1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo Trình Kinh Tế Tài Nguyên.pdf

194 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo Trình Kinh Tế Tài Nguyên
Tác giả Nguyễn Văn Song, Trần Thị Thu Trang
Trường học Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam
Chuyên ngành Kinh Tế Tài Nguyên
Thể loại Giáo Trình
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 194
Dung lượng 2,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1.1. Nội dung nghiên cứu về kinh tế học, kinh tế học vi mô, kinh tế học vĩ mô và kinh tế tài nguyên (11)
  • 1.2. ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN CƠ BẢN CỦA MÔN HỌC (16)
    • 1.2.1. Đối tượng và nhiệm vụ của Kinh tế tài nguyên (16)
    • 1.2.2. Phương pháp tiếp cận nghiên cứu Kinh tế tài nguyên (17)
  • 1.3. KHÁI NIỆM TÀI NGUYÊN, CÁC VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU VÀ QUYỀN SỞ HỮU (19)
    • 1.3.1. Khái niệm về tài nguyên và những vấn đề cần nghiên cứu (19)
    • 1.3.2. Quyền sở hữu (20)
  • Chương 2. TÀI NGUYÊN VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ (24)
    • 2.1. MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN (24)
      • 2.1.1. Hoạt động của hệ kinh tế và tác động của nó đối với tài nguyên (25)
      • 2.1.2. Vai trò của hệ thống tài nguyên (26)
      • 2.1.3. Các quan điểm cơ bản kết hợp giữa tài nguyên và phát triển kinh tế (28)
      • 2.1.4. Sự khan hiếm tài nguyên, nghèo đói và các thách thức với phát triển bền vững (29)
    • 2.2. PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG (29)
      • 2.2.1. Khái niệm (29)
      • 2.2.2. Phân loại phát triển bền vững (30)
      • 2.2.3. Điều kiện về phát triển bền vững (32)
      • 2.2.4. Nguyên tắc phát triển bền vững (33)
      • 2.2.5. Thước đo về phát triển bền vững (36)
      • 3.1.2. Mối quan hệ giữa khai thác và tài nguyên có thể tái tạo (41)
    • 3.2. KINH TẾ ĐẤT VÀ KINH TẾ NƯỚC (42)
      • 3.2.1. Kinh tế tài nguyên đất (42)
      • 3.2.2. Kinh tế tài nguyên nước (56)
  • Chương 4. KINH TẾ TÀI NGUYÊN RỪNG (71)
    • 4.1. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA RỪNG ẢNH HƯỞNG TỚI QUÁ TRÌNH QUẢN LÝ, SỬ DỤNG VÀ KHAI THÁC (71)
    • 4.2. MÔ HÌNH SINH HỌC VÀ KINH TẾ KHAI THÁC GỖ (73)
      • 4.2.1. Mô hình sinh học (73)
      • 4.2.2. Xác định năm khai thác gỗ đạt hiệu quả sinh học và hiệu quả kinh tế (74)
    • 4.3. MÔ HÌNH KHAI THÁC RỪNG ĐẠT HIỆU QUẢ DỰA TRÊN KHOẢNG THỜI GIAN KHAI THÁC VÀ CHI PHÍ CƠ HỘI (76)
      • 4.3.1. Xác định mô hình khoảng thời gian khai thác tối ưu (76)
    • 4.4. CHU KỲ KHAI THÁC TỐI ĐA HÓA LỢI ÍCH XÃ HỘI (82)
    • 4.5. MỘT SỐ CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ RỪNG CỦA CHÍNH PHỦ LIÊN (83)
      • 4.5.1. Thuế dựa trên đơn vị sản lượng khai thác (83)
      • 4.5.2. Thuế đánh theo đơn vị diện tích (83)
      • 4.5.3. Thuế lợi nhuận (84)
      • 4.5.4. Lệ phí giấy phép trồng rừng (84)
      • 4.5.5. Trợ cấp (84)
      • 4.5.6. Quyền sở hữu và quản lý rừng (84)
      • 4.5.7. Quyền sở hữu đất rừng (86)
      • 4.5.8. Chính sách thu hoạch (Quota khai thác) (86)
      • 4.5.9. Trồng lại rừng (87)
      • 4.5.10. Các chính sách khác tác động đến việc sử dụng rừng (87)
    • 4.6. CHÍNH SÁCH CẢI THIỆN VIỆC SỬ DỤNG RỪNG (88)
  • Chương 5. KINH TẾ TÀI NGUYÊN THỦY SẢN (94)
    • 5.1. GIỚI THIỆU CHUNG (94)
    • 5.2. MÔ HÌNH KHAI THÁC THỦY SẢN (95)
      • 5.2.1. Mô hình cân bằng sinh học thuỷ sản (trạng thái ổn định) (96)
      • 5.2.2. Mô hình sinh học, khai thác trong điều kiện tài nguyên thủy sản là vô chủ (open access) (102)
      • 5.2.3. Mô hình kinh tế khai thác thủy sản (106)
      • 5.2.4. Ảnh hưởng ngoại ứng của quá trình khai thác trong điều kiện sở hữu vô chủ (108)
      • 5.2.5. Đường cung cuả ngành thuỷ sản (109)
      • 5.2.6. Mô hình trong trạng thái ổn định động (114)
    • 5.3. CƠ SỞ THUẾ TỐI ƯU VÀ CÁC CÔNG CỤ KINH TẾ CỦA CHÍNH PHỦ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN THỦY SẢN (118)
      • 5.3.1. Nguyên lý chung để ban hành thuế (118)
      • 5.3.2. Các công cụ quản lý thuỷ sản (119)
      • 5.3.3. Một số quy định về khai thác thủy sản (124)
  • Chương 6. KINH TẾ TÀI NGUYÊN KHÔNG THỂ TÁI TẠO (130)
    • 6.1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ KINH TẾ TÀI NGUYÊN KHÔNG THỂ TÁI TẠO (130)
    • 6.2. CÁC VẤN ĐỀ CẦN QUAN TÂM TRONG QUẢN LÝ, KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG NGUỒN TÀI NGUYÊN KHÔNG THỂ TÁI TẠO (131)
      • 6.2.1. Vấn đề khai thác và sử dụng tài nguyên không thể tái tạo (131)
    • 6.3. CÁC MÔ HÌNH KINH TẾ CƠ BẢN TRONG QUẢN LÝ, KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN KHÔNG THỂ TÁI TẠO (133)
      • 6.3.1. Mô hình cơ bản của lý thuyết khai thác tài nguyên không thể tái tạo (trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo) (133)
      • 6.3.3. Khai thác trong điều kiện chất lượng quặng không thay đổi trong một mỏ (chỉ có sản lượng thay đổi) (138)
      • 6.4.2. Mô hình chi phí khan hiếm và tô khan hiếm (142)
      • 6.4.3. Mô hình sử dụng tối ưu nguồn tài nguyên qua các giai đoạn thời gian (143)
      • 6.4.5. Kế hoạch hoá và quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên (145)
      • 6.4.6. Mô hình phân bổ hiệu quả nguồn tài nguyên có thể tái chế (146)
      • 6.4.7. Chi phí biên của người sử dụng (MUC) (147)
      • 6.4.8. So sánh các mô hình (148)
    • 6.5. THỰC TRẠNG VÀ CÁC CÔNG CỤ TRONG QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN KHÔNG THỂ TÁI TẠO Ở VIỆT NAM (149)
  • Chương 7. KINH TẾ ĐA DẠNG SINH HỌC (153)
    • 7.1. KHÁI QUÁT VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC (153)
      • 7.1.1. Khái niệm đa dạng sinh học (153)
      • 7.1.2. Vai trò của đa dạng sinh học (154)
      • 7.1.3. Chỉ thị đa dạng sinh học (155)
    • 7.2. GIÁ TRỊ KINH TẾ MÔI TRƯỜNG CỦA ĐA DẠNG SINH HỌC (156)
      • 7.2.1. Giá trị sử dụng và giá trị tồn tại (156)
      • 7.2.2. Giá trị triển vọng trong tương lai (157)
      • 7.2.3. Dịch vụ hệ sinh thái (158)
    • 7.3. SỰ TUYỆT CHỦNG CỦA CÁC LOÀI ĐỘNG THỰC VẬT HOANG DÃ (159)
      • 7.3.1. Nguy cơ tuyệt chủng các loài động thực vật hoang dã ở Việt Nam (159)
      • 7.3.2. Nguyên nhân dẫn tới sự tuyệt chủng các loài động thực vật hoang dã (165)
    • 7.4. CHIẾN LƯỢC BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC Ở VIỆT NAM (168)
      • 7.4.1. Các chính sách, chiến lược bảo tồn đa dạng sinh học (169)
      • 7.4.2. Đa dạng sinh học trong ngành nông nghiệp (170)
      • 7.4.3. Đa dạng sinh học trong ngành lâm nghiệp (170)
      • 7.4.4. Đa dạng sinh học trong lĩnh vực biển và thủy sản (171)
      • 8.2.1. Phương pháp phân tích lợi ích chi phí (Benefit cost analysis) (177)
      • 8.2.2. Phương pháp giá trị thị trường (178)
      • 8.2.3. Phương pháp sử dụng các hàng hoá liên quan, thay thế (178)
      • 8.2.4. Phương pháp chi phí đi lại (Travel Cost Method - TCM) (179)
      • 8.2.5. Phương pháp tạo dựng thị trường - Đánh giá ngẫu nhiên (Contingent (180)
      • 8.2.6. Các phương pháp đánh giá dựa trên chi phí (Cost Based Valuation) (183)
      • 8.2.7. Phương pháp chuyển đổi lợi ích (benifit transfer) (185)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (187)

