1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

2019,05,27 De Cuong So Bo-Hcmc International Financial Center-Final_Gui Hfic,Pdf-1568102403808.Pdf

79 7 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề Cương Sơ Bộ Phát Triển Thành Phố Hồ Chí Minh Thành Trung Tâm Tài Chính Quốc Tế
Trường học Đại học Fulbright Việt Nam
Chuyên ngành Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh thành Trung tâm Tài chính Quốc tế
Thể loại Đề án
Năm xuất bản 2019
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 2,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu Thành phố đề ra là trở thành một trung tâm tài chính quốc tế, đóng vai trò cung cấp các dịch vụ tài chính bao gồm huy động vốn, đầu tư, tiết kiệm, thanh toán, phát hành sản phẩm

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG SƠ BỘ

(BẢN THẢO)

ĐỀ ÁN PHÁT TRIỂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÀNH

TRUNG TÂM TÀI CHÍNH QUỐC TẾ

Đơn vị tư vấn

Trường Chính sách Công và Quản lý Fulbright (FSPPM)

Đại học Fulbright Việt Nam (FUV)

TP HCM, tháng 05 – 2019

Cơ quan chủ trì

UBND Thành phố Hồ Chí Minh Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước TP Hồ Chí Minh (HFIC)

Trang 3

MỤC LỤC i

1 Bối cảnh hiện tại: TP HCM với vai trò trung tâm tài chính và động lực tăng trưởng của

1.1 TP HCM trong định hướng phát triển của Trung ương và Chính phủ 4 1.2 Vị thế so sánh của TP HCM trong nước: Thuận lợi và thách thức 5

2 Trung tâm tài chính quốc tế (IFC): Khái niệm và các nhân tố hình thành IFC 9

2.1.3 Sự dịch chuyển và hình thành của các Trung tâm tài chính 14

2.3 Các nhân tố cần thiết để hình thành Trung tâm tài chính quốc tế 19

4 Định hướng phát triển IFC TP HCM: tầm nhìn, tác động và thách thức 34

4.2 Phác họa tầm nhìn và tác động kỳ vọng của trung tâm tài chính TP HCM 37

Trang 4

5.1 Mục tiêu của Đề án khả thi 46

6.1 Giai đoạn 1: Xây dựng đề cương sơ bộ (Hoàn thành trước 31/05/2019) 49 6.2 Giai đoạn 2: Điều khoản tham chiếu (Hoàn thành trước 30/09/2019) 49 6.3 Giai đoạn 3: Xây dựng đề án khả thi (Hoàn thành trước 30/10/2020) 50

Trang 5

Bảng 1: Một số chỉ tiêu so sánh TP HCM và cả nước 5

Bảng 2: So sánh giao dịch tài chính trên thị trường TP HCM và Hà Nội 6

Bảng 3: Tổng vốn đầu tư FDI đăng ký các dự án còn hiệu lực đến 20.3.2019 9

Bảng 4: Lĩnh vực dịch vụ tài chính và kinh doanh (FABS) tại một số thành phố 18

Bảng 5: Tổng hợp các đặc trưng cơ bản của các Trung tâm tài chính quốc tế 19

Bảng 6: Các trung tâm tài chính trong khu vực Đông và Đông Nam Á 29

Bảng 7: So sánh một số chỉ tiêu của TPHCM so với Hà Nội và cả nước 38

Hình 1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế của TP HCM và một số địa phương (2016-2018) 7

Hình 2: Lực lượng lao động, GDP và xuất khẩu của các địa phương (2018) 8

Hình 3: Thị trường và công cụ tài chính 12

Hình 4: Sự lưu chuyển của dòng vốn qua hệ thống tài chính 16

Hình 5: Mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế 17

Hình 6: Năm khía cạnh cốt yếu để đánh giá một trung tâm tài chính 21

Hình 7: Xếp hạng thu hút thương mại và quy mô kinh tế một số TP trong khu vực (2018) 24

Hình 8: Xếp hạng và triển vọng của 120 thành phố toàn cầu (2018) 25

Hình 9: Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu của Việt Nam (2018) 25

Hình 10: So sánh năng lực cạnh tranh toàn cầu của Việt Nam với các nước Châu Á (2018) 26 Hình 11: So sánh Quy mô thị trường chứng khoán (% GDP) của Việt Nam và quốc tế 27

Hình 12: So sánh Quy mô thị trường chứng khoán (tỷ đô la) TP HCM và khu vực 29

Hình 13: Sự thay đổi vị trí của các IFC trong top 10 toàn cầu và các trung tâm cạnh tranh trong khu vực châu Á (2010 – 2019) 30

Hình 14: Gia tăng nợ công hậu khủng hoảng ở các nước phát triển 35

Hình 15: Dòng vốn xuyên biên giới sụt giảm mạnh 36

Hình 16: Tỷ lệ ngân sách được giữ lại của TP Hà Nội và Hồ Chí Minh 41

Hình 17: Thu và chi ngân sách/đầu người của các vùng (triệu đồng, 2016) 41

Hình 18 Đóng góp cho GDP của 5 đô thị lớn nhất Việt Nam (2010 – 2018) 42

Hình 19: Đóng góp cho GDP của 123 thành phố toàn cầu 43

Hình 20: Dân số và GDP của 123 thành phố toàn cầu sv 5 đô thị lớn ở Việt Nam 43

Trang 6

DANH MỤC TỪ CHUYÊN MÔN

commodities

GEM Thị trường dành cho doanh nghiệp tăng trưởng Growth Enterprise Market

IPO Phát hành lần đầu ra công chúng Initial Public Offering

LFO Công ty quản lý tài sản gia đình địa Phương Local Family Office

SPE Các công ty/quỹ tài chính chuyên biệt Special Purpose Entities

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Bank

Nations

bộ xuyên Thái Bình Dương

Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership

Fulbright

Fulbright School of Public Policy and Management

Trang 9

ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU SƠ BỘ

Trong tầm nhìn chiến lược phát triển của lãnh đạo Thành phố, việc trở thành trung tâm tài chính quốc tế đóng vai trò hết sức quan trọng, nhất là trong bối cảnh TP HCM đang bị chững lại so với các đô thị khác trong nước và đang tụt hậu với các đô thị thành công trong khu vực Thế nhưng giữa bối cảnh và điều kiện hiện tại của TP HCM và tầm nhìn chiến lược này còn rất nhiều khoảng cách Nhìn ra bên ngoài, TP HCM vẫn còn tụt hậu tương đối xa so với các đô thị trong khu vực như Seoul, Thượng Hải, Kuala Lumpur, hoặc ngay cả Bangkok (xem phân tích phần 3) Nhìn vào bên trong, khoảng cách về quy mô kinh tế giữa Hà Nội và TP HCM ngày càng thu hẹp Nhiều địa phương khác như Đà Nẵng, Bình Dương hay Quảng Ninh đang vươn lên mạnh mẽ, thậm chí đóng vai trò tạo cảm hứng cho các địa phương khác, và dần trở thành các đô thị động lực của đất nước Trong khi đó, tỷ lệ đóng góp cho GDP cả nước gần như không đổi cho thấy tốc độ tăng trưởng năng suất của TP HCM không cao hơn mặt bằng chung của toàn nền kinh tế Không những thế, tỷ lệ ngân sách được giữ lại của TP HCM giảm mạnh, từ mức 26% giai đoạn 2007-2010 xuống chỉ còn 18% giai đoạn 2017 – 2020 Điều này làm cho tình trạng khan hiếm nguồn lực phát triển vốn đã khó khăn càng trở nên trầm trọng, khiến cho tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm sút, cơ sở hạ tầng quá tải, ách tắc và xuống cấp, môi trường sống trở nên ô nhiễm và thiếu an toàn Những yếu tố này cùng nhau làm giảm sức hấp dẫn của Thành phố như một nơi sinh sống, giao dịch thương mại, kinh doanh và đầu tư, và do vậy tác động tiêu cực tới triển vọng phát triển Thành phố trở thành trung tâm tài chính khu vực

và quốc tế

Bối cảnh này đặt ra yêu cầu đối với TP HCM trong việc lựa chọn chiến lược phát triển tạo sự đột phá nhằm nâng cao năng suất, thúc đẩy tăng trưởng của nền kinh tế, mức sống và chất lượng sống của người dân, củng cố tiềm lực tài chính, gia tăng vị thế và tầm quan trọng của TP

ở Việt Nam và trong khu vực Sự phát triển mạnh mẽ của TP HCM sẽ củng cố động lực tăng trưởng cho vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, góp phần vào sự phát triển chung của Việt Nam

cả trên phương diện nội tại lẫn trên trường quốc tế

Trang 10

Với lợi thế vốn có của một trung tâm kinh tế, tài chính quốc gia năng động, một lựa chọn giàu tiềm năng là đưa thành phố Hồ Chí Minh trở thành một trong những trung tâm kinh tế, tài chính, thương mại của khu vực Đông Nam Á Mục tiêu Thành phố đề ra là trở thành một trung tâm tài chính quốc tế, đóng vai trò cung cấp các dịch vụ tài chính bao gồm huy động vốn, đầu

tư, tiết kiệm, thanh toán, phát hành sản phẩm tài chính v.v., ban đầu là cho các hoạt động kinh doanh hải ngoại (Offshores Financial Center, OFC), sau đó trở thành Trung tâm tài chính khu vực (Regional Financial Center, RFC), tiến tới Trung tâm tài chính quốc tế (International Financial Center, IFC) và toàn cầu (Global Financial Center, GFC).1

