Hồ Chí Minh * Tập 10* Số 4 * 2006NGHIÊN CỨU PHÂN TÍCH VAI TRÒ CỦA FRUSEMIDE TRONG PHÒNG NGỪA HOẶC ĐIỀU TRỊ SUY THẬN CẤP Nghiên cưu nhằm mục tiêu tổng kết những lợi ích cũng như tác dụng
Trang 1Thông Tin Y Học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 10* Số 4 * 2006
NGHIÊN CỨU PHÂN TÍCH VAI TRÒ CỦA FRUSEMIDE
TRONG PHÒNG NGỪA HOẶC ĐIỀU TRỊ SUY THẬN CẤP
Nghiên cưu nhằm mục tiêu
tổng kết những lợi ích cũng như
tác dụng phụ của việc dùng lợi
tiểu quai frusemide trong phòng
ngừa và điều trị suy thận cấp ở
người lớn Nghiên cứu được tiến
hành dựa vào phân tích
meta-analysis trên những thử nghiệm
ngẫu nhiên có chứng công bố
(không giới hạn về ngôn ngữ
dùng) trên Cochrane (2005 tập
4), Embase, và Medline (từ
1996 đến 1 tháng 2, 2006) Hai
kiểm soát viên kiểm tra lại chất
lượng của các nghiên cứu và
họat động độc lập trong việc rút
số liệu để phân tích
Kết quả: Tác giả thu thập
được chín nghiên cứu ngẫu
nhiên có chứng bao gồm 849
bệnh nhân bị hoặc có nguy cơ
bị suy thận cấp Kết quả cho
thấy không khác biệt giữa nhóm
dùng frusemide so với chứng về
tử vong trong bệnh viện (nguy
cơ tương đối (Relative Risk RR) 1,11, khỏang tin cậy 95% [0,92-1,33], về nguy cơ phải điều trị thay thế thận chung hoặc riêng trong chạy thận nhân tạo (0,99,[0,8-1,22]), số lần phải chạy thận nhân tạo (trung bình khác biệt –0,48 lần chạy thận nhân tạo, [-1,45-0,5]), và về tỷ lệ bn vô niệu kéo dài (thể tích nước tiểu <300ml/ngày :0,34,[0,18-1,61]) Nếu không quan tâm đến việc frusemide dùng để phòng ngừa hoặc điều trị suy thận cấp cũng không làm thay đổi tỷ lệ tử vong ( tỷ lệ nguy cơ tương đối, relative risk ratio RRR là 2,1, khỏang tin cậy 95% [0,67-6,63]) và nguy cơ cần chạy thận nhân tạo (4,12,[0,46-37,2]) Song lại có bằng chứng gia tăng nguy cơ điếc tạm thời và ù tai trên bn dùng liều cao frusemide (nguy
cơ tương đối, RR 3,97, khoảng tin cậy 95% [1,00-13,78])
Giới hạn của nghiên cứu là
do là nghiên cứu metanalysis nên kết quả sẽ lệch theo kết quả của nghiên cứu ban đầu, mẫu nghiên cứu chưa đủ lớn lọai trừ hòan tòan những lợi ích nhỏ khác của frusemide, liều dùng frurosemide và cách dùng khác nhau tùy nghiên cứu và có sai lầm hệ thống do những trường hợp đáp ứng với frusemide dễ bị bỏ qua không thu thập nghiên cứu
Kết luận: Qua nghiên cứu,
frusemide không chứng minh có bất ký lợi ích nào trong phòng ngừa và điều trị suy thận cấp ở người lớn, trong khi dùng frusemide liều cao còn làm tăng nguy cơ độc tính lên tai
Ho KM , Sheridan DJ: Meta-analysis of frusemide to prevent or treat acute renal failure British Medical Journal,
2006, 333 (420) p 1-6 ( www.bmj.com )
KHẢ NĂNG ĐIỀU TRỊ GIAI ĐỌAN TIỀN TĂNG HUYẾT ÁP
CỦA MỘT LOẠI THUỐC ỨC CHẾ THỤ THỂ ANGIOTENSIN
Giai đọan tiền tăng huyết
áp (huyết áp tâm thu dao động
trong khỏang 130- <139mmHg
và huyết áp tâm trương
85-89mmHg, JNCVII), được xem
như là giai đọan đi trước của
tăng huyết áp giai đọan 1 và
cũng là giai đọan tiên đóan
nguy cơ cao của bệnh lý tim
