1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hai Phong Ddci 2020 - Bao Cao Day Du.pdf

118 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hai Phong Ddci 2020 - Báo Cáo Đầy Đủ
Tác giả Nhóm Chuyên Gia UBND Thành Phố Hải Phòng, Sở Kế Hoạch Và Đầu Tư Hải Phòng, Cục Thống Kê Thành Phố Hải Phòng, Economica Vietnam
Người hướng dẫn Ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng Ban Pháp Chế, VCCI, Ông Phạm Ngọc Thạch, Phó Trưởng Ban Pháp Chế, VCCI, Ông Phan Đức Hiếu, Phó Viện Trưởng Viện Nghiên Cứu Và Quản Lý Kinh Tế Trung Ương
Trường học Đại Học Hải Phòng
Chuyên ngành Phân tích và đánh giá năng lực cạnh tranh
Thể loại Báo cáo đánh giá
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hải Phòng
Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 4,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU CHUNG (12)
    • 1.1. DDCI - Sự cần thiết và những điểm mới (12)
    • 1.2. Chỉ số thành phần và các chỉ tiêu (14)
  • CHƯƠNG 2. CẢM NHẬN CHUNG VỀ MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ, KINH DOANH (21)
    • 2.1. Tình hình và triển vọng kinh doanh nhìn từ DDCI cấp Sở, ban, ngành (21)
    • 2.2. Tình hình và triển vọng kinh doanh nhìn từ DDCI cấp địa phương (24)
  • CHƯƠNG 3. CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP SỞ, BAN, NGÀNH (29)
    • 3.1. Điểm số và xếp hạng DDCI Sở, ban, ngành (0)
    • 3.2. Hồ sơ DDCI Sở, ban, ngành theo chỉ số thành phần (31)
      • 3.2.1. Gia nhập thị trường và hoạt động cấp phép (31)
      • 3.2.2. Tính minh bạch và ứng dụng công nghệ thông tin (34)
      • 3.2.3. Tính năng động và hiệu lực của Sở, ban, ngành (37)
      • 3.2.4. Chi phí thời gian thực hiện thủ tục hành chính và tuân thủ pháp luật (39)
      • 3.2.5. Chi phí không chính thức (41)
      • 3.2.6. Cạnh tranh bình đẳng (43)
      • 3.2.7. Hỗ trợ sản xuất kinh doanh (45)
      • 3.2.8. Hiệu lực thực thi văn bản chính sách và thiết chế pháp lí (48)
      • 3.2.9. Vai trò của người đứng đầu Sở, ban, ngành (50)
  • CHƯƠNG 4. CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP ĐỊA PHƯƠNG (56)
    • 4.1. Điểm số và xếp hạng DDCI cấp địa phương (56)
    • 4.2. Hồ sơ DDCI cấp địa phương theo chỉ số thành phần (60)
      • 4.2.1. Gia nhập thị trường và hoạt động cấp phép (60)
      • 4.2.2. Tính minh bạch và ứng dụng công nghệ thông tin (62)
      • 4.2.3. Tính năng động và hiệu lực của chính quyền địa phương (65)
      • 4.2.4. Chi phí thời gian thực hiện thủ tục hành chính và tuân thủ pháp luật (68)
      • 4.2.5. Chi phí không chính thức (71)
      • 4.2.6. Cạnh tranh bình đẳng (73)
      • 4.2.7. Hỗ trợ sản xuất kinh doanh (75)
      • 4.2.8. Hiệu lực thực thi chính sách, thiết chế pháp lý và an ninh trật tự (78)
      • 4.2.9. Vai trò đứng đầu của lãnh đạo địa phương (80)
      • 4.2.10. Tiếp cận đất đai (82)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (86)
  • PHỤ LỤC (0)

Nội dung

GIỚI THIỆU CHUNG

DDCI - Sự cần thiết và những điểm mới

Sự cần thiết của việc đánh giá năng lực điều hành kinh tế và cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh cấp Sở, ban, ngành và địa phương

Trong những năm qua, thành phố Hải Phòng đã chú trọng cải thiện môi trường đầu tư và kinh doanh, coi đây là nhiệm vụ quan trọng để thúc đẩy cải cách Năm 2020, Hải Phòng đã ban hành Kế hoạch số 240/KH-UBND nhằm triển khai đánh giá chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, dựa trên chỉ số PCI.

Sở, ban, ngành và địa phương (DDCI) năm 2020 là sáng kiến quan trọng nhằm cải thiện môi trường đầu tư và kinh doanh tại Hải Phòng Mục tiêu chính của kế hoạch là tạo ra một môi trường đầu tư minh bạch, mang lại lợi ích cho cộng đồng doanh nghiệp và tăng cường niềm tin vào chính quyền Điểm đổi mới của kế hoạch là tiếp cận toàn diện các vấn đề phát triển bền vững, bao gồm chuyển đổi số, xã hội và môi trường, với mục tiêu "không ai bị bỏ lại phía sau".

Đánh giá DDCI là nỗ lực cải cách mạnh mẽ của Hải Phòng nhằm cải thiện môi trường đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh Trong bối cảnh đại dịch Covid-19, nền kinh tế đối mặt với nhiều thách thức, ảnh hưởng đến doanh nghiệp và hệ thống chính quyền Kết quả đánh giá DDCI sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về môi trường đầu tư, là cơ sở cho việc cải thiện chính sách trong tương lai.

DDCI và những điểm mới

DDCI được xây dựng dựa trên kỳ vọng của cộng đồng dân doanh đối với các cơ quan chính quyền, đặc biệt là các Sở, ban, ngành và chính quyền địa phương trong quản lý và điều hành kinh tế Chỉ số này phản ánh vai trò và chức năng của các cơ quan chính quyền theo quy định hiện hành của Việt Nam, nhằm nâng cao nhận thức và hành động để cải thiện công tác quản lý kinh tế tại thành phố Mục tiêu cuối cùng là mang lại lợi ích tốt nhất cho cộng đồng dân doanh và các nhà đầu tư.

Phát triển bền vững và bao trùm

Phương pháp luận DDCI tích hợp các yếu tố phát triển bền vững và bao trùm vào các vấn đề chuyển đổi số, xã hội, môi trường, biến đổi khí hậu, dịch bệnh và giá trị văn hóa, lịch sử Điều này khuyến khích các hoạt động kinh tế tại Hải Phòng chú trọng đến các vấn đề này, đảm bảo các cơ quan thành phố và quận, huyện có hành động cụ thể để hài hòa giữa kinh tế, xã hội và môi trường Sự đồng tình của phần lớn doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh cho thấy chính quyền đã chú trọng đến các vấn đề này trong quản lý kinh tế, đồng thời họ tin tưởng vào khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong quá trình chuyển đổi số.

