Phân công lao động giữa vợ và chồng trong giai đoạn sản xuất của các hộ gia đình làm nghề mộc truyền thống .... Phân công lao động giữa vợ và chồng trong hoạt động tái sản xuất của các h
Trang 1NGUYỄN THỊ THU HUYỀN
PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG GIỮA VỢ VÀ CHỒNG TRONG CÁC HỘ GIA ĐÌNH LÀM NGHỀ MỘC
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG GIỮA VỢ VÀ CHỒNG TRONG CÁC HỘ GIA ĐÌNH LÀM NGHỀ MỘC
Trang 3Tôi xin chịu trách nhiệm về tính trung thực của toàn bộ nội dung khóa luận tốt nghiệp
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Thị Thu Huyền
Trang 4Lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới TS Nguyễn Thị Minh Khuê Đã nhiệt tình, tận tâm, giúp đỡ và hướng dẫn tôi về mặt kiến thức, phương pháp và truyền đạt cho tôi những kinh nghiệm quý báu trong quá trình nghiên cứu giúp tôi hoàn thành khóa luận này
Tôi xin trân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Khoa học Xã hội cũng như các thầy cô trong bộ môn Xã hội học đã truyền đạt những kiến thức và tạo điều kiện cho tôi học tập và rèn luyện trong suốt 4 năm vừa qua
Lời cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến UBND xã Trung Đông
vì trong quá trình tôi thực hiện khóa luận tốt nghiệp đã hết sức nhiệt tình cung cấp cho tôi những thông tin và số liệu, giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành được đề tài này Đồng thời, tôi cũng gửi lời cảm ơn tới các hộ gia đình làm nghề mộc truyền thống thuộc địa bàn xã Trung Đông đã nhiệt tình giúp đỡ và cung cấp thông tin quý báu để tôi có thể thuận lợi thu thập thông tin phục vụ cho đề tài
Do khả năng còn hạn chế nên báo cáo còn gặp nhiều thiếu sót, tôi mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy, các cô và các bạn để tôi có thể hoàn thiện khóa luận một cách tốt và hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2022
Sinh viên
Nguyễn Thị Thu Huyền
Trang 5các hoạt động khác Kết quả nghiên cứu cho thấy các hộ gia đình tại địa bàn xã Trung Đông đa số làm nghề mộc vì đây là nghề truyền thống của địa phương, bên cạnh đó nghề mộc cũng tạo ra thu nhập chính cho các hộ gia đình trên địa bàn
Kết quả điều tra về phân công lao động cho thấy dù đã có sự chia sẻ nhiều hơn của cả hai vợ chồng đối với các công việc trong gia đình Tuy nhiên, đặc thù giới vẫn còn tồn tại Cụ thể trong giai đoạn sản xuất đã có sự phân chia công việc giữa người vợ và người chồng, với các công việc nặng chủ yếu do người chồng đảm nhận, còn với công việc mang tính tỉ mỉ và khéo lẽ sẽ do người vợ làm chính Trong hoạt động tái sản xuất, lượng thời gian dành cho công việc gia đình hằng ngày của người vợ vẫn cao hơn đáng kể so với người chồng, nhưng bên cạnh đó người chồng cũng đã chia sẻ phụ giúp các công việc nội trợ trong gia đình Các hoạt động cộng đồng phần lớn sẽ do cả hai vợ chồng cùng tham gia, tuy nhiên các công việc liên quan đến dòng họ thì sẽ do người chồng tham gia chính
Từ khóa: phân công lao động, nghề mộc, giới
Trang 6MỤC LỤC iv
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
PHẦN 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 4
1.3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 4
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 4
1.3.2 Khách thể nghiên cứu 4
1.3.3 Phạm vi nghiên cứu 4
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
2.1 Các lý thuyết nền cho đề tài nghiên cứu 5
2.1.1 Lý thuyết quan điểm tiếp cận giới 5
2.1.2 Lý thuyết cấu trúc - chức năng 6
2.2 Các nghiên cứu liên quan 7
2.2.1 Các nghiên cứu về phân công lao động trong hoạt động sản xuất 7
2.2.2 Các nghiên cứu về phân công lao động trong hoạt động tái sản xuất 10
2.3 Các khái niệm liên quan đến đề tài 12
2.3.1 Khái niệm hộ gia đình 12
2.3.2 Khái niệm vai trò giới 13
2.3.3 Khái niệm phân công lao động 13
Trang 72.3.4 Khái niệm nghề mộc 14
PHẦN 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
3.1 Chọn điểm nghiên cứu 15
3.2 Phương pháp thu thập thông tin 16
3.2.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp 16
3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp 17
3.2.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 17
3.3 Khung phân tích 18
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 19
4.1 Đặc điểm chung của các hộ làm nghề mộc truyền thống 19
4.1.1 Đặc điểm nhân khẩu của hộ gia đình 19
4.1.2 Thực trạng sản xuất của các hộ làm nghề mộc truyền thống 23
4.2 Phân công lao động giữa vợ và chồng trong giai đoạn sản xuất của các hộ gia đình làm nghề mộc truyền thống 36
4.2.1 Phân công lao động trong việc tạo phôi nguyên liệu 37
4.2.2 Phân công lao động trong việc gia công chi tiết 39
4.2.3 Phân công lao động trong việc hoàn thiện sản phẩm 42
4.2.4 Phân công lao động trong việc tiêu thụ sản phẩm 45
4.2.5 Quyền quyết định trong giai đoạn sản xuất 48
4.3 Phân công lao động giữa vợ và chồng trong hoạt động tái sản xuất của các hộ gia đình làm nghề mộc truyền thống 50
4.3.1 Phân công lao động giữa vợ và chồng trong việc nội trợ 50
4.3.2 Phân công lao động giữa vợ và chồng trong việc chăm sóc các thành viên gia đình 54
4.3.3 Phân công lao động giữa vợ và chồng trong hoạt động khác 59
PHẦN 5: KẾT LUẬN 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
PHỤ LỤC 67
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1: Độ tuổi của các thành viên trong hộ gia đình 19
Bảng 4.2: Giới tính của các thành viên trong hộ gia đình 20
Bảng 4 3 Trình độ học vấn của các thành viên trong hộ gia đình 21
Bảng 4.4: Nghề nghiệp của các thành viên trong hộ gia đình 22
Bảng 4.5 Số năm làm nghề mộc của các hộ gia đình trong mẫu điều tra 24
Bảng 4.6 Lý do làm nghề mộc của các hộ gia đình trong mẫu điều tra 26
Bảng 4.7 Số lao động chính làm nghề mộc của các hộ gia đình 28
Bảng 4.8 Thuê thêm lao động của các hộ gia đình trong mẫu điều tra 29
Bảng 4.9 Diện tích xưởng sản xuất của các hộ gia đình trong mẫu điều tra 30
Bảng 4.10 Vốn đầu tư sản xuất của các hộ gia đình trong mẫu điều tra 31
Bảng 4.11 Tỷ lệ vay vốn đầu tư của các hộ gia đình trong mẫu điều tra 33
Bảng 4.12 Thu nhập trung bình một năm của các hộ gia đình trong mẫu điều tra 35
Bảng 4.13 Phân công lao động trong tạo phôi nguyên liệu 37
Bảng 4.14 Phân công lao động trong gia công chi tiết 39
Bảng 4.15 Phân công lao động trong hoàn thiện sản phẩm 42
Bảng 4.16 Phân công lao động trong tiêu thụ sản phẩm 46
Bảng 4.17 Quyền quyết định trong giai đoạn sản xuất 49
Bảng 4.18 Phân công lao động trong các công việc nội trợ của gia đình 50
Bảng 4.19 Quyền quyết định các công việc nội trợ của gia đình 53
Bảng 4.20 Phân công lao động trong chăm sóc con cái 55
Bảng 4.21 Phân công lao động trong chăm sóc bố mẹ/người thân ốm đau hoặc già 57
Bảng 4.22 Quyền quyết định trong chăm sóc thành viên gia đình 58
Bảng 4.23 Phân công lao động trong hoạt động cộng đồng 59
Bảng 4.24 Quyền quyết định trong hoạt động cộng đồng 62
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TỪ VIẾT TẮT DIỄN GIẢI
THCS Trung học cơ sở THPT Trung học phổ thông CĐ/ĐH Cao đẳng, đại học
Trang 10
PHẦN 1: GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Gia đình là tế bào của xã hội, không chỉ ảnh hưởng tới đời sống của mỗi