Trong thời kỳ toàn cầu hóa, các địa phương cạnh tranh với nhau để trở thành điểm đến của giao thương, trung tâm tài chính quốc tế được hình thành dựa trên tiền đề về phát triển kinh tế, thương mại, dịch vụ và hệ thống giao thông kết nối Bước sang kỷ nguyên số, sự dịch chuyển của dòng vốn, các sản phẩm, dịch vụ tài chính (các giao dịch tài chính, huy động vốn, đầu tư tài chính…) sẽ ngày càng vượt ra ngoài những biên giới truyền thống Khi ấy, năng lực và lợi thế cạnh tranh của các thành phố đến từ năng lực đổi mới, sáng tạo, thiết kế, dung nạp các sản phẩm, dịch vụ, công vụ, cấu trúc, dàn xếp tài chính, quản lý rủi ro đáp ứng các nhu cầu đa dạng, phức tạp Những yếu tố cơ bản tạo nên lợi thế cạnh tranh không chỉ bao gồm (i) mạng lưới khách hàng doanh nghiệp, chính phủ trong nước, khu vực và quốc tế rộng lớn, đa dạng; (ii) nguồn nhân lực chất lượng cao (gồm cả các chuyên gia tài chính lẫn các đội ngũ hỗ trợ); (iii)

cơ sở hạ tầng (hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống công nghệ thông tin, hệ thống giao thông kết nối mạng lưới và giao thông đô thị; quy hoạch đô thị…); mà đặc biệt quan trọng là (iv) hệ thống tài chính mở, phát triển ở mức độ cao (thị trường lưu thông tốt, thanh khoản cao; có sự tham gia tích cực của các công ty tài chính toàn cầu; các phân khúc thị trường liên kết hội nhập; tính cạnh tranh cao); (v) hệ thống quản trị tài chính kinh doanh linh hoạt, thích ứng với các thông lệ, chuẩn mực cao nhất trên thế giới; và (vi) hạ tầng luật pháp phát triển và hiệu quả Bên cạnh đó, yếu tố lợi thế tự nhiên (vị trí địa lý tại quốc gia, khu vực), khả năng tận dung thời cơ nhu cầu về các dịch vụ tài chính gia tăng mạnh mẽ nhờ sự phát triển kinh tế nhanh chóng cũng

là một lợi thế cạnh tranh quan trọng

Nhìn ra toàn cầu, trong khi nước Anh vướng bận với Brexit, kinh tế các nước châu Âu chưa thực sự phục hồi, nước Mỹ bất định bởi những chính sách thất thường của chính phủ đương nhiệm, Trung Quốc đang đối diện với nhiều rủi ro thách thức từ cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung, các sản phẩm tài chính thế hệ mới đa dạng và khó nắm bắt, thị trường tài chính quốc tế đang trải qua thời kỳ chuyển biến cạnh tranh mạnh mẽ để củng cố và/hoặc bứt phá vị thế của mình

Nhìn lại khu vực Đông Nam Á, nền kinh tế đang phục hồi, đồng thời sự hợp tác phát triển chặt chẽ hơn của cộng đồng chung ASEAN Bên cạnh đó, sự hợp tác giao thương rộng mở của khu vực Thái Bình Dương với hiệp định CP-TPP, sự chủ động hội nhập của Việt Nam với nền kinh

tế toàn cầu… là những yếu tố tích cực hỗ trợ cho sự hình thành và phát triển của TP HCM như một trung tâm tài chính khu vực và quốc tế

1 Những khái niệm cơ bản liên quan đến các loại hình Trung tâm tài chính quốc tế được trình bày cụ thể hơn trong mục 2

Trang 11

Trên cơ sở đề nghị của Ủy ban nhân dân thành phố và thỏa thuận với Công ty Đầu tư tài chính nhà nước Thành phố Hồ Chí Minh (HFIC), Trường Chính sách công và Quản lý thuộc Đại học

Fulbright Việt Nam được yêu cầu tư vấn xây dựng Đề cương sơ bộ Đề án phát triển Thành

phố Hồ Chí Minh thành Trung tâm tài chính quốc tế với nội dung công việc cụ thể như sau:

● Bối cảnh, căn cứ và cơ hội để hình thành Trung tâm Tài chính quốc tế tại Thành phố

● Đề xuất và phác họa sơ bộ tầm nhìn về Trung tâm tài chính quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2035 và xa hơn

● Đánh giá sơ bộ khung pháp lý, chính sách hiện nay của Trung ương và Thành phố về phát triển thị trường tài chính và Trung tâm tài chính tại Thành phố Hồ Chí Minh

● Đánh giá sơ bộ các tác động, ảnh hưởng của việc hình thành trung tâm tài chính đối với

sự phát triển kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và của cả nước nói chung

Lưu ý: Vì là Đề cương sơ bộ nên mục đích chủ yếu là làm rõ nhiệm vụ, tầm nhìn chiến lược về

mục tiêu, triển vọng phát triển Thành phố Hồ Chí Minh trở thành trung tâm tài chính quốc tế Kết quả của Đề cương sơ bộ nhằm cung cấp thông tin cần thiết cho thành phố xác lập định hướng và ra chỉ đạo cụ thể về chủ trương và tầm nhìn của Trung tâm Tài chính Quốc tế Các phân tích sâu sắc hơn và các đề xuất cụ thể về tầm nhìn, chiến lược, chính sách v.v sẽ được thực hiện trong giai đoạn 2 và giai đoạn 3 của Dự án

Trang 12

1 Bối cảnh hiện tại: TP HCM với vai trò trung tâm tài chính và động lực tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam

1.1 TP HCM trong định hướng phát triển của Trung ương và Chính phủ

Nghị quyết số 16-NQ-TW (2012) ghi nhận “Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị đặc biệt, một trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, đầu mối giao lưu và hội nhập quốc tế, là đầu tầu, động lực, có sức thu hút và sức lan tỏa lớn của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có vị trí chính trị quan trọng của cả nước” Nghị quyết đề ra phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thành phố Hồ Chí Minh (TP HCM) đến năm 2020: “Xây dựng TP HCM văn minh, hiện đại với vai trò đô thị đặc biệt, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đóng góp ngày càng lớn với khu vực và cả nước; từng bước trở thành trung tâm lớn về kinh tế, tài chính, thương mại, khoa học-công nghệ của đất nước và khu vực Đông Nam Á; góp phần tích cực đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020”

Quyết định số 2631/QĐ-TTg ngày 31 tháng 12 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc

“Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội TP Hồ Chí Minh đến năm 2020, tầm nhìn 2025” - xác định mục tiêu xây dựng TP Hồ Chí Minh trở thành trung tâm tài chính mang tầm khu vực Đông Nam Á trong đó tài chính – tín dụng – ngân hàng là những nhóm ngành chủ đạo trong 9 nhóm ngành dịch vụ mà Thành phố định hướng tập trung phát triển;

Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ TP Hồ Chí Minh lần thứ X, nhiệm kỳ 2015 – 2020 đặt mục tiêu “Phát triển TP Hồ Chí Minh sớm trở thành một trong những trung lớn về kinh tế, tài chính, thương mại, khoa học – công nghệ của khu vực Đông Nam Á”;

Nghị quyết số 19-2017/NQ-CP ngày 6 tháng 2 năm 2017 của Chính phủ về nhiệm vụ giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia đến năm 2020 - xác định sự phát triển của thị trường tài chính là một trong 12 nhóm nhiệm vụ trọng tâm để cải thiện môi trường kinh doanh tại Việt Nam;

Có thể thấy cả Đảng và Chính phủ đều thống nhất quan điểm thừa nhận vị thế vốn có và định hướng phát triển TP HCM như một đô thị đặc biệt, một trung tâm kinh tế - tài chính - dịch vụ hàng đầu trong nước Nhận định này dựa trên thực tế khách quan về sự tăng trưởng, phát triển

và cơ hội tiềm tàng của TP HCM trong quá khứ, hiện tại và tương lai (xem mục 1.2)

Vị thế của TP HCM càng trở nên quan trọng và được củng cố khi đặt trong mối liên kết vùng

TP HCM (bao gồm 7 tỉnh lân cận: Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Long An, Đồng Nai, Tiền Giang) Đơn cử ví dụ, theo số liệu của Cục đầu tư nước ngoài, Bộ

Kế hoạch & Đầu tư, tính lũy kế tổng vốn đầu tư FDI đăng ký các dự án còn hiệu lực đến ngày 20/03/2019, Vùng TP HCM chiếm trên 45% trong khi Vùng Hà Nội (Hà Nội + 09 tỉnh lân cận bao gồm Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nam, Hòa Bình, Phú Thọ, Thái Nguyên, Bắc Giang) chiếm tỷ trọng chưa đến 25% Theo số liệu thống kê, trong năm 2018, toàn vùng Đông Nam Bộ đóng góp trên 45% GDP, trên 42% tổng thu ngân sách, 57% sản lượng công nghiệp, 46% sản lượng dịch vụ, và trên 40% kim ngạch xuất khẩu của cả nước2

2 Nguồn: http://vneconomy.vn/kinh-te-trong-diem-phia-nam-tang-truong-cham-lai-20190506114542255.htm

Trang 13

Về vận chuyển hàng không, trong tổng số 106 triệu hành khách và 1,5 triệu tấn hàng hóa (tính tổng các hãng bay trong nước và quốc tế) của cả nước, sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất phục vụ 38,3 triệu hành khách (vượt công suất thiết kế gần 37%) và 300 ngàn tấn hàng hóa3

Quyết định 2076/QĐ-TTg (2017) đặt mục tiêu phát triển vùng TP HCM trở thành một vùng đô thị lớn phát triển năng động và bền vững, một vùng kinh kế hiện tại, trung tâm kinh tế lớn, trung tâm thương mại – tài chính, vị thế quan trọng trong khu vực Đông Nam Á và hướng tới quốc tế Trong đó, TP HCM được định vị là đô thị hạt nhân, trung tâm tri thức, trung tâm kinh

tế tổng hợp đa chức năng hiện đại ngang tầm với các đô thị trong khu vực Đông Nam Á, trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước, trung tâm giao thương quốc tế của vùng và quốc gia; trung tâm tài chính – thương mại và dịch vụ logistics tầm quốc tế

1.2 Vị thế so sánh của TP HCM trong nước: Thuận lợi và thách thức

Trong suốt ba thập niên kể từ đổi mới, mặc dù còn nhiều hạn chế, thành phố Hồ Chí Minh luôn duy trì được vị trí tiên phong về phát triển kinh tế Mặc dù chỉ chiếm khoảng 9.36% dân số và 0,63% diện tích, nhưng trong năm 2018, Thành phố đã tạo ra khoảng 24% GDP, 26,62% số thu ngân sách, thu hút 22% nguồn vốn FDI của cả nước

Bảng 1: Một số chỉ tiêu so sánh TP HCM và cả nước

Ghi chú: (*) Số liệu dân số theo Niên giám Thống kê của Tổng cục Thống kê, có thể

không phản ảnh số dân thực tế do thiếu cập nhật về xuất – nhập cư

(**) Số liệu đến cuối tháng 11 năm 2018 Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ số liệu thống kê

3 Nguồn: hanh-khach.aspx; https://www.baogiaothong.vn/cong-ty-co-phan-dich-vu-hang-hoa-tan-son-nhat-but-pha-de- thanh-cong-d410095.html; https://tuoitre.vn/loi-ra-cho-san-bay-qua-tai-20190325081242929.htm

Trang 14

http://mt.gov.vn/vn/tin-tuc/57963/nam-2018 cac-hang-hang-khong-viet-van-chuyen-tren-50-trieu-Xét về hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổng vốn huy động trên địa bàn TP HCM chiếm 27,2% tổng vốn huy động cả nước vào cuối năm 2018 Tổng dư nợ cho vay ở TP HCM cũng chiếm tới 28,1% tổng dư nợ cho vay toàn nền kinh tế Trên thị trường vốn, tổng giá trị vốn hóa tại Sở Giao dịch Chứng khoán TP HCM chiếm 93,5% tổng giá trị vốn hóa toàn thị trường và 57,4% GDP cả nước (xem Bảng 1)