Đại dịch Covid-19 đã ảnh hưởng sâu rộng đến nền kinh tế cả nước và Hải Phòng, buộc chính quyền thành phố phải hành động quyết liệt để phòng chống dịch Nhiều biện pháp đã được triển khai nhằm giảm nguy cơ lây lan và duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh an toàn Khảo sát DDCI 2020 của Hải Phòng đã điều chỉnh để phản ánh thực tế tác động của dịch bệnh, đánh giá ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của cộng đồng doanh nghiệp Kết quả cho thấy Covid-19 đã gây tác động tiêu cực đến hầu hết các cơ sở và lĩnh vực kinh tế, mặc dù các chính sách hỗ trợ được đánh giá là hiệu quả, nhưng mức độ tiếp cận vẫn còn hạn chế và chưa đáp ứng được kỳ vọng của cộng đồng doanh nghiệp.

Tính năng động và tiên phong

Bộ chỉ số DDCI Hải Phòng bao gồm hai chỉ số thành phần quan trọng: tính năng động và hiệu lực của cơ quan chính quyền, cùng với vai trò của người đứng đầu, nhằm đánh giá hiệu quả thực thi và sự sáng tạo trong việc triển khai các quy định và chính sách DDCI Hải Phòng 2020 cũng nhấn mạnh các vấn đề như hiện tượng trì hoãn trong giải quyết chủ trương và việc đùn đẩy trách nhiệm giữa các cơ quan Kết quả khảo sát cho thấy các doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh nhận định rằng những hiện tượng này không quá phổ biến tại các cơ quan Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quá trình triển khai DDCI cũng được chú trọng.

Việc ứng dụng công nghệ thông tin và Internet trong triển khai DDCI tại Hải Phòng đã được tăng cường nhằm đảm bảo tính chính xác, nhanh chóng và giảm chi phí Dựa trên kinh nghiệm từ các tỉnh khác, Hải Phòng tiếp tục nâng cấp phương pháp luận và cách thức triển khai DDCI để phản ánh chính xác và kịp thời hơn các mặt quản lý kinh tế Phương pháp luận cải tiến cho phép sử dụng công nghệ thông tin và nền tảng Internet, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện và khai thác kết quả DDCI, từ đó nâng cao chất lượng quản lý và năng lực cạnh tranh Trong năm đầu tiên triển khai, Hải Phòng đã thực hiện khảo sát trực tuyến với sự tham gia của nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh, góp phần vào việc cải thiện chất lượng môi trường đầu tư và kinh doanh.

Kế hoạch DDCI được thực hiện nhanh chóng và thuận tiện, đặc biệt trong bối cảnh dịch Covid-19 phức tạp Các ứng dụng cho phép toàn bộ quá trình DDCI diễn ra trên nền tảng điện toán đám mây và Internet, từ điều tra, xử lý số liệu đến hiển thị và sử dụng kết quả cho công tác quản lý kinh tế tại Hải Phòng Công nghệ tiên tiến này giúp thành phố nắm bắt kết quả đánh giá chất lượng công tác điều hành gần như tức thời sau khi hoàn thành hoạt động điều tra, khảo sát.

Chỉ số thành phần và các chỉ tiêu

1.2.1 H ệ thống chỉ số thành phần và các chỉ tiêu trong DDCI

Vai trò và chức năng quản lý của các Sở, ban, ngành khác biệt rõ rệt so với chính quyền địa phương, với đối tượng phục vụ chủ yếu là doanh nghiệp, trong khi chính quyền địa phương tập trung vào hộ kinh doanh Để đảm bảo đánh giá công bằng và chính xác, DDCI được xây dựng với hai bộ chỉ số: một cho cấp Sở, ban, ngành và một cho cấp địa phương Các chỉ số này có tính phổ quát và phù hợp với tất cả các đơn vị, tạo ra thang điểm chung cho các đối tượng trong từng nhóm cơ quan chính quyền được đánh giá.

Chỉ số gia nhập thị trường và hoạt động cấp phép phản ánh các thủ tục cần thiết mà các cơ sở kinh tế phải thực hiện để bắt đầu hoạt động, bao gồm đăng ký kinh doanh, thủ tục đầu tư, đăng ký lao động, bảo hiểm xã hội, và các giấy phép liên quan đến ngành nghề kinh doanh có điều kiện, đất đai, xây dựng, phòng cháy chữa cháy, và môi trường.

Chỉ số tính minh bạch và ứng dụng công nghệ thông tin đánh giá khả năng và sự dễ dàng mà doanh nghiệp, hợp tác xã, và hộ kinh doanh có thể tiếp cận thông tin cần thiết cho hoạt động kinh doanh Đồng thời, nó cũng phản ánh mức độ hữu dụng của ứng dụng công nghệ thông tin trong việc cung cấp thông tin cho các đối tượng kinh doanh.

Chi phí thời gian thực hiện thủ tục hành chính (TTHC) và tuân thủ pháp luật là yếu tố quan trọng mà các doanh nghiệp (DN), hợp tác xã (HTX) và hộ kinh doanh (HKD) phải xem xét Chi phí này được đo lường bằng thời gian và số lần di chuyển cần thiết để tìm hiểu các quy định, chuẩn bị hồ sơ, và liên lạc với các cơ quan liên quan Ngoài ra, thời gian mà DN phải dành cho việc tiếp các đoàn thanh tra, kiểm tra từ các cơ quan quản lý cũng là một phần của chi phí này.

Chi phí không chính thức là chỉ số đánh giá mức độ và phạm vi các khoản chi mà doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh phải chi trả khi thực hiện thủ tục hành chính, tuân thủ quy định pháp luật, hoặc trong quá trình tương tác với cơ quan chính quyền trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

Tính năng động và hiệu lực của các cơ quan chính quyền là yếu tố quan trọng trong việc thực hiện các quy định chính sách của pháp luật và UBND thành phố Nội dung CSTP nhấn mạnh sự sáng tạo, tiên phong và chủ động của các cơ quan này trong việc giải quyết các vướng mắc, khó khăn, từ đó tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp.

Cạnh tranh bình đẳng là chỉ số quan trọng phản ánh sự công bằng trong hoạt động sản xuất kinh doanh, đảm bảo mọi cơ sở kinh tế đều có cơ hội như nhau khi gia nhập thị trường và tiếp cận nguồn lực cũng như các chương trình hỗ trợ Trong khảo sát DDCI, cạnh tranh bình đẳng được hiểu là không có sự phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp, bất kể hình thức sở hữu, quy mô hay mối quan hệ với chính quyền Điều này bao gồm việc không phân biệt giữa doanh nghiệp nhà nước và tư nhân, cũng như giữa các doanh nghiệp lớn và nhỏ.