cá nhân mà còn tác động tới quá trình phát triển xã hội Trong xã hội truyền thống, người phụ nữ không được bình đẳng như nam giới vì vậy sự tiến thân trong xã hội là điều ít được biết đến Ngược lại, người nam giới được coi trọng hơn, giữ vị trí là người trụ cột trong gia đình, tham gia các công việc của cộng đồng nên họ đã không ngừng nâng cao địa vị của mình ngoài xã hội Ngày nay, khi nước ta đang trên đà phát triển dẫn đến sự thay đổi mới tư duy trên mọi lĩnh vực, điều này đã tạo ra sự chuyển đổi về cơ cấu xã hội và cùng với đó có sự thay đổi của phân công lao động giữa vợ và chồng trong gia đình Hiện nay, phụ nữ chiếm 50,2% dân số và 47,3% lực lượng lao động, phụ nữ đang ngày càng khẳng định rõ nét vai trò vị trí của mình khi tham gia vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội 88.3% số người vợ được hỏi cho rằng thu nhập của họ quan trọng đối với gia đình, 44.5% người vợ có thu nhập cao hơn chồng trong khi chỉ có 34% người vợ nói chồng có thu nhập cao hơn vợ (Nguyễn Hữu Minh, 2016) Bên cạnh đó, người chồng cũng dần chia sẻ gánh nặng công việc với vợ bằng cách họ dần tham gia vào các công việc tái sản xuất
Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, chú trọng phát triển các ngành công nghiệp trọng yếu Bên cạnh đó, việc phát triển kinh tế xã hội ở khu vực nông thôn cũng nằm trong tầm nhìn chiến lược của Đảng và Nhà nước Với đặc thù là một nước nông nghiệp, làng nghề truyền thống có một vị trí quan trọng trong sự phát triển nền kinh tế của Việt Nam Làng nghề truyền thống là một trong những đặc thù của nông thôn nước ta, nó
đã xuất hiện từ hàng trăm năm, gắn liền với bản sắc văn hóa dân tộc và góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế xã hội của đất nước Các làng nghề như làng gốm sứ
Trang 11Bát Tràng (Hà Nội), làng tranh dân gian Đông Hồ (Bắc Ninh), nghề thêu ren Văn Lâm (Ninh Bình), hay làng nghề gỗ mộc La Xuyên (Nam Định), …vẫn còn đang được bảo tồn, lưu truyền và phát triển tới ngày nay, tạo ra nhiều việc làm, giải quyết tình trạng dư thừa nguồn lao động tại nông thôn Năm 2020, cả nước
có gần 1,3 triệu lao động thiếu việc làm từ 15 tuổi trở lên Trong đó, 77,5% lao động thiếu việc làm cư trú ở khu vực nông thôn (tương đương 982 nghìn người) (Tổng Cục Thống Kê, 2020) đã góp phần vào sự nghiệp xóa đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm cho người nông dân tránh được luồng di cư ồ ạt từ nông thôn
ra thành thị Trong những năm gần đây, ngành công nghiệp gỗ của Việt Nam đã
có những bước phát triển mạnh mẽ, hiện nay có khoảng trên 300 làng nghề mộc với gần 50% số làng nghề này tập trung tại vùng Đồng bằng Sông Hồng Làng nghề mộc đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Hiện có khoảng 300.000 lao động đang làm việc tại các làng nghề điều này tạo cơ hội việc làm cho nhiều người lao động, đặc biệt lao động tại vùng nông thôn Bên cạnh đó, các làng nghề hiện nay cung cấp trên 80% tổng đồ gỗ nội thất và xây dựng cho thị trường nội địa (Tô Xuân Phúc & cs., 2012) Tạo điều kiện phát triển kinh tế cho các hộ gia đình làm nghề mộc truyền thống, điều đó cũng dẫn đến sự thay đổi về giới làm cho cả nam giới và phụ nữ đều tự nhận thức được vai trò của bản thân mình trong gia đình, họ tự điều chỉnh và thích nghi với nhau trong suy nghĩ
và hành động Nghề thủ công có vai trò quan trọng trong việc thực hiện bình đẳng giới, thể hiện qua việc phân công lao động và vai trò của phụ nữ đối với các nghề truyền thống, cũng như phát huy năng lực và tạo việc làm đối với nhiều phụ nữ Hiện nay, đã có rất nhiều nghiên cứu về vấn đề giới trong việc đảm nhận công việc gia đình nhưng các nghiên cứu tập trung nhiều vào phân công lao động trong gia đình nói chung, ít có các nghiên cứu đi sâu vào vấn đề phân công lao động của gia đình ở các làng nghề truyền thống, đặc biệt là các hộ gia đình làm nghề mộc truyền thống
Trang 12Trung Đông là một xã nằm ở phía Bắc huyện Trực Ninh, có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển hoàn thiện cả về công - nông nghiệp và dịch vụ, bên cạnh canh tác đất nông nghiệp thì người dân nơi đây cũng hình thành nên các làng nghề và đặc biệt có làng nghề mộc Trung Lao hiện vẫn còn được duy trì và phát triển, tạo ra khối lượng việc làm giúp cho người dân trên địa bàn xã có thêm công việc và thu nhập để cải thiện mức sống gia đình Chính vì vậy, đã tạo được bước đột phá trong phát triển kinh tế, số hộ khá và giàu trong xã tăng nhanh, hộ nghèo giảm chỉ còn 1,76%; thu nhập bình quân đầu người đạt trên 54 triệu đồng/năm (Khánh Dũng, 2021) Tuy nhiên, việc làm mộc đòi hỏi cần phải
có sức lao động và sự tỉ mỉ trong tất cả các khâu sản xuất, khi nói đến nghề mộc thường nghĩ ngay đó là nghề của người đàn ông nên chính vì vậy phần lớn trong các gia đình, việc làm mộc vẫn do người đàn ông làm chính và đưa ra quyết định, còn người phụ nữ chỉ mang tính phụ giúp, tuy nhiên ở một số hộ gia đình người vợ cũng dần tham gia vào quá trình làm mộc khẳng định vai trò của mình trong hoạt động sản xuất, điều này làm tăng giá trị của người phụ nữ trong gia đình Vì vậy, việc phân công lao động trong các hộ gia đình làm nghề mộc là rất cần thiết, giúp cho vợ chồng san sẻ gánh nặng trong công việc cũng như các công việc khác trong gia đình Sự phân công lao động hợp lý sẽ quyết định đến hiệu quả kinh tế của gia đình trong việc sản xuất đồ gỗ mộc Vậy cuộc sống của các hộ gia đình làm nghề mộc truyền thống có khác gì so với hộ gia đình khác?
Sự phân công lao động trong gia đình như thế nào? Hiệu quả của sự phân công
đó ra sao? Xuất phát từ vấn đề đó, tôi đã lựa chọn đề tài: “Phân công lao động
giữa vợ và chồng của các hộ gia đình làm nghề mộc truyền thống” (Nghiên cứu
trường hợp tại xã Trung Đông, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định)
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1.2.1 Mục tiêu chung
Tìm hiểu phân công lao động giữa vợ và chồng trong các hộ gia đình làm nghề mộc truyền thống
Trang 13Tìm hiểu phân công lao động giữa vợ và chồng trong hoạt động tái sản xuất của các hộ gia đình làm nghề mộc truyền thống tại xã Trung Đông, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định
1.3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu sự phân công lao động giữa vợ và chồng của các hộ gia đình làm nghề mộc truyền thống
1.3.2 Khách thể nghiên cứu
Các hộ gia đình làm nghề mộc truyền thống
1.3.3 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung tìm hiểu sự phân công lao động giữa
vợ và chồng trong các hộ gia đình làm nghề mộc truyền thống, được nghiên cứu theo vai trò giới: vai trò sản xuất, vai trò tái sản xuất Từ đó có thể thấy được vị thế của người vợ và người chồng trong gia đình cũng như ngoài xã hội, và ai sẽ
là người quyết định mọi việc trong gia đình
Phạm vi không gian: Đề tài thực hiện tại xã Trung Đông, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định
Phạm vi thời gian:
+ Thông tin thứ cấp được thu thập từ năm 2012 trở lại đây
+ Thông tin sơ cấp được thu thập từ tháng 3 năm 2022
Trang 14PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Các lý thuyết nền cho đề tài nghiên cứu 2.1.1 Lý thuyết quan điểm tiếp cận giới
Quan điểm này yêu cầu nghiên cứu về nam giới và nữ giới đặt trong mối quan hệ qua lại với nhau Trước hết, ta phải làm rõ sự khác biệt và đồng nhất giữa nam giới và nữ giới ở những đặc điểm bẩm sinh không thể thay đổi được, những đặc điểm xã hội do học hỏi mà có, những đặc điểm do xã hội quy gán và những đặc điểm có tính lịch sử và có thể thay đổi được