mạch Cho đến nay, điều trị chủ
yếu của giai đọan tiến tăng
huyết áp là thay đổi lối sống,
mà không dùng thuốc Việc
chuyển từ giai đọan tiền tăng
huyết áp sang THA giai đọan 1 báo hiệu những thay đổi đanh diễn tiến trên mạch máu như tiểu động mạch phì đại và rối lọan chức năng tế bào nội mô
Thuốc nhóm ức chế men chuyển hoặc ức chế thụ thể angiotensin đã chứng minh qua thực nghiệm có vai trò ức chế hệ thống renin angiotensin aldosterone, qua đó ức chế các yếu tố tăng trưởng gây phì đại tiểu động mạch Do vậy, hai thuốc này có hiệu quả hồi phục
tổn thương phì đại tiểu động mạch, bên cạnh hiệu quả hạ huyết áp
Nhóm nghiên cưu sử dũng candesartan, thuộc nhóm ức chế thụ thể angiotensin, nhằm mục tiêu kiểm sóat huyết áp tại giai đọan này hoặc trì hõan diễn tiến sang tăng huyết áp giai đọan 1 Phương pháp nghiên cứu: các đối tượng nghiên cứu được đo nhiều lần huyết áp và thu nhận vào nghiên cứu nếu kết quả trung bình của 3 lần đo
Trang 2Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 10 * Số 4 * 2006 Thông Tin Y Học
có huyết áp tâm thu dao động
trong khoảng 130-139mmHg,
va/hoặc huyết áp tâm trương
85-89 mmHg Nghiên cứu bao
gồm 2 giai đọan Giai đọan 1:
Các bn được ngẫu nhiên phân
thành 2 nhóm, dùng 16mg
candesartan/ngày (tên biệt
dược: Atacand, của hãng Astra
Zeneca) hoặc giả dược trong 2
năm Cả hai nhóm đều được
hướng dẫn thay đổi lối sống để
hỗ trợ hạ huyết áp Giai đọan 2:
sau 2 năm, cả 2 nhóm đều
chuyển sang dùng giả dược và
tiếp tục điều chỉnh chế độ sinh
họat thích hợp để kiểm sóat
huyết áp Điểm dừng của
nghiên cứu khi bn tiến triển đến
tăng huyết áp giai đọan 1, đến
lúc này mọi bn đều được dùng
thuốc hạ áp
Kết quả: Tham gia ban đầu
có 409 bn thuộc nhóm dùng candesartan và 400 bn nhóm giả dược Song chỉ có 772 bn có số liệu đủ để phân tích (391 bn nhóm candesartan và 381 bn nhóm giả dược, tuổi trung bình 48,5 tuổi;59,6% nam, đa số bn béo phì và có kèm rối lọan lipid) Sau 2 năm theo dõi, tăng huyết áp (THA) phát triển trên
154 bn nhóm giả dược và chỉ 53
bn nhóm dùng candesartan (giảm nguy cơ tương đối: RR reduction, 66,3%, p<0,001)
Sau 4 năm, THA xuất hiện trên tổng số 240 bn dùng giả dược và 208 bn trong nhóm dùng candesartan (giảm nguy cơ tương đối, RR reduction,15,6%, p<0,001) Tác dụng phụ xảy ra
trên 3,5% bn dùng candesartan và 5,9% bn dùng giả dược
Kết luận: Sau 4 năm theo
dõi, THA giai đọan 1 xuất hiện trên gần 2/3 bn không điều trị THA ở giai đọan tiền THA (nhóm giả dược) Nghiên cứu đã chứng minh điều trị THA bằng candesartan đã được dung nạp tốt và giảm tỷ lệ tăng huyết áp tiến triển Do vậy, cần xem xét khả năng dùng thuốc huyết áp mà không chỉ thay đối nếp sinh họat từ giai đọan tiền tăng huyết áp mà không chờ đến tăng huyết áp giai đọan 1
Jilius P, Netbitt S et al: Feasibility of treating prehypertension of an angiotensin receptor blocker for the Trial of Preventing Hypertension (TROPHY) Investigators New England Journal of Medicine, 2006, 354,p 1685-1697 ( www.nejm.org ).