Chỉ số hỗ trợ sản xuất, kinh doanh tập trung vào vai trò của các Sở, ban, ngành và địa phương trong việc thu hút đầu tư và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các cơ sở kinh tế Nó cũng đo lường hiệu quả của các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp, xúc tiến đầu tư, cùng các chính sách có ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh.

Chỉ số hiệu lực thực thi văn bản chính sách và thiết chế pháp lý được xây dựng để đánh giá hiệu quả của các cơ quan chính quyền trong việc triển khai các quy định pháp luật và chính sách Đây là một nội dung quan trọng của thể chế, đồng thời cũng phản ánh cơ chế xử lý các khiếu nại, tố cáo từ cộng đồng doanh nghiệp và nhà đầu tư liên quan đến quá trình thực thi các quy định pháp luật.

Chỉ số DDCI cấp địa phương không chỉ đánh giá môi trường đầu tư mà còn xem xét khía cạnh "an ninh trật tự" Điều này nhằm đảm bảo một môi trường kinh doanh an toàn, giảm thiểu tình trạng nhũng nhiễu và phiền hà cho các doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh hoạt động trên địa bàn.

Vai trò của người đứng đầu là rất quan trọng, tập trung vào việc đo lường tính năng động và sáng tạo của cán bộ lãnh đạo trong quá trình điều hành và thực thi chính sách, pháp luật Họ cũng cần tích cực tham gia vào các hoạt động đối thoại và hỗ trợ giải quyết các vướng mắc cho doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh.

• (10) “Tiếp cận đất đai”: Chỉ số này chỉ áp dụng đối với DDCI địa phương (quận, huyện)

Chỉ số này đánh giá mức độ thuận lợi trong việc thiết lập địa điểm kinh doanh, cũng như tính minh bạch và hiệu quả của các cơ chế giải quyết thủ tục liên quan đến đất đai tại các quận, huyện trong thành phố.

1.2.2 Đặc điểm của mẫu khảo sát DDCI 2020

Báo cáo DDCI Hải Phòng năm 2020 là kết quả điều tra đầu tiên tại thành phố, với sự tham gia của 2.511 DN, HTX, HKD, trong đó có 1.661 mẫu cấp Sở, ban, ngành và 850 mẫu cấp địa phương Các DN, HTX, HKD được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên để đảm bảo tính đại diện Dữ liệu trong báo cáo chủ yếu lấy từ kết quả khảo sát DDCI Hải Phòng 2020, không phải số liệu thứ cấp Mặc dù vậy, với phương pháp chọn mẫu khoa học, kết quả DDCI Hải Phòng vẫn phản ánh tiếng nói chung của cộng đồng DN, HTX, HKD về chất lượng điều hành kinh tế tại thành phố.

Sở, ban, ngành và địa phương

DDCI Hải Phòng 2020 được thực hiện bởi UBND thành phố Hải Phòng và Sở Kế hoạch và Đầu tư, với sự hỗ trợ của Cục Thống kê thành phố trong việc điều tra khảo sát Economica Vietnam đóng vai trò là đơn vị tư vấn, chịu trách nhiệm chuẩn bị công tác, xử lý số liệu, phân tích, xếp hạng và viết báo cáo.

Các chỉ số thành phần của DDCI DDCI CẤP SỞ, BAN, NGÀNH

Chỉ số thành phần của DDCI được sử dụng nhằm đánh giá năng lực điều hành của cấp Sở, ban, ngành bao gồm 9 chỉ số cốt lõi như sau:

1 Gia nhập thị trường và hoạt động cấp phép*

2 Tính minh bạch và ứng dụng công nghệ thông tin

3 Tính năng động và hiệu lực của Sở, ban, ngành

4 Chi phí thời gian thực hiện TTHC và tuân thủ quy định pháp luật

5 Chi phí không chính thức

7 Hỗ trợ sản xuất, kinh doanh

8 Hiệu lực thực thi văn bản chính sách và thiết chế pháp lý

9 Vai trò của người đứng đầu Sở, ban, ngành

Chỉ số thành phần của DDCI được sử dụng nhằm đánh giá năng lực điều hành của cấp địa phương gồm 10 chỉ số cốt lõi như sau:

1 Gia nhập thị trường và hoạt động cấp phép**

2 Tính minh bạch và ứng dụng công nghệ thông tin

3 Tính năng động và hiệu lực của chính quyền địa phương

4 Chi phí thời gian thực hiện TTHC và tuân thủ quy định pháp luật

5 Chi phí không chính thức

7 Hỗ trợ sản xuất, kinh doanh

8 Hiệu lực thực thi văn bản chính sách, thiết chế pháp lý và an ninh trật tự

9 Vai trò của người đứng đầu ở địa phương

Trong bộ chỉ số DDCI Hải Phòng, chỉ số “gia nhập thị trường và cấp phép” phản ánh các thủ tục mà các cơ sở kinh tế cần thực hiện để bắt đầu hoạt động hoặc triển khai dự án Cách tiếp cận này phù hợp với xu thế toàn cầu và được áp dụng trong nhiều phương pháp đánh giá, như chỉ số “khởi sự kinh doanh” trong báo cáo Doing Business của Ngân hàng Thế giới, chỉ số “gia nhập thị trường” trong báo cáo PCI của VCCI, và chỉ số “khởi sự doanh nghiệp” trong báo cáo APCI của Hội đồng tư vấn cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ Biểu đồ 1.1 minh họa tỉ lệ số phiếu trong mẫu khảo sát DDCI cấp Sở, ban, ngành năm 2020.

Nguồn: Cục Thống kê Hải Phòng và Economica Vietnam, Khảo sát DDCI Hải Phòng 2020

CẢM NHẬN CHUNG VỀ MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ, KINH DOANH

Tình hình và triển vọng kinh doanh nhìn từ DDCI cấp Sở, ban, ngành

Cộng đồng doanh nghiệp và hợp tác xã tại thành phố Hải Phòng đã khẳng định vai trò quan trọng trong nền kinh tế địa phương, với sự phát triển không ngừng trong những năm qua Qua khảo sát 1.661 doanh nghiệp và hợp tác xã, DDCI Hải Phòng đã phản ánh một phần môi trường đầu tư và kinh doanh tại thành phố, từ đó cung cấp những dự báo kinh tế cho tương lai.