Tiếp cận giới phải chú ý đến mối quan hệ của hai giới trong mọi lĩnh vực của đời sống gia đình, trong lao động, trong hưởng thụ các giá trị vật chất - tinh thần, về quyền và nghĩa vụ của mỗi giới trong gia đình và ngoài xã hội Như vậy, bằng cách so sánh những chức năng tự nhiên và xã hội giữa nam giới và nữ giới, bằng cách so sánh mọi khía cạnh của quá trình thực hiện vai trò giáo dục đạo đức con cái, so sánh những xuất phát điểm đi lên của từng giới ta có thể đánh giá được sự phân công vai trò giữa nam giới và nữ giới trong giáo dục đạo đức cho con, cũng như trong các công việc gia đình
Quan điểm tiếp cận giới đòi hỏi phải nghiên cứu mối quan hệ giới trong bối cảnh kinh tế-xã hội, trong những giai đoạn phát triển của lịch sử để thấy được những nguyên nhân xã hội quy định mối quan hệ giới Cần phải dựa trên
sự phân tích khách quan khoa học, trên những số liệu thực tế để không có cái nhìn thiên lệch về giới nào Từ đó đưa ra các giải pháp hữu hiệu thiết lập sự bình đẳng giới trên mọi mặt, phát huy năng lực, khả năng sáng tạo của cả hai giới đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước
Như vậy, vận dụng lý thuyết này để thấy được sự phân công lao động theo giới trong các hộ gia đình làm nghề mộc truyền thống trong bối cảnh chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Theo những đặc điểm sinh học khác nhau thì mỗi người sẽ có vai trò khác nhau
Trang 15đáp ứng nhu cầu của gia đình cũng như xã hội Bên cạnh đó, chúng ta cũng có thể so sánh được mức độ tham gia của hai giới vào các hoạt động của gia đình,
từ đó còn làm rõ quyền quyết định giữa vợ và trồng trong các gia đình làm nghề mộc truyền thống, ai sẽ là người đưa ra quyết định trong những việc quan trọng trong gia đình
2.1.2 Lý thuyết cấu trúc - chức năng
Lý thuyết cấu trúc chức năng ra đời vào những năm 40 – 50 của thế kỷ
XX Lý thuyết này cho rằng phụ nữ và nam giới là những bộ phận khác nhau tạo nên hệ thống xã hội và có quan hệ về mặt xã hội hết sức chặt chẽ Việc thực hiện chức năng và vai trò xã hội giữa phụ nữ và nam giới trong phạm vi gia đình và cộng đồng là một trong những yếu tố thể hiện mối quan hệ xã hội giữa họ Các luận điểm gốc của thuyết chức năng cấu trúc đều nhấn mạnh tính cân bằng, ổn định và khả năng thích nghi của cấu trúc Lý thuyết này cho rằng, một xã hội tồn tại, phát triển được là do các bộ phận cấu thành của nó hoạt động nhịp nhàng với nhau để đảm bảo sự cân bằng chung của cả cấu trúc bất kỳ một sự thay đổi nào
ở thành phần nào cũng k o th o sự thay đổi ở các thành phần khác Th o nghĩa
đó, gia đình được coi là một thành phần trong cấu trúc của xã hội, thực hiện những chức năng cơ bản của xã hội, đáp ứng nhu cầu của các thành viên gia đình và góp phần ổn định xã hội
Đối với thuyết cấu trúc chức năng, hai tác giả được coi là đại biểu chính là
G org Murdock và Talcott Parsons G org Murdock giải thích tính phổ biến của gia đình do gia đình thực hiện 4 chức năng cơ bản không thể thiếu được cho
sự tiếp nối thành công của xã hội Đó là các chức năng: tình dục, tái sinh sản, giáo dục và kinh tế Ông cho rằng những chức năng này là hoàn toàn cần thiết cho cả cá nhân và xã hội Và chỉ có gia đình mới có thể thực hiện thành công những chức năng này Vì thế, gia đình là tất yếu và phổ biến – chúng ta không thể tồn tại mà không có gia đình Nếu gia đình không thực hiện đầy đủ các chức năng của nó thì những mục tiêu rộng lớn của xã hội cũng sẽ không đạt được
Trang 16Còn theo Parsons ủng hộ mô hình phân công lao động rõ ràng theo giới Ông cho rằng, trong gia đình, người chồng có vai trò công cụ, là người đi làm kiếm sống, tạo ra thu nhập Còn người vợ giữ vai trò biểu cảm, là người ở nhà chăm sóc con cái, lo việc nhà Trong khi chăm sóc cho cả chồng và con, người phụ nữ thể hiện sự ấm áp, tình yêu, sự an ủi và làm dịu đi những căng thẳng, ức chế gây
ra bởi thế giới bên ngoài Th o nghĩa này, các vai trò công cụ và tình cảm của chồng và vợ bổ sung cho nhau Mỗi một vai trò bảo đảm những yếu tố thiết yếu đối với những chức năng cơ bản và không thể giảm bớt của gia đình, từ đó nó thúc đẩy sự cố kết gia đình (Vũ Thị Phương, 2016)
Áp dụng lý thuyết cấu trúc – chức năng vào đề tài để giải thích được sự khác biệt trong việc thực hiện vai trò giữa vợ và chồng trong các gia đình làm nghề mộc truyền thống, đồng thời thấy được sự tương tác giữa hai giới trong các hoạt động sản xuất, tái sản xuất hay cộng đồng Thông qua sự tương tác này chúng ta sẽ đánh giá được việc thực hiện các chức năng của gia đình làm nghề mộc truyền thống trong điều kiện hiện nay
2.2 Các nghiên cứu liên quan 2.2.1 Các nghiên cứu về phân công lao động trong hoạt động sản xuất
Trong đời sống các hộ gia đình ở nông thôn, phụ nữ và nam giới đều tham gia các hoạt động sản xuất tạo thu nhập nhằm phát triển kinh tế cho gia đình Các hoạt động tạo thu nhập trong nông hộ hết sức phong phú và đa dạng từ việc làm đồng, trồng trọt, chăn nuôi đến các hoạt động mua bán nhỏ lẻ hoặc các nghề tiểu thủ công nghiệp bằng các nguyên vật liệu sẵn có tại địa phương Phân công lao động theo giới gắn liền với các giá trị chuẩn mực xã hội, đặc trưng về văn hóa và thích nghi với những thay đổi của điều kiện gia đình Khi thực hiện vai trò của mình, phụ nữ và nam giới đều cần phải sử dụng những nguồn lực trong gia đình và cộng đồng, và thụ hưởng lợi ích do bản thân và cộng đồng tạo ra Sự phân công lao động theo giới trong gia đình thể hiện rõ nhất trong hoạt động sản xuất và tạo ra thu nhập cho gia đình Phụ nữ Việt Nam hiện nay trong điều kiện
Trang 17kinh tế thị trường ngày càng khẳng định được vai trò của mình trong hoạt động kinh tế
Dựa vào đặc trưng giới, xã hội luôn kỳ vọng cho người đàn ông là trụ cột gia đình, được coi là người chịu trách nhiệm về kinh tế cho gia đình và là người
có mọi quyền hành Người vợ được trông đợi là đảm đang, quán xuyến mọi công việc trong gia đình như sinh con đẻ cái, chăm sóc nuôi dưỡng con cái Nhưng trong bối cảnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa thì sự phân công lao động
có sự thay đổi Phụ nữ Việt Nam hiện nay trong điều kiện kinh tế thị trường ngày càng khẳng định được vai trò của mình trong hoạt động kinh tế 88.3% số người vợ được hỏi cho rằng thu nhập của họ quan trọng đối với gia đình, 44.5% người vợ có thu nhập cao hơn chồng trong khi chỉ có 34% người vợ nói chồng
có thu nhập cao hơn vợ Có được sự đóng góp thu nhập như vậy, nguyên nhân trước hết có thể thấy là người phụ nữ tham gia hầu hết các loại hình công việc sản xuất và tỷ lệ tham gia cao hơn so với nam giới (Nguyễn Hữu Minh, 2016)
Trong việc sản xuất nông nghiệp, nam giới thường làm các công việc nặng nhọc như cày bừa, phun thuốc còn phụ nữ tham gia sản xuất nông nghiệp như nhổ mạ, cấy, làm cỏ, tham gia thu hoạch và bán sản phẩm Đối với công việc chăn nuôi, người phụ nữ đảm nhận việc như chọn giống, chăm sóc, bán sản phẩm… Trong các hộ gia đình sản xuất lúa, tỷ lệ phụ nữ tham gia làm đất chỉ chiếm 2,7%, trong khi nam giới chiếm tỷ lệ khá cao cho công việc này (58,7%),
cả hai tham gia làm đất chỉ chiếm 9,3% Công việc thu hoạch sản phẩm như phơi lúa đòi hỏi sử dụng ít công sức thì phụ nữ đảm nhận cao nhất (chiếm 19,3%), cả hai cho hoạt động phơi lúa chiếm 56,7% và tỷ lệ thuê mướn (người khác) chiếm thấp nhất 2,7% (Phạm Ngọc Nhàn & cs., 2014)
Đối với phân công lao động trong hoạt động chăn nuôi cũng có sự tham gia của cả vợ và chồng trong các khâu của các nhóm công việc Tuy nhiên, vẫn