Tính đến tháng 10 tháng 5 năm 2019, trên sàn HCM (HSX) có 432 công ty niêm yết, so với

377 công ty niêm yết trên sàn Hà Nội (HNX) Mặc dù số công ty niêm yết không chênh lệch quá lớn nhưng quy mô vốn hóa của các công ty niêm yết trên sàn HSX lên đến hơn 3 ngàn tỷ đồng, trong khi sàn HNX chỉ hơn 200 nghìn tỷ Tính thanh khoản trên sàn HSX cũng cao hơn rất nhiều, với bình quân giá trị giao dịch năm 2018 trên 5 ngàn 5 tỷ đồng/phiên (so với mức

787 tỷ đồng/phiên trên sàn HNX), trong đó vốn nhà đầu tư nước ngoài đổ vào giao dịch tài chính trên sàn HSX gần 1 ngàn 4 tỷ đồng (so với 17,39 tỷ trên sàn HNX) (xem Bảng 2) Tuy nhiên, HNX có ưu thế đối với sản phẩm trái phiếu chính phủ và giao dịch phái sinh do định hướng chính sách của nhà nước Trong khi đó, trái phiếu doanh nghiệp vẫn lựa chọn HOSE là nơi giao dịch chính

Bảng 2: So sánh giao dịch tài chính trên thị trường TP HCM và Hà Nội

- Số Công ty/tổ chức niêm yết 10/05/2019 mã cổ phiếu 432 377

- Bình quân giá trị giao dịch

- Giá trị giao dịch bình quân trên

- Vốn nhà đầu tư nước ngoài đổ vào giao dịch tài chính trên sàn giao dịch chứng khoán

- Tổng giá trị giao dịch trái phiếu

- Tổng giá trị giao dịch trái phiếu

- Tổng giá trị giao dịch chứng chỉ

Nguồn: Tổng hợp từ Báo cáo tóm tắt tổng quan TTTC của UBGSTCQG (2018), HSX, HNX

Trong phạm vi quốc gia, vị thế đầu tàu kinh tế nói chung và vai trò trung tâm tài chính quốc gia của TP HCM vẫn chắc chắn và chưa thể bị thay thế (xem Hình 2) Tuy nhiên, nếu đặt TP HCM bên cạnh một số địa phương có tốc độ tăng trưởng cao khác thì sẽ thấy rõ một thực tế

“không mấy dễ chịu” đối với TP HCM, đó là vị thế tiên phong và dẫn dắt của Thành phố đang

bị thách thức (xem Hình 1)

Trang 15

Hình 1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế của TP HCM và một số địa phương (2016-2018)

Ghi chú: Năm 2018 là số ước tính, theo cách tính mới của Tổng cục thống kê Nguồn: Tổng hợp từ NGTK, Báo cáo tình hình KTXH hàng năm của các địa phương

Hơn một thập niên trở lại đây, nhiều địa phương khác đang vươn lên mạnh mẽ Chẳng hạn như

Hà Nội, trong 20 năm qua tăng trưởng đạt mức bình quân gần 9,5%/năm, cao hơn khoảng 1 điểm phần trăm so với TP HCM.4 Kết quả là quy mô nền kinh tế của Hà Nội so với cả nước từ chỗ chỉ chiếm 8,2% cách đây 20 năm nay đã tăng lên 13,6%, nhờ đó thu hẹp đáng kể khoảng cách với TP HCM Nếu như vào năm 1995, nền kinh tế TP HCM có quy mô gấp gần 2 lần so với Hà Nội thì đến nay tỷ lệ này giảm xuống chỉ còn hơn 1,7 lần Nhiều địa phương khác, như

Đà Nẵng, Bình Dương, Đồng Nai, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Hải Phòng … dù hiện tại cũng như trong thập niên tới vẫn chưa phải là “đối thủ cạnh tranh” của TP HCM nhưng cũng đã rất nỗ lực cải thiện năng lực cạnh tranh của mình và bước đầu đã đạt được những thành quả nhất định Các địa phương này, chứ không phải là TP HCM, xét trên một phương diện nào

đó, là tác nhân chủ yếu tạo cảm hứng và sự ganh đua giữa các địa phương Thậm chí một số địa phương còn có vai trò dẫn dắt các địa phương lân cận dù vai trò này chỉ mới manh nha và còn rất hạn chế

4 Từ năm 2008, Hà Tây sáp nhập vào Hà Nội làm cho quy mô kinh tế của Hà Nội tăng lên đáng kể Tính toán này đã tính đến sự sáp nhập này Tuy nhiên, dù lý do gì thì có một thực tế đó là quy mô nền kinh tế Hà Nội hiện nay đã cao hơn gấp 30 lần so với 20 năm trước, và vị trí tương đối của Hà Nội so với TP HCM cũng đã thu hẹp đáng kể

Trang 16

Hình 2: Lực lượng lao động, GDP và xuất khẩu của các địa phương (2018)

Nguồn: Tổng hợp từ GSO, Tổng cục Hải quan, Báo cáo tình hình KTXH các địa phương

Bảng 3 cho thấy lũy kế đến cuối tháng 3 năm 2019, TP HCM thu hút được 30% số dự án FDI với tổng vốn đăng ký chiếm tỷ trọng hơn 13% tổng số vốn đăng ký của cả nước Xét trên tổng thể, TP HCM vẫn giữ vị thế đứng đầu trong thu hút FDI nhưng khoảng cách không quá xa so với Hà Nội và một số tỉnh lân cận Xét trên một khía cạnh khác, nếu tính chung cả Vùng TP HCM thì cùng với 05 tỉnh lân cận, nhóm này chiếm đến hơn 54% số dự án và 43,7% tổng số vốn đăng ký Tính theo Quyết định 2076/QĐ-TTg (2017), Vùng TP HCM bao gồm thêm Tiền Giang và Bình Phước thì Vùng TP HCM chiếm 55,6% số dự án với vốn đầu tư trên 45% tổng

số vốn FDI cả nước Trong khi đó, Vùng Hà Nội (bao gồm 09 tỉnh thành) chỉ chiếm 31,6% số

dự án với số vốn đăng ký chiếm 24,9% tổng số vốn FDI cả nước Điều này cho thấy ưu thế tuyệt đối và vị trí đặc biệt quan trọng của Vùng kinh tế trọng điểm TP HCM đối với cả nước Chiến lược phát triển của TP HCM cần được xây dựng gắn kết với sự phát triển của cả Vùng

TP HCM để có thể cùng bổ trợ, phát triển, củng cố sức mạnh kinh tế và gia tăng vị thế không chỉ trong nước mà cả trong khu vực Đông Nam Á và trên trường quốc tế

Vị thế và tầm quan trọng của TP HCM trong nền kinh tế Việt Nam đặt ra nhu cầu cấp thiết đối với Thành phố và Trung ương trong việc lựa chọn chiến lược phát triển tạo sự đột phá cho Thành phố, để Thành phố tiếp tục là động lực tăng trưởng mạnh mẽ không chỉ đối với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam mà đối với toàn bộ nền kinh tế Việt Nam Về định hướng, TP HCM trước hết cần đóng vai trò trung tâm tài chính cung cấp sản phẩm dịch vụ hỗ trợ sự phát triển kinh tế cho toàn Vùng kinh tế trọng điểm TP HCM và cả nước, tiến tới trở thành TTTC khu vực Đông Nam Á và xa hơn nữa

Lực lượng lao động (nghìn người)

Trang 17

Bảng 3: Tổng vốn đầu tư FDI đăng ký các dự án còn hiệu lực đến 20.3.2019

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu của Cục đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và đầu tư

Phần tiếp theo sẽ trình bày các khái niệm về TTTC và những yếu tố căn bản để hình thành TTTC nhằm gợi mở các lựa chọn cho sự phát triển của TP HCM theo định hướng trở thành TTTC quốc tế

2 Trung tâm tài chính quốc tế (IFC): Khái niệm và các nhân tố hình thành IFC 2.1 Tổng quan khái niệm

2.1.1 Phân loại các trung tâm tài chính

Một cách tổng quát, trung tâm tài chính – trung gian kết nối giữa bên có tiền nhàn rỗi và bên

có nhu cầu sử dụng vốn - cung cấp các dịch vụ như huy động vốn, đầu tư, tiết kiệm, thanh toán, phát hành sản phẩm tài chính, quản lý rủi ro (các sản phẩm phái sinh, bảo hiểm, tái bảo hiểm)

và các dịch vụ hỗ trợ như tư vấn, định giá, xếp hạng… Theo báo cáo HPEC (2017), các trung tâm tài chính phục vụ các khách hàng bên ngoài vùng lãnh thổ của mình được gọi là trung tâm tài chính quốc tế (International Financial Center, IFC), hoặc toàn cầu (Global Financial Center, GFC), khu vực (Regional Financial Center, RFC) hoặc hải ngoại (Offshores Financial Center, OFC)

Cassis (2018) định nghĩa trung tâm tài chính là nơi tập hợp một số lượng nhất định các dịch vụ tài chính trong một không gian đô thị, là trung gian phối hợp các giao dịch tài chính, thu xếp

Trang 18

thanh toán Sự tập trung này được lý giải bởi khả năng giảm chi phí cho các doanh nghiệp nhờ

sự cạnh tranh, sự gần gũi và quy mô của lĩnh vực hay vị trí nơi doanh nghiệp vận hành Báo cáo HPEC (2007) nghiên cứu phát triển trung tâm tài chính Mumbai hay bài nghiên cứu của Karan & Kayral (2012) phân biệt các đặc điểm của trung tâm tài chính quốc tế, và mới đây cuốn sách “Các trung tâm tài chính quốc tế sau khủng hoảng tài chính toàn cầu và Brexit” vừa xuất bản năm 2018 do giáo sư Cassis và Wójcik chủ biên đều đi đến nhận xét rằng không có một định nghĩa duy nhất được thừa nhận rộng rãi về trung tâm tài chính quốc tế Tuy nhiên, bên cạnh những đặc điểm riêng có của mỗi trung tâm tài chính, các học giả và các chuyên gia dường như khá tương đồng trong việc phân loại các trung tâm tài chính