Nội dung

Nội dung nghiên cứu về kinh tế học, kinh tế học vi mô, kinh tế học vĩ mô và kinh tế tài nguyên

Nguồn lực con người và nguồn lực tự nhiên đều có giới hạn trong không gian và thời gian Năng lực thực sự của nguồn lực con người trong một giai đoạn lịch sử nhất định là có hạn Tương tự, nguồn lực tự nhiên, bao gồm các tài nguyên tái tạo, cũng bị giới hạn trong các phạm vi như hộ gia đình, doanh nghiệp, xã, huyện, tỉnh, quốc gia và toàn cầu.

Ngành Kinh tế học ra đời nhằm giải đáp câu hỏi về quyết định sử dụng và phân phối nguồn lực con người và tự nhiên để thỏa mãn nhu cầu một cách hiệu quả Kinh tế học là môn khoa học của sự lựa chọn, bao gồm lựa chọn trong sản xuất, tiêu dùng và sử dụng các công cụ điều hành nền kinh tế Nó nghiên cứu cách con người và xã hội lựa chọn để sử dụng tài nguyên khan hiếm một cách hiệu quả, đồng thời phân phối hàng hóa và dịch vụ cho các thành viên trong xã hội, phục vụ cho cả hiện tại và tương lai.

Kinh tế học có thể phân chia thành kinh tế học thực chứng và kinh tế học chuẩn tắc

Kinh tế học thực chứng là một phương pháp tiếp cận trong kinh tế học, tập trung vào việc mô tả và phân tích các sự kiện cũng như mối quan hệ trong nền kinh tế một cách khách quan và khoa học Nó giải quyết các vấn đề mang tính nhân quả và thường đặt ra các câu hỏi như: Đó là gì? Là bao nhiêu? Như thế nào? Tại sao lại như vậy? và Điều gì sẽ xảy ra nếu ? Phương pháp này được coi là những bằng chứng thực tế, không bị ảnh hưởng bởi ý kiến chủ quan của con người.

Khi nhà nước áp dụng thuế đối với xe máy nhập khẩu, giá xe máy trong nước sẽ tăng lên, dẫn đến việc người tiêu dùng giảm mua xe máy nhập khẩu.

* Kinh tế học chuẩn tắc: Kinh tế học chuẩn tắc liên quan đến quan điểm đạo lý, chính trị của một quốc gia

Nhà kinh tế đóng vai trò như một nhà tư vấn chính sách, đưa ra những khuyến nghị dựa trên đánh giá cá nhân Ví dụ, giá vé tàu hỏa cần được giảm cho sinh viên do quá cao, và người già nên được trợ cấp thuốc men khám chữa bệnh miễn phí vì dễ mắc bệnh Hơn nữa, việc hút thuốc lá có hại cho sức khỏe, do đó cần khuyến khích không hút thuốc và áp dụng thuế cao đối với sản xuất và tiêu thụ thuốc lá, cũng như cấm quảng cáo thuốc lá dưới mọi hình thức.

Kinh tế học được phân chia thành hai nhánh chính dựa trên đối tượng nghiên cứu: kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô Kinh tế học vi mô tập trung vào việc phân tích hành vi của các cá nhân và doanh nghiệp trong nền kinh tế.

Kinh tế học vi mô nghiên cứu hành vi của cá nhân và nhóm cá nhân, bao gồm người sản xuất và người tiêu dùng, với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận và lợi ích Người tiêu dùng mong muốn tối đa hóa lợi ích trong khi bị ràng buộc bởi ngân sách hạn chế, trong khi người sản xuất cũng phải đối mặt với các giới hạn về vốn, lao động và đất đai Kinh tế học vi mô phân tích quyết định tiêu dùng và sản xuất, cùng với sự tương tác giữa các cá nhân trong nền kinh tế, nhằm tối đa hóa lợi ích kinh tế cá nhân dựa trên các quy luật của thị trường như quy luật giá trị, cung cầu và cạnh tranh Nó giải thích cách người tiêu dùng quyết định mua hàng hóa và dịch vụ, cũng như ảnh hưởng của giá cả và thu nhập đến sự lựa chọn của họ Đồng thời, kinh tế học vi mô cũng xem xét cách doanh nghiệp quyết định về số lượng công nhân, vốn vay, địa điểm kinh doanh, sản lượng và giá bán để tối đa hóa lợi nhuận Ngoài ra, nó nghiên cứu cách hình thành giá cả hàng hóa và dịch vụ trên thị trường, cùng với tác động của sự thay đổi giá đến quyết định của doanh nghiệp và người tiêu dùng.

Kinh tế học vĩ mô là môn khoa học nghiên cứu và phân tích các vấn đề kinh tế cơ bản của một quốc gia, tập trung vào sự tương tác giữa các bộ phận trong nền kinh tế tổng thể Nó nghiên cứu cách ứng xử của toàn bộ nền kinh tế và các công cụ điều hành như chính sách tiền tệ, chính sách tài khoá, tỉ giá hối đoái, lãi suất ngân hàng, thuế, và chi tiêu của chính phủ, đồng thời giải quyết các vấn đề như lạm phát và thất nghiệp Kinh tế vĩ mô nhấn mạnh tầm quan trọng của sự tương tác trong nền kinh tế tổng thể.

Kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô có mối quan hệ chặt chẽ, vì những thay đổi trong nền kinh tế phát sinh từ quyết định của hàng triệu cá nhân Để hiểu các hiện tượng kinh tế vĩ mô, cần xem xét các quyết định kinh tế vi mô liên quan Ví dụ, chính sách thuế thu nhập cá nhân của Chính phủ ảnh hưởng đến chi tiêu của người có thu nhập cao, từ đó tác động đến quy mô sản xuất hàng hóa và dịch vụ Hơn nữa, tỷ lệ thất nghiệp trong nền kinh tế phụ thuộc vào quyết định thuê mướn lao động của các doanh nghiệp.

Tài nguyên thiên nhiên bao gồm các sản phẩm từ tự nhiên, như hoá thạch hoặc sinh vật sống, có giá trị và có thể được sử dụng làm đầu vào cho quá trình sản xuất hoặc tiêu dùng trực tiếp.

Kinh tế tài nguyên nghiên cứu nhằm giải đáp lý do và cách thức con người trong xã hội đưa ra quyết định trong việc khai thác, sử dụng, quản lý và phát triển nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách tối ưu cho hiện tại và tương lai.

Khoa học kinh tế nghiên cứu mối quan hệ tương tác và phụ thuộc giữa các yếu tố kinh tế như đầu vào, đầu ra, thị trường và công cụ điều hành Mục tiêu của môn học này là đảm bảo sự phát triển ổn định, liên tục và bền vững, với con người là trung tâm của mọi hoạt động kinh tế.

Khoa học kinh tế tài nguyên là một ngành khoa học mới, đóng vai trò trung gian giữa kinh tế, khoa học xã hội và khoa học tự nhiên Mục tiêu chính của ngành này là quản lý, bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên thông qua các công cụ kinh tế và quản lý Sự kết hợp này giúp tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên và đảm bảo sự bền vững cho môi trường.

Phát triển kinh tế và tài nguyên là hệ thống cung cấp sản phẩm và dịch vụ thiết yếu cho con người, nhưng lại chứa đựng mâu thuẫn nội tại Kinh tế cần phát triển và sử dụng hiệu quả nguồn lực, đồng thời đáp ứng nhu cầu không giới hạn của con người Trong khi đó, tài nguyên thiên nhiên lại có giới hạn về chất lượng và số lượng, đặc biệt là các nguồn không thể tái tạo đang dần cạn kiệt Đối với tài nguyên tái tạo, nếu được quản lý và khai thác hợp lý, chúng không chỉ không bị cạn kiệt mà còn có thể phát triển về cả số lượng lẫn chất lượng.

Hình 1.1 Mối quan hệ giữa hệ thống kinh tế với hệ thống tài nguyên

Hầu hết các nguồn tài nguyên, sự sống và năng lượng trên trái đất đều được hình thành từ năng lượng mặt trời, cả trong ngắn hạn lẫn dài hạn Hai hệ thống này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó hệ thống kinh tế chủ yếu khai thác nguồn lợi từ tài nguyên thiên nhiên Tuy nhiên, hệ thống tài nguyên lại chịu ảnh hưởng lớn từ các tác động tiêu cực của hệ thống kinh tế, như khai thác cạn kiệt tài nguyên và ô nhiễm môi trường.

(sản xuất) Hộ gia đình

Hệ thống tài nguyên thiên nhiên cung cấp cho cuộc sống con người

(Không khí, nước, đất, động - thực vật hoang dã, năng lượng, rừng, thuỷ sản…)

ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN CƠ BẢN CỦA MÔN HỌC

Đối tượng và nhiệm vụ của Kinh tế tài nguyên

Kinh tế tài nguyên áp dụng các nguyên lý và lý thuyết từ kinh tế vi mô và vĩ mô để khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên tái tạo và không tái tạo, nhằm tối đa hóa phúc lợi xã hội hiện tại và tương lai Môn học này tập trung nghiên cứu các mô hình khai thác, sử dụng, quản lý và phát triển nguồn tài nguyên thiên nhiên.

Kinh tế tài nguyên đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp cơ sở khoa học để nghiên cứu mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và việc khai thác, sử dụng, quản lý, bảo vệ tài nguyên Nó cũng giúp đánh giá tác động tích cực và tiêu cực của quá trình tăng trưởng kinh tế cũng như các dự án đầu tư và phát triển đối với nguồn tài nguyên thiên nhiên.

Phương pháp tiếp cận nghiên cứu Kinh tế tài nguyên

a) Phương pháp tiếp cận cận biên

Trong kinh tế học hiện đại, phân tích biên tập trung vào điểm tối ưu, nơi lợi nhuận biên bằng zero, tức là tổng lợi nhuận của doanh nghiệp đạt cao nhất khi chi phí biên (MC) và doanh thu biên (MR) bằng nhau Để tối đa hóa mức độ hữu dụng, người tiêu dùng sẽ mua hàng hóa tại điểm mà mức độ hữu dụng biên (MU) bằng với giá của hàng hóa (P) Cách tiếp cận biên giúp xác định lợi nhuận tối đa của nhà sản xuất và thỏa dụng tối đa của người tiêu dùng, đồng thời xem xét tác động của việc sản xuất thêm một đơn vị sản phẩm đến lợi nhuận và việc tiêu dùng thêm một đơn vị đến thỏa dụng Phân tích biên giải thích các điều kiện tối ưu, được xác định từ các mô hình toán kinh tế, trong bối cảnh các ràng buộc về nguồn lực đối với nhà sản xuất và ngân sách đối với người tiêu dùng Trong kinh tế tài nguyên, điểm tối ưu đạt lợi ích xã hội tối đa, với tổng chi phí biên và tổng doanh thu biên phản ánh phạm vi xã hội.

Hầu hết các bài toán kinh tế được thiết kế để tối đa hóa lợi nhuận cho người sản xuất, tối thiểu hóa chi phí, tối đa hóa độ thỏa dụng cho người tiêu dùng, và tối đa hóa phúc lợi xã hội, tất cả đều phải tuân theo các ràng buộc về nguồn lực.

Trong bối cảnh tài nguyên thiên nhiên ngày càng khan hiếm về số lượng và chất lượng, các bên liên quan như người sản xuất, người tiêu dùng và chính phủ cần đạt được những mục tiêu cụ thể trong từng giai đoạn Bài toán kinh tế tài nguyên tập trung vào việc tối đa hóa lợi nhuận cho các doanh nghiệp sản xuất và khai thác, đồng thời đảm bảo rằng xã hội và cộng đồng không phải chịu những tác động tiêu cực từ quá trình sản xuất và khai thác tài nguyên trong dài hạn.

Trong kinh tế môi trường, các công cụ như thuật toán Lagrange, ma trận, hàm sản xuất, hàm sản lượng và hàm chi phí thường được áp dụng Khác với các bài toán ngắn hạn, bài toán về kinh tế tài nguyên thường được giải quyết trong dài hạn, kéo dài qua nhiều năm Do đó, các kết quả của bài toán này đều cần được chiết khấu.