HIỆU QUẢ CỦA MỘT KHÁNG SINH ĐƯỜNG UỐNG KHÔNG HẤP THU
(RIFAXIMIN) TRONG ĐIỀU TRỊ TRIỆU CHỨNG CỦA HỘI CHỨNG RUỘT KÍCH THÍCH NGHIÊN CƯU NGẪU NHIÊN
Hội chứng ruột kích thích
(IBS) có cơ chế bệnh sinh có
liên quan đến sự thay đổi hoặc
tăng sinh các chủng vi khuẩn
trong ruột non, cùng với giảm
sút vi khuẩn thường trú Mục
tiêu nghiên cứu nhằm xác định
hiệu quả của thuốc rifaximin có
ưu thế hơn giả dược trong giảm
triệu chứng của hội chứng ruột
kích thích ở người trưởng thành
Rifaximin là kháng sinh cùng họ
với rifamycine, có tác dụng
chọn lọc trên ruột, chỉ <0,4%
hấp thu vào máu, phổ tác dung
rộng lên vi khuẩn gram dương,
gram âm và kỵ khí và khả năng
diệt 70% vi khuẩn đường ruột,
trong khi neomycine chỉ 25%
Rifaximine đã được FDA chấp
thuận dùng trong điều trị tiêu chảy ở người du lịch Nghiên cứu được thiết kế kiểu nghiên cứu ngẫu nhiên, mù đôi, có chứng, tiến hành tại 2 trung tâm chăm sóc Y khoa (Cedars-Sinai Medical Center, Los Angeles, California và University of Chicago, Chicago, Illinois)
Nghiên cứu bao gồm 87 bn hội đủ tiêu chuẩn Rome 1 của IBS và tham gia nghiên cưu từ tháng 12/2003 đến tháng 5/2005 Bn được ngẫu nhiên phân thành 2 nhóm: 43 bn được dùng thuốc rifaximin 400mg x 3 lần/ngày trong 10 ngày, và 44 bn dùng giả dược Tám mươi bn hòan tất nghiên cứu và chỉ có khỏang 34
bn trong mỗi nhóm có số liệu
theo dõi đủ để phân tích Một bảng câu hỏi được khảo sát trước và 7 ngày sau điều trị Kết quả chủ yếu phân tích là sự cải thiện tòan bộ các triệu chứng của IBS, và được đề nghị ghi nhật ký theo dõi liên tục các triệu chứng trong 9 tuần tiếp sau đó
Kết quả: Sau 10 tuần theo
dõi, nhóm rifaximin cải thiện đáng kể các triệu chứng của hội chứng ruột kích thích (p=0,02) Mặt khác bn dùng rifaximin giảm thang điểm triệu chứng đầy bụng (bloating) sau điều trị Giới hạn của nghiên cứu chủ yếu la do số bn tham gia còn ít và thời gian theo dõi ngắn, và
Trang 3Thông Tin Y Học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 10* Số 4 * 2006
hầu hết bn tập trung tại 1 trung
tâm
Kết luận: Rifaximin cải
thiện các triệu chứng của hội
chứng ruột kích thích và hiệu
quả này kéo dài trong 10 tuần
sau khi đã ngưng thuốc
Pimentel M, Park S, K Mirocha K, Kane SV,
Kong Y: The effect of a nonabsorbed Oral
Antibiotic ( Rifaximin) on the symptoms of
the irritable Bowel Syndrome) ( A
Randomized Trial) Annals of Internal
Medicine, 2006, 145;p 557-563
www.annals.org