Theo đó, có thể phân định thành bốn loại hình trung tâm tài chính cơ bản.5 Thứ nhất là các trung tâm tài chính toàn cầu (GFC), như London, New York hay Singapore, hoạt động trên mọi loại thị trường, cung cấp toàn bộ sản phẩm dịch vụ tài chính cho đối tượng khách hàng rộng rãi khắp toàn cầu Yếu tố quan trọng để đánh giá một trung tâm tài chính mang tính chất toàn cầu chính là tỷ lệ giao dịch quốc tế so với nội địa, tính đa dạng của khách hàng và xuất xứ nguồn vốn từ khắp nơi trên thế giới, mức độ tự do hóa tài khoản vốn để dòng vốn ra vào biên giới tự do, mức độ phát triển hiện đại của thị trường tài chính, thanh khoản cao, hệ thống chi trả và thanh toán tiến tiến, cơ sở pháp lý chặt chẽ, công bằng và hiệu quả

Thứ hai là các trung tâm tài chính khu vực (RFC) Khái niệm này có thể được hiểu theo hai hướng: (i) trung tâm tài chính không chỉ phục vụ nhu cầu trong nước mà còn phục vụ các nước láng giềng, thậm chí tỷ trọng hoạt động kinh doanh đến từ các nước trong khu vực cao hơn so với nội địa, và (ii) trung tâm tài chính lớn nằm tại một khu vực nào đó nhưng không nhất thiết đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động tài chính kinh doanh của các nước trong khu vực

Để tránh nhầm lẫn, chúng tôi gọi “trung tâm tài chính khu vực” (RFC) theo cách hiểu thứ nhất

và gọi “trung tâm tài chính thuộc/của khu vực” theo cách hiểu thứ hai Hồng Kông là ví dụ điển hình của RFC, trong khi Paris, Frankfurt thường được nhận diện như trung tâm tài chính của khu vực Châu Âu do phạm vi phục vụ nhu cầu tài chính của các nước láng giềng khá giới hạn Thứ ba là các trung tâm tài chính hải ngoại (OFC) thường cung cấp dịch vụ đặc thù như né thuế, chuyển lợi nhuận, quản lý tài sản và ngân hàng tư nhân cho các khách hàng không ở nước

đó Ví dụ điển hình là các quốc đảo Cayman Islands, Bermuda hay Thụy sĩ IMF (2007) định nghĩa “OFC là quốc gia hay vùng lãnh thổ cung cấp dịch vụ tài chính cho người không cư trú

ở quy mô lớn hơn rất nhiều so với quy mô và tài chính của chính nền kinh tế trong nước” Các cải cách theo hướng quy định quản lý giám sát nghiêm ngặt, đặc biệt sau giai đoạn khủng hoảng

2008 với việc thắt chặt các quy định điều tiết giám sát theo tiêu chuẩn chung, tuân thủ quy định

và tính minh bạch của các ngân hàng làm cho sức hấp dẫn của OFC giảm đáng kể và hiện giờ tập trung chủ yếu khai thác khía cạnh đặc thù về thuế Clark và các tác giả khác (2015) mở rộng định nghĩa theo đó tài chính hải ngoại là các hoạt động sổ sách kế toán và hoặc đăng ký lợi nhuận tài chính tại một khu vực tài phán nhằm tránh các ràng buộc chính sách ở các khu vực tài phán khác Jannick & al (IMF, 2018) chỉ ra 8 trung tâm OFC chính bao gồm Hà Lan,

5 Trong đó, một trung tâm tài chính có thể thuộc một hoặc nhiều loại hình khác nhau và các chuyên gia có thể không hoàn toàn thống nhất trong việc phân định trung tâm tài chính nào thuộc về nhóm nào và thứ hạng trong nhóm ra sao

Trang 19

Luxembourg, Hồng Kông, British Virgin Islands, Bermuda, Cayman Islands, Ireland, và Singapore tiếp nhận đến hơn 85% các giao dịch đầu tư trên thế giới vào các công ty tài chính chuyên biệt (Special Purpose Entities, SPE) được hình thành thường vì lý do thuế

Sau cùng là loại hình trung tâm tài chính nội địa (Domestic Financial Center - DFC) chủ yếu phục vụ khách hàng trong nước mình, mặc dù các hoạt động tài chính có thể xuyên biên giới (tiếp nhận dòng vốn từ nước ngoài chảy vào và làm dịch vụ thanh toán xuyên biên giới) Một cách phân loại trung tâm tài chính khác là dựa vào lĩnh vực tài chính theo mô hình thiên

về thị trường (market based) hay thiên về ngân hàng (bank based) Yếu tố này giúp lý giải quy

mô, các loại hình sản phẩm tài chính và triển vọng phát triển của mỗi trung tâm tài chính Với

mô hình tài chính thiên về thị trường, các thị trường chứng khoán, thị trường vốn và thị trường phái sinh phát triển kéo theo sự đa dạng của các sản phẩm tài chính kết nối với các thị trường quốc tế Trong khi đó, mô hình dựa vào ngân hàng thiên về phát triển các sản phẩm dịch vụ liên quan đến nợ, huy động và phân bổ vốn, quản lý rủi ro Ví dụ điển hình của trung tâm tài chính dựa vào thị trường là Anh, Mỹ trong khi Pháp, Đức, Nhật là đại diện tiêu biểu cho mô hình dựa vào ngân hàng Gần đây, sự phát triển nhanh chóng của Trung Quốc - vốn thiên về ngân hàng - cũng đưa thị trường tài chính nước này xuất hiện trong các bảng xếp hạng trung tâm tài chính quốc tế nhưng có thể thấy vị thế của các thị trường này đến từ yếu tố quy mô giao dịch (nội địa) chứ không phải yếu tố đa dạng sản phẩm và khách hàng quốc tế

Tóm lại, việc phân định thành các tên gọi khác nhau (IFC, RFC, OFC, GFC) không có tính tuyệt đối và tùy thuộc vào tính chất đối tượng phục vụ (nguồn cung và cầu dịch vụ tài chính đều là từ bên ngoài lãnh thổ hay khách hàng nội địa nhưng có quan hệ tài chính với các đối tác quốc tế, khách hàng quốc tế nhưng có hoạt động trong và ngoài lãnh thổ…), đặc thù sản phẩm tài chính, dịch vụ được cung cấp (sản phẩm nợ, vốn, phái sinh hay các dịch vụ tài chính khác…), phạm vi cung cấp (nội địa, khu vực, quốc tế hay toàn cầu)

Trong nghiên cứu này, khái niệm Trung tâm tài chính quốc tế được hiểu là một không gian đô thị tập hợp các dịch vụ tài chính, khách hàng và tổ chức cung cấp sản phẩm dịch vụ tài chính

đa dạng, phạm vi hoạt động và lưu chuyển dòng vốn vượt ra ngoài biên giới quốc gia, tuân theo chuẩn mực quốc tế, với quy mô và ảnh hưởng nhất định xét trên góc độ nghiệp vụ (chuyên môn hóa) hay cấp độ địa lý

2.1.2 Các sản phẩm dịch vụ tài chính cơ bản

Một hệ thống tài chính thông thường gồm bốn cấu phần căn bản: (i) các tổ chức tài chính (ii) các thị trường tài chính, (iii) các sản phẩm dịch vụ tài chính và (iv) cơ sở hạ tầng (bao gồm cả khung khổ pháp lý, điều tiết thị trường tài chính)

Về cơ bản, các thị trường tài chính có thể được phân loại thành các thị trường tiền tệ, thị trường vốn và các thị trường khác như thị trường hối đoái, thị trường hàng hóa, thị trường phái sinh, thị trường tái bảo hiểm (xem Hình 3) Cũng có thể phân loại thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp, thị trường nợ hay thị trường vốn cổ phần, các sở giao dịch hay các thị trường phi tập trung Giới ngân hàng đầu tư (investment banking) và các quỹ phòng hộ (hedge funds) thường chia thị trường tài chính theo công cụ như Thị trường trái phiếu, tiền tệ và hàng hóa

Trang 20

(fixed income, currency and commodities, FICC), thị trường chứng khoán (equity), thị trường hối đoái (foreign exchange), trong đó mỗi công cụ lại chia làm hai loại: tiền mặt/tài sản cơ sở (cash) và phái sinh (derivatives) Các thị trường tài chính càng đầy đủ, phát triển thì càng thu hút được nhiều sự hiện diện của nhiều các tổ chức tài chính lớn, uy tín (các ngân hàng, các tổ chức tín dụng phi ngân hàng, các công ty chứng khoán, công ty đầu tư, công ty quản lý quỹ, công ty bảo hiểm,…) và kéo theo đó là sự phong phú, đa dạng của các sản phẩm dịch vụ tài chính

Hình 3: Thị trường và công cụ tài chính

Nguồn: FSPPM, Bài giảng môn Tài chính phát triển (2016)

Báo cáo HPEC (2007) liệt kê mười một dịch vụ tài chính mà các trung tâm IFC có thể cung cấp Mức độ đa dạng của các sản phẩm dịch vụ cung cấp, quy mô giao dịch và đối tượng khách hàng sẽ là những yếu tố góp phần xác định vị thế của mỗi trung tâm tài chính Tựu trung lại có thể quy thành 10 nhóm dịch vụ, sản phẩm cơ bản như sau

Thứ nhất là phục vụ nhu cầu huy động vốn Khách hàng sẽ là các cá nhân, doanh nghiệp, chính phủ (và các cơ quan dưới chính phủ, chính quyền địa phương) Sản phẩm bao gồm các khoản

nợ, các khoản tương tự như nợ (trái phiếu, giấy nợ thương mại…), cổ phiếu và các sản phẩm tương đương cổ phiếu; các dịch vụ quản lý rủi ro đi kèm (các loại rủi ro tiền tệ, lãi suất, tín dụng, thị trường, hoạt động, chính trị…) Đối với nhóm dịch vụ sản phẩm này, việc phát triển

hệ thống ngân hàng và thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu với hệ thống các nhà môi giới (brokers), nhà tạo lập thị trường (market makers) mạnh, chuyên nghiệp là những điều kiện tiên quyết

Thứ hai là dịch vụ quản lý tài sản và đa dạng hóa danh mục đầu tư Loại hình này do các công

ty quản lý tài sản quốc gia, khu vực hay toàn cầu thực hiện, bao gồm quỹ hưu trí, các công ty

Trang 21

bảo hiểm, quỹ đầu tư, quỹ hỗ tương, các quỹ đầu tư quốc gia (Sovereign Wealth Fund, SWF), quỹ đầu tư tài sản hiến tặng (endowment funds)… Công cụ đầu tư của các quỹ này bao gồm

nợ, cổ phiếu, trái phiếu chuyển đổi…, với vị trí địa lý và lĩnh vực hoạt động khác nhau tạo thành các loại hình quỹ đa dạng

Thứ ba là dịch vụ quản lý tài sản cá nhân (Personal Wealth Management, PWM) dành cho khách hàng cá nhân có tài sản lớn Dịch vụ này thường được cung cấp bởi các IFC đã phát triển lâu đời có tiếng như Thụy Sĩ, Luxembourg, Monaco và Lichtenstein đối với các nước Châu