Các mô hình toán học đóng vai trò quan trọng trong việc mô phỏng các quy luật và hiện tượng liên quan đến sự tăng trưởng, phát triển, sử dụng và khai thác tài nguyên Phương pháp phân tích Chi phí - Lợi ích (CBA) là một công cụ hữu ích trong việc quản lý và đánh giá hiệu quả của các nguồn tài nguyên.

Phương pháp phân tích chi phí lợi ích là công cụ quan trọng để tổng hợp toàn bộ lợi ích và chi phí trong quá trình sản xuất và tiêu dùng dài hạn, nhằm tính toán lãi cho các dự án trong nhiều năm Phương pháp này đặc biệt hữu ích trong việc khai thác, sử dụng, quản lý và phát triển nguồn tài nguyên thiên nhiên, khi có thể tiền tệ hóa các ảnh hưởng tích cực và tiêu cực.

CBA trong kinh tế tài nguyên mở rộng hơn so với phân tích lợi ích - chi phí truyền thống, bao gồm việc tính toán đầy đủ các lợi ích và chi phí liên quan đến nhiều cá nhân trong xã hội Trong quá trình này, lợi ích của người sản xuất, doanh nghiệp và xã hội thường khác nhau, vì doanh nghiệp thường tối đa hóa lợi nhuận dựa trên chi phí cá nhân và giá thị trường Tuy nhiên, trong kinh tế tài nguyên, việc đánh giá lợi ích và chi phí cần được thực hiện từ góc độ toàn xã hội, dẫn đến sự khác biệt trong cách tính toán lợi ích và chi phí cho từng dự án tùy thuộc vào từng khía cạnh.

Lợi ích và chi phí của doanh nghiệp được xác định qua giá thị trường và chi phí tài chính, thường được gọi là hạch toán lợi ích chi phí Phân tích lợi ích - chi phí từ góc độ kinh tế yêu cầu tính toán theo chi phí cơ hội, sử dụng phương pháp phân tích lợi ích - chi phí kinh tế mở rộng Phương pháp này điều chỉnh các chi phí ngoại ứng tích cực và tiêu cực của dự án, phản ánh giá xã hội, bao gồm cả chi phí cơ hội và chi phí lợi ích do ngoại ứng tạo ra, thông qua các phương pháp đặc thù của kinh tế tài nguyên và môi trường.

Lợi ích - chi phí biểu hiện trong phương trình:

Trong đó: B - Lợi ích; C - Chi phí

Lợi ích được đo bằng sự sẵn lòng trả (WTP) của người hưởng lợi, được xác định qua diện tích dưới đường cầu, bao gồm phần thực trả và phần thặng dư của người tiêu dùng Đường cầu của người hưởng lợi từ tài nguyên thiên nhiên thường cao hơn so với hàng hóa thông thường, vì nó không chỉ phản ánh giá trị sử dụng trực tiếp mà còn cả giá trị sử dụng gián tiếp và giá trị không sử dụng Để làm rõ chi phí và lợi ích, ta tách các ảnh hưởng ngoại ứng tích cực và tiêu cực của tài nguyên thành số hạng E trong công thức tính lợi ích và chi phí.

(1.3) d) Phương pháp tiếp cận hệ thống

Trong lĩnh vực kinh tế tài nguyên, phương pháp này phân tích mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và nguồn tài nguyên thiên nhiên hạn chế Nó kết hợp hiệu quả kinh tế với hiệu quả sử dụng tài nguyên trong từng giai đoạn phát triển xã hội Phương pháp hệ thống nghiên cứu các hiện tượng kinh tế - xã hội - môi trường theo một hệ thống nhất, bao gồm cả tác động tiêu cực và tích cực.

KHÁI NIỆM TÀI NGUYÊN, CÁC VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU VÀ QUYỀN SỞ HỮU

Khái niệm về tài nguyên và những vấn đề cần nghiên cứu

a) Khái niệm về tài nguyên

Tài nguyên là vật chất có giá trị và hữu ích khi được phát hiện, đóng vai trò quan trọng như đầu vào trong sản xuất và có thể trở thành hàng hóa trực tiếp phục vụ tiêu dùng (Radall, 1981).

Tài nguyên thiên nhiên là nguồn nguyên liệu quý giá có sẵn trong môi trường tự nhiên, vừa hiếm hoi vừa có giá trị kinh tế trong sản xuất và tiêu dùng, có thể ở dạng thô hoặc đã qua chế biến tối thiểu.

Tài nguyên chỉ bao gồm những yếu tố có giá trị cho quá trình sản xuất và tiêu dùng của con người Những thứ không có giá trị hoặc không được biết đến sẽ không được xem là tài nguyên Hơn nữa, những sản phẩm được tạo ra sau quá trình sản xuất cũng không được coi là tài nguyên.

Tài nguyên được phân thành hai loại chính: tài nguyên con người và tài nguyên thiên nhiên, trong đó tài nguyên con người đóng vai trò quan trọng nhất Tài nguyên thiên nhiên lại được chia thành tài nguyên có thể tái tạo và tài nguyên không thể tái tạo Các vấn đề và câu hỏi cần nghiên cứu liên quan đến sự phân loại và quản lý các loại tài nguyên này.

1 Khai thác mỗi nguồn tài nguyên có thể tái tạo với tốc độ nào để đảm bảo phát triển kinh tế bền vững và đảm bảo nguồn không bị cạn kiệt?

2 Bao giờ và khai thác với tốc độ nào thì nguồn tài nguyên không thể tái tạo bị cạn kiệt?

3 Khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên thay thế như thế nào và tốc độ tìm kiếm các nguồn tài nguyên này ra sao?

4 Các mô hình quản lý, khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên này như thế nào là bền vững và hiệu quả trong một chuỗi thời gian?

Quyền sở hữu

Quyền sở hữu tài nguyên là tập hợp các đặc điểm xác lập quyền lực của chủ sở hữu trong việc quản lý và sử dụng tài nguyên đó Chủ sở hữu có thể là cá nhân, nhóm người hoặc Nhà nước.

Chủ sở hữu tài nguyên có quyền lực thực sự thể hiện ở 2 mặt: quyền chiếm hữu và quyền định đoạt trong việc quản lý và sử dụng tài nguyên

Quyền sở hữu nguồn tài nguyên có các đặc điểm sau:

Quyền sở hữu tài nguyên có thể bị hạn chế bởi chính phủ, đặc biệt trong các trường hợp như dự án xây dựng đường giao thông hay quy hoạch đô thị Trong những tình huống này, chủ sở hữu tư nhân của đất ở, đất ruộng, hay đất công trình phải nhường quyền sở hữu cho chính phủ và nhận khoản đền bù tương ứng.

- Khoảng thời gian khai thác là yếu tố quan trọng cho quyền sở hữu tồn tại

Quyền sở hữu tài nguyên do ông cha để lại mang tính lâu dài, trong khi quyền sở hữu tài nguyên thuê chỉ có hiệu lực trong thời gian hợp đồng thuê.

Chủ sở hữu tài sản có nhiều quyền hạn, bao gồm quyền loại trừ, sử dụng, chia sẻ và chuyển đổi nguồn tài nguyên Chẳng hạn, một mảnh đất có chứng nhận sổ đỏ cho phép chủ sở hữu thu lợi từ việc sử dụng đất Chủ mảnh đất có thể thực hiện các hoạt động như cho thuê hoặc xây dựng công trình trên mảnh đất đó.