CHUNG VỀ MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ, KINH DOANH

Biểu đồ 2.1 Tình hình và triển vọng kinh doanh của DN/HTX qua DDCI cấp Sở, ban, ngành

Tri ển vọng kinh doanh

Nguồn: Cục Thống kê Hải Phòng và Economica Vietnam, Khảo sát DDCI Hải Phòng 2020

Trong năm qua, tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp (DN) và hợp tác xã (HTX) trên địa bàn thành phố gặp nhiều khó khăn, chỉ có 44,49% DN/HTX có lãi Cụ thể, 41,55% DN/HTX báo cáo có lãi nhưng không đáng kể, trong khi chỉ 2,94% đạt được mức lãi như mong muốn Tỷ lệ DN/HTX hòa vốn là 16,34%, trong khi tỷ lệ thua lỗ cao, đạt 39,17%, với 10,65% DN/HTX thua lỗ lớn và 28,52% thua lỗ nhẹ.

Dữ liệu DDCI 2020 cho thấy 69,08% DN/HTX vẫn duy trì hoạt động thận trọng trong bối cảnh dịch bệnh phức tạp và rủi ro khác Tuy nhiên, 22,74% DN/HTX có kế hoạch mở rộng quy mô kinh doanh trong 1-2 năm tới, với 20,08% dự định tăng nhẹ và 2,66% sẽ tăng đáng kể Tỉ lệ DN/HTX phải giảm quy mô hoặc đóng cửa là 8,17%, trong đó 6,17% sẽ giảm nhẹ và 2% có ý định đóng cửa Nhìn chung, các DN/HTX đang thích nghi và tìm kiếm sự thay đổi phù hợp để tồn tại và phát triển trong bối cảnh nhiều bất định.

Theo khảo sát, 90,21% đại diện các doanh nghiệp và hợp tác xã cho rằng chất lượng quản lý và điều hành kinh tế của các cơ quan cấp Sở, ban, ngành tại thành phố đã được cải thiện Hơn nữa, khoảng 98% các DN/HTX tham gia khảo sát DDCI cho biết các cơ quan này đã chú ý đến các vấn đề xã hội, môi trường sinh thái và giá trị văn hóa truyền thống.

Tác động của dịch Covid-19 tới hoạt động sản xuất kinh doanh

Bối cảnh kinh doanh tại thành phố đã bị ảnh hưởng tiêu cực do đại dịch Covid-19, với gần 88% DN/HTX cho biết họ gặp khó khăn Trong đó, 35,45% DN/HTX chịu thiệt hại lớn và 52,39% thiệt hại ở mức vừa phải Tuy nhiên, một số DN/HTX đã chuyển thách thức thành cơ hội, với 7,86% ghi nhận tác động tích cực và tìm ra hướng đi mới trong sản xuất kinh doanh Sự nỗ lực và sáng tạo của các DN/HTX trong việc thích ứng và phục hồi kinh tế cho thấy tầm quan trọng của các biện pháp hỗ trợ kịp thời từ chính quyền thành phố trong giai đoạn này.

Biểu đồ 2.2 Tác động dịch Covid-19 tới hoạt động sản xuất kinh doanh của DN/HTX

Nguồn: Cục Thống kê Hải Phòng và Economica Vietnam, Khảo sát DDCI Hải Phòng 2020

Tác động của dịch Covid-19 theo lĩnh vực hoạt động

Khảo sát DDCI cấp Sở, ban, ngành cho thấy các doanh nghiệp (DN) và hợp tác xã (HTX) trên địa bàn thành phố chịu tác động tiêu cực lớn từ dịch Covid-19, đặc biệt là trong lĩnh vực thương mại - dịch vụ với tỷ lệ 88,75% Tiếp theo là lĩnh vực công nghiệp - xây dựng với 86,9%, và nông, lâm nghiệp, thủy sản với 76,08% Mặc dù vậy, dịch Covid-19 cũng mang lại một số cơ hội mới, với 13,05% DN/HTX trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, thủy sản báo cáo tác động tích cực Tỷ lệ DN/HTX không chịu tác động từ dịch là rất thấp, lần lượt là 10,87% ở nông, lâm nghiệp, thủy sản, 4,17% ở công nghiệp - xây dựng, và 4,08% ở dịch vụ - thương mại Nhiều DN/HTX đã phải đối mặt với gián đoạn hoạt động, ngưng trệ, thậm chí dừng hoạt động, đặc biệt là trong lĩnh vực dịch vụ như du lịch và lưu trú Do đó, cần thiết phải đưa ra các giải pháp hỗ trợ phù hợp cho các doanh nghiệp.

1) Tác động rất tiêu cực tới hoạt động, thị trường và doanh thu, 35.45%

(2) Tác động tiêu cực nhưng ở mức vừa phải, 52.39%

(4) Có tác động chút ít nhưng theo hướng tích cực, 6.47%

Để giúp nền kinh tế phục hồi như mong đợi, cần thúc đẩy tìm kiếm cơ hội và hướng đi mới, tiến hành tái cấu trúc, với tỷ lệ 1.39% Một trong những trọng tâm quan trọng là tháo gỡ các nút thắt về thủ tục hành chính nhằm cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp.

Biểu đồ 2.3 Tác động của dịch Covid-19 theo lĩnh vực hoạt động của DN/HTX

Nguồn: Cục Thống kê Hải Phòng và Economica Vietnam, Khảo sát DDCI Hải Phòng 2020

Tình hình và triển vọng kinh doanh nhìn từ DDCI cấp địa phương

Trong nhiều năm qua, phát triển khu vực kinh tế tư nhân đã trở thành một nội dung quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Chính phủ và thành phố Hải Phòng Khu vực này không chỉ đóng góp vào tăng trưởng kinh tế mà còn giúp giải quyết hiệu quả các vấn đề như tạo việc làm và thu nhập cho người lao động, đặc biệt là nhóm người yếu thế Khảo sát DDCI cấp địa phương đã cung cấp cái nhìn tổng thể về thực trạng hoạt động của các hộ kinh doanh tại thành phố trong bối cảnh nhiều biến động.