có sự phân công lao động rõ ràng giữa vợ và chồng trong từng khâu của hoạt
Trang 18động chăn nuôi Kết quả điều tra cho thấy, người vợ chủ yếu đảm nhiệm các công việc như chọn giống, chăm sóc vật nuôi, bán sản phẩm vì cho rằng người
vợ có sự khéo léo, sự quan sát nhanh nhạy hơn 90% với người chồng do đó việc chăm sóc vật nuôi sẽ tốt hơn Còn người chồng đảm nhiệm việc làm chuồng trại, áp dụng kĩ thuật như nhân giống, lai tạo chiếm tỷ lệ cao (46.7%),
vì đây là công việc đòi hỏi kĩ thuật, việc làm chuồng cần phải kiên cố và chắc chắn, đòi hỏi sức nên người chồng thực hiện công việc này là chính (Nguyễn Thị Hương Giang, 2015)
Hoạt động sản xuất phi nông nghiệp cũng đóng góp một phần quan trọng vào nền kinh tế hộ gia đình, bao gồm các hoạt động như buôn bán nhỏ lẻ hay sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ Trong hoạt động này, nữ giới thường chiếm tỷ lệ cao, nam giới chỉ tham gia rất ít Đối với các hoạt động mua bán nhỏ lẻ, nữ giới chiếm tỷ lệ 40%, thấp nhất là nam giới chiếm tỷ lệ 20,8% Trong việc lựa chọn mặt hàng để bán, phân công lao động nữ giới cũng chiếm tỷ lệ cao nhất (55,1%),
kế tiếp là cả hai cùng tham gia chiếm 28,9% và thấp nhất là nam giới 16% (Phạm Ngọc Nhàn & cs., 2014) Do đặc thù của công việc, mua bán nhỏ lẻ, làm thủ công mỹ nghệ đòi hỏi lao động nhẹ nhàng, khéo léo, tính chất công việc này phù hợp với người phụ nữ hơn là nam giới
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã chỉ ra được thực trạng phân công lao động giữa vợ và chồng trong các hộ gia đình ở nông thôn có sự khác biệt giữa hai giới Người chồng với vai trò là người trụ cột trong gia đình chủ yếu đảm nhận các công việc nặng nhọc, đòi hỏi phải có sức khỏe và kỹ năng Còn người vợ hầu như tham gia và chiếm phần trăm lớn các công việc mang tính chất nhẹ nhàng, đòi hỏi sự khéo léo từ họ Bên cạnh đó, người vợ có
xu hướng dần tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp tạo thêm thu nhập cho gia đình, cả hai giới đều có cơ hội trong vấn đề tiếp cận các nguồn lực và lợi ích nhưng phân công lao động trong gia đình vẫn còn dựa trên sự khác nhau về giới tính và địa vị trong gia đình
Trang 192.2.2 Các nghiên cứu về phân công lao động trong hoạt động tái sản xuất
Trong các hộ gia đình, hoạt động tái sản xuất sức lao động cho mọi thành viên được xem là công việc cần thiết để duy trì cuộc sống của mỗi thành viên và
sự tồn tại của gia đình Gia đình sẽ không còn là gia đình nguyên nghĩa nếu như hoạt động này không diễn ra mà thay vào đó là sự chen lấn của các loại hình dịch vụ Ngày nay việc chăm lo cho các thành viên trong gia đình được coi là một công việc quan trọng th o đúng nghĩa của nó, trong đó có vai trò của người phụ nữ đặc biệt được đề cao Trung bình thời gian làm việc một ngày của phụ nữ
là 13 giờ, trong khi nam giới là khoảng 09 giờ Sự chênh lệch này chủ yếu do phụ nữ còn đảm nhiệm chính công việc nội trợ, chăm sóc con cái ngoài vai trò sản xuất và công tác như nam giới Ở một số vùng theo chế độ mẫu hệ, người phụ nữ không chỉ gánh vác hầu hết mọi công việc gia đình, chăm sóc con cái,
mà đồng thời còn lao động chính trong gia đình Đây thực sự là gánh nặng quá tải, gây ảnh hưởng xấu tới tình trạng sức khỏe của người phụ nữ
Công việc này được coi là “thiên chức” của người phụ nữ, được xem là bổn phận của người phụ nữ với mức độ tham gia thường xuyên hơn nam giới Chăm sóc người ốm vợ chiếm gần 69.5%, chồng chỉ chiếm 30%, trong việc chăm sóc con nhỏ người vợ cũng là người chủ yếu thực hiện vai trò này với gần 80%, chồng chiếm khoảng 20% Việc chăm sóc người phụ thuộc trong gia đình đều do người phụ nữ đảm nhiệm, nam giới có tham gia nhưng sự chia sẻ không nhiều và họ thường có quyền lựa chọn từng công việc cụ thể cũng như khối lượng công việc mà họ muốn tham gia Điều này cho thấy vai trò quan trọng của người phụ nữ trong việc tái sản xuất sức lao động nói riêng và sản xuất con người nói chung
Hiện nay, việc phân công lao động trong gia trong gia đình ở nhiều vùng miền vẫn còn mang tính chất phân biệt theo giới rất rõ nét Công việc gia đình vẫn tập trung vào vai người phụ nữ là chủ yếu Ngoài trách nhiệm phát triển kinh tế, người phụ nữ là người đảm nhiệm chính các công việc nội trợ nấu ăn,
Trang 20duy trì cuộc sống gia đình, chăm sóc sức khỏe cho mọi thành viên trong gia đình trong việc đảm bảo chế độ dinh dưỡng để tái sản xuất sức lao động Riêng việc
đi chợ mua thức ăn: tỷ lệ phụ nữ là 88,6%, nam là 5,5%; việc nấu cơm: tỷ lệ tương ứng là 79,9% và 3,3%; việc giặt giũ: tỷ lệ tương ứng là 77,3% và 2,8% Đáng chú ý là ở những việc này, số người cho biết cả hai vợ chồng làm ngang nhau là rất thấp (Nguyễn Thị Lan Anh, 2018) Do đó, phụ nữ ít có cơ hội để học tập nâng cao trình độ, nghỉ ngơi giải trí hay tham gia các hoạt động xã hội Mặc
dù hướng nam giới tham gia vào công việc nội trợ tăng lên nhưng nữ giới vẫn là người đảm nhận chính Việc phụ nữ Việt Nam nói chung, phụ nữ nông thôn nói riêng phải mất nhiều thời gian cho công việc nội trợ là một trở ngại lớn trên con đường giải phóng phụ nữ, tiến tới bình đẳng nam nữ trong gia đình và xã hội
Th o đánh giá của Uỷ ban Quốc gia Vì sự tiến bộ của phụ nữ: lĩnh vực phụ nữ chịu bất bình đẳng nhiều nhất là phân công lao động trong gia đình, vì họ vẫn phải chịu trách nhiệm chính trong các công việc gia đình Cũng th o đánh giá này, thời gian lao động của nữ giới thường cao hơn nam giới 3-4 tiếng mỗi ngày Ở vùng nông thôn và miền núi, nơi dân trí thấp, phụ nữ dân tộc thiểu số còn phải làm việc quần quật từ 5 giờ sáng đến 11-12 giờ đêm Và đương nhiên là họ không còn thời gian để làm những việc khác mà họ muốn để phát triển bản thân, làm đẹp, học tập hay nghỉ ngơi Sự phân công còn thể hiện công việc, thời gian rảnh rỗi của hai giới Th o điều tra, có 80% nam giới được hỏi cho biết họ sử dụng thời gian rảnh rỗi để tụ tập cà phê, ăn nhậu hoặc đánh bài Trong khi đó, 80% nữ được hỏi cho biết thời gian họ thường xuyên kiểm tra con cái học bài và may vá quần
áo Th o điều tra, 20% nam giới trả lời thỉnh thoảng giúp vợ nấu ăn, 90% nam giới trả lời chưa bao giờ giặt giũ cho vợ con cả (Nguyễn Thị Hoa, 2015)
Trong bài viết “Các yếu tố ảnh hưởng đến quyền quyết định của vợ và chồng đối với các công việc quan trọng của gia đình” của (Nguyễn Hữu Minh & Trần Thị Hồng, 2020) hiện nay người chồng vẫn đang là người quyết định cuối cùng các công việc quan trọng ở đa số các gia đình (49,1%) Tỷ lệ cả hai vợ
Trang 21chồng cùng tham gia quyết định là 32,6%, chiếm khoảng 1/3 số hộ gia đình được hỏi Có 12,9% gia đình người vợ là người quyết định cuối cùng các công việc quan trọng của gia đình và 5,5% là do người khác Như vậy, nam giới vẫn giữ vị trí quan trọng trong gia đình, cho dù địa vị, vai trò của người phụ nữ ngày nay đã có cải thiện đáng kể
Như vậy, các nghiên cứu trên đây đã chỉ ra được vai trò và sự tham gia của phụ nữ và nam giới trong hoạt động tái sản xuất, qua đó có thể thấy được cả phụ nữ và nam giới đều có cơ hội trong vấn đề tiếp cận các nguồn lực và lợi ích Nhưng phân công lao động trong gia đình vẫn còn dựa trên sự khác nhau về giới tính và địa vị trong gia đình Nam giới trong gia đình vẫn là người nắm giữ và chi phối phần lớn các yếu tố về nguồn lực và lợi ích, đặc biệt là các nguồn lực quan trọng Sự tham gia của phụ nữ trong kiểm soát và phân phối nguồn lực và lợi ích còn hạn chế và chỉ tập trung vào một số nguồn lực mà nó gắn với địa vị