Âu, châu Phi, các OFC ở vùng Caribbean đối với Mỹ và châu Mỹ latin, Bahrain & Dubai cho Trung Đông, Singapore, Hồng Kông cho khu vực Châu Á Thái Bình Dương, Đông/Bắc Á Có thể thấy các IFC cung cấp dịch vụ này thường mang tính khu vực, phục vụ đối tượng khách hàng cư trú và khách hàng vùng lân cận nhiều hơn là mang tính toàn cầu Gần đây dịch vụ này càng có xu hướng địa phương hóa bởi các đơn vị quản lý tài sản (Wealth Management Unit) của ngân hàng trong nước và các công ty quản lý tài sản gia đình địa phương (local family office)

Thứ tư là liên quan đến nghiệp vụ kế toán, tư vấn tài chính doanh nghiệp bao gồm dịch vụ chuyển lợi nhuận (transfer pricing) và dịch vụ quản lý thuế toàn cầu, tối ưu hóa nợ thuế xuyên biên giới Dịch vụ chuyển lợi nhuận ở Việt Nam chúng ta quen gọi là “chuyển giá” và có cái nhìn ít thiện cảm với hoạt động này Tuy nhiên, trong thực tế phát triển kinh tế thương mại toàn cầu, các tập đoàn đa quốc gia ngày càng chiếm vị thế quan trọng thì dịch vụ chuyển lợi nhuận

là không thể tránh khỏi và cần được cân nhắc cẩn trọng Dịch vụ quản lý thuế và tối ưu hóa nợ thuế xuyên biên giới là cơ hội kinh doanh đối với các tổ chức tài chính trung gian, các công ty

kế toán, công ty luật trong bối cảnh hệ thống thuế trong nước chưa bắt kịp chuẩn mực thuế thấp trên toàn cầu

Thứ năm là hoạt động quản lý ngân quỹ doanh nghiệp toàn cầu/khu vực bao gồm huy động vốn, đầu tư, quản lý thanh khoản, quản lý tài sản nợ khớp thời hạn, quản trị rủi ro thông qua bảo hiểm và các sản phẩm phái sinh giao dịch dành cho đồng tiền, lãi suất, tín dụng và mức độ rủi ro chính trị

Thứ sáu là hoạt động quản trị rủi ro toàn cầu/khu vực và bảo hiểm/tái bảo hiểm Các hoạt động này bao gồm sản phẩm phái sinh phức tạp được tùy chỉnh và giao dịch trên các sàn chứng khoán như các hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn, hoán đổi, cap và collar…)

Thứ bảy là các giao dịch chứng khoán tài chính, hàng hóa, các hợp đồng phái sinh dựa trên các công cụ/chỉ số tài chính hoặc hàng hóa trên sàn chứng khoán Loại sản phẩm này đặc biệt đòi hỏi tính liên tục của thị trường bởi các nhà đầu tư có nhu cầu giao dịch 24/7 suốt năm trên mọi sàn giao dịch Điều này đòi hỏi trung tâm tài chính có nguồn nhân lực, công nghệ và hệ thống quản lý tiêu chuẩn thế giới, hiện đại và kết nối với toàn cầu Vị trí địa lý múi giờ cũng là một yếu tố quan trọng trong việc giữ vị thế “chạy tiếp sức” giữa các thị trường toàn cầu

Thứ tám là tài chính định lượng và nền tảng tài chính cho các dự án lớn, phức tạp như các dự

án năng lượng, dự án cơ sở hạ tầng cần vốn lớn từ các nguồn khác nhau (công, tư, trong nước, quốc tế…) Đi kèm hoạt động này này là mảng dịch vụ quản trị rủi ro

Trang 22

Thứ chín là hoạt động thu mua và sáp nhập toàn cầu/khu vực cùng với các công việc “back office” (dịch vụ thuê ngoài trong kinh doanh, dịch vụ thuê ngoài trong lĩnh vực phân tích) và công việc thẩm định chi tiết “due diligence”

Thứ mười là hoạt động gọi vốn cho các dự án hợp tác công tư toàn cầu/khu vực Đối với các nước đang phát triển có nhu cầu đầu tư xây dựng dự án cơ sở hạ tầng lớn và ngân sách nhà nước eo hẹp, hoạt động này đóng vai trò rất quan trọng

Ngoài ra, thị trường Hồng Kông (và một số nước châu Á) có khái niệm thị trường dành cho doanh nghiệp tăng trưởng (Growth Enterprise Market, GEM) tập trung vào các công ty tiềm năng tăng trưởng, công ty mới, doanh nghiệp vừa và nhỏ hoặc các công ty công nghệ với yêu cầu niêm yết không quá khắc nghiệt (trong tương quan với thị trường chính thức, Main Board,

là nơi niêm yết của các công ty lớn đã thiết lập lâu dài và đáp ứng được các yêu cầu khắt khe

về tài chính và giám sát.) Trên thị trường London cũng có phân khúc tương tự gọi là AIM (Alternative Investment market)

Cuộc cách mạng công nghệ 4.0, sự ra đời và phát triển của Fintech một mặt làm phong phú thêm rất nhiều các sản phẩm, dịch vụ tài chính thậm chí thay đổi cục diện các sản phẩm chính của thị trường và thay đổi công nghệ điều hành, quản trị, đặc tính của các tổ chức tài chính, thậm trí vai trò của tổ chức điều tiết, giám sát thị trường Điều này sẽ tác động đến sự hình thành, phát triển của các trung tâm tài chính tiềm năng và cũng như sự dịch chuyển vị thế của các trung tâm tài chính hiện hữu

2.1.3 Sự dịch chuyển và hình thành của các Trung tâm tài chính

Trong nhóm 5 trung tâm tài chính hàng đầu thế giới theo bảng xếp hạng dựa trên chỉ số GFCI của CDI và Yen năm 2019, có những trung tâm nổi danh từ lâu như London hay New York Bên cạnh đó, Singapore, Hong Kong và Thượng Hải là những trung tâm tài chính mới vươn lên hàng đầu vài thập kỷ gần đây Và ngược lại, Tokyo, Frankfurt, Paris và Milan vốn dĩ là những trung tâm tài chính hàng đầu thì đang lùi ngày một xa hơn trong bảng xếp hạng Điều này nói lên rằng có những yếu tố lịch sử, tự nhiên hay địa lý, góp phần hình thành các trung tâm tài chính quan trọng trên thế giới Nhưng cũng có nhiều yếu tố khác – những yếu tố ngày càng trở nên quan trọng – đến từ chiến lược phát triển của mỗi trung tâm, mỗi quốc gia

mà hình thành nên nhiều trung tâm tài chính quan trọng trong khu vực cũng như trên toàn cầu Kindleberger (1974) nghiên cứu sự hình thành các trung tâm tài chính từ góc nhìn so sánh lịch

sử kinh tế giữa Bắc Mỹ và Châu Âu, trong đó đề cập đến các nhân tố như vị trí của các thành phố và chức năng của nó, vai trò của tiền tệ và thị trường vốn trong tiến trình phát triển và tiến triển của hệ thống ngân hàng Có một số nơi, thủ đô chính trị trở thành trung tâm tài chính, nhưng ở nhiều nơi khác, trung tâm tài chính lại không nằm ở thủ đô chính trị Tác giả cũng đề cập đến xu hướng các cấp độ trung tâm tài chính, từ trung tâm mang tầm vóc quốc gia, đến trung tâm mang ý nghĩa khu vực và xu hướng hình thành trung tâm tài chính thế giới (World Financial Center)

Trang 23

Barton D (2009) nêu lên 4 sức mạnh cốt yếu xác định thành phố nào, đất nước nào sẽ có thể trở thành trung tâm tài chính thịnh vượng Theo đó, sức mạnh đầu tiên là tự do hóa, đồng nghĩa với mức độ phi điều tiết của thị trường, cho phép dòng vốn di chuyển tự do hơn Thứ hai là mức độ tiêu chuẩn hóa, tức là sự hội tụ dần dần theo chuẩn mực quốc tế về các quy tắc như quản trị doanh nghiệp, chuẩn mực kế toán, điều tiết giám sát, cho thấy rõ giá trị tương đối của các trung tâm tài chính cạnh tranh Thứ ba là tính lưu động (mobility), nghĩa là dòng vốn lưu chuyển dễ dàng giữa các điểm đến tài chính để thúc đẩy việc tìm kiếm lợi nhuận tốt nhất trong

số các thị trường toàn cầu rộng lớn, vượt ra khỏi các trung tâm truyền thống (New York và London) Sau cùng là yếu tố số hóa, tức là sự cải thiện về lượng thông tin và tốc độ truyền tải khắp thế giới cho phép vốn di chuyển rất nhanh chỉ với một thao tác trên máy tính Điều này đồng thời cho phép các nhà đầu tư sử dụng vốn hiệu quả hơn, di chuyển vốn đến những nơi sử dụng với năng suất và lợi nhuận cao nhất

Barton (2009) cũng chỉ ra 6 xu hướng khiến khu vực châu Á trở nên tiềm năng và gia tăng vị thế vượt trội trên thị trường tài chính quốc tế những năm gần đây Thứ nhất chính là sự xuất hiện của châu Á như một cường quốc kinh tế toàn cầu Thứ hai là sự gia tăng của một tầng lớp người tiêu dùng châu Á mới Thứ ba là sự gia tăng của thương mại và hội nhập nội vùng châu

Á Thứ 4 là sự xuất hiện trở lại của Con đường tơ lụa lịch sử vốn kết nối các trung tâm thương mại lới của châu Á và Trung Đông Thứ năm là sự tiến triển của cấu trúc tài chính và sở hữu doanh nghiệp (hệ thống tài chính chuyển từ ngân hàng sang thị trường vốn thống trị) Và sau cùng là triển vọng bùng nổ các thương vụ mua bán sáp nhập ở Châu Á, trong hầu hết các lĩnh vực đi cùng với xu hướng hợp nhất ngành

Trong nghiên cứu “Các thủ phủ của vốn” (Capitals of Capital), Cassis (2010) tiếp cận theo góc nhìn so sánh lịch sử phát triển năng động của các trung tâm tài chính mà tác giả đánh giá là thủ phủ của vốn gồm New York, London, Frankfurt, Paris, Zurich, Amsterdam, Tokyo, Hongkong, Singapore Đặt trong bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa, nghiên cứu chỉ ra sự thăng trầm, đổi ngôi của các trung tâm tài chính quốc tế này theo dòng thời gian từ năm 1780 đến năm 2009 Mười năm sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và trong bối cảnh Brexit, Cassis cùng nhóm tác giả (2018) tập hợp các nghiên cứu biên soạn thành cuốn sách “Các trung tâm tài chính quốc tế sau khủng hoảng tài chính toàn cầu và Brexit” theo đó các tác giả cho rằng vị thế của các trung tâm tài chính khá ổn định và phụ thuộc yếu tố quan trọng nhất là sức mạnh, tầm ảnh hưởng, độ lớn của nền kinh tế nơi trung tâm tài chính phục vụ