- Quyền loại trừ là một đặc điểm quan trọng và nó có thể bao gồm các loại:

Quyền sở hữu tư nhân cho phép chủ sở hữu loại trừ người khác khỏi việc sử dụng tài sản và không phải chia sẻ lợi nhuận từ tài nguyên Điều này tạo điều kiện cho sự tồn tại của thị trường sản xuất và trao đổi tài nguyên, giúp sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả hơn với ít hoặc không cần sự can thiệp của Chính phủ.

Quyền sở hữu chung được hình thành từ một nhóm cá nhân, trong khi đặc điểm loại trừ không tồn tại trong cơ chế này, điều này trái ngược với quyền loại trừ trong sở hữu tư nhân.

Tài nguyên vô chủ không có quyền loại trừ, nghĩa là không ai có thể ngăn cản người khác khai thác và sử dụng chúng Đặc điểm này gây ra nhiều thách thức trong việc quản lý và sử dụng tài nguyên của một quốc gia hoặc khu vực.

Tài nguyên vô chủ chỉ có thể được khai thác hiệu quả khi không có sự can thiệp của Chính phủ hoặc các quy định về quyền sở hữu Thị trường cho việc sản xuất và trao đổi tài nguyên vô chủ sẽ không tồn tại hoặc hoạt động kém hiệu quả, vì mọi người chỉ quan tâm đến việc khai thác tối đa mà không chú ý đến việc bảo tồn và phục hồi Do đó, các nguồn tài nguyên vô chủ như thủy hải sản ở hải phận quốc tế, nước nguồn và không khí sẽ nhanh chóng bị cạn kiệt.

1) Kinh tế học là môn khoa học của sự chọn lựa, người sản xuất hoặc người tiêu dùng hoặc chính phủ luôn phải đối mặt với nguồn lực có hạn (vốn, lao động, đất đai, tài nguyên, ngân sách), kinh tế học đưa ra các nguyên lý nhằm chọn lựa trong sản xuất, chọn lựa trong tiêu dùng, chọn lựa công cộng nhằm tối đa hoá lợi nhuận (đối với người sản xuất), tối đa hoá thoả dụng (đối với người tiêu dùng) và tối đa hoá phúc lợi xã hội đối với chính phủ

2) Kinh tế vi mô nghiên cứu hành vi ứng xử của người sản xuất, hành vi ứng xử của người tiêu dùng, thị trường các yếu tố đầu vào, thị trường các yếu tố đầu ra

3) Kinh tế vĩ mô nghiên cứu các công cụ điều hành cả một nền kinh tế: tăng trưởng GDP, GNP, các yếu tố tác động đến tăng trưởng GDP, GNP, lạm phát, thất nghiệp, chính sách tài khoá, chính sách tiền tệ, chính sách đầu tư, tỉ giá hối đoái, lãi suất ngân hàng

4) Kinh tế Tài nguyên là môn khoa học vận dụng các nguyên lý kinh tế vi mô và môn vĩ mô nhằm nghiên cứu và trả lời câu hỏi vì sao con người và xã hội đưa ra quyết định khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững, hiệu quả trong hiện tại và tương lai

5) Hệ thống tài nguyên thiên nhiên có quan hệ mật thiết với nhau, đồng thời đóng vai trò sống còn cho sự tồn tại của loài người Hệ thống kinh tế khai thác vật chất từ hệ thống tài nguyên thiên nhiên đồng thời hệ thống tài nguyên thiên nhiên (tài nguyên đất, tài nguyên nước ) là nơi chứa chất thải từ hệ thống kinh tế

6) Môn kinh tế tài nguyên đã được hình thành và phát triển từ rất lâu đời ở các nước phát triển nhưng ở Việt Nam rất mới, các nhà khoa học kinh tế của các nước phương tây đã đưa ra rất nhiều giả thuyết về sức chứa của trái đất, đồng thời đưa ra nhiều quan điểm giải quyết cho vấn đề dân số trái đất tăng nhanh, đồng thời nguồn tài nguyên thiên nhiên đặc biệt là tài nguyên không thể tái tạo ngày càng cạn kiệt về số lượng cũng như chất lượng

7) Đối tượng nghiên cứu của môn học là nghiên cứu các mô hình khai thác, sử dụng, quản lý và phát triển các nguồn tài nguyên thiên nhiên

8) Phương pháp nghiên cứu môn Kinh tế tài nguyên sử dụng chủ yếu là phương pháp tiếp cận theo hệ thống, tồn tại theo chuỗi thời gian Bên cạnh đó, phương pháp tiếp cận của Kinh tế tài nguyên sử dụng phương pháp tiếp cận cận biên, phương pháp toán học, phương pháp phân tích lợi ích - chi phí mở rộng

TÀI NGUYÊN VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ

MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

Tài nguyên thiên nhiên bao gồm tất cả các giá trị vật chất có sẵn trong tự nhiên mà con người có thể khai thác và sử dụng cho sản xuất và đời sống Chúng là những yếu tố thiết yếu cho sự tồn tại của xã hội, bao gồm các thành phần môi trường như rừng, nước, đất đai, không khí, động vật, khoáng sản hữu hạn và tài nguyên vô hạn.

Tài nguyên được phân loại thành hai dạng chính: tài nguyên có thể tái tạo và tài nguyên không thể tái tạo Tài nguyên tái tạo có khả năng phục hồi theo thời gian thông qua quá trình lớn lên và tái sinh, và việc khai thác chúng có thể bền vững nếu được quản lý hợp lý Ngược lại, tài nguyên không thể tái tạo không có khả năng bổ sung sau khi sử dụng, dẫn đến cạn kiệt nếu khai thác quá mức Ngoài ra, tài nguyên đa dạng sinh học, với khoảng 30 triệu loài sinh vật khác nhau, đóng vai trò quan trọng trong sự tồn tại của các loài và cung cấp thông tin quý giá cho phát triển dược liệu và cây trồng Do đó, bảo tồn nơi cư trú và bảo vệ các giống loài trở thành vấn đề cấp bách hiện nay.

Tài nguyên thiên nhiên và con người có mối quan hệ tương hỗ, có thể tích cực hoặc tiêu cực Mối quan hệ này tích cực khi con người sử dụng tài nguyên một cách hợp lý, nhưng tiêu cực khi có hành vi hủy hoại như phá rừng Do đó, việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và tạo ra sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên là rất cần thiết.

Con người, đặc biệt là các cộng đồng nghèo, phụ thuộc nhiều vào tài nguyên Tài nguyên không chỉ là những nguồn lực hữu ích mà còn đòi hỏi sự kiểm soát và khai thác có trách nhiệm Chúng ta cần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên để đảm bảo sự bền vững cho các thế hệ tương lai.

Tài nguyên thiên nhiên đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội Việc sử dụng hợp lý và bảo vệ, tái tạo tài nguyên thiên nhiên là cần thiết để đảm bảo sự phát triển bền vững.

2.1.1 Hoạt động của hệ kinh tế và tác động của nó đối với tài nguyên

Hoạt động của hệ kinh tế tạo ra của cải phục vụ xã hội loài người thể hiện qua hình 2.1

R: Tài nguyên P: Sản xuất C: Tiêu dùng

Hình 2.1 Hoạt động của hệ thống kinh tế

Tài nguyên (R) được khai thác từ môi trường như than, gỗ và dầu mỏ, sau đó được chế biến thành sản phẩm phục vụ con người qua quá trình sản xuất (P) Các sản phẩm này được phân phối và tiêu thụ (C), mang lại lợi ích (U) cho xã hội Điều này cho thấy rõ ràng tác động của hoạt động kinh tế con người lên các nguồn tài nguyên thiên nhiên.

Khai thác tài nguyên thiên nhiên là yếu tố quan trọng trong phát triển kinh tế, giúp sản xuất ra của cải vật chất để đáp ứng nhu cầu của con người và xã hội Quá trình này ngày càng mở rộng với nhiều hình thức phong phú và đa dạng.

Năng lượng vô hạn như năng lượng mặt trời và gió đang được phát triển mạnh mẽ, mang lại lợi ích kinh tế và môi trường Tuy nhiên, một số quốc gia vẫn chưa áp dụng các công nghệ này do lý do kinh tế hoặc khả năng hạn chế Đối với tài nguyên thiên nhiên hữu hạn như khoáng sản, việc khai thác hiện tại có thể làm mất cơ hội sử dụng trong tương lai Do đó, việc cải thiện vốn tài nguyên thiên nhiên của nền kinh tế phụ thuộc vào cách thức sử dụng, khai thác và bảo vệ các nguồn tài nguyên này Quy luật khách quan cho thấy nếu mức độ khai thác nhỏ hơn khả năng phục hồi của tài nguyên, thì sẽ đảm bảo sự bền vững cho tương lai.

Việc cải thiện vốn tài nguyên phụ thuộc vào mức độ khai thác Nếu khai thác vượt quá khả năng phục hồi, vốn tài nguyên sẽ không chỉ không được cải thiện mà còn có nguy cơ suy thoái ngày càng nghiêm trọng.

Hoạt động kinh tế, bao gồm các quá trình R, P và C, thải ra môi trường một lượng chất thải đáng kể, gây ra tác động tiêu cực đến tài nguyên thiên nhiên Khi khai thác tài nguyên, con người chỉ sử dụng phần cần thiết, trong khi phần dư thừa như lá, vỏ và cành nhỏ thường bị bỏ lại, dẫn đến sự suy thoái của môi trường.

Trong quá trình sản xuất, việc thải chất thải ra môi trường là điều không thể tránh khỏi Các chất thải khí như CO2, SO2, NOx xâm nhập vào khí quyển, trong khi chất thải rắn bao gồm tạp chất, hợp chất kim loại, xơ, bụi và rác được chôn vùi hoặc đổ xuống ao, hồ, sông, biển Bên cạnh đó, nước thải chứa hợp chất hữu cơ, vô cơ và kim loại nặng cũng được xả ra môi trường nước.

Quá trình tiêu thụ cũng thải nhiều tạp chất như vỏ, bao bì, thức ăn thừa vào môi trường

Quá trình thải do hoạt động của hệ thống kinh tế được minh hoạ trong hình 2.2

Hình 2.2 Chất thải từ hệ thống kinh tế

Chất thải từ các hoạt động kinh tế, khi vượt quá khả năng đồng hoá của môi trường, sẽ gây ô nhiễm môi trường và hủy hoại tài nguyên đất, nước và không khí Ô nhiễm đất dẫn đến sự suy giảm chất lượng đất, trong khi ô nhiễm nguồn nước làm giảm đa dạng sinh học Hơn nữa, ô nhiễm không khí góp phần vào biến đổi khí hậu, gây ra các thảm họa cho con người.

2.1.2 Vai trò của hệ thống tài nguyên

(1) Cung cấp tài nguyên cho hệ kinh tế

Tài nguyên thiên nhiên đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, cung cấp đầu vào cho các hoạt động kinh tế Chúng được phân loại thành hai loại: tài nguyên có thể tái tạo (RR) như rừng, đất đai, thuỷ sản và tài nguyên không tái tạo (NRR) như khoáng sản, dầu mỏ.

Mối quan hệ giữa khai thác và khả năng hồi phục tài nguyên thiên nhiên hữu hạn có thể tái tạo (RR) cho thấy rằng nếu lượng khai thác (h) nhỏ hơn khả năng phục hồi (y), vốn tài nguyên sẽ được cải thiện Ngược lại, khi h lớn hơn y, vốn tài nguyên không chỉ không được cải thiện mà còn có nguy cơ cạn kiệt Khi h bằng y, trữ lượng tài nguyên không thay đổi, nhưng chất lượng có thể bị ảnh hưởng bởi phương thức và kỹ thuật khai thác Đối với tài nguyên thiên nhiên hữu hạn không tái tạo (NRR), khả năng phục hồi luôn bằng 0, dẫn đến việc khai thác sẽ làm suy giảm trữ lượng tài nguyên.

(2) Môi trường, tài nguyên thiên nhiên tạo nên không gian sống của con người

Không gian sống của con người được xác định bởi số lượng và chất lượng cuộc sống Khi không gian này không đáp ứng đủ nhu cầu, chất lượng cuộc sống sẽ bị đe dọa Con người khai thác tài nguyên từ hệ thống tự nhiên để sản xuất các sản phẩm phục vụ cho nhu cầu sống Hơn nữa, môi trường và tài nguyên thiên nhiên còn mang lại cảnh quan và sự thoải mái tinh thần cho con người Do đó, môi trường và tài nguyên thiên nhiên đóng vai trò quan trọng trong việc mang lại phúc lợi cho con người.

PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

Trong nửa cuối thế kỷ XX, nhân dân thế giới đã chú trọng đến bốn vấn đề quan trọng: hoà bình, tự do, phát triển và môi trường Để nghiên cứu những mối quan tâm quốc tế, Uỷ ban các vấn đề thế giới được thành lập vào những năm 1970 và 1980 Phát triển bền vững đã trở thành một chủ đề nổi bật, nhấn mạnh sự kết hợp giữa phát triển và bảo vệ môi trường.

Thuật ngữ “phát triển bền vững” lần đầu tiên được giới thiệu vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới của Tổ chức bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) Nội dung của thuật ngữ này nhấn mạnh rằng sự phát triển của nhân loại không chỉ nên tập trung vào phát triển kinh tế mà còn cần tôn trọng các nhu cầu thiết yếu của xã hội và ảnh hưởng đến môi trường sinh thái.

Báo cáo của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (WCED) năm 1987 đã phổ biến khái niệm Phát triển bền vững, định nghĩa rằng đây là "sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai." Phát triển bền vững bao gồm ba khía cạnh chính: (a) chú trọng đến giá trị của môi trường và tài nguyên thiên nhiên; (b) mở rộng phạm vi thời gian cho các thế hệ tương lai; và (c) đề cập đến công bằng giữa con người hiện tại và giữa các thế hệ Để đạt được mục tiêu này, các quốc gia và cộng đồng toàn cầu cần thiết lập các chiến lược phù hợp.

Hai nền tảng công bằng trong phát triển bền vững bao gồm: (1) Công bằng giữa các thế hệ hiện tại, trong đó cần nâng cao mức sống cho tất cả, đặc biệt là những người nghèo; và (2) Công bằng liên thế hệ, yêu cầu các hoạt động kinh tế phải giảm thiểu tác động tiêu cực đến tài nguyên thiên nhiên và khả năng hấp thụ chất thải của môi trường, nhằm đảm bảo rằng thế hệ tương lai có thể thừa hưởng tài nguyên từ thế hệ hiện tại.

Theo Ngân hàng Thế giới (2005), một thế giới bền vững là nơi mà các nguồn tài nguyên tái tạo như nước, đất, và sinh vật không bị khai thác nhanh hơn khả năng tái tạo của chúng Đồng thời, xã hội bền vững cũng không sử dụng các nguồn tài nguyên không tái tạo như nhiên liệu hóa thạch và khoáng sản nhanh hơn quá trình tìm kiếm các loại thay thế Hơn nữa, việc thải ra các chất độc hại vào môi trường cần phải chậm hơn khả năng hấp thụ và vô hiệu hóa của trái đất.

2.2.2 Phân loại phát triển bền vững

Nâng cao mức sống cho cá nhân trong cộng đồng là mục tiêu quan trọng của sự phát triển Tuy nhiên, mức sống lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm tài nguyên thiên nhiên và khả năng khai thác chúng Để đảm bảo sự phát triển kinh tế bền vững, cần duy trì vốn dự trữ tài nguyên theo thời gian.

Dưới đây ta xem xét mối quan hệ giữa mức sống và vốn dự trữ tài nguyên với hai giả thiết sau:

Đối với nền kinh tế có mức dự trữ tài nguyên thấp, để nâng cao mức sống, cần tăng cường vốn dự trữ tài nguyên Trong trường hợp này, vốn dự trữ tài nguyên và mức sống trở thành hai yếu tố hỗ trợ lẫn nhau.

Mối quan hệ giữa mức sống (SOL) và vốn dự trữ tài nguyên (KN) được thể hiện trên đồ thị hình 2.6 Hình này chỉ ra rằng KNmin là mức dự trữ tài nguyên tối thiểu cần thiết để đạt được mức sống lay lắt (SOL = 0).

Còn điểm L là mức sống cực khổ hoặc chết đói, ứng với mức dự trữ tài nguyên băng 0 (mức cạn kiệt)

Giả thiết 2 cho rằng việc nâng cao mức sống chỉ có thể thực hiện được khi giảm bớt vốn dự trữ tài nguyên, đây là một quan điểm truyền thống Hình 2.5 minh họa mối quan hệ giữa vốn tài nguyên và mức sống theo giả thiết này.

Hình 2.6 Mối quan hệ giữa vốn dự trữ tài nguyên với chất lượng cuộc sống

W Mô hình phát triển bền vững mức thấp

Mô hình phát triển bền vững mức cao

Hình 2.5 Quan hệ giữa SOL và KN_gt II

Hình 2.4 Quan hệ giữa SOL và KN_ gt I

Dựa trên hai giả thiết đã nêu, sơ đồ tổng quát trong hình 2.6 thể hiện mối quan hệ phức tạp giữa vốn dự trữ tài nguyên (KN) và mức sống (SOL) Hình này mô tả hai mô hình phát triển bền vững: mô hình hoán đảo với mức thấp và mô hình phát triển bền vững mức cao, được xây dựng dựa trên các giả thiết trước đó.

- Phát triển bền vững mức thấp (mô hình hoàn đảo):

Theo giả thiết thứ hai, sự hoán đảo chỉ diễn ra ở mức độ giới hạn Điều này xảy ra vì chúng ta đã thừa nhận khái niệm KNmin, dẫn đến mức sống chỉ đạt được ở SOL1 tại điểm Z.

Nền kinh tế có thể phát triển bền vững theo con đường YWXZ, nhưng để nâng cao chất lượng cuộc sống (SOL), cần phải từ bỏ một lượng tài nguyên nhất định Ngược lại, nếu muốn cải thiện môi trường, SOL sẽ phải giảm Khi nền kinh tế đạt đến điểm Z (ứng với KNmin), tài nguyên tự nhiên không còn là yếu tố thiết yếu để tăng SOL, dẫn đến sự phát triển ở mức thấp và giới hạn ở KNmin, nơi không còn gì để đánh đổi.

- Phát triển bền vững mức cao

Quá trình tăng mức sống (SOL) liên quan đến việc gia tăng vốn dự trữ tài nguyên (KN) Khi tài nguyên đạt được một vốn dự trữ thích hợp KN*, có thể lựa chọn các hướng phát triển khác nhau: tăng SOL trong khi KN giữ nguyên, giữ nguyên SOL trong khi KN tăng, hoặc đồng thời tăng cả SOL và KN Mô hình này chủ yếu áp dụng cho tài nguyên tái tạo nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững mà không làm cạn kiệt tài nguyên.

Các nền kinh tế ở điểm KNmin hoặc gần đó, với nguồn tài nguyên hạn chế và mức sống thấp, chỉ có thể tăng trưởng SOL thông qua việc cải thiện KN, theo đường KNminABW Khi nền kinh tế đạt đến điểm W, nó có thể phát triển bền vững trong vùng PJQ Hướng WP cho thấy SOL tăng lên trong khi KN được duy trì, WQ cho thấy SOL giữ nguyên và KN tăng nhanh, còn WJ cho thấy cả SOL và KN đều tăng tương ứng.

2.2.3 Điều kiện về phát triển bền vững

(1) Vai trò của Nhà nước

Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội, ảnh hưởng đến môi trường sống thông qua các chính sách và đường lối Do đó, khi xây dựng các chủ trương, cần tính toán và cân nhắc để đảm bảo môi trường được ổn định và cải thiện.

KINH TẾ ĐẤT VÀ KINH TẾ NƯỚC

3.2.1 Kinh tế tài nguyên đất

Thặng dư kinh tế là khoản chênh lệch giữa giá sản phẩm từ tài nguyên thiên nhiên và chi phí chuyển đổi tài nguyên thành sản phẩm, bao gồm lao động, vốn, nguyên vật liệu và nhiên liệu Phần còn lại sau khi khấu trừ chi phí sản xuất chính là giá trị của tài nguyên thiên nhiên Đối với tài nguyên đất trong sản xuất nông nghiệp, thặng dư kinh tế được gọi là địa tô, tính bằng tổng doanh thu trừ tổng chi phí Cần lưu ý rằng địa tô khác với lợi nhuận, vì địa tô bao gồm giá trị nội tại của tài nguyên, trong khi lợi nhuận không Giá trị nội tại của tài nguyên đất có thể hiểu là độ phì, lợi thế thị trường và điều kiện khí hậu Ví dụ, hai chiếc xe đạp giống nhau sẽ có lợi nhuận giống nhau, nhưng hai mảnh đất trồng lúa giống nhau có thể có lợi nhuận khác nhau do sự khác biệt về giá trị nội tại Giá trị nội tại của tài nguyên là giá của bản thân tài nguyên, và điểm đầu vào tối ưu khi đầu tư là giá trị sản phẩm biên (VMP = giá đầu vào).

Hình 3.2 Điểm đầu tư đầu vào tối đa hoá lợi nhuận (giá trị sản phẩm biên = giá đầu vào)

Để đạt được lợi nhuận tối đa, người sản xuất cần đầu tư đúng mức, khi giá trị sản phẩm biên (VMP) bằng với giá đầu vào (W) Nếu đầu tư ít hơn mức tối ưu, họ sẽ thua thiệt vì VMP lớn hơn W; ngược lại, nếu đầu tư nhiều hơn, VMP sẽ nhỏ hơn W, dẫn đến tổng lợi nhuận không đạt được mức cao nhất Diện tích a, đại diện cho lợi nhuận, cũng có thể được xem là tô trong kinh tế tài nguyên môi trường, đặc biệt khi sản phẩm sử dụng tài nguyên như đất đai.

S (cung đầu vào hoàn toàn co giãn)

Điểm đầu ra tối ưu của doanh nghiệp được xác định khi chi phí biên (MC) bằng với doanh thu biên (MR), cho thấy mối quan hệ giữa tô và giá trị đầu ra.

Hình 3.3 Tô được thể hiện thông qua giá trị (điểm tối ưu đầu ra sản phẩm)

Trong mô hình này, MC đại diện cho chi phí biên trong sản xuất lúa mì mà chủ đất phải chi trả cho lao động P là giá sản phẩm trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, nơi doanh nghiệp là người chấp nhận giá, dẫn đến doanh thu biên (MR) cũng chính là giá Chủ đất sẽ tối đa hóa lợi nhuận tại điểm P = MR = MC, tương ứng với mức sản lượng q.

Ta có tổng doanh thu (TR) = P × q, diện tích hình 0Paq

Trong đó chi phí là diện tích hình 0iaq nằm dưới đường MC

Tô mà chủ đất nhận được là diện tích iPa

3.2.1.2 Một số quan điểm về tô a) Quan điểm về tô của David Ricardo (1772 - 1823)

David Ricardo (1772 - 1823) cho rằng chất lượng đất khác nhau dẫn đến sự khác biệt trong tô thu được từ các mảnh đất Quan điểm của ông về tô, được gọi là tô theo chất lượng tài nguyên, không chỉ áp dụng cho đất mà còn cho các tài nguyên khác Ricardo tập trung vào nông nghiệp, độ phì của đất và năng suất cây trồng, nhưng chưa đề cập đến sự thương mại hóa và lợi thế thị trường.

Hình 3.4 Mô hình tô của Ricardo (tô phụ thuộc chất lượng đất) và mức đầu tư lao động

Giả sử có các mảnh đất A và B, C M, mỗi mảnh đất có diện tích như nhau, miếng

Miếng đất A có sản phẩm biên cao nhất (MPA), tiếp theo là miếng B với sản phẩm biên thấp hơn (MPB), và miếng đất M là kém màu mỡ nhất Khi cả hai miếng đất A và B được canh tác, chủ đất cần xác định số lượng lao động thuê cho mỗi miếng đất để tối đa hóa lợi nhuận Nguyên tắc tối đa hóa lợi nhuận yêu cầu sản phẩm biên của lao động phải bằng giá một đơn vị lao động (W), tức là MPA = W và MPB = W Do đó, số lao động thuê cho miếng đất A là NA và cho miếng đất B là NB Miếng đất M sẽ không thể thuê lao động vì sản phẩm biên của nó luôn thấp hơn đơn giá lương.

David Ricardo cho rằng, trong quá trình sản xuất, nếu không đầu tư vào lao động thì sẽ không có lợi nhuận Quan điểm này tương đồng với ý kiến của Von Thunen (1783).

Karl Marx (1818-1883) có quan điểm rằng, ngay cả khi không có đầu tư, vẫn tồn tại khái niệm về tô, mà ông gọi là tô tuyệt đối Điều này khác biệt với quan điểm của những người khác trong cùng thời kỳ, như Adam Smith (1723-1790).

Hình 3.5 Tô khác nhau ở hai miếng đất có chất lượng khác nhau

Quan điểm của Ricardo cho rằng, ngay cả khi chất lượng đất thấp, chủ đất vẫn có khả năng thu được tô Tuy nhiên, khi chất lượng đất đạt mức xấu nhất, sẽ không còn khả năng thu tô nào.

Chủ đất sở hữu nhiều mảnh đất với chất lượng khác nhau, và trên mỗi mảnh đất, họ đều đạt được mức tô tối đa Do đó, tổng số tô thu được sẽ là tổng hợp của tô trên tất cả các mảnh đất Quan điểm về tô của Johann Heinrich von Thünen (1783 – 1859) cũng nhấn mạnh điều này.

Johann Heinrich von Thünen là một nhà kinh tế học nổi tiếng của thế kỷ XIX, nổi bật với lý thuyết về tô được phát triển vào năm 1826 Lý thuyết này kết hợp và mở rộng với lý thuyết về năng suất cận biên, trong đó công thức tính tô của von Thünen đóng vai trò quan trọng trong việc phân tích kinh tế.

Địa tô (R) được xác định bằng công thức R = Y(p − c) − YFD, trong đó Y là năng suất trên một đơn vị đất đai, c là giá thành sản phẩm mỗi đơn vị hàng hóa sản xuất từ đất, p là giá thị trường mỗi đơn vị hàng hóa, F là chi phí vận chuyển trên mỗi đơn vị đường, và D là khoảng cách tới thị trường.

Mô hình tô của von Thünen được phát triển dựa trên các giả định sau: thành phố nằm ở trung tâm một quốc gia có nền kinh tế đóng, quốc gia được bao quanh bởi các khu vực hoang dã, chất lượng đất và điều kiện khí hậu không thay đổi, nông dân tự vận chuyển sản phẩm đến thị trường trung tâm, và nông dân tối đa hóa lợi nhuận trong môi trường cạnh tranh hoàn hảo.

Mô hình von Thünen phân chia không gian nông nghiệp thành các vòng tròn đồng tâm xung quanh trung tâm thành phố, nơi diễn ra hoạt động buôn bán nông sản Vòng tròn đầu tiên gần trung tâm nhất tập trung vào nuôi bò sữa và sản xuất các sản phẩm nông nghiệp dễ hư hỏng, nhằm đảm bảo cung cấp nhanh chóng cho thị trường Vòng tròn thứ hai chủ yếu sản xuất gỗ củi và chất đốt, với chi phí vận chuyển thấp hơn Vòng tròn thứ ba chuyên về lúa gạo, loại sản phẩm có thể lưu trữ lâu và dễ vận chuyển Cuối cùng, vòng tròn thứ tư chủ yếu nuôi súc vật, vì chúng có khả năng tự di chuyển ra khỏi khu vực thành phố.

Hình 3.6 Các vòng đồng tâm thể hiện quan điểm tô của Von Thünen

Von Thünen đã chỉ ra rằng việc canh tác nông sản chỉ nên diễn ra trong khoảng cách nhất định tới thị trường Bên ngoài khu vực này, chi phí vận chuyển sản phẩm trở nên quá cao, dẫn đến việc canh tác không mang lại lợi nhuận Do đó, trong những trường hợp này, lợi nhuận sẽ bằng không.

Những hạn chế mô hình tô của Von Thünen

- Mô hình tô của Von Thünen được xây dựng trong điều kiện một quốc gia, vùng lãnh thổ cô lập (riêng biệt)

KINH TẾ TÀI NGUYÊN RỪNG

KINH TẾ TÀI NGUYÊN THỦY SẢN

KINH TẾ TÀI NGUYÊN KHÔNG THỂ TÁI TẠO

KINH TẾ ĐA DẠNG SINH HỌC

Ngày đăng: 24/07/2023, 02:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w