đối tượng nào thuộc địa danh, đối tượng nào không thuộc địa danh Địa danh không chỉ là tên gọi của các đối tượng địa lí, dùng riêng cho tên đất mà còn là tên gọi của các đối tượng chỉ địa hình tự nhiên, công trình xây dựng, các vùng lãnh thổ,…
Trang 27Ngoài ra, theo tác giả An Chi:
Toponymie là một danh từ của tiếng Pháp hiện đại, có nghĩa là địa danh học Đây
là một từ phái sinh bằng hậu tố “-ie” từ danh từ toponyme, có nghĩa là địa danh Toponyme gồm hai hình vị căn tố (top (o) và onyme) bắt nguồn từ hai danh từ
Hy Lạp cổ là topos (có nghĩa là nơi chốn) và onoma (có nghĩa là tên), (An Chi,
2002, tr.47-48)
Từ điển bách khoa Việt Nam định nghĩa:
Địa danh là tên gọi các lãnh thổ, các điểm quần cư (làng, xã, huyện, tỉnh, thành phố), các điểm kinh tế (vùng nông thôn, khu công nghiệp), các quốc gia, các châu lục, các núi, các đèo, cao nguyên, thung lũng, đồng bằng, châu thổ, sông, hồ, vũng, vịnh, biển, eo biển, đại dương có tọa độ địa lí nhất định ghi lại trên bản đồ.” (Trung tâm từ điển bách khoa Việt Nam, 2002, tr.780)
Cách định nghĩa này lại không có tính khái quát, thiếu tên các đơn vị hành chính như quận, thôn, ấp,…, tên các khu kinh tế như khu thương mại, khu du lịch,…, tên các công trình xây dựng như cầu, đường, công viên,…
Nguyễn Văn Âu trong công trình Địa danh Việt Nam có định nghĩa:
Địa danh là tên đất, gồm tên sông, núi, làng mạc,… hay tên các địa phương, các dân tộc” (Nguyễn Văn Âu, 1993, tr.5) hay trong Một số vấn đề về địa danh học Việt Nam: “Địa danh học (Toponymie) là một môn khoa học chuyên nghiên cứu
về tên địa lí các địa phương” (Nguyễn Văn Âu, 2000, tr.5)
Ông đã tiếp cận địa danh theo góc độ địa lí – văn hóa khi đưa ra quan niệm này Tuy nhiên, tác giả chỉ quan tâm đến các đối tượng tự nhiên mà quên rằng đối tượng nhân tạo cũng chiếm một tỉ lệ khá lớn
Hoàng Thị Châu định nghĩa địa danh lại thiên về chức năng định danh trong ngôn
ngữ: “Địa danh hay là tên địa lí (toponym, geographical name) là tên vùng, tên sông,
tên núi, là tên gọi các đối tượng địa hình khác nhau, tên nơi cư trú, tên hành chính,… được con người đặt ra” (Hoàng Thị Châu, 1989, tr.139)
Nguyễn Kiên Trường có định nghĩa khá bao quát và chi tiết về địa danh:
Địa danh là tên riêng chỉ các đối tượng địa lí tự nhiên và nhân văn có vị trí xác định trên bề mặt trái đất” (Nguyễn Kiên Trường, 1996, tr.16) hay “Địa danh mang những đặc điểm vốn có của ngôn ngữ: nó có thể là một hay nhiều âm tiết; là một đơn vị từ vựng hoàn chỉnh (từ, cụm từ); có cấu trúc ngữ pháp nhất định (một từ
Trang 28hay một đoản ngữ…) Địa danh có chức năng xác định cá thể hóa các đối tượng, điểm hay vùng địa lí Địa danh là một trong những phương tiện giúp con người nhận thức thế giới” (Nguyễn Kiên Trường, 1999, tr.329)
Bùi Đức Tịnh cho rằng: “Địa danh là một danh từ có nghĩa tổng quát để chỉ tên
gọi các loại vật thể tự nhiên được phân biệt về phương diện địa lí, các vị trí cần phân biệt trong sinh hoạt xã hội và các đơn vị được xác định trong tổ chức hành chính hay quân sự” (Bùi Đức Tịnh, 1999, tr.10) Quan niệm này khá chung chung, khó xác định
được đối tượng của địa danh
Huỳnh Công Tín đưa ra định nghĩa:
Lớp từ vựng phương ngữ Nam Bộ phản ánh rõ nét tư duy của người đồng bằng Nam Bộ là lớp từ thể hiện việc đặt tên đất, tên làng, tên sông, tên chợ,… Gọi chung là những từ địa danh hay những từ có liên quan tới địa danh Những cách đặt tên này phản ánh đặc điểm, tình hình của vùng, đồng thời nó cũng nêu bật được tâm trạng và cách suy nghĩ của người Nam Bộ nói chung qua quá trình khai phá và xây dựng vùng đất mới” (Huỳnh Công Tín, 2003, tr.60)
Cách hiểu này khá đơn giản nhưng lại hơi thiên về địa danh Nam Bộ
Từ Thu Mai hiểu địa danh theo cách hiểu của A V Superanskaja:
Địa danh là những từ ngữ chỉ tên riêng của các đối tượng địa lí có vị trí xác định trên bề mặt trái đất Mặc dù nằm trong hệ thống những loại hình khác nhau nhưng các đối tượng địa lí bao giờ cũng xuất hiện trong thực tế với những cá thể độc lập” (Từ Thu Mai, 2004, tr.19)
Trần Văn Dũng quan niệm: “Địa danh là tên gọi những đối tượng địa lí tự nhiên