do khuôn mẫu giới truyền thống ấn định
2.3 Các khái niệm liên quan đến đề tài 2.3.1 Khái niệm hộ gia đình
Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống, hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền lợi với nhau theo Luật này (Luật Hôn Nhân Và Gia Đình, 2014)
Hộ gia đình là chủ thể của quan hệ dân sự khi các thành viên của một gia đình có tài sản chung để hoạt động kinh tế chung trong quan hệ sử dụng đất, trong hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và trong một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định Hộ gia đình phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại diện của hộ gia đình xác lập, thực hiện nhân danh hộ gia đình và chịu trách nhiệm bằng tài sản chung của hộ Như vậy, hộ gia đình là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng th o quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình (Luật Dân Sự, 2015)
Trang 22Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, hộ gia đình được hiểu là những người cùng chung sống dưới một mái nhà, có quan hệ hôn nhân, huyết thống, hoặc quan hệ nuôi dưỡng th o quy định, có cơ sở pháp lý và được sự bảo vệ của pháp luật Họ có nguồn ngân sách chung và cùng nhau thực hiện các chức năng của gia đình: chức năng kinh tế, chức năng tái sản xuất và chức năng giáo dục
2.3.2 Khái niệm vai trò giới
Giới là một thuật ngữ xã hội bắt nguồn từ môn nhân loại học nghiên cứu
về vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ, bao gồm việc phân chia lao động, các kiểu phân chia, các nguồn và lợi ích Giới đề cập tới các nguyên tắc tiêu chuẩn theo nhóm tập thể chứ không theo thực tế cá nhân Vai trò giới được xác định th o văn hóa, không th o khía cạnh sinh vật học và
có thể thay đổi theo thời gian, theo xã hội và các vùng địa lý khác nhau Khi mới sinh ra, chúng ta không có sẵn đặc tính giới, những đặc tính giới mà chúng ta có được là do chúng ta học được từ gia đình, xã hội và nền văn hóa của chúng ta
Có thể định nghĩa ngắn gọn: Giới là quan hệ xã hội giữa nam và nữ và cách thức mối quan hệ đó được xây dựng nên trong xã hội (Lê Thị Quý, 2010)
Vai trò giới là những trông đợi về những hành vi và quan điểm mà nền văn hóa xác định là phù hợp với nam giới và nữ giới, bao gồm các quyền, những trách nhiệm, những mong đợi và các quan hệ của phụ nữ và nam giới trong 1 xã hội cụ thể Vai trò giới cơ bản gồm: vai trò sản xuất, vai trò tái sản xuất và vai trò cộng đồng Những vai trò giới này được hình thành thông qua quá trình xã hội hóa, có thế biến đổi qua các thời kỳ và khác nhau giữa các nền văn hóa (Hoàng Bá Thịnh, 2008)
2.3.3 Khái niệm phân công lao động
Theo quan niệm xã hội học của A Comt thì phân công lao động là sự chuyên môn hóa nhiệm vụ lao động nhằm thực hiện chức năng ổn định và phát triển xã hội, củng cố mối quan hệ gắn bó giữa các cá nhân và trật tự xã hội Phân
Trang 23công đơn thuần là sự chuyên môn hóa lao động mà thực chất là quá trình gắn liền với sự phân hóa xã hội, phân tầng xã hội và bất bình đẳng xã hội
Phân công lao động trong gia đình là sự đảm nhiệm các công việc trong gia đình của vợ, chồng và các thành viên khác nhằm thực hiện các chức năng của gia đình trong chăm sóc, giáo dục… đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của gia đình Sự phân công lao động trong gia đình chủ yếu dựa trên ba nhóm công việc: các công việc tạo ra thu nhập, các công việc tái tạo sức lao động và các hoạt động cộng đồng nhằm duy trì mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình với họ hàng, cộng đồng (Đặng Tùng Lâm, 2015)
2.3.4 Khái niệm nghề mộc
Nghề mộc là các gọi chung của các nghề thuộc ngành gia công chế biến các sản phẩm từ gỗ Đây là một trong những ngành nghề có lịch sử lâu đời và có truyền thống vẻ vang Khởi đầu của nghề mộc là từ việc làm chuồng trại để chăn nuôi, làm nhà ở Theo sự tiến bộ của công nghệ xây dựng và phát triển nghề nghiệp, ngành gia công chế biến các sản phẩm từ gỗ được chia thành nhiều chuyên ngành khác nhau như:
- Mộc dân dụng: sản phẩm là các đồ gỗ dùng trong sinh hoạt: bàn ghế, kệ,
Trang 24PHẦN 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Chọn điểm nghiên cứu
Trung Đông là một xã thuộc huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định Xã có tổng diện tích đất tự nhiên là 7,62 km², dân số là 15136 người, mật độ dân số đạt
1986 người/km², nằm ở phía Bắc huyện Trực Ninh, phía Bắc giáp thị trấn Cổ
Lễ, phía Tây giáp xã Nam Thanh, phía Tây Nam giáp xã Trực Tuấn, phía Đông giáp xã Liêm Hải Xã Trung Đông là vùng đất hình thành do quá trình biển bồi nên thời kỳ đầu dân cư sinh sống chủ yếu dựa vào việc đánh bắt tôm cá và san
gò, lấp vũng thành những cánh đồng trồng lúa, cây hoa màu Cuộc sống người dân trải qua một thời gian vất vả và cũng dần ổn định, những cánh đồng xanh tốt phì nhiêu đã hình thành một miền quê trù phú
Với lợi thế nằm giáp ranh với thị trấn Cổ Lễ nên giao thông trên địa bàn
xã tương đối thuận lợi Trên địa bàn xã hiện có tuyến đường tỉnh lộ 487 nối thị trấn Cổ Lễ và huyện Nam Trực, giúp nâng cao nhu cầu người dân của khu vực Ngoài ra, các tuyến đường liên xã, đường trục xóm cũng được đầu tư nâng cấp đảm bảo việc đi lại thuận tiện cho người dân
Với những thuận lợi, kinh tế xã Trung Đông ngày càng bước phát triển lớn mạnh Từ một xã thuần nông nay xã Trung Đông đã trở thành một xã công nghiệp với sự đầu tư từ các doanh nghiệp, bên cạnh đó còn có các làng nghề truyền thống góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa của xã Các làng nghề truyền thống trên địa bàn xã vẫn được duy trì và phát triển đến tận ngày nay như làng nghề mộc mỹ nghệ Trung Lao, Đông Thượng, làng nghề mây tr đan An Mỹ, làng nghề dệt chiếu Văn Lãng… Một số làng có hiệu quả về kinh tế đã cải thiện đời sống của người dân, cơ sở vật chất hạ tầng được nâng cao đã làm thay da đổi thịt cho bộ mặt nông thôn xã Đặc biệt, nghề mộc gia dụng truyền thống với những sản phẩm chủ yếu như giường tủ, bàn ghế, tranh khung đa dạng về mẫu
Trang 25mã đã thu hút được nhiều khách hàng, chính vì vậy nghề mộc ngày càng phát triển mạnh Hiện nay, trên địa bàn xã có hơn 100 xưởng mộc gia dụng, mỗi xưởng tạo việc làm cho 5-7 lao động Nhiều cơ sở sản xuất đã đầu tư kinh phí mua sắm các loại máy cưa, máy bào hiện đại để giảm sức lao động, nâng cao năng suất, chất lượng tạo ra các sản phẩm tinh xảo, có giá trị thẩm mỹ cao như sập gụ, tủ chè, tủ thờ,… cung ứng cho các thị trường lớn: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh… (Thành Trung, 2015)
Các làng nghề truyền thống nói chung và nghề mộc gia dụng nói riêng đã góp phần không nhỏ vào sự chuyển dịch cơ cấu trong kinh tế của xã, tạo việc làm cho hàng trăm lao động và đặc biệt là người dân tại chỗ trên địa bàn Để phát triển ngành nghề th o hướng đa dạng, bền vững, cấp uỷ, chính quyền xã Trung Đông luôn tạo điều kiện về thủ tục, mặt bằng để khuyến khích các tổ chức, cá nhân mở rộng quy mô sản xuất Trong những năm tới, xã tiếp tục tập trung phát triển đa dạng các ngành nghề truyền thống và du nhập thêm nghề mới, đồng thời khuyến khích phát triển các nghề sử dụng và thu hút nhiều lao động, góp phần tăng thu nhập cho người dân Chính vì vậy, xã Trung Đông
được chọn là địa điểm nghiên cứu đề tài: “Phân công lao động giữa vợ và
chồng trong các hộ gia đình làm nghề mộc truyền thống”
3.2 Phương pháp thu thập thông tin 3.2.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp
Thông tin được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau: sách, báo, tạp chí chuyên ngành, báo cáo khoa học, các tài liệu liên quan đến nông thôn, nghề truyền thống, giới, phân công lao động trong gia đình để phục vụ cho mục tiêu của đề tài Đồng thời nghiên cứu tiến hành thu thập thông tin, số liệu tại xã Trung Đông, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định về tình hình phân công lao động cũng như thông tin về bình đẳng giới trong các hộ gia đình trên địa bàn phục vụ
đề tài
Trang 263.2.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp
Điều tra bằng bảng hỏi:
+ Mẫu được chọn là các hộ gia đình làm nghề mộc truyền thống Hiện nay, trên địa bàn xã có khoảng hơn 100 hộ gia đình làm nghề mộc Dựa trên danh sách hộ gia đình làm nghề mộc truyền thống, tiến hành chọn phân tầng ngẫu nhiên 30 mẫu là người vợ trong các hộ gia đình làm nghề mộc của xã Trung Đông, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định để điều tra và thu thập thông tin qua bảng hỏi Nội dung bảng hỏi thu thập thông tin gồm những câu hỏi về đặc điểm của các hộ gia đình, thực trạng phân công lao động giữa vợ và chồng trong các hộ gia đình sản xuất đồ mộc truyền thống
Phỏng vấn sâu: Để có những thông tin định tính chi tiết và rõ ràng hơn, đề tài tiến hành 10 phỏng vấn sâu trong đó:
+ 1 phỏng vấn sâu với cán bộ xã nhằm thu thập thông tin về các hộ gia đình làm nghề mộc truyền thống trên địa bàn cũng như tình hình phân công lao động theo giới trong các hộ gia đình làm nghề mộc truyền thống hiện nay
+ 9 phỏng vấn sâu với hộ gia đình làm nghề mộc truyền thống: trong đó 5 phỏng vấn sâu với người chồng và 4 phỏng vấn sâu với người vợ nhằm tìm hiểu
về sự phân công lao động trong gia đình trong hoạt động sản xuất và hoạt động tái sản xuất
3.2.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
- Sau khi thu thập thông tin, tiến hành xử lý bằng SPSS nhằm đảo bảo tính chính xác và độ tin cậy
- Thông tin định lượng được phân tích qua số liệu điều tra thu thập từ bảng hỏi
- Thông tin định tính được được phân tích từ báo cáo thực địa và các biên bản phỏng vấn sâu
Trang 273.3 Khung phân tích
Phân công lao động giữa vợ và chồng của các hộ gia đình làm nghề mộc truyền thống
Phân công lao động giữa
vợ và chồng trong hoạt
động sản xuất
Phân công lao động giữa
vợ và chông trong hoạt động tái sản xuất
Đặc điểm chung của các
hộ gia đình làm nghề mộc
truyền thống
Chồng
Vợ
Trang 28PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Đặc điểm chung của các hộ làm nghề mộc truyền thống 4.1.1 Đặc điểm nhân khẩu của hộ gia đình
Số lao động trong gia đình sẽ đánh giá được nguồn lực và tiềm lực phát triển kinh tế của hộ Gia đình có số lao động nhiều thì đó chính là cơ hội để phát triển kinh tế cho gia đình Độ tuổi là một trong những nhân tố quan trọng phản ánh tình trạng sức khỏe của người lao động, nó ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động sản xuất tạo ra thu nhập cho các hộ gia đình Đây là yếu tố quyết định đến việc làm nghề mộc truyền thống của gia đình, cũng như đánh giá chất lượng lao động của hộ Độ tuổi càng cao thì sức khỏe người lao động sẽ giảm dần, đồng nghĩa với việc họ đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong quá trình sản xuất Ngược lại, nếu tuổi của người lao động còn trẻ thì họ sẽ có sức khỏe, sức lao động dồi dào và khả năng áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào trong quá trình sản xuất dễ dàng dàng hơn giảm sức lao động của con người
Bảng 4.1: Độ tuổi của các thành viên trong hộ gia đình
(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2022)
Theo số liệu của bảng số liệu trên cho thấy, thành viên trong hộ gia đình làm nghề mộc truyền thống có độ tuổi khác nhau Độ tuổi từ 15 đến dưới 25 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất tương ứng 27.4%, phần lớn đây là con cái trong hộ gia đình
và chủ yếu vẫn còn đang đi học Họ chỉ tham gia phụ giúp gia đình vào thời gian rảnh và phụ thuộc nhiều vào gia đình Tiếp th o, độ tuổi từ 35 đến dưới 45 và từ
Trang 2945 đến dưới 55 tuổi chiếm tỷ lệ lần lượt là 26.4% và 19.8%, đa số đây là những
hộ gia đình có hai vợ chồng và con cái trong độ tuổi lao động và là hộ có độ tuổi trung bình trẻ, có thể đáp ứng được các nhu cầu trong sản xuất đồ gỗ mộc như sức khỏe, khả năng áp dụng máy móc vào trong quá trình sản xuất Bên cạnh đó
có 15.1% thành viên trong độ tuổi từ 25 đến dưới 35 tuổi, cuối cùng tỷ lệ 11.3%
là người có độ tuổi từ 55 tuổi trở lên, đây là các thành viên lớn tuổi trong gia đình, họ đã gắn bó với nghề này đã lâu, đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm nên không muốn bỏ việc, phần khác vì cũng đã đến tuổi già không có việc gì làm, nên họ sẽ làm mộc vào thời gian rảnh rỗi, đồng thời cũng kiếm thêm thu nhập an hưởng tuổi già và phụ giúp con cái một phần nào đó
Như vậy, có thể thấy rằng độ tuổi trung bình của các thành viên trong các
hộ gia đình là nghề mộc truyền thống là tương đối trẻ Họ là những tầng lớp kế cận để lưu giữ và phát huy truyền thống nghề mộc và họ cũng có thể dễ dàng áp dụng được các kỹ thuật công nghệ vào quá trình sản xuất để giảm sức lao động của con người
Giới tính là một yếu tố quan trọng trong nghiên cứu qua đó có thể đánh giá được việc phân công lao động theo giới trong các hộ gia đình và nó cũng phản ánh sự bình đẳng hay bất bình đẳng giữa công việc của hai giới
Bảng 4.2: Giới tính của các thành viên trong hộ gia đình
(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2022)
Từ kết quả nghiên cứu trên có thể thấy tỷ lệ nam giới trong các hộ gia đình vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất 55.7% vì ở khu vực nông thôn người dân vẫn còn nặng về quan niệm sinh con trai, chính vì vậy người đàn ông vẫn là người đảm nhiệm chính các công việc trong gia đình Trong khi đó nữ giới chiếm tỷ lệ 44,3%
Trang 30họ chủ yếu tham gia phụ giúp và làm các công việc tái sản xuất Tuy nhiên, hiện nay tại địa bàn nghiên có nhiều người phụ nữ tham gia vào hoạt động sản xuất nhằm tạo thêm thu nhập và khẳng định vị trí của họ trong gia đình
Bên cạnh độ tuổi thì trình độ học vấn của các thành viên cũng ảnh hưởng không nhỏ đến nghề mộc của gia đình cũng như đời sống kinh tế của hộ Trình
độ học vấn là sự hiểu biết cũng như vốn kiến thức của từng cá nhân, bên cạnh đó vấn đề trình độ học vấn cũng là điều kiện quan trọng trong công việc của người lao động Đây là yếu tố để đánh giá chất lượng và khả năng làm việc của người
(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2022)
Số liệu của bảng 4.2 cho thấy trình độ học vấn của các thành viên trong gia đình chiếm tỷ lệ cao nhất là THPT chiếm 36.8%, phần lớn đây là những thành viên còn đang trong độ tuổi đi học và một số ít thành viên sau khi tốt nghiệp THPT tham gia vào lực lượng lao động để phụ giúp kinh tế cho gia đình Tiếp đến là trình độ tốt nghiệp THCS chiếm 33.0%, chủ yếu đây là những người trong độ tuổi trung niên, vì yếu tố yếu tố kinh tế chưa phát triển và nhận thức
trước đây nên đa phần họ chỉ học hết bậc trung học cơ sở “Ngày xưa bác chỉ
học hết lớp 9 thôi, nhà nghèo lại còn đông con, làm gì có tiền mà cho đi học cao chứ Với lại ngày xưa chỉ học cho biết con chữ, biết cộng biết trừ thế là được rồi, học lên cao có để làm gì đâu” (pvs, nữ, 52 tuổi) Bên cạnh đó, có 20.8%