Biểu đồ 2.4 Tình hình và triển vọng sản xuất kinh doanh của các HKD trong DDCI cấp địa phương năm 2020

Tình hình s ản xuất kinh doanh

Nông, lâm nghiệp, thủy sản

Công nghiệp - Xây dựng Thương mại - Dịch vụ

Tác động tiêu cực Không bị tác động Tác động tích cực

Tri ển vọng kinh doanh

Nguồn: Cục Thống kê Hải Phòng và Economica Vietnam, Khảo sát DDCI Hải Phòng 2020

Trong năm qua, các hộ kinh doanh (HKD) đã phải đối mặt với nhiều thách thức lớn do thiên tai và dịch bệnh Covid-19, nhưng vẫn có 45,21% HKD báo cáo có lãi, mặc dù chỉ là một chút Chỉ 2,01% HKD đạt được mức lãi như mong muốn, trong khi 24,73% HKD thua lỗ, trong đó 10,53% gặp thua lỗ lớn Chỉ có 17,51% HKD đạt mức hòa vốn, cho thấy năm qua là một năm đầy khó khăn cho các HKD do ảnh hưởng của dịch bệnh và các yếu tố thời tiết.

Dưới tác động của dịch Covid-19, triển vọng sản xuất kinh doanh của các hộ kinh doanh (HKD) trong 1-2 năm tới vẫn thận trọng Khảo sát DDCI Hải Phòng 2020 cho thấy 10,73% HKD có thể cắt giảm quy mô hoặc đóng cửa do áp lực lớn Tuy nhiên, 77,13% HKD chọn duy trì quy mô hiện tại, trong khi 10,14% tự tin mở rộng và 2% chuyển đổi sang mô hình doanh nghiệp Những tín hiệu tích cực này cho thấy nỗ lực vượt khó của HKD và niềm tin vào khả năng phục hồi trong bối cảnh kinh tế khó khăn.

Kết quả khảo sát DDCI cấp địa phương cho thấy 89,95% hộ kinh doanh (HKD) đánh giá chất lượng quản lý và điều hành kinh tế của chính quyền đã cải thiện, trong khi chỉ 7,45% cho rằng không có sự thay đổi Hầu hết HKD cũng đồng ý rằng chính quyền địa phương đã chú trọng đến các vấn đề xã hội như bình đẳng giới, nhóm người yếu thế, phát triển bền vững và bảo vệ môi trường Điều này chứng tỏ nỗ lực của các cơ quan chính quyền địa phương đã được cộng đồng HKD ghi nhận và đánh giá tích cực.

Tác động của dịch Covid-19 tới hoạt động sản xuất kinh doanh

Năm 2020, dịch bệnh Covid-19 đã gây ra nhiều thách thức cho hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là trong khu vực HKD Theo khảo sát DDCI cấp địa phương 2020, 84,06% HKD bị ảnh hưởng tiêu cực, trong đó 45,57% cho biết mức độ tác động vừa phải và 38,49% chịu tác động rất lớn, đặc biệt trong lĩnh vực du lịch Tuy nhiên, 4,72% HKD vẫn duy trì hoạt động bình thường và không cảm thấy ảnh hưởng Đáng chú ý, 10,74% HKD nhận thấy tác động tích cực và 0,47% tìm ra cơ hội mới trong bối cảnh khó khăn này.

Biểu đồ 2.5 Tác động của dịch Covid-19 đến các HKD

Nguồn: Cục Thống kê Hải Phòng và Economica Vietnam, Khảo sát DDCI Hải Phòng 2020 Tác động của dịch Covid-19 theo lĩnh vực hoạt động

Trong ba lĩnh vực khảo sát DDCI cấp địa phương, các hộ kinh doanh (HKD) đã chịu tác động khác nhau từ dịch Covid-19 Cụ thể, lĩnh vực thương mại - dịch vụ bị ảnh hưởng nặng nề nhất với 85,96% HKD, tiếp theo là công nghiệp - xây dựng với 81,97%, và nông, lâm nghiệp, thủy sản với 70,15% Tỉ lệ HKD không chịu tác động lần lượt là 14,93%, 4,92% và 3,7% Một số HKD đã chuyển thách thức thành cơ hội, với thành công cao nhất ở lĩnh vực nông, lâm nghiệp, thủy sản (14,93%), tiếp theo là công nghiệp - xây dựng (13,11%) và thương mại - dịch vụ (10,34%) Như vậy, nhóm HKD trong lĩnh vực thương mại - dịch vụ là nhóm chịu tác động tiêu cực nhiều nhất, phản ánh áp lực lớn từ dịch Covid-19, đặc biệt trong ngành du lịch và lưu trú.

Biểu đồ 2.6 Tác động của dịch Covid-19 theo lĩnh vực hoạt động

Nguồn: Cục Thống kê Hải Phòng và Economica Vietnam, Khảo sát DDCI Hải Phòng 2020

1) Tác động rất tiêu cực tới hoạt động, thị trường và doanh thu, 38.49%

(2) Tác động tiêu cực nhưng ở mức vừa phải, 45.57%

(4) Có tác động chút ít nhưng theo hướng tích cực, 10.74%

(5) Thúc đẩy mạnh mẽ tìm cơ hội và hướng đi mới, tiến hành tái cấu trúc, 0.47%

Nông, lâm nghiệp, thủy sản Công nghiệp - Xây dựng Thương mại - Dịch vụ

Tác động tiêu cực Không bị tác động Tác động tích cực

3.1 Điểm số và xếp hạng DDCI cấp Sở, ban, ngành

Đánh giá và xếp hạng DDCI cấp địa phương, cùng với DDCI cấp Sở, ban, ngành, được thiết lập để đánh giá và chấm điểm hiệu quả quản lý nhà nước và chất lượng dịch vụ công của từng đơn vị.

DDCI chỉ đánh giá các chức năng, nhiệm vụ chính của các Sở, ban, ngành liên quan trực tiếp đến doanh nghiệp (DN) và hợp tác xã (HTX), không đánh giá toàn bộ Phương pháp này mang lại lợi thế trong việc lựa chọn mẫu khảo sát, giúp đánh giá toàn diện hơn và có khả năng dự báo, thích ứng với các thay đổi và cải cách trong bộ máy chính quyền thành phố.

Kết quả chỉ số năng lực cạnh tranh Sở, ban, ngành tại Hải Phòng được tổng hợp từ điểm số của

Bài viết đề cập đến 9 chỉ số thành phần (CSTP), với điểm số của mỗi CSTP được tổng hợp từ hệ thống các chỉ tiêu và chuẩn hóa trên thang điểm 10 Điểm số DDCI của các Sở, ban, ngành sẽ được quy chuẩn theo thang điểm 100, giúp dễ dàng xếp hạng và thể hiện sự cạnh tranh giữa các Sở, ban, ngành Biểu đồ 4.1 minh họa điểm số và xếp hạng của các Sở, ban, ngành trên thang điểm 100.

Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn dẫn đầu xếp hạng DDCI Sở, ban, ngành 2020 với 77,49 điểm, chỉ cách Sở Du lịch 0,02 điểm khi đạt 77,47 điểm Năm Sở tiếp theo cũng có sự cạnh tranh quyết liệt trong khoảng điểm 76.