Theo Cassis và các tác giả (2018), trước thời điểm khủng hoảng 8 trung tâm tài chính hàng đầu thế giới gồm New York, London, Tokyo, Frankfurt, Paris, Hong Kong, Singapore và Zurich (cùng Geneva) Mười năm sau, nhóm dẫn đầu cơ bản vẫn là các thành phố này nhưng có sự thay đổi thứ hạng: Hong Kong và Singapore đã thay vị trí của Frankfurt, Paris và thậm chí Tokyo Đồng thời xuất hiện gương mặt mới là Thượng Hải (và Bắc Kinh) Có nhiều quan điểm

về cách xếp hạng các trung tâm tài chính Theo Cassis (2006), cho tới những năm 1980s, vị thế các trung tâm tài chính dựa chủ yếu vào các chỉ số định tính và định lượng về các hoạt động tài chính Reed (1981) thử đưa ra xếp hạng đầu tiên dựa vào các chỉ số như số lượng ngân hàng nước ngoài và đa quốc gia có mặt ở trung tâm đó, lượng tài sản và nợ nước ngoài trung tâm nắm giữ GFCI từ năm 2007 đưa ra bộ chỉ số nhấn mạnh yếu tố cạnh tranh

Trang 24

Các trung tâm tài chính Châu Á hiện đang ở trong nhóm 10 trung tâm hàng đầu theo chỉ số GFCI đã và vẫn luôn tìm mọi cách để duy trì và hướng đến vị thế cao hơn trong nền tài chính toàn cầu Wong và Adams (2015) nghiên cứu các yếu tố đánh giá vị thế trung tâm tài chính Hong Kong và Thượng Hải năm 2005 so với xếp hạng theo GFCI năm 2014 (bộ chỉ số hình thành từ năm 2007) và chỉ ra rằng những yếu tố thành công quan trọng của cả hai thành phố vào năm 2005 vẫn là những yếu tố rất quan trọng 10 năm sau đó, tuy nhiên thứ hạng có thay đổi Hơn thế, một số yếu tố được coi là cốt yếu cũng thay đổi khi xem xét tới các yếu tố thành công trong tương lai Bhattacharya (2011) nghiên cứu tính khả thi của việc hình thành trung tâm tài chính quốc tế tại Thượng Hải, dẫu tại thời điểm đó Thượng Hải đã ở vị trí số 5 trong bảng xếp hạng của CDI & Yen Tương tự, Mai, Liu và Yang (2012), Woo (2016) cũng tiếp tục nghiên cứu và so sánh vị thế của Thượng Hải, Singapore với các trung tâm tài chính quốc tế để xem xét các yếu tố cạnh tranh, xu hướng phát triển, nâng cao vị thế của mỗi nơi Trước bối cảnh Brexit, có thêm nhiều nghiên cứu về lĩnh vực này để nhìn nhận tiềm năng các trung tâm tài chính hiện hữu có thể soán ngôi đầu bảng của London

Tóm lại, bên cạnh những yếu tố mang tính lịch sử và điều kiện tự nhiên thì sự hình thành, vị thế và vai trò của các trung tâm tài chính luôn có sự cạnh tranh và thay đổi, đòi hỏi quyết tâm, chiến lược bài bản của mỗi thành phố muốn trở thành trung tâm tài chính Sự phát triển mạnh

mẽ của trung tâm tài chính Singapore, Thượng Hải, Istanbul hay Dubai trong vài thập kỷ gần đây là những bằng chứng rõ nét về vai trò tiên quyết của định hướng chiến lược và chính sách của chính phủ các nước này trong việc hình thành và tạo dựng những điều kiện thuận lợi cho việc gia tăng vị thế của các trung tâm tài chính này

Trong các giai đoạn tiếp sau, Đề án sẽ xem xét các nghiên cứu đã có về sự hình thành, dịch chuyển, thăng trầm của các trung tâm tài chính thế giới để lọc ra xu hướng, những yếu tố nền tảng khách quan và chủ quan tối quan trọng, gợi mở triển vọng cũng như những thách thức cho

nỗ lực xây dựng TP HCM trở thành trung tâm tài chính quốc tế

2.2 Vai trò của Trung tâm tài chính

Như đã nêu trong Phần 2.1, thị trường tài chính và các tổ chức trung gian tài chính ngân hàng, công ty bảo hiểm, quỹ lương hưu… có chức năng cơ bản là kết nối những người có tiền nhàn rỗi với những người cần vốn Hình 4 dưới đây thể hiện chức năng cơ bản này của thị trường tài chính

Bốn chức năng cơ bản của hệ thống tài chính là (i) huy động tiết kiệm, (ii) phân bổ vốn, (iii) chuyển giao và phân bổ rủi ro, (iv) giám sát quản trị (FSPPM, 2016) Không phải ai cũng có khả năng và cơ hội sử dụng vốn hiệu quả như nhau Thêm nữa, mỗi cá nhân, tổ chức có thể có nhu cầu sử dụng vốn vào các thời điểm khác nhau, ngay lập tức hoặc trong tương lai Thị trường tài chính giúp huy động nguồn tiền tiết kiệm từ các gia đình, doanh nghiệp, chính phủ và tổ chức, cá nhân nước ngoài để chuyển đến những người có nhu cầu, cơ hội và năng lực sử dụng hiệu quả hơn Theo nghĩa đó, hệ thống tài chính đã thực hiện chức năng huy động tiết kiệm và phân bổ vốn cho nền kinh tế, cả trong không gian và theo thời gian, giúp nâng cao năng suất

và hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế Với các sản phẩm và dịch vụ tài chính đa dạng, hệ thống

Trang 25

tài chính giúp các cá nhân, tổ chức chuyển giao và phân bổ rủi ro hiệu quả hơn Khi được vận hành theo chuẩn mực quốc tế với các cơ chế điều tiết giám sát chế tài hữu hiệu, hệ thống tài chính đóng vai trò quan trọng trong việc giám sát quản trị doanh nghiệp, giám sát người sử dụng vốn chặt chẽ hơn, với chi phí giao dịch thấp hơn

Hình 4: Sự lưu chuyển của dòng vốn qua hệ thống tài chính

Nguồn: Kinh tế học về tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính, Mishkin (2011)

Mishkin (2011) nhận xét rằng các thị trường tài chính và những tổ chức trung gian tài chính hoạt đông tốt là rất cần thiết để cải thiện đời sống kinh tế và là cốt lõi cho sức mạnh kinh tế Rất nhiều nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (2001) cũng như của các học giả quốc tế như King và Levine (1993), Levine và Zervos (1998), Levine, Loayza & Beck (2000), Guiso, Sapienza, và Zingales (2002), Levine và Demirguc-Kunt (2018), Levine và Beck (2018) đã chỉ

ra mối quan hệ nhân quả giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế Hình 5 minh họa tổng quan mối quan hệ này Theo đó, một hệ thống tài chính hoạt động hiệu quả sẽ giúp phát triển tài chính theo chiều sâu, tăng tích lũy vốn (K), đồng thời sàng lọc và hỗ trợ các dự án hiệu quả giúp tăng năng suất (f) Kết hợp hai yếu tố này sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo hướng phát triển hiện đại hơn (không chỉ dựa vào lao động)

Hình 5: Mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế

Nguồn: FSPPM, bài giảng môn Tài chính phát triển (2016)

Trang 26

Wójcik D., Cojoianu, Theodor F (2018), Hatayama, M (2019) và Tyson, J E (2019) chỉ ra những ảnh hưởng, vai trò quan trọng của các trung tâm tài chính với sự phát triển của nền kinh

tế bản địa Theo Wójcik D (2018), việc phát triển trung tâm tài chính đi kèm với sự phát triển

cả hệ sinh thái gồm các dịch vụ kinh doanh, luật sư, kế toán, marketing, quan hệ công chúng,

tư vấn doanh nghiệp, nhân sự giúp tạo ra nhiều công ăn việc làm mới với mức thu nhập cao (tăng năng suất lao động) Bảng 4 dưới đây cho thấy sự gia tăng và tỷ trọng đáng kể việc làm trong ngành dịch vụ tài chính doanh nghiệp (Financial and Business Services, FABS) cũng như đóng góp quan trọng của ngành vào giá trị gia tăng của nền kinh tế tại các trung tâm tài chính lớn trên thế giới

Bảng 4: Lĩnh vực dịch vụ tài chính và kinh doanh (FABS) tại một số thành phố

Chú thích: Khu vực tài chính kinh doanh bao gồm: hoạt động tài chính và bảo hiểm, bất động sản, hoạt động chuyên môn, khoa học và kỹ thuật, và dịch vụ hỗ trợ và hành chính

GVA – Giá trị gia tăng gộp; tăng trưởng GVA được đo bằng giá trị thực, sau khi tính lạm phát ở quốc gia tương ứng

Các thành phố được xác định là vùng đô thị

Nguồn: Wójcik D., Cojoianu, Theodor F (2018)

Tyson (2019) ước tính rằng nhờ các IFC mà khoảng 1,6 ngàn tỷ đô la được bổ sung thêm cho các nước đang phát triển trong giai đoạn từ 2007 đến 2014, giúp các nước này tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thêm 400 tỷ đô là và doanh thu thuế thêm 100 tỷ đô la Hơn thế, các khoản này cơ bản được đầu tư cho cơ sở hạ tầng và dịch vụ tài chính, đều là những lĩnh vực quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế dung hợp (inclusive economic growth)

Hatayama, M (2019) cũng cung cấp các bằng chứng thực nghiệm khẳng định vai trò của IFC

và RFC đối với các nước đang phát triển trong việc tạo điều kiện cho dòng vốn quốc tế đến các nước này Nghiên cứu tập trung vào các nước thu nhập thấp và trung bình khu vực châu Phi và một số nước châu Á Kết quả nhìn chung cho thấy các trung tâm tài chính góp phần tăng cường đầu tư của cả khu vực công và tư thông qua 3 con đường: huy động đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), tạo điều kiện cho các quỹ đầu tư tư nhân (private equity funds) và các quy trung gian từ các tổ chức tài chính phát triển (DFIs)