và địa lí do con người kiến tạo” và “Các đối tượng do con người kiến tạo (có thể gọi là địa lí nhân văn) bao gồm: địa lí nơi cư trú, địa lí chỉ các công trình xây dựng” (Trần
Văn Dũng, 2004, tr.15) Có thể khẳng định, Cách hiểu của của ba tác giả Từ Thu Mai, Trần Văn Dũng có nhiều nét tương đồng với Nguyễn Kiên Trường
Bên cạch các quan niệm vừa nêu, tác giả Lê Trung Hoa cho rằng: “Địa danh là
những từ hoặc ngữ cố định, được dùng làm tên riêng của các địa hình tự nhiên, các đơn
vị hành chính, các vùng lãnh thổ (không có ranh giới rõ ràng) và các công trình xây dựng thiên về không gian hai chiều.” (Lê Trung Hoa, 2006, tr.18) Đây là định nghĩa
khá bao quát về địa danh và thường được sử dụng trong các công trình nghiên cứu về địa danh học
Trang 29Địa danh là những từ, ngữ được dùng làm tên riêng của các đối tượng địa lí tự nhiên và nhân tạo Những từ hoặc ngữ này đôi khi có nghĩa, đôi khi cũng không có nghĩa Nếu có nghĩa thì đó hoặc là tên người, hoặc là những tâm tư, tình cảm của con người phản ánh vào trong địa danh Nếu không có nghĩa thì đó chỉ đơn thuần là từ hoặc ngữ dùng để định danh cho một đối tượng và để phân biệt đối tượng này với đối tượng khác
Trong luận án này, chúng tôi không đưa ra một định nghĩa riêng về địa danh mà chấp nhận định nghĩa theo tiêu chí loại hình của tác giả Lê Trung Hoa
1.2.1.2 Đối tượng nghiên cứu của địa danh học
Địa danh là một phạm trù thuộc từ vựng học, chuyên nghiên cứu ý nghĩa, nguồn gốc và những biến đổi của địa danh Ngoài ra, nghiên cứu địa danh học cần phải chỉ ra được các phương thức đặt địa danh và phân tích cách cấu tạo địa danh, phát hiện những nguyên nhân ảnh hưởng đến sự ra đời, hành chức và tiêu vong của địa danh Vì thế, đối tượng của địa danh học chính là địa danh
Địa danh bao gồm các đối tượng tự nhiên và các đối tượng nhân tạo Tuy nhiên,
có một vấn đề cần lưu ý là, đối với những tên đình, chùa, miếu, miễu, nhà thờ, nhà hát, công ty, trường học, cơ quan, viện, khách sạn,… chúng ta có nên xem là địa danh hay không? Một số nhà nghiên cứu cho là có (như các tác giả trong Từ điển bách khoa địa danh Hải Phòng, Từ điển Hà Nội – Địa danh) nhưng số đông các tác giả lại không đồng tình với ý kiến này
1.2.1.3 Khái niệm tộc người và văn hóa tộc người
Cho đến nay, khái niệm tộc người vẫn còn có nhiều cách hiểu khác nhau giữa các trường phái Trường phái Anh – Mĩ sử dụng thuật ngữ ethnic group dịch ra tiếng Việt là
sắc tộc, dân tộc Theo Từ điển Nhân học của Thomas Barfield thì:
ethnic group và ethnicity là những thuật ngữ lúc đầu được sử dụng trong nhân học để chỉ những người được cho là thuộc cùng một xã hội, chia sẻ cùng một nền văn hóa và đặc biệt là sử dụng cùng một ngôn ngữ… Sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, những thuật ngữ này bắt đầu được sử dụng để thay thế cho các thuật ngữ
“bộ tộc” và “chủng tộc” (ở nước Anh) trước đây Việc sử dụng các thuật ngữ này được phản ánh trong các công trình như các tộc người ở phía bắc Đông Nam Á (dẫn theo Võ Công Nguyện, 2017, tr.15)
Trang 30Nhà nghiên cứu Đặng Nghiêm Vạn, trong công trình Cộng đồng quốc gia dân tộc
Việt Nam đa tộc người tộc người cho rằng:
tộc người là một cộng đồng mang tính tộc người có chung một tên gọi, một ngôn ngữ (trừ trường hợp cá biệt) được liên kết với nhau bằng những giá trị sinh hoạt văn hoá, tạo thành một tính cách tộc người, có chung một ý thức tự giác tộc người, tức có chung một khát vọng, được cùng chung sống, có chung một số phận lịch
sử thể hiện ở những kí ức lịch sử (truyền thuyết, lịch sử, huyền thoại, kiêng cữ…), (Đặng Nghiêm Vạn, 2003, tr.73)
Theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên):
1 Dân tộc là tên gọi các cộng đồng người hình thành trong lịch sử ở những giai đoạn phát triển khác nhau Ví dụ: dân tộc Kinh, đoàn kết các dân tộc anh em 2 Tên gọi những cộng đồng người có chung một ngôn ngữ, một lãnh thổ, một nền kinh tế và một truyền thống văn hóa Ví dụ: Dân tộc Việt Nam” (Hoàng Phê và các cộng sự, 2009, tr.331)
Cũng theo Từ điển tiếng Việt: “tộc người là một cộng đồng người có tên gọi, địa
vực cư trú, ngôn ngữ, đặc điểm sinh hoạt và văn hóa riêng” (Hoàng Phê và các cộng sự,