Trang 31thành viên có trình độ học vấn CĐ/ĐH, đây là những thành viên trẻ trong gia đình, có mong muốn học lên cao để phát triển các ngành nghề công việc mới hoặc áp dụng công nghệ kỹ thuật mới để phát triển nghề truyền thống của gia đình Cuối cùng là thành viên có trình độ bậc tiểu học chiếm 9.4%, chủ yếu là những người lớn tuổi trong gia đình, vì nghề mộc không yêu cầu đòi hỏi có trình
độ học vấn cao, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm vận dụng thực tế với đôi bàn tay
và được truyền dạy từ các thế hệ đi trước nên khi học hết bậc tiểu học họ sẽ tham gia vào quá trình làm nghề mộc của gia đình, để tiết kiệm chi phí đầu tư và nhanh trở thành thợ lành nghề
Như vậy có thể thấy rằng, nghề mộc ngày xưa không đòi hỏi phải có trình
độ cao, nhưng trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa nghề mộc cần yêu cầu phải có kiến thức kỹ năng nhất định để tạo ra mẫu mã đẹp, phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng
Nghề nghiệp cũng là một trong những chỉ báo quan trọng trong tìm hiểu đặc điểm nhân khẩu của các hộ gia đình tại địa bàn nghiên cứu Qua đó có thể đánh giá được hoàn cảnh kinh tế của gia đình, công việc của mỗi người là khác nhau, do nhu cầu của bản thân, trình độ học vấn hay nhiều yếu tố khác quyết định đến việc làm của họ
Bảng 4.4: Nghề nghiệp của các thành viên trong hộ gia đình
Trang 32Dựa vào kết quả nghiên cứu, có thể thấy rằng phần lớn các thành viên trong gia đình làm nghề mộc truyền thống là nông dân chiếm 50.9%, ngoài thời gian làm nghề mộc họ còn làm tham gia sản xuất nông nghiệp để tăng thêm thu nhập cho gia đình Tiếp theo là thành viên có nghề nghiệp là công nhân chiếm 18.9%, trên địa bàn xuất hiện nhiều khu công nghiệp mới nổi, nên việc các thành viên trong gia đình làm nghề mộc tham gia vào sản xuất trong các nhà máy, xí nghiệp cũng tăng thêm nguồn thu cho gia đình, giúp ổn định cuộc sống Ngoài ra, có 17.9% là các thành viên đang trong độ tuổi đi học, họ chưa thể đóng góp kinh tế cho gia đình và còn phụ thuộc nhiều vào các thành viên khác Cuối cùng là công chức nhà nước và buôn bán, kinh doanh chiếm tỷ lệ lần lượt 7.6% và 4.7%, những công việc này chiếm tỷ lệ nhỏ vì chỉ xuất hiện trong một
số hộ gia đình
Như vậy, nghề nghiệp của mỗi thành viên là khác nhau, mỗi loại công việc có tính chất, yêu cầu trình độ chuyên môn, kỹ thuật, sức khỏe khác nhau Tùy vào năng lực của bản thân mà họ tìm cho mình một công việc phù hợp, có thu nhập cao đáp ứng được nhu cầu cơ bản của mỗi người
4.1.2 Thực trạng sản xuất của các hộ làm nghề mộc truyền thống
Số năm làm nghề cũng là một trong những yếu tố quan trọng trong việc sản xuất của hộ gia đình Khi điều tra số năm làm nghề có thể phân tích được số năm gắn bó, kinh nghiệm sản xuất cũng như lý do tại sao các hộ gia đình duy trì công việc này nhiều năm như vậy
Trang 33Bảng 4.5 Số năm làm nghề mộc của các hộ gia đình trong mẫu
điều tra
(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2022)
Theo kết quả nghiên cứu cho thấy các hộ gia đình đã làm nghề mộc từ rất lâu và đã có kinh nghiệm lâu năm trong nghề, thời gian hoạt động trong nghề của các hộ gia đình chủ yếu từ 10 đến dưới 20 năm chiếm tỷ lệ 46.7% phần lớn đây là những gia đình có chủ hộ trong độ tuổi trung niên và được tiếp nối nghề
của gia đình để lại “gia đình cô làm nghề này cũng được hơn 10 năm rồi, từ khi
lấy chồng về đây cô lại biết làm mộc, vì gia đình làm mộc từ thời bố chồng làm đến bây giờ, đây là nghề truyền thống của gia đình cũng như ở địa phương này” (pvs, nữ, 37 tuổi) Tỷ lệ gia đình tham gia làm nghề mộc truyền thống từ 20 đến
dưới 30 năm và từ 30 năm trở lên cũng chiếm tỷ lệ khá cao, lần lượt chiếm 26.7% và 23.3%, đây là những gia đình có thời gian gắn bó với nghề khá là dài,
có thể nói rằng họ là những người gắn bó từ khi nghề mộc xuất hiện tại địa
phương, “bác sinh ra và lớn lên tại gia đình có truyền thống làm mộc, từ nhỏ
bác đã phụ giúp gia đình nên cũng biết một số công đoạn và cách làm Sau khi lấy chồng, bác theo chồng làm nghề này, tính đến nay gia đình bác cũng làm được 35 năm rồi Đây là công việc chính của gia đình nhà bác, vừa làm để tạo
Trang 34ra thu nhập cho gia đình, một phần đây cũng là nghề do ông bà truyền lại nên gia đình bác nối nghiệp của ông bà” (pvs, nữ, 52 tuổi) Thời gian làm nghề lâu
sẽ giúp họ tích lũy được nhiều kinh nghiệm, rút ra được nhiều bài học quý giá,
họ có thể nhìn nhận được cây gỗ này có phải là gỗ quý, sản phẩm này có đạt về chất lượng hay màu sơn này có phù hợp hay không Bên cạnh đó, họ cũng xây dựng được cơ sở sản xuất kinh doanh có quy mô, có các mối quan hệ vững chắc
về nguồn nguyên vật liệu và nơi tiêu thụ sản phẩm
Gia đình làm nghề mộc dưới 10 năm chiếm tỷ lệ thấp nhất chiếm 3.3%, chủ yếu đây là chủ hộ còn trẻ tuổi sau khi lập gia đình và ở riêng thì mới bắt đầu làm nghề, “gia đình anh làm nghề này cũng lâu lắm rồi trước đây thì anh làm với
bố, sau này khi anh lấy vợ rồi ở riêng anh vẫn tiếp tục công việc này, nếu mà tính vợ chồng anh làm thì cũng chỉ mới 8 9 năm thôi” (pvs, nam, 33 tuổi) Mặc
dù kinh nghiệm sản xuất chưa có nhiều nhưng họ lại biết sử dụng các máy móc hiện đại vào trong quá trình sản xuất điều này làm giảm đi sức lao động của con người, đồng thời sẽ làm tăng giá trị của sản phẩm Đây cũng là thế hệ trẻ tiếp nối
và phát triển nghề truyền thống của địa phương ngày một lên cao, đưa những sản phẩm của làng nghề đến tay người tiêu dùng ở khắp mọi nơi và được nhiều người biết đến hơn nữa
Qua đó, số năm làm nghề của mỗi hộ gia đình là khác nhau cho thấy kinh nghiệm của mỗi hộ rất phong phú và đó là nền tảng để phát triển kinh tế hộ, làm giàu cho quê hương phát triển làng nghề truyền thống và sản phẩm của địa phương được mọi người công nhận là có giá trị cao
Lý do lựa chọn làm nghề mộc truyền thống cũng là chỉ báo quan trọng, nó
là yếu tố quyết định đến việc lựa chọn mô hình sản xuất phù hợp với điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế hộ gia đình
Trang 35
Bảng 4.6 Lý do làm nghề mộc của các hộ gia đình trong mẫu điều tra
(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2022)
Từ bảng số liệu 4.4 có thể thấy các hộ gia đình làm nghề mộc xuất phát từ nhiều lý do khác nhau như nối tiếp nghề của ông bà, có thị trường tiêu thụ lớn, hay muốn phát triển kinh tế địa phương… Trong đó, lý do các hộ gia đình lựa chọn nhiều nhất đó là tăng thu nhập của gia đình và nối tiếp nghề của ông bà để lại chiếm 70.0%, thu nhập là yếu tố quan trọng đầu tiên để các hộ quyết định chọn nghề mộc, điều này cho thấy thu nhập từ nghề mộc đáp ứng được nhu cầu cơ bản của người dân nơi đây Bên cạnh đó, các hộ gia đình còn
có lợi thế vì đây chính là nghề truyền thống của địa phương, sự nối tiếp nghề đã giúp hộ phát triển mạnh mẽ hơn như có sẵn cơ sở sản xuất, các nguồn hàng, kinh nghiệm, các sản xuất từ thế hệ đi trước để lại cũng đã khiến nhiều người theo
nghề “Nhà chú làm nghề mộc này cũng lâu lắm rồi từ thời ông bà đã làm rồi,
xong truyền lại cho anh em đến nay cũng đã phải hơn 30 năm Đầu tiên chú làm
đó là kiếm thêm thu nhập cho gia đình, sau đó vì đây cũng là nghề của ông bà chú cũng muốn giữ lại nên làm đến tận bây giờ” (pvs, nam, 49 tuổi)