Trang 27

Tóm lại, hệ thống tài chính nói chung và các trung tâm tài chính quốc tế nói riêng đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, sự giàu có và thịnh vượng của các quốc gia cũng như các khu vực tiếp cận được sản phẩm, dịch vụ tài chính này Tuy nhiên, cả nền tảng lý thuyết lẫn kinh nghiệm thực tiễn đều cho thấy mối quan hệ giữa tài chính và phát triển không chỉ có một màu hồng FSPPM (2016) tóm lược ba vấn đề cần lưu ý về tính mong manh của tài chính, bao gồm rủi ro thanh khoản, hệ quả của mối quan hệ ủy quyền – thừa hành và hệ thống giám sát và điều tiết Thứ nhất, sự chuyển đổi kỳ hạn và thanh khoản từ các khoản tiết kiệm ngắn hạn và các khoản tiền gửi thành các khoản đầu tư dài hạn là cốt lõi của những tác động tích cực của hệ thống tài chính lên nền kinh tế thực, nhưng nó lại làm cho hệ thống dễ bị những cú sốc, với khả năng mất thanh khoản và/hay đổ vỡ ngân hàng Thứ hai, tình trạng bất đối xứng thông tin và tiếp theo là hệ quả của vấn đề ủy quyền giữa người tiết kiệm và doanh nghiệp, mà các ngân hàng có vai trò làm giảm bớt, cũng có thể biến thành một nguồn gây đổ vỡ do xung đột mang tính ủy quyền giữa người gửi tiền và ngân hàng Sau cùng, khó khăn trong giám sát hoạt động, sự không rõ ràng trong các báo cáo tài chính của ngân hàng và nhiều chủ nợ lớn (so với các công ty trong nền kinh tế thực) làm suy yếu kỷ luật thị trường và khuyến khích các ngân hàng chấp nhận quá nhiều rủi ro, cuối cùng dẫn đến tình trạng dễ bị tổn thương của hệ thống tài chính

2.3 Các nhân tố cần thiết để hình thành Trung tâm tài chính quốc tế

Mặc dù các nghiên cứu có thể đề cập đến nhiều yếu tố và đánh giá tầm quan trọng của mỗi yếu

tố khác nhau, nhưng tựu trung lại vẫn có những yếu tố được thống nhất cao Nghiên cứu của Karan & Kayral (2012) lược khảo rất nhiều các nghiên cứu học thuật và thực nghiệm về các yếu tố cơ bản của trung tâm tài chính, từ đó rút ra hai mươi điểm đặc trưng của các IFC trong bảng 5 dưới đây

Bảng 5: Tổng hợp các đặc trưng cơ bản của các Trung tâm tài chính quốc tế

Ổn định kinh tế và chính trị Chi phí tiến hành hoạt động kinh doanh Năng lực của thị trường dịch vụ tài chính Môi trường tài chính cạnh tranh

Số lượng lao động kỹ năng, chuyên gia Tiềm năng tạo lợi nhuận tài chính

Sự sẵn sàng cho các dịch vụ chuyên ngành Hệ thống thuế có lợi thế cạnh tranh Quy mô của thị trường bản địa Các chính sách phù hợp cho tiếp thị

Danh tiếng và uy tín của trung tâm Thể chế điều hành chịu trách nhiệm về mặt tổ chức Mức độ chủ động của quy định pháp lý Lối sống quốc tế có tiêu chuẩn cao

Môi trường pháp luật theo quy phạm quốc tế Khả năng tiếp cận các dịch vụ bổ trợ Mức độ dễ dàng xây dựng và quản trị doanh

nghiệp trên quy mô toàn cầu

Cơ sở hạ tầng phục vụ thông tin truyền thông

& giao thông thuận tiện hiệu quả

Nguồn: Karan & Kayral (2012)

Trang 28

Cassis (2018) đánh giá những yếu tố chính của một trung tâm tài chính là tính thanh khoản và hiệu quả của các thị trường, sự đa dạng và tính bổ sung cho nhau của các hoạt động tài chính,

sự sẵn có của các dịch vụ chuyên môn, chuyên gia công nghệ, nhân sự kỹ năng và tiếp cận thông tin chất lượng cao Nhưng trên hết, theo Cassis (2018), những yếu tố quan trọng nhất, quyết định sự hình thành và vị thế của IFC là sức mạnh, tầm ảnh hưởng, độ lớn của nền kinh

tế nơi trung tâm tài chính phục vụ

Như phân tích ở phần 2.1, Barton D (2009) nêu lên 4 sức mạnh cốt yếu xác định thành phố nào, đất nước nào sẽ có thể trở thành trung tâm tài chính thịnh vượng gồm tự do hóa, mức độ tiêu chuẩn hóa, tính lưu động và số hóa

Bên cạnh đó, các yếu tố tự nhiên như vị trí địa lý, múi giờ, quy mô thị trường (dân số và nền kinh tế) cũng là những điểm quan trọng có thể trở thành lợi thế trong việc hình thành trung tâm tài chính Phụ lục 2.3 sẽ tóm tắt các đặc thù cơ bản của 10 trung tâm tài chính hàng đầu thế giới, trong đó có 4 trung tâm nằm ở châu Á gồm HongKong, Singapore, Sydney và Tokyo

Đề án sẽ dựa vào lược khảo các nghiên cứu ở phần 2.1 để lọc ra các yếu tố cơ bản này Bộ chỉ

số GFCI hình thành từ năm 2007 và đã ra bảng xếp hạng thứ 25 có thể được coi là một tham chiếu quan trọng trên thị trường Độ tin cậy của bảng xếp hạng này có thể vẫn gây tranh luận bởi việc đánh giá dựa vào các thang đo lường mức độ cạnh tranh của thị trường (yếu tố có tính thay đổi cao) chứ không chỉ dựa vào quy mô giao dịch tài chính Tuy nhiên, chính khung phân tích yếu tố cạnh tranh của GFCI lại rất phù hợp để phân tích tiềm năng và định hướng chính sách cho các thị trường tài chính nhỏ, mới nổi và đang mong muốn chuyển mình

Theo khung phân tích đánh giá xếp hạng vị thế trung tâm tài chính Global Financial Centres Index (GFCI)6, năm khía cạnh cốt yếu để đánh giá một trung tâm tài chính bao gồm:

Trang 29

Hình 6: Năm khía cạnh cốt yếu để đánh giá một trung tâm tài chính

Nguồn: GFCI

2.3.1 Vốn con người

Trong bất kỳ lĩnh vực nào thì vốn con người cũng đóng vai trò quan trọng Đối với trung tâm tài chính, nguồn nhân sự kỹ năng, chất lượng cao đặc biệt thiết yếu Bên cạnh số lượng và chất lượng của nhân sự, tính linh hoạt của thị trường lao động cũng là một điểm cần lưu ý Đây cũng

là yếu điểm của trung tâm tài chính Paris so với London hay New York Ngoài ra, năng lực tiếng Anh cũng mang lại lợi điểm cho sự hình thành của một số trung tâm tài chính quốc tế

Để có thể cung cấp nguồn nhân lực có kỹ năng và chất lượng cao, sự phát triển của hệ thống giáo dục là điều không thể thiếu Đồng thời, chất lượng môi trường sống cũng là một yếu tố ảnh hưởng không nhỏ tới việc thu hút và lưu giữ vốn con người cho các trung tâm tài chính Cũng cần lưu ý một trung tâm tài chính không chỉ yêu cầu về vốn con người trong lĩnh vực tài chính mà cả các lĩnh vực phụ trợ các dịch vụ tài chính như trọng tài, luật sư, kế toán, kiểm toán

2.3.2 Môi trường kinh doanh

Để thu hút được các tổ chức, công ty, dịch vụ tài chính, hiển nhiên môi trường kinh doanh phải

có tính cạnh tranh cao Trước tiên phải kể đến tính ổn định chính trị của nơi muốn hình thành trung tâm tài chính Không thể hình thành trung tâm tài chính ở những nơi chiến tranh, xung đột chính trị xảy ra thường xuyên bởi có thể dễ dàng nhận thấy điều này ảnh hưởng rất lớn tới

Trang 30

rủi ro kinh doanh và cả chất lượng sống Tuy nhiên, khi có nền chính trị ổn định nhưng thiếu thượng tôn pháp luật, môi trường thể chế và điều tiết không thuận lợi thì rủi ro kinh doanh cũng vẫn rất lớn

Bên cạnh những yếu tố cần thiết trên, môi trường kinh tế vĩ mô và các chính sách thuế, phí cạnh tranh là những điểm quan trọng để có thể thu hút các tổ chức, công ty tài chính, các dịch

vụ hỗ trợ cũng như nhân sự của ngành Các tổ chức cũng như các nhà đầu tư tài chính đặc biệt quan tâm tới sự tối giảm chi phí, cả về thời gian và tiền bạc Hệ thống tòa án hiệu quả ở các nước theo truyền thống thông luật (common law) là một ưu thế lớn với rất nhiều trung tâm tài chính quốc tế

Tóm lại, về môi trường kinh doanh, những yếu tố đặc biệt được lưu tâm gồm sự ổn định chính trị và thượng tôn pháp luật, môi trường thể chế và điều tiết, môi trường kinh tế vĩ mô và tính cạnh tranh về thuế, phí

2.3.3 Cơ sở hạ tầng

Các trung tâm tài chính thường được nhận diện bởi các tòa nhà chọc trời, mật độ người làm việc trong khu vực CBD cao Điều này đòi hỏi không chỉ phát triển về mặt xây dựng cao ốc văn phòng nơi làm việc, khách sạn, nhà ở cho các đối tượng lao động ngắn hạn, dài hạn ở trung tâm tài chính mà còn phải lưu tâm phát triển giao thông đô thị, hạn chế tối đa ùn tắc không chỉ trong khu vực làm việc mà cả kết nối với nơi tập trung cư dân Hệ thống kết nối liên vùng, sân bay kết nối quốc tế… cũng là những yếu tố liên quan trực tiếp về khía cạnh cơ sở hạ tầng giao thông

Bên cạnh cơ sở hạ tầng cứng, trung tâm tài chính đòi hỏi sự phát triển vượt bậc của cơ sở hạ tầng mềm, công nghệ thông tin, an toàn mạng…Các giải pháp công nghệ hỗ trợ dịch vụ tài chính, đường truyền internet tốc độ cao, băng thông rộng, mức độ ổn định cao… đều là những yếu tố quan trọng đối với các trung tâm tài chính Tháng 8/2013, sự cố kỹ thuật làm gián đoạn giao dịch 3h trên thị trường Nasdaq đã gây ảnh hưởng rất lớn cả về uy tín lẫn tài chính với sàn giao dịch này7 Sự phát triển của Fintech khiến các công ty tài chính buộc phải đầu tư rất nhiều vào công nghệ thông tin Theo dự báo của công ty dữ liệu quốc tế IDC (2018), các doanh nghiệp dịch vụ tài chính trên toàn thế giới sẽ chi tiêu khoảng 500 tỷ đô vào năm 2021 cho công nghệ thông tin (IT), so với mức 440 tỷ đô năm 2018