Ngành y tế đạt 76,87 điểm, đứng thứ 3, trong khi Sở Văn hóa và Thể thao đạt 76,77 điểm, xếp thứ 4 Sở Kế hoạch và Đầu tư đứng thứ 5 với 76,07 điểm, và Ngân hàng Nhà nước - Chi nhánh Hải Phòng ở vị trí thứ 6 với 76,01 điểm Các Sở, ban, ngành khác cạnh tranh với mức điểm 75 điểm bao gồm Sở Tài chính (75,8 điểm), Sở Giáo dục và Đào tạo (75,62 điểm), Sở Công Thương (75,31 điểm) và Sở Thông tin và Truyền thông (75,0 điểm).

CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP SỞ, BAN, NGÀNH

Hồ sơ DDCI Sở, ban, ngành theo chỉ số thành phần

3.2.1 Gia nh ập thị trường và hoạt động cấp phép

Trong quá trình gia nhập thị trường, các doanh nghiệp và hợp tác xã thường gặp khó khăn trong việc thực hiện thủ tục đăng ký và xin cấp giấy phép cho các ngành nghề kinh doanh có điều kiện Để tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, việc tháo gỡ rào cản gia nhập thị trường là ưu tiên hàng đầu nhằm giảm chi phí và khuyến khích cơ hội kinh doanh Trong bối cảnh Việt Nam xây dựng "hệ sinh thái kinh doanh", các cơ quan như thuế, bảo hiểm xã hội, lao động, ngân hàng và các công ty dịch vụ hỗ trợ cần phối hợp với cơ quan đăng ký kinh doanh để triển khai đăng ký liên thông Do đó, chỉ số gia nhập thị trường và hoạt động cấp phép sẽ được đưa vào đánh giá tất cả các thủ tục mà doanh nghiệp phải thực hiện, không chỉ riêng lĩnh vực đăng ký kinh doanh Cách tiếp cận này phù hợp với xu thế chung và được áp dụng trong các phương pháp đánh giá như chỉ số khởi sự kinh doanh của World Bank và chỉ số gia nhập thị trường trong báo cáo PCI của VCCI.

Biểu đồ 3.2 Điểm số CSTP “Gia nhập thị trường và hoạt động cấp phép”

Nguồn: Cục Thống kê Hải Phòng và Economica Vietnam, Khảo sát DDCI Hải Phòng 2020

Kết quả khảo sát DDCI Hải Phòng 2020 cho thấy chỉ số này đạt 6,87 điểm, là mức thấp nhất trong 9 CSTP, với gam màu chủ đạo là màu nóng Có 14 cơ quan chỉ đạt mức “trung bình khá” dưới 7 điểm, trong khi 7 đơn vị gần đạt mức “khá” Sở Giao thông vận tải dẫn đầu với 7,23 điểm nhờ nhiều sáng kiến cải cách, tiếp theo là Cục Hải quan thành phố với 7,17 điểm Nhóm điều hành “khá” còn có Bảo hiểm xã hội thành phố với 7,12 điểm.

Sở Tài chính dẫn đầu với 7,11 điểm, theo sau là Cục Thuế thành phố (7,06 điểm), Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (7,04 điểm) và Sở Văn hóa và Thể thao (7,01 điểm) Trong khi đó, Sở Tài nguyên và Môi trường (6,52 điểm), BQL Khu kinh tế (6,5 điểm) và Sở Khoa học và Công nghệ (6,44 điểm) vẫn gặp nhiều rào cản trong việc gia nhập thị trường, đứng cuối bảng xếp hạng Khoảng cách giữa đơn vị đứng đầu và cuối là 0,79 điểm, và các đơn vị trong thành phố chỉ chênh lệch nhau khoảng 0,1 điểm.

Nhiều doanh nghiệp và hợp tác xã (DN/HTX) phải dành thời gian đáng kể để tìm hiểu về trình tự và thủ tục gia nhập thị trường, với 36,62% cho biết họ mất hơn 5 ngày, trong đó 23,97% mất hơn 7 ngày Các lĩnh vực như bảo hiểm xã hội, thuế, đăng ký kinh doanh và lao động có thủ tục phức tạp, khiến thời gian tìm hiểu kéo dài Tỷ lệ DN/HTX dành 3-4 ngày tìm hiểu chiếm 28,58%, và 34,80% dành dưới 3 ngày Điểm số trung bình cho chỉ tiêu này chỉ đạt 5,53, cho thấy những khó khăn trong việc hiểu rõ quy trình gia nhập thị trường Do đó, các cơ quan thành phố cần cung cấp hướng dẫn cụ thể về hồ sơ, đơn giản hóa thủ tục và tạo điều kiện thuận lợi cho DN/HTX trong việc thực hiện các thủ tục đăng ký.

Những tín hiệu tích cực được ghi nhận ở các chỉ tiêu số lần đi lại để hoàn thành hồ sơ đăng kí và nhận được giấy đăng kí hoặc các loại giấy tờ gia nhập thị trường Cụ thể, đối với số lần đi lại để hoàn thành hồ sơ nộp cho các cơ quan, 65,10% DN/HTX cho biết chỉ đi lại từ 0-2 lần nhưng cũng có tới 6,09% DN/HTX cho biết họ phải đi lại hơn 5 lần mới xong bộ hồ sơ Phải đi lại nhiều lần hơn đang là bức xúc của nhiều DN/HTX khi thực hiện quy trình thủ tục ở một số cơ quan như Sở TN&MT (24,01% DN/HTX khảo sát phải đi lại hơn 5 lần), BQL KKT (14,29%), Sở KH&CN (14,29%), Công an thành phố (17,96%), Sở KH&ĐT (10,87%) Tuy nhiên, nhìn chung việc trả kết quả ở các Sở, ban, ngành vẫn đang đảm bảo đúng hẹn với tỉ lệ DN/HTX chia sẻ rằng họ có được giấy đăng kí hoặc cấp phép đúng hẹn là 82,07% và sớm hơn hẹn là 2,56% Phần trăm DN/HTX bị trễ hẹn sau hơn 3 lần mới có cũng khá thấp chỉ 2,32% Các kết quả trên cũng phản ánh khá tương đồng theo số liệu thống kê về thụ lí hồ sơ ở các Sở, ban, ngành trong năm 2020 có tỉ lệ trả đúng hẹn là khoảng 86% 3 Đặc biệt, trong quá trình thực hiện các thủ tục ở các Sở, ban, ngành, 77,36% DN/HTX đồng ý/hoàn toàn đồng ý về việc các cơ quan đã ứng dụng CNTT và sử dụng nhiều phương thức mới hiệu quả như phối hợp với Bưu điện thành phố nhận hồ sơ tại các Bưu cục và trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính tận nhà

Tổng thời gian mà các DN/HTX cần để đăng kí và có được mọi loại giấy phép, hoàn tất mọi thủ tục cần thiết để chính thức đi vào hoạt động vẫn mất khá nhiều thời gian Cụ thể, thời gian mà các DN/HTX phải bỏ ra để hoàn thành mọi thủ tục thường chủ yếu phải mất từ 1 tuần - 1 tháng với 44,31% tổng số DN/HTX trả lời, từ 1-3 tháng là 17,41% Khảo sát cũng cho thấy vẫn còn 3,32%

Tôi không biết!

3 http://dichvucong.haiphong.gov.vn/

DN/HTX mất hơn 3 tháng để hoạt động chính thức, tập trung vào một số Sở như Sở TN&MT, Sở Xây dựng, Sở KH&ĐT, và Sở LĐ-TB&XH, với điểm trung bình đạt 6,23 Mặc dù các Nghị quyết của Chính phủ đã giúp cắt giảm thủ tục hành chính và đơn giản hóa việc thành lập DN, nhưng quy trình gia nhập thị trường vẫn phức tạp và tốn thời gian Thời gian này bao gồm cả việc chuẩn bị hồ sơ của doanh nghiệp, không chỉ thời gian xử lý của cơ quan Nhà nước Sự phối hợp giữa các Sở, ban, ngành là rất quan trọng, với một số cơ quan như Sở Tư pháp và Bảo hiểm xã hội đã kết nối dữ liệu điện tử Sắp tới, Sở KH&ĐT, BQL KKT Hải Phòng và Cục Thuế sẽ ký cam kết phối hợp hỗ trợ doanh nghiệp, hứa hẹn mang lại hiệu quả thiết thực.

Biểu đồ 3.3 Tỉ lệ DN/HTX phải bỏ ra để hoàn thành tất cả các thủ tục cần thiết để chính thức đi vào hoạt động

Để cải thiện môi trường đầu tư và kinh doanh, Chính phủ đã yêu cầu các bộ, ngành cắt giảm điều kiện kinh doanh, và thành phố Hải Phòng đã thực hiện nhiều sáng kiến cải cách Tuy nhiên, theo đánh giá của cộng đồng doanh nghiệp và hợp tác xã tại Hải Phòng, những nỗ lực này vẫn chưa đáp ứng được kỳ vọng Kết quả khảo sát PCI trong những năm gần đây cho thấy chỉ số gia nhập thị trường của Hải Phòng thường ở mức thấp, phản ánh thực trạng khó khăn khi gia nhập thị trường Điểm nghẽn lớn nhất là sự khó khăn trong việc tìm hiểu quy trình thủ tục và thời gian chờ đợi sau khi đăng ký doanh nghiệp Mặc dù thời gian xử lý hồ sơ trung bình chỉ là 1,75 ngày làm việc, ngắn hơn so với quy định 3 ngày, nhưng nhiều doanh nghiệp vẫn cảm thấy khó khăn trong việc nắm bắt quy trình.

Thời gian tới, cần đơn giản hóa quy trình gia nhập thị trường và minh bạch hóa các điều kiện kinh doanh theo hướng định lượng cụ thể, nhằm giảm gánh nặng tuân thủ thủ tục hành chính cho doanh nghiệp Đặc biệt, cần có những giải pháp hỗ trợ quyết liệt và thực chất hơn, thay vì chỉ tập trung vào việc cắt giảm số lượng thủ tục hành chính một cách cơ học, để tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh.

Hải Phòng đã cải thiện môi trường đầu tư và kinh doanh, giúp doanh nghiệp giảm chi phí gia nhập thị trường Để đạt được điều này, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các sở, ban, ngành liên quan, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc chuẩn bị hồ sơ, đặc biệt là các giấy phép và thủ tục liên quan đến thuế, lao động, và bảo hiểm xã hội Khi quá trình chuẩn bị hồ sơ được rút ngắn, thời gian chờ đợi để doanh nghiệp đi vào hoạt động cũng sẽ giảm, từ đó tạo cảm nhận tích cực hơn cho doanh nghiệp và hứa hẹn nhiều thay đổi tích cực trong chỉ số năng lực cạnh tranh.

3.2.2 Tính minh b ạch và ứng dụng công nghệ thông tin

Minh bạch thông tin là yếu tố then chốt trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho môi trường đầu tư và kinh doanh, góp phần phát triển cộng đồng doanh nghiệp và hợp tác xã Trong bối cảnh chuyển đổi số và cách mạng công nghiệp 4.0, việc nắm bắt thông tin kịp thời và khai thác các sáng kiến chính sách từ chính quyền là rất quan trọng Để phản ánh đầy đủ chỉ số này, DDCI cấp Sở, ban, ngành đã đưa ra các nội dung chính liên quan đến khả năng tiếp cận thông tin và tính hữu dụng của ứng dụng công nghệ thông tin trong việc cung cấp thông tin cho các đối tượng kinh doanh.

Biểu đồ 3.4 Điểm số CSTP “Tính minh bạch và ứng dụng công nghệ thông tin”

Nguồn: Cục Thống kê Hải Phòng và Economica Vietnam, Khảo sát DDCI Hải Phòng 2020

Theo chỉ số DDCI, kết quả minh bạch thông tin và ứng dụng CNTT cho thấy cần phải "tăng tốc" cải thiện ở tất cả các cấp, ngành Mặc dù điểm trung bình của các Sở, ban, ngành đạt 7,05, thuộc nhóm "khá", nhưng vẫn có nhiều đơn vị đứng ở nhóm cuối bảng điểm.

9 đơn vị đang có điểm số dưới 7 điểm ở mức “trung bình khá” Trong đó, Sở KH&CN (6,64 điểm),

Sở TN&MT hiện đang có điểm số thấp nhất (6,69 điểm) trong số 21 Sở, ban, ngành, cho thấy nhiều doanh nghiệp và hợp tác xã gặp khó khăn trong việc tiếp cận thông tin Ngược lại, Sở Du lịch và Sở Văn hóa và Thể thao dẫn đầu với điểm số trên 7,4, cho thấy khả năng cung cấp thông tin hiệu quả hơn Khoảng cách giữa đơn vị đứng đầu và đứng cuối chỉ là 0,81 điểm, cho thấy sự cạnh tranh gay gắt giữa các đơn vị, đặc biệt là nhóm NHNN - Chi nhánh Hải Phòng, Sở GD&ĐT, Sở Tài chính và Sở Y tế Điều này được thể hiện qua điểm trung vị (7,04 điểm) và điểm trung bình (7,05 điểm) gần như tương đương.

Tính minh bạch và ứng dụng công nghệ thông tin hiện đang gặp khó khăn, với 11 chỉ tiêu đánh giá cho thấy mức điểm còn thấp Chưa có chỉ tiêu nào thể hiện sự cải cách rõ rệt, trong khi nhiều chỉ tiêu khác bị đánh giá là trì trệ, không đạt được kỳ vọng của cộng đồng doanh nghiệp và hợp tác xã Phân tích sâu hơn vào một số chỉ tiêu cụ thể sẽ giúp làm rõ tình hình này.

CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP ĐỊA PHƯƠNG

Ngày đăng: 24/07/2023, 01:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Nội vụ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Hội Cựu chiến binh Việt Nam (2015-2018), “Báo cáo Chỉ số hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính Nhà nước năm 2015-2018 (SIPAS 2015-2018)” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Chỉ số hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính Nhà nước năm 2015-2018 (SIPAS 2015-2018)
Tác giả: Bộ Nội vụ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam
Năm: 2018
2. CECODES, VFF-CRT, RTA & UNDP (2009-2020), “Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI) 2009-2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI) 2009-2020
Tác giả: CECODES, VFF-CRT, RTA, UNDP
Năm: 2009-2020
3. Chính phủ Việt Nam (2020a), Nghị quyết số 84/NQ-CP, ngày 29 tháng 5 “Về các nhiệm vụ, giải pháp tiếp tục tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công và bảo đảm trật tự an toàn xã hội trong bối cảnh đại dịch COVID-19” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về các nhiệm vụ, giải pháp tiếp tục tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công và bảo đảm trật tự an toàn xã hội trong bối cảnh đại dịch COVID-19
4. Chính phủ Việt Nam (2020b), Nghị quyết số 42/NQ-CP, ngày 09 tháng 4 “Về các biện pháp hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch COVID-19” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về các biện pháp hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch COVID-19
5. CIEM và ADB (2017), ““Chính thức hóa” hộ kinh doanh ở Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Chính thức hóa” hộ kinh doanh ở Việt Nam
Tác giả: CIEM, ADB
Năm: 2017
6. Cục Thống kê Hải Phòng (2019, 2020), “Niên giám thống kê Hải Phòng năm 2019, 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê Hải Phòng năm 2019, 2020
7. Cục Thống kê Hải Phòng (2010-2020), “Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội các năm 2010- 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội các năm 2010- 2020
Tác giả: Cục Thống kê Hải Phòng
Năm: 2010-2020
11. GSO (2005 - 2018), “Niên giám thống kê các năm 2005 – 2018” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê các năm 2005 – 2018
12. GSO (2012), “Sự phát triển của doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 – 2011”, Nhà xuất Bản Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển của doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 – 2011
Tác giả: GSO
Nhà XB: Nhà xuất Bản Thống kê
Năm: 2012
13. Hội đồng tư vấn cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ (2018-2020), “Báo cáo chỉ số Chi phí tuân thủ thủ tục hành chính APCI 2018-2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chỉ số Chi phí tuân thủ thủ tục hành chính APCI 2018-2020
Tác giả: Hội đồng tư vấn cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2018-2020
15. Lê Duy Bình & Phạm Tiến Dũng (2017), “Chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp
Tác giả: Lê Duy Bình, Phạm Tiến Dũng
Năm: 2017
18. MPI/ GSO (2015-2016), “Báo cáo khảo sát lực lượng lao động”, Tổng cục Thống kê/ Bộ KHĐT, Hà Nội, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo khảo sát lực lượng lao động
Tác giả: MPI, GSO
Nhà XB: Tổng cục Thống kê
Năm: 2015-2016
19. Quốc hội Việt Nam (2020), Nghị quyết số 116/2020/QH14, ngày 19 tháng 6 “Về giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của năm 2020 đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp và tổ chức khác” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 116/2020/QH14, ngày 19 tháng 6 “Về giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của năm 2020 đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp và tổ chức khác”
Tác giả: Quốc hội Việt Nam
Năm: 2020
20. UBND thành phố Hải Phòng (2015-2020), “Báo cáo kinh tế - xã hội 2015-2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kinh tế - xã hội 2015-2020
Tác giả: UBND thành phố Hải Phòng
Năm: 2015-2020
21. UBND thành phố Hải Phòng (2020), “Báo cáo tổng kết Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020, định hướng giai đoạn 2021-2030 của thành phố Hải Phòng” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020, định hướng giai đoạn 2021-2030 của thành phố Hải Phòng
Tác giả: UBND thành phố Hải Phòng
Năm: 2020
22. USAID/VNCI-VCCI (2006-2020), “Báo cáo Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam (2006–2020)”. www.pcivietnam.org/reports.php Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam (2006–2020)
Tác giả: USAID/VNCI-VCCI
Năm: 2006-2020
24. VCCI (2010-2019), “Báo cáo thường niên doanh nghiệp Việt Nam”, NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thường niên doanh nghiệp Việt Nam
Tác giả: VCCI
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2010-2019
25. VCCI (2019), “Báo cáo đánh giá cải cách thủ tục hành chính thuế”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá cải cách thủ tục hành chính thuế
Tác giả: VCCI
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2019
26. VCCI. (2020), “Báo cáo đánh giá mức độ hài lòng của doanh nghiệp và thời gian thực hiện thủ tục hành chính qua cơ chế một cửa quốc gia”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá mức độ hài lòng của doanh nghiệp và thời gian thực hiện thủ tục hành chính qua cơ chế một cửa quốc gia
Tác giả: VCCI
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2020
27. World Bank (2018-2020), “Doing Business 2018-2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Doing Business 2018-2020
Tác giả: World Bank
Năm: 2018-2020

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1 minh họa bản đồ phân nhóm năng lực điều hành kinh tế của DDCI cấp địa phương tại  Hải Phòng - Hai Phong Ddci 2020 - Bao Cao Day Du.pdf
Hình 3.1 minh họa bản đồ phân nhóm năng lực điều hành kinh tế của DDCI cấp địa phương tại Hải Phòng (Trang 56)
Hình 4.1. Bản đồ phân nhóm năng lực điều hành kinh tế theo DDCI cấp địa phương năm 2020 - Hai Phong Ddci 2020 - Bao Cao Day Du.pdf
Hình 4.1. Bản đồ phân nhóm năng lực điều hành kinh tế theo DDCI cấp địa phương năm 2020 (Trang 59)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w