Trang 36Ngoài ra, còn có các lý do phát triển kinh tế địa phương và thị trường tiêu thụ lớn cũng là yếu tố thu hút các hộ gia đình chiếm 26.7% Phần lớn các hộ gia đình ở đây chuyên sản xuất đồ mộc dân dụng như giường, tủ, bàn ghế và các đồ dùng gia đình khác nên có thị trường rộng chính vì vậy các hộ ở đây cũng lấy đó làm động lực để phát triển kinh tế của địa phương mình “Anh làm nghề này đầu tiên cũng là nghề truyền thống của địa phương, như m cũng thấy ở xã mình làng mộc này được gọi là làng mộc truyền thống, nó làm nhiều năm rồi từ đời này qua đời khác Thứ hai cũng vì thu nhập của gia đình, nghề này được cái thị trường tiêu thụ lớn, nhà nào cũng cần nhưng mấy năm này làm cũng không ăn thua,
do tình hình dịch bệnh khó khăn nên nhu cầu mua sắm của nhà người ta cũng không cần thiết cho lắm” (pvs, nam, 33 tuổi)
Một số ít hộ lựa chọn lý do muốn giữ gìn và phát triển nghề truyền thống
và có thu nhập cao lần lượt chiếm 23.3% và 20.0%, mọi người luôn ý thức được rằng vì đây là nghề truyền thống của địa phương nên ai cũng mong muốn được duy trì và phát triển chúng lên cao hơn nữa, các sản phẩm của làng nghề được mọi người biết đến điều hơn, bán được nhiều sản phẩm đồng nghĩa với việc có thu nhập cao Cuối cùng, 6.7% hộ gia đình lựa chọn tham gia làm nghề mộc do không tìm được công việc khác “mấy năm nay làm mộc cũng không ăn thua, đầu vào thì nhiều mà thu về chẳng được mấy vì dịch bệnh khó khăn cái gì cũng đắt đỏ, gỗ đắt, sơn đắt, chú muốn đổi việc khác để có thu nhập cao hơn mà chú cũng không biết việc gì vì mình làm mộc này nó quen rồi cháu ạ” (pvs, nam, 49 tuổi)
Như vậy, với điều kiện hoạt động trong nghề không yêu cầu cần có chuyên môn hay kinh nghiệm, trong khi thu nhập lại khá cao đáp ứng được nhu cầu cơ bản của mọi thành viên Bên cạnh đó còn được thừa hưởng một số yếu tố
từ thế hệ đi trước, đó là điều kiện thuận lợi để các hộ tham gia làm nghề mộc truyền thống
Ngoài chủ hộ thì các thành viên trong gia đình cũng là nguồn lực không thể thiếu trong tạo ra nguồn thu nhập phát triển kinh tế hộ Nghiên cứu tìm hiểu
Trang 37số thành viên tham gia làm nghề mộc có thể thấy được quy mô, diện tích sản xuất và khả năng sản xuất của mỗi hộ gia đình trong mẫu điều tra
Bảng 4.7 Số lao động chính làm nghề mộc của các hộ gia đình
trong mẫu điều tra
(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2022)
Theo kết quả nghiên cứu có thể thấy, hộ gia đình có 2 lao động chính làm nghề mộc chiếm tỷ lệ nhiều nhất chiếm 63.3%, chủ yếu các hộ gia đình này có
cả hai vợ chồng đều tham gia vào quá trình sản xuất của gia đình, mỗi người
một giai đoạn và phụ giúp nhau những lúc cần thiết “Nhà bác chỉ có hai vợ
chồng bác là làm mộc chính còn các anh chị thì đi làm công nhân trong công ty giày da gần nhà Chỉ có anh thứ hai đi lái xe, thỉnh thoảng không có việc thì anh
ấy ở nhà phụ giúp hai bác Ngoài ra bác con thuê thêm một người làm thêm” (pvs, nữ, 52 tuổi) Tiếp đến là hộ có 1 lao động làm nghề mộc chính chiếm
23.3%, phần lớn những hộ này chỉ có người chồng làm nghề mộc còn người vợ
đi làm phi nông nghiệp như làm công nhân trong các khu công nghiệp Do nghề mộc ngày càng có sức cạnh tranh khá cao nên thu nhập của nhiều hộ bị giảm đi,
vì thế hộ đã quyết định một người làm mộc còn một người sẽ kiếm thêm thu
nhập từ bên ngoài để có điều kiện lo cho cuộc sống gia đình “Nhưng giờ chỉ có
chồng cô là theo nghề mộc, còn cô mấy năm nay đi làm công ty giày da gần nhà
Vì mấy năm gần đây nghề mộc cũng có nhiều cạnh tranh, vốn đầu tư bỏ ra
Trang 38nhiều mà thu về chẳng được bao nhiêu nên cô quyết định đi làm bên ngoài, chỉ
có chú ở nhà làm mộc thôi Cũng may cũng có cái công ty chứ nếu không cô cũng không biết làm gì” (pvs, nữ, 45 tuổi) Chiếm tỷ lệ ít là các hộ gia đình có 3
lao động trở lên, chủ yếu đây là gia đình có từ 2 đến 3 thế hệ sống chung, số lượng thành viên càng nhiều thì số lao động của gia đình cũng tăng lên Vì gia đình có nhiều thế hệ chung sống nên những thành viên tham gia làm nghề mộc
đó chính là cha mẹ và con cái
Qua đó, hoạt động sản xuất đồ gỗ mộc là hoạt động tạo ra thu nhập chính cho gia đình vì phần lớn các hộ có 2 lao động chính thường là 2 vợ chồng tham gia làm mộc, điều này cho thấy 2 vợ chồng vẫn đóng vai trò quyết định trong quá trình sản xuất của gia đình Bên cạnh đó, nó đã tạo thành mối quan hệ giới gắn kết hỗ trợ nhau, mang lại hiệu quả kinh tế cho hộ Tuy nhiên, vẫn còn số ít
hộ do quy mô sản xuất nhỏ nên chỉ có 1 lao động chính làm mộc
Ngoài lao động chính của gia đình thì việc thuê thêm lao động để tham gia vào quá trình sản xuất của gia đình cũng có thể đánh giá được quy mô và chất lượng của hộ
Bảng 4.8 Thuê thêm lao động của các hộ gia đình trong mẫu điều tra
(Số liệu điều tra năm 2022)
Trong kết quả điều tra có thể thấy chủ yếu gia đình đều có hai lao động chính làm mộc, vì vậy có rất ít hộ thuê thêm lao động ngoài Trong tổng số mẫu điều tra có 33.3.% gia đình thuê thêm lao động, chủ yếu đây là gia đình có quy
Trang 39mô sản xuất lớn Trong sản xuất đồ gỗ mộc có rất nhiều công đoạn đòi hỏi phải
có sức khỏe tốt nên việc thuê thêm lao động giúp cho việc sản xuất của gia đình được chia sẻ và năng suất cũng như hiệu quả công việc đạt được sẽ tốt hơn Tuy nhiên, nhiều hộ không cần thuê thêm vì lao động của gia đình cũng đủ để đáp ứng được các công việc sản xuất, bên cạnh đó cũng giảm được chi phí đầu tư trong quá trình sản xuất của gia đình hơn
Quy mô sản xuất đồ gỗ mộc ngày càng đa dạng hơn, không chỉ bó hẹp ở một khu vực mà đã mở rộng ra xung quanh nhiều hơn được để phục vụ nhu cầu tiêu dùng của các gia đình Với mỗi gia đình làm nghề mộc thì diện tích xưởng sản xuất cũng khác nhau tùy vào số lượng thành viên và nhu cầu sinh kế của hộ, diện tích sản xuất thể hiện được quy mô cũng như năng suất sản lượng của mỗi
hộ gia đình
Bảng 4.9 Diện tích xưởng sản xuất của các hộ gia đình
trong mẫu điều tra
(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2022)
nhất 80.0%, diện tích đất của các hộ gia đình chủ yếu là đất được bàn giao lại từ thế hệ đi trước, được chia thành một phần đất ở và một phần để phục vụ cho xưởng sản xuất, bên cạnh đó hộ chưa có đủ điều kiện cũng như nhu cầu để mở
cháu, cũng là mảnh đất của ông bà chia cho nên chú tận dụng để làm mộc luôn”
(pvs, nam, 49 tuổi) Điều này đã làm nổi bật lên tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, manh
Trang 40mún tại địa bàn nghiên cứu Ngoài ra, có số ít hộ có diện tích xưởng sản xuất từ
mẹ, bên cạnh đó có hộ thuê thêm đất để mở rộng diện tích xưởng phục vụ cho nhu cầu sản xuất của gia đình Diện tích rộng đồng nghĩa với việc chi phí sản xuất lớn, đòi hỏi hộ phải có nguồn vốn đầu tư nhiều thì mới đ m lại thu nhập cho gia đình
Như vậy, có thể thấy được diện tích xưởng sản xuất của các hộ gia đình làm nghề mộc truyền thống trên địa bàn không giống nhau, tùy vào sự tính toán của mỗi gia đình với quỹ đất của hộ thì sản xuất sao cho hiệu quả nhất, đạt được năng suất cao nhất Bên cạnh đó, tìm hiểu diện tích xưởng sản xuất có phần nào
đó đánh giá được quy mô sản xuất của các hộ làm nghề mộc từ đó giúp cho người nghiên cứu dễ dàng hơn trong việc đánh giá quy mô của nghề mộc truyền thống trên địa bàn nghiên cứu
Nguồn vốn là yếu tố quyết định phản ánh mức độ đầu tư về cơ sở vật chất, máy móc, trang thiết bị cần thiết để phục vụ cho quá trình sản xuất của mỗi hộ gia đình Đồng thời tìm hiểu về nguồn vốn đầu tư sản xuất của các hộ để biết được nó có ảnh hưởng như thế nào đến quy mô sản xuất, hay gia đình sẽ huy động vốn từ những nguồn nào
Bảng 4.10 Vốn đầu tư sản xuất của các hộ gia đình trong mẫu điều tra