2009, tr.1295)
Trong công trình Dân tộc học đại cương, Lê Sĩ Giáo và các cộng sự, ông cho
rằng: “khái niệm dân tộc thực chất phải được hiểu là tộc người (ethnic) Tộc người là
hình thái đặc biệt của một tập đoàn xã hội xuất hiện không phải là do ý nguyện của con người mà là trong kết quả của quá trình tự nhiên – lịch sử” (Lê Sĩ Giáo, 2013, tr.8)
Ngoài ra, Hội thảo bàn về thành phần dân tộc Việt Nam được tổ chức tại Hà Nội (1973),
Thành phố Hồ Chí Minh (2002), các nhà nghiên cứu “đã nhất trí dùng ba tiêu chí để
xác định thành phần dân tộc: ngôn ngữ, đặc điểm văn hóa và ý thức tự giác dân tộc”
(Phan Ngọc Chiến và các cộng sự, 2005, tr.20 – 21) Ngày nay, trong quá trình giao lưu văn hóa và hợp tác quốc tế ngày càng sâu rộng
là nguyên nhân dẫn đến các tộc người sống xen kẽ trên các địa vực khác nhau (kể cả trường hợp sống ở nước ngoài), ngoài ra cơ sở về kinh tế không còn là tiêu chí khu biệt
về tộc người trong lịch sử như trước kia Trong bài nghiên cứu này, tác giả thống nhất
ba tiêu chí tộc người để nghiên cứu: 1 Ngôn ngữ tộc người; 2 Đặc điểm văn hóa tộc người; 3 Ý thức, giao lưu văn hóa tộc người
Trang 311.2.1.4 Mối quan hệ giữa văn hóa tộc người và địa danh
Địa danh là sản phẩm văn hóa phản ánh nhận thức tộc người: Địa danh trước hết
là sản phẩm của quá trình lao động có tính lịch sử của các tộc người Chức năng cơ bản của địa danh xét về mặt ngôn ngữ là dùng để định danh, gọi tên Ngoài ra, địa danh còn lưu giữ nhiều giá trị văn hóa, lịch sử, dân tộc,… (Nguyễn Minh Ca, 2021, tr 27)
Nhà nghiên cứu Lê Trung Hoa cho rằng:
Địa danh xuất hiện trong những điều kiện lịch sử, địa lí nhất định Do đó, nó mang những đặc điểm của thời điểm và môi trường nơi nó chào đời Rồi thời gian trôi qua, không gian biến đổi, nhưng nó vẫn được bảo lưu được những đặc điểm đó Vì vậy, địa danh trở thành những tấm bia lịch sử - văn hóa của một vùng đất” (Lê Trung Hoa, 2005,
tr 67)
Trong quá trình cộng cư và lao động sản xuất của các tộc người, việc đặt tên địa danh theo quy luật phản ánh các đặc điểm của tự nhiên, nhận thức theo quy luật phản ánh hiện thực, sự kiện lịch sử,… là một tất yếu của nguồn gốc hình thành địa danh Văn hóa nhận thức trong cách đặt tên của các tộc người có thể kể đến
là nhận thức về các sự vật, hiện tượng được các tộc người tiếp xúc trong quá trình lao động như: tên của các con sông, kênh rạch, các hiện tượng tự nhiên, tên động vật, thực vật, các hướng Đông, Tây, Nam, Bắc trong địa danh hành chính (Nguyễn Minh Ca, 2021, tr 28)
Tác giả Trần Văn Sáng khẳng định: “không thể nghiên cứu mối liên quan giữa
văn hóa với ngôn ngữ mà lại bỏ qua vấn đề nhận thức, vấn đề tư duy của những người thuộc một cộng đồng văn hóa – ngôn ngữ đang được nghiên cứu” (Trần Văn Sáng, 2017,
tr.172)
Văn hóa nhận thức về địa hình của các tộc người Tây Thừa Thiên Huế được tác giả thống kê có 109 ngọn núi, 17 ngon đồi, 20 động, 10 con đèo, 33 con sông, 43 con suối, 78 ngon khe, 7 con thác, 1 gò, 4 đầm, 2 hồ, 2 vực Ngoài ra cách đặt tên của các tộc người Tây Thừa Thiên cũng mang màu sắc dân dã, thể hiện lối tư duy
trực quan, cụ thể và đơn giản Ví dụ như núi Tà Vi (núi có nhiều cây giang mộc), núi Cà Lương (núi không có cây cối, đồi trọc),… (Nguyễn Minh Ca, 2021, tr 28)
Hiện tượng này cũng diễn ra tương tự khi nghiên cứu địa danh ở Nam Bộ và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng Nghiên cứu hơn 6000 địa danh ở Thành phố
Hồ Chí Minh, Lê Trung Hoa thống kê được 31 tên suối, 35 rỏng, 47 bàu, 25 vườn,
Trang 32942 rạch và địa danh ở Thành phố Hồ Chí Minh còn cho ta biết ở đây xưa kia có
cây cở và cầm thú mà nay không còn nữa như: rạch Thai Thai, rạch Thiền Liền, rạch Láng Voi, rạch Hóc Hươu, rạch Bàu Nai,… (huyện Củ Chi) (Nguyễn Minh
Ca, 2021, tr 28)
Địa danh “ẩn chứa” đặc trưng văn hóa tộc người và ý thức tộc người: Đặc trưng
văn hóa tộc người được nhận diện khi nghiên cứu địa danh có thể kể đến là tín ngưỡng, tôn giáo và ý thức tộc người Về tín ngưỡng và tôn giáo có trong địa danh tuân thủ theo quy luật phản ánh sự tồn tại của thực thể văn hóa tại nơi địa danh ra đời Qua việc tìm hiểu về nguồn gốc địa danh, nhiều địa phương cho ta biết được tại nơi đó có nhiều phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo của tộc người đã từng tồn tại hay hiện tại những dấu tích ấy vẫn còn hiện diện Ví dụ: Địa danh Sóc Trăng là kết quả của quá trình cộng cư và quá trình nhận thức của các cộng đồng tộc người anh em Khmer, Việt, Hoa,… Chính sự cộng cư của cộng đồng ba dân tộc này đã tạo nên sự đa dạng về văn hóa Đặc trưng văn hóa tộc người qua địa danh được thể hiện qua các yếu tố tín ngưỡng, tôn giáo và tâm lí tộc người (Nguyễn Minh Ca, 2021, tr 28)
Về tín ngưỡng, có thể nói, hình thức tín ngưỡng thờ Neak Tà có ảnh hưởng khá sâu sắc trong đời sống của cư dân Khmer nói chung và tên gọi địa danh nói riêng Neak Tà vốn được xem là thần bản thổ, thần bảo hộ phum, sóc, dân làng Đối với tộc người Hoa và người Việt, bốn con vật Long, Lân, Quy, Phụng vốn là những con vật linh thiêng trong thần thoại Trung Quốc với những đặc tính xuất chúng Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng từ quan niệm này của người Hoa Ở Sóc Trăng, các linh vật Long, Quy và Phụng xuất hiện nhiều trong địa danh Long (rồng) thường được mượn danh dùng cho các bậc đế vương, tượng trưng cho uy quyền, thịnh vượng Quy (rùa) đại diện cho tướng quý, sống thọ Phụng (phượng hoàng) đại diện cho hạnh phúc lứa đôi (Nguyễn Minh Ca, 2021, tr 29)
Ý thức tộc người là ý thức tự giác, gìn giữ bản sắc của tộc người, có người còn gọi là lòng tự tôn của dân tộc Nhờ có ý thức tộc người nên ta có thể khu biệt được những đặc trưng văn hóa của các tộc người khi họ sống cạnh nhau Ý thức tộc người rất cần thiết cho bối cảnh toàn cầu hóa như ngày nay khi giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các quốc gia diễn ra ngày càng sâu rộng Biểu hiện về ý thức tộc
Trang 33người trong địa danh như các huyền thoại, truyền thuyết, về các anh hùng dân tộc của các tộc người (Nguyễn Minh Ca, 2021, tr 29)
Ví dụ: đồi Kăn Rơn (pangkong Kăn Rơâng – đồi mang tên nữ dân công người Pa – cô)
được ghi lại trong truyền thuyết, cổ tích (Trần Văn Sáng, 2017, tr.198) Truyền thuyết
về địa danh Ông Phò (Vĩnh Long) Vì tiêu diệt cọp, ông bị chúng vả vào mặt, dấu tay của cọp đã hằn lên một vết thương không chữa trị được (Ngô Thị Thanh, 2017, tr.101)
Sự phân bố tộc người dẫn đến việc hình thành địa danh: Đặc điểm về việc lựa
chọn nơi ở, phương thức canh tác, cũng như ý thức tộc người, tín ngưỡng và tôn giáo của các tộc người bản địa đã ảnh hưởng, tác động, thậm chí là chi phối đến việc hình thành địa danh của địa phương Đặc biệt là nơi cư trú và địa văn hóa của vùng canh tác Yếu tố địa chính trị cũng có ảnh hưởng nhất định nhưng sẽ có hiện tượng thay đổi nhanh chóng khi thể chế thay đổi Trường hợp của địa danh tỉnh Sóc Trăng là một điển hình: Nếu như tộc người Khmer chọn những nơi cao, khô ráo để định cư, lùi xa những kênh, rạnh thì người Việt lại chọn những nơi có nước ngọt của kênh, rạch để canh tác, sinh hoạt Người Hoa bên cạnh việc làm nông nghiệp còn rất giỏi thương nghiệp, có xu hướng đi rất nhiều nơi để trao đổi hàng hóa Ban đầu các tộc người anh em Việt – Hoa – Khmer,… định cư ở những nơi khác khu biệt về tên gọi của đơn vị tổ chức xã hội; người Khmer ở trong
những phum (phum), sóc (srôk), tha la (sala), người Hoa tổ chức thành những
Minh Hương xã, Thanh Hà xã, người Việt thành lập những làng (đơn vị nhỏ hơn còn gọi là xóm) Sau này, do nhu cầu phát triển nên trong cộng đồng diễn ra hiện tượng cộng cư, giao lưu tiếp biến văn hóa giữa các tộc người bản địa (Nguyễn Minh Ca, 2021, tr 30)
1.2.1.5 Khái niệm vật linh giáo và bái vật giáo
Vật linh giáo theo nghĩa rộng chỉ sự tín ngưỡng vào linh hồn và thần linh Theo nghĩa hẹp là sự tín ngưỡng vào linh biểu thị giai đoạn đầu tiên của tôn giáo Theo Tylor:
Sự tín ngưỡng và cái hậu tồn (la post – existence) của linh hồn đã là lí do của sự
thờ phượng nghười chết và tiên tổ Quan niện linh hồn đầu thai cũng được giải thích bằng các hiện tượng ấy Bằng loại suy, người nguyên thủy kết luận rằng súc vật, cỏ cây và cả đồ vật vẻ ngoài chỉ tĩnh cùng đều có một thể xác và linh hồn.”
(Bùi Quang Thắng (chủ biên), 2008, tr 211 – 212)
Trang 34Sự tồn tại tự lập của linh hồn dẫn đến quan niệm về các thần linh độc lập làm cho cõi tự nhiên có sinh khí, nhưng các thần linh nọ cũng có thể chiếm lĩnh con người, người
ta cũng giải thích như thế trong hiện tượng:
“ma làm” hoặc hiện tượng thể hiện trong bất kỳ đối tượng nào, và đó là nguồn gốc của thuyết “bái vật” Biểu hiện của vật linh giáo là thờ tời đất (La Nature), cụ thể thờ sông, cây cối, súc vật, “Về sau, người ta không chỉ linh thiêng hóa một đối tượng cá thể, mà toàn thể một chủng: nư thể người ta đi đến thần tính các sông (une divinité des rivières), một thần tính khác cho các rừng, các núi non,…” (Bùi Quang Thắng (chủ biên), 2008, tr 211 – 212)
Như vậy, vật linh giáo với quan niệm “vạn vật hữu linh” là sơ khai của nhiều tôn giáo trên thế giới Thuyết hồn linh hay vật linh giáo là một trong những lí thuyết nền tảng sơ khai có biểu hiện trong việc thực hành và quan niệm ấy trong địa danh ở tỉnh Sóc Trăng Vấn đề này sẽ được trình bày cụ thể trong chương 3 của luận án
Bái vật giáo là niềm tin vào năng lực siêu nhiên của vật thể nào đó, đặc biệt là do con người làm ra Về cơ bản, bái vật giáo là việc một cộng đồng nào đó gán các quyền lực và giá trị cố hữu cho một vật thể Bái vật giáo là một biểu tượng của một sức mạnh
thần thánh, thứ được hiện hữu và hữu hiệu: “Những bái vật tự nhiên có được hiệu lực
ma thuật nhờ những sức mạnh ngự trong chúng và do tự nhiên đem lại như: vỏ sò, viên
đá cuội, mẩu gỗ, phân,…” (Jaen Chavalier – Alain Gheerbrant, 2016, tr 51) Bái vật giáo
truyền tải những quyền năng qua thầy cúng (nganga) Như vậy, những vật thờ ấy là những vật hỗ trợ đơn giản, hoặc cũng có thể nói là những vật truyền dẫn sức mạnh ma thuật
1.2.2 Lí thuyết nghiên cứu và bộ tiêu chí giải mã địa danh
1.2.2.1 Lí thuyết nghiên cứu
Ngành văn hóa học tính từ lúc ra đời cho đến nay đã hình thành cho mình nhiều
lí thuyết nghiên cứu khác nhau trong đó có thể kể ra một số lí thuyết tiêu biểu như: Trong thực tiễn, nghiên cứu văn hóa, tùy vào từng hiện tượng văn hóa và đối tượng khác nhau mà việc sử dụng các lí thuyết nghiên cứu và phương pháp tiếp
cận cũng khác nhau Trong luận án này, chúng tôi sử dụng lí thuyết vùng văn
hóa, thuyết khuếch tán (truyền bá) văn hóa, và thuyết giao lưu tiếp biến văn
hóa làm lí thuyết tiếp cận nghiên cứu đề tài Trong đó, lí thuyết vùng văn hóa,
ngôn ngữ học văn hóa, giao lưu tiếp biến văn hóa đóng vai trò chủ đạo cùng với
Trang 35nguyên tắc tiếp cận tổng thể và phương pháp nghiên cứu liên ngành (Nguyễn Minh Ca, 2022, tr 20)
Lí thuyết vùng văn hóa của nhân chủng học Mỹ ra đời vào cuối thế kỉ XIX đầu
thế kỉ XX, một mặt, nó chống lại quan điểm tiến hóa của L Morgan và E Taylor;
mặt khác, nó cũng phê phán những quan điểm “vòng văn hóa”, “khuếch tán văn hóa” cực đoan của các nhà nghiên cứu Tây Âu Đại diện cho thuyết vùng văn hóa chính là C.L Wisler và A.L Kroeber và F Boas theo F Boas, một mặt ông thừa nhận tính thống nhất và quy luật chung của phát triển văn hóa nhân loại; nhưng mặt khác, cũng khẳng định một cách hoàn toàn có lí rằng, văn hóa của mỗi dân tộc được hình thành trong quá trình lịch sử gắn liền với môi trường xã hội nhất định và trong điều kiện địa lí cụ thể (Nguyễn Minh Ca, 2022, tr 20)
Trong công trình Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa Việt Nam, Ngô Đức Thịnh tổng
kết các quan niệm của các nhà nhân chủng học Mỹ mà tiêu biểu là C.L Wisler:
Từ thực tế nghiên cứu C.L Wisler đã đi đến kết luận mang tính nguyên tắc là nghiên cứu các vùng văn hóa nhất thiết phải bắt đầu từ việc phân tích một tổ hợp các yếu tố văn hóa, rằng không thể nhìn nhận riêng rẽ từng yếu tố một, chúng hợp thành một thể thống nhất không thể chia cắt, và đó chính là kết quả của quá trình lâu dài nhóm cư dân ấy thích ứng với những điều kiện của môi trường sinh thái (Ngô Đức Thịnh, 2004, tr29)
Ngô Đức Thịnh khẳng định các nhà nghiên cứu địa chí Việt Nam là những người đầu tiên có khái niệm về không gian văn hóa Ở Việt Nam, kể từ những năm 70 của thế
kỉ XX “việc sưu tầm, nghiên cứu và biên soạn các công trình về văn hóa đã bắt đầu thể
hiện rõ khuynh hướng nhìn nhận văn hóa theo vùng” (Ngô Đức Thịnh, 2004, tr.53) Ông
định nghĩa:
Vùng văn hóa là một vùng lãnh thổ có những tương đồng về mặt hoàn cảnh tự nhiên, dân cư sinh sống ở đó từ lâu đã có những mối quan hệ nguồn gốc và lịch
sử, có những tương đồng về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, giữa họ đã diễn
ra những giao lưu, ảnh hưởng văn hóa qua lại, nên trong vùng đã hình thành những đặc trưng chung, thể hiện trong sinh hoạt văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của cư dân, có thể phân biệt với vùng văn hóa khác (Ngô Đức Thịnh, 2004, tr.64)
Trang 36Hiện nay, ngoài Ngô Đức Thịnh, lí thuyết về vùng văn hóa được khá nhiều học giả quan tâm đưa ra định nghĩa cũng như đặc trưng của nó, tiêu biểu có Trần Quốc Vượng, Huỳnh Khái Vinh, Trần Ngọc Thêm Nhìn chung, các nhà nghiên cứu Việt Nam nhìn nhận, lí giải khá thống nhất với nhau về nội hàm khái niệm và đặc trưng về vùng văn hóa Bàn về nội hàm vùng văn hóa, Trần Ngọc Thêm nhận định:
Vùng văn hóa là một không gian lãnh thổ liên tục với hoàn cảnh tự nhiên tương đối đồng nhất ở bên trong và khu biệt với các không gian lãnh thổ liền kề bên ngoài, trong đó tồn tại một cộng đồng người thống nhất tương đối (gồm một hay nhiều tộc/nhóm người), đã cùng cư trú và tiếp xúc giao lưu đồng hướng với nhau trong một thời gian đủ dài để tạo nên được một hệ thống giá trị chung đặc thù cho phép khu biệt nó với các hệ thống giá trị của những vùng có liên quan (Trần Ngọc Thêm, 2018, tr.47)
Ứng dụng vào trong việc nghiên cứu địa danh, chúng tôi kế thừa lí thuyết vùng văn hóa của các nhà khoa học đi trước, nghiên cứu địa danh bao trùm các yếu tố
không gian văn hóa, thời gian văn hóa Từ đó, chúng tôi cũng xác định vùng văn
hóa bao gồm các địa phương, vùng lãnh thổ cùng có một hệ thống giá trị văn hóa vật chất và tinh thần khá tương đồng Ranh giới vùng văn hóa giữa các địa phương, vùng lãnh thổ không đồng nhất với địa giới của các đơn vị hành chính
Các yếu tố chi phối quá trình hình thành vùng văn hóa được xác định như sau:
- Có những nét tương đồng về vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên
- Có những nét tương đồng về phương thức sản xuất, hoạt động kinh tế
- Có những nét tương đồng về bối cảnh lịch sử, xã hội
- Có những nét tương đồng về nguồn gốc tộc người
Như vậy, các yếu tố nói trên sẽ chi phối sự vận động hình thành nên nét văn hóa
ở từng địa phương, vùng lãnh thổ tạo nên vùng văn hóa tương đối đồng nhất (Nguyễn Minh Ca, 2022, tr 21)
Dựa vào cơ sở khoa học nói trên, trong việc áp dụng vùng văn hóa nghiên cứu địa danh, chúng tôi cũng sẽ tiến hành:
Phân tích nhân tố môi trường tự nhiên, kinh tế, xã hội và lịch sử giao lưu văn hóa để hình thành các vùng văn hóa, quy luật hình thành và biến đổi của các vùng văn hóa trong tiến trình lịch sử; Vai trò và tác động qua lại giữa trung tâm
Trang 37và ngoại vi trong quá trình hình thành các vùng văn hóa” (Huỳnh Ngọc Thu,
2016, tr.60)
Việc xác định lí thuyết nghiên cứu về vùng văn hóa giúp chúng ta lí giảiđược mối quan hệ giữa địa phương với khu vực; khắc phục được những vấn đề còn tồn tại trong nghiên cứu địa danh như: truy tìm được nguồn gốc địa danh, xác định được hoàn cảnh, thời điểm ra đời và phát triển của địa danh, đặc biệt là việc lí giảinguyên nhân địa danh tồn tại hoặc mất đi, địa danh bị sai lệch, cầu kỳ, khó hiểu, địa danh giống nhau ở nhiều khu vực tỉnh thành Tây Nam Bộ,… và khái quát hơn cả là đưa ra những quy luật văn hóa chi phối quá trình hình thành, tồn tại và lưu truyền địa danh (Nguyễn Minh Ca, 2022, tr 21)
Thuyết giao lưu tiếp biến văn hóa: về mặt lí luận, giao lưu tiếp biến văn hóa là
một hiện tượng văn hóa xảy ra khi hai nền văn hóa ở nhau, tiếp xúc nhau dẫn đến những biến đổi giữa một hoặc cả hai nền văn hóa Tiếp biến văn hóa là kết quả của cuộc gặp gỡ của các nền văn hóa với nhau Những ảnh hưởng của quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa có thể thấy được ở nhiều cấp độ khác nhau Ở cấp độ nhóm, tiếp biến văn hóa thường dẫn đến những thay đổi về văn hóa, phong tục và
tổ chức xã hội Ở cấp độ cá nhân, những thay đổi được nhận thấy ở hành vi, đối
xử hàng ngày, kể cả về mặt tâm lí Nói cách khác giao lưu và tiếp biến văn hóa là
sự tiếp nhận văn hóa từ bên ngoài (tộc người khác hay nước khác) của tộc người, dân tộc chủ thể Quá trình này luôn luôn đặt mỗi tộc người phải xử lí tốt mối quan
hệ biện chứng giữa yếu tố nội sinh và yếu tố ngoại sinh Hai yếu tố này luôn có khả năng chuyển hóa cho nhau và rất khó tách biệt trong một thực thể văn hóa (Nguyễn Minh Ca, 2022, tr 20)
Về đặc trưng, kết quả của quá trình tiếp biến giao lưu văn hóa diễn ra hai trạng thái: một là yếu tố ngoại sinh lấn át, triệt tiêu yếu tố nội sinh; hai là có sự cộng hưởng lẫn nhau, yếu tố ngoại sinh dần dần trở thành yếu tố nội sinh hoặc bị phai nhạt căn tính yếu tố ngoại sinh Một đặc điểm nữa, mức độ tiếp nhận trong giao lưu văn hóa cũng khác nhau Bởi vì, các tộc người khác nhau luôn nhìn nhận vấn
đề nên hay không nên trong việc giao lưu văn hóa (tiếp nhận có lí trí, có chọn lọc) Sự chọn lọc này diễn ra ở ba mức độ khác nhau:
Mức độ 1: không tiếp nhận toàn bộ mà chỉ chọn lọc lấy những giá trị thích hợp
cho tộc người mình
Trang 38Mức độ 2: tiếp nhận hệ thống nhưng đã có sự sắp xếp lại theo quan niệm giá trị của tộc người mình
Mức độ 3: mô phỏng lại thành tựu của tộc người khác bởi tộc người chủ thể
(Nguyễn Minh Ca, 2022, tr 22)
Về phạm vi, thuật ngữ giao lưu (tiếp xúc) tiếp biến văn hóa được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành khoa học xã hội như khảo cổ học, dân tộc học, văn hóa học,… tức là những ngành khoa học có đối tượng nghiên cứu là con người và xã hội, nhân văn Có thể nhận thấy rằng, tiếp xúc và giao lưu văn hóa là một hiện tượng văn hóa diễn ra thường xuyên của xã hội, gắn với diễn trình của xã hội Giao lưu văn hoá cũng có vai trò rất quan trọng trong lịch sử của nhân loại Bởi
vì, trong quá trình giao lưu ấy nhiều kỹ thuật trong sản xuất, phát minh được chia
sẻ giữa các tộc người (Nguyễn Minh Ca, 2022, tr 22)
Tóm lại, tiếp biến và giao lưu văn hóa là một quy luật tất yếu, là nhu cầu phát triển của nhân loại trong thời đại ngày nay
1.2.2.2 Bộ tiêu chí giải mã địa danh
Dựa vào lí thuyết vùng văn hóa, chúng tôi đưa ra bộ tiêu chí giải mã địa danh dưới góc nhìn văn hóa tộc người bao gồm ba tiêu chí: thứ nhất, ngôn ngữ tộc người; thứ hai, phong tục tập quán, tín ngưỡng tôn giáo; thứ ba, ý thức tộc người
Ngôn ngữ tộc người: Ngôn ngữ gắn liền với số phận lịch sử của một tộc người
trong quá trình hình thành và phát triển Ngôn ngữ tộc người là nhân tố trọng yếu khu biệt các tộc người với nhau trong cùng không gian và thời gian văn hóa Ngôn ngữ tộc người phát triển gắn liền với hoạt động nghề nghiệp của tộc người Địa danh người Việt ở Sóc Trăng tồn tại cho đến ngày hôm nay còn lưu dấu tên các làng nghề, tên của các loài động vật, thực vật, các hiện tượng, màu sắc tự nhiên,… thể hiện mặt tiếp xúc, nhận thức của các tộc người nói chung và người Việt nói riêng trong quá trình lao động sản xuất
Phong tục tập quán, tín ngưỡng tôn giáo: Phong tục tập quán tộc người là sản
phẩm kết tinh hàng nghìn năm, làm thành chuẩn mực văn hóa và có chức năng phân biệt tộc người này với tộc người khác, thể hiện tập quán, hoạt động kinh tế, trong hoạt động văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần và văn hóa xã hội (Nguyễn Minh Ca, 2022, tr 23)
Trang 39Nhà nghiên cứu dân tộc học và nhân học văn hóa Phan Hữu Dật chỉ ra giá trị của tập quán:
Là ở chỗ, tuy nó chưa trở thành luật tục nhưng cũng là nhân tố góp phần điều chỉnh hành vi con người trong cộng đồng Như Ăngghen đã từng viết, tập quán
là lĩnh vực quan trọng của văn hóa tộc người Các nhà dân tộc học Trung Quốc gần đây còn xem tập quán như là tiêu chí thứ 5, bên cạnh ngôn ngữ, lãnh thổ, kinh
tế, văn hóa, để xác định thành phần tộc người.” (Phan Hữu Dật, 2018, tr.390) Như vậy, để khu biệt đặc trưng văn hóa tộc người thì tập quán cũng là một tiêu chí quan trọng
Trong hoạt động kinh tế, nét đặc trưng của văn hóa tộc người thể hiện ở các tập quán liên quan đến hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, các ngành nghề hay các nghi lễ trước
và sau vụ mùa,… Trong công trình Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ (Huỳnh Lứa chủ
biên), nhóm tác giả cho rằng:
Sẽ là rất không đầy đủ nếu nói đến văn hóa dân gian của một vùng mà không đề cập đến các nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống và nghệ thuật tạo hình dân gian của vùng đó Các nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống và nghệ thuật tạo hình dân gian chẳng những cho chúng ta thấy được bản lĩnh nghề nghiệp thủ công có từ lâu đời trong dân gian, mà quan trọng hơn, còn làm cho tâm hồn chúng ta rung động trước trình độ thẩm mỹ, năng lực sáng tạo nghệ thuật của nhân dân lao động
mà lực lượng tiêu biểu là các thợ thủ công tài hoa và các nghệ nhân dân gian ưu
tú (Huỳnh Lứa, 2017, tr.292)
Ý thức tộc người: Về nhận thức luận, ý thức tộc người là ý thức gìn giữ những
đặc trưng riêng biệt của mình trong suốt quá trình lịch sử lâu dài Có người cho rằng nó
là “tộc tính” riêng, bản sắc riêng, bao gồm cả về vật chất lẫn tinh thần của tộc người Tác giả Trần Long cho rằng:
Ý thức tộc người bao hàm sự tự khẳng định của cộng đồng qua trường kì lịch sử gồm cộng đồng kí ức, cộng đồng hiện tại và cả cộng đồng tương lai với những giá trị chính trị, đạo đức cùng khát vọng về sự phát triển Ý thức tộc người vừa hòa nhập tự nhiên vào đời sống tinh thần của cộng đồng cư dân vừa có khả năng tạo ra khoảng cách để xác lập đời sống riêng của tộc người Ý thức tộc người, do vậy, là sản phẩm văn hoá đồng thời là điểm xuất phát của sáng tạo và gìn giữ văn
Trang 40hoá tộc người Ý thức tộc người là nhân tố trực tiếp làm nên tinh thần, cốt cách
của dân tộc (Trần Long, 2008)
Cũng theo Trần Long thì ý thức tộc người là yếu tố quan trọng tạo nên bản sắc văn hóa chứ không phải đơn thuần là văn hóa vật chất hay văn hóa tinh thần thường thấy Như vậy, nó gần với tính cách văn hóa của một dân tộc hơn và được nhận diện trong tiến trình lịch sử của tộc người, là nền tảng quan trọng để nhận diện bản sắc văn hóa của dân tộc Tác giả lí giải, bản sắc văn hóa được thể hiện trên cả hai bình diện vật thể và phi vật thể Tuy nhiên, bản sắc văn hóa không phải là các sự vật hiện tượng cụ thể (tức văn hoá vật thể), cũng không phải là các phương thức về y dược, ẩm thực, âm nhạc, hội họa, (tức văn hoá phi vật thể) Do văn hóa luôn gắn với chủ thể nhất định nên bản sắc văn hoá chính là “cá tính” của chủ thể văn hoá Như vậy:
tìm kiếm bản sắc văn hóa ở cấp độ dân tộc, chúng tôi đặc biệt lưu ý đến vai trò của ý thức tộc người Ý thức tộc người có quá trình hình thành phát triển gắn với quá trình sáng tạo, giao lưu, tiếp biến, giữ gìn, phát triển văn hoá của chủ thể văn hoá Tộc người nào có một quá trình hình thành phát triển lâu dài, được nhân loại thừa nhận về mặt lịch sử chắc chắn tộc người đó có đủ “nội lực” để hình thành bản sắc văn hóa (Trần Long, 2008)
Khảo sát địa danh ở tỉnh Sóc Trăng, chúng tôi ghi nhận ý thức tộc người không chỉ thể hiện ở ngôn ngữ nói trong giao tiếp hằng ngày mà ý thức của họ còn được lưu giữ trong các truyền thuyết về địa danh, tên các anh hùng lịch sử, tên những người có công với địa phương, tên các sự kiện lịch sử… của tộc người vẫn được lưu giữ cho đến ngày nay
1.3 KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1.3.1 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển tỉnh Sóc Trăng
1.3.1.1 Thời kì phong kiến
trước vốn là vùng đất chưa định hình rõ về mặt biên giới lãnh thổ Vào thời gian này cuộc tranh chấp diễn ra giữa vương quốc Phù Nam với Chân Lạp Tuy giành được thắng lợi nhưng nhà nước phong kiến Chân Lạp không xây dựng được hệ thống chính quyền quản lí vùng đất đã chiếm đóng Cho nên trong một thời gian dài, vùng đất phía Nam, trong đó có Sóc Trăng, những người dân nơi đây không chịu sự quản lí của quốc gia nào Đến năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế và cho thành lập ngũ trấn, bao gồm