Về cơ sở hạ tầng mềm, hệ thống luật pháp và các quy định điều tiết tài chính đóng vai trò then chốt Về hệ thống luật pháp, các đạo luật về quyền sở hữu và bảo vệ quyền sở hữu, phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng, quy định về lao động nước ngoài v.v thường trở thành những “rào cản kỹ thuật” đối với việc hình thành và phát triển các trung tâm tài chính thực sự

có tính quốc tế Về các quy định điều tiết tài chính, khả năng chuyển đổi của đồng nội tệ, tự do

7 https://dealbook.nytimes.com/2013/08/22/nasdaq-market-halts-trading/

Trang 31

hóa tài khoản vốn, quy định về chuyển lợi nhuận về nước v.v có vai trò vô cùng quan trọng đối với tính hấp dẫn của trung tâm tài chính đối với các nhà đầu tư quốc tế

2.3.4 Phát triển ngành

“Đất lành chim đậu” đồng thời “buôn có bạn, bán có phường”, các tổ chức, công ty tài chính

có tính liên kết cao, quan hệ tương tác nhiều, do đó sẽ có xu hướng hội tụ về nơi khu vực hoạt động, dịch vụ tài chính phát triển Độ sâu và chiều rộng của cụm ngành công nghiệp tài chính

là thang đo quan trọng để đánh giá yếu tố này Bên cạnh đó, nguồn vốn dồi dào và tính thanh khoản của thị trường cũng là những yếu tố được đặc biệt lưu tâm Sau cùng, sự phát triển (hiện tại và tiềm năng) của nền kinh tế cũng góp phần tạo sức hút cho trung tâm tài chính

2.3.5 Danh tiếng

Danh tiếng là một yếu tố vừa mang tính lịch sử, vừa đòi hỏi phải liên tục xây dựng đối với các trung tâm tài chính Song song với việc xây dựng bốn yếu tố đầu, việc thúc đẩy “tiếng lành đồn xa” đóng vai trò không kém phần quan trọng trong việc nâng cao vị thế, nhận diện thương hiệu của trung tâm tài chính Sức lôi cuốn của mỗi trung tâm tài chính đến từ sự “thành danh”, mức

độ đổi mới sáng tạo, sự cuốn hút và đa dạng văn hóa trong sinh hoạt và lối sống Các trung tâm tài chính luôn cần phải định vị, so sánh mình với các trung tâm khác để xác định chiến lược cần thiết nhằm tăng cường sức hút của mình

Trang 32

3 Vị thế so sánh của TP HCM và quốc tế 3.1 Các yếu tố về năng lực cạnh tranh

Trên bình diện quốc tế, khi so sánh với các đô thị khác trong vùng trên hai tiêu chí quan trọng

là sức hút thương mại (commercial attraction) và quy mô kinh tế (economic size) thì Hà Nội

và TP HCM đều đang đứng cuối bảng trong số 12 thành phố trong khu vực – nhóm nên được xem là đối thủ cạnh tranh, đồng thời là mục tiêu hướng tới của Thành phố (xem Hình 7) Tuy nhiên, xét giữa TP HCM và Hà Nội thì cả hai tiêu chí TP HCM đều vượt trội với thứ hạng tương ứng là 55 và 128 so với 102 và 235

Hình 7: Xếp hạng thu hút thương mại và quy mô kinh tế một số TP trong khu vực (2018)

Ghi chú: Chỉ số này được JLL tính trên tổng số 300 thành phố khắp thế giới Nguồn: http://cities-research.jll.com/cities-research/Documents/cities_research/Comparison/cities- microsite/bubble/Clustering.html

Tương tự như vậy, báo cáo nhan đề “Các thành phố toàn cầu” (Global Cities) của A.T Kerney năm 2018 cũng cho thấy TP HCM đứng thứ 80 – thấp nhất trong số các thành phố cạnh tranh trong khu vực8 Không những thế, với những vấn đề cố hữu ngày càng trở nên nghiêm trọng, A.T Kerney cho rằng xếp hạng của TP HCM sẽ giảm từ mức 80 hiện nay xuống 83 trong tương lai Tuy nhiên, báo cáo này cũng mở ra hy vọng cho TP HCM khi triển vọng của rất nhiều thành phố trong khu vực được dự báo giảm đi đáng kể như Jakarta, Mumbai, Thượng Hải, Bangkok, Hồng Kông (Hình 8)

8 Chỉ số này đánh giá kết quả hoạt động của các thành phố dựa trên 5 phương diện, bao gồm hoạt động kinh doanh, vốn con người, trao đổi thông tin, trải nghiệm văn hóa, và sự tham gia chính trị

Trang 33

Hình 8: Xếp hạng và triển vọng của 120 thành phố toàn cầu (2018)

Nguồn: A.T Kerney, Global Cities 2018

Xét trên bình diện quốc gia, Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu (2018) cho thấy Việt Nam có lợi thế về quy mô thị trường (đứng thứ 29/140), hệ thống tài chính đứng ở vị trí thứ 59/140 hứa hẹn triển vọng nhưng chưa thật phát triển bởi nhiều nguyên nhân, trong đó nổi bật là thị trường sản phẩm còn yếu (thứ 102), môi trường kinh doanh kém năng động (thứ 101) với các thể chế yếu kém (thứ 94), thị trường lao động kém (thứ 90), với kỹ năng lao động thấp (thứ 97), khả năng đổi mới sáng tạo hạn chế (thứ 82), khả năng áp dụng công nghệ ICT thấp (thứ 95) (Hình 9)

Hình 9: Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu của Việt Nam (2018)

Nguồn: Global Competitiveness Report, 2018

Trang 34

Nhìn chung các chỉ số cấu phần của Việt Nam đều thấp hơn đáng kể so với trung bình của khu vực Đông Á Thái Bình Dương Xếp hạng tổng thể, Việt Nam đứng khá xa phía sau các nước láng giềng trong khu vực Singapore (thứ 2), Malaysia (thứ 25), Thái Lan (thứ 38), Indonesia (thứ 45) và Philippines (thứ 56) (Hình 10)

Hình 10: So sánh năng lực cạnh tranh toàn cầu của Việt Nam với các nước Châu Á (2018)

Nguồn: Global Competitiveness Report, 2018

Tuy nhiên, trong bối cảnh triển vọng thị trường có nhiều biến động, với những lợi thế tự nhiên sẵn có, nếu Việt Nam quyết tâm đổi mới, thay đổi thể chế thì năng lực cạnh tranh và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế có thể có nhiều bước tiến vượt bậc Đơn cử ví dụ, mới đây Abivin, một startup Việt Nam, đã vượt qua nhiều doanh nghiệp đến từ hơn 40 quốc gia trên thế giới, giành giải cao nhất tại cuộc thi Startup World Cup 20199 Đây là cuộc thi về khởi nghiệp hàng đầu thế giới, quy tụ các doanh nghiệp khởi nghiệp trên khắp thế giới, bao gồm cả các nước phát triển và có danh tiếng trong lĩnh vực công nghệ như Nhật, Mỹ, Canada, Ấn Độ, Trung Quốc, Singapore, Hàn Quốc… Điều này cho thấy điểm tích cực của Việt Nam về đội ngũ công nghệ thông tin tiềm năng, chất lượng cao Các doanh nghiệp khởi nghiệp Việt Nam có tiếng vang quốc tế vừa tạo sức hút để các nguồn vốn đầu tư mạo hiểm (venture capital, VC) chảy vào, vừa tạo thành nhân tố trực tiếp thúc đẩy sự phát triển thị trường tài chính trong nước Tuy nhiên, nếu Việt Nam không có những thay đổi căn bản về cơ chế, thể chế tạo dựng môi trường kinh doanh và thị trường tài chính phát triển để dung dưỡng doanh nghiệp trong nước và thu hút đầu

tư nước ngoài thì Abivin cũng có nguy cơ như Flappy Bird của Nguyễn Hà Đông trước đây,

có thể sẽ không phát triển được hết tiềm năng hoặc phải dời khỏi Việt Nam để tìm cơ hội phát triển tiếp

Đổi mới trên diện rộng ở quy mô toàn quốc không tránh khỏi sức ỳ cố hữu, do đó, TP HCM và Vùng TP HCM cần tận dụng những lợi thế tự nhiên (quy mô thị trường, vị trí địa lý) và nỗ lực

9 20190518233043959.htm, truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2019

Trang 35

https://tuoitre.vn/startup-viet-lan-dau-gianh-giai-thuong-trieu-do-o-dau-truong-quoc-te-cải thiện chính sách để tăng cường năng lực cạnh tranh, gia tăng vị thế so sánh với các thành phố khác trên trường quốc tế

3.2 Thị trường tài chính

Hệ thống tài chính Việt Nam nhìn chung vẫn dựa chủ yếu vào hệ thống ngân hàng Theo Báo cáo của Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc Gia (2018), đến cuối năm 2018, tổng tài sản của các định chế tài chính Việt Nam ước đạt 203% GDP, trong đó tỷ trọng tài sản của các tổ chức tín dụng là 95,5% Các Doanh nghiệp bảo hiểm chỉ chiếm 3,4%, các công ty chứng khoán và công

ty quản lý quỹ chiếm 1,1%

Với cấu trúc thị trường như vậy, vai trò cung ứng vốn cho nền kinh tế chủ yếu vẫn thông qua

hệ thống tín dụng ngân hàng, trong khi vốn từ thị trường cho nền kinh tế theo giá trị phát hành thực tế trong năm 2018 vào khoảng 14%

Hình 11: So sánh Quy mô thị trường chứng khoán (% GDP) của Việt Nam và quốc tế

Nguồn: WDI (2017), truy cập tại: http://wdi.worldbank.org/table/5.4#

Với những diễn biến tích cực của thị trường từ cuối 2017, giá trị vốn hóa thị trường cổ phiếu Việt Nam đạt khoảng 75% GDP cuối năm 2018 trong khi quy mô thị trường trái phiếu chính phủ khoảng 27% GDP Nếu so với các nước trong khu vực theo dữ liệu của WDI (2017), quy

mô tương đối của thị trường cổ phiếu Việt Nam nhỏ hơn hầu hết các nước có thị trường tài

Trang 36

chính phát triển (Hình 11) Tuy nhiên nếu sử dụng con số 75% GDP thì Việt Nam ở mức trung bình của vùng châu Âu và Trung Á Bên cạnh đó, tiềm năng phát triển của thị trường cổ phiếu

ở Việt Nam khá tốt với xu hướng thúc đẩy cổ phần hóa và thoái vốn doanh nghiệp nhà nước, các thương vụ mua bán sáp nhập (M&A) trong nước cũng như có sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh và triển vọng mở ra trong lĩnh vực tài chính ngân hàng

Theo Báo cáo thường niên 2018 của Sở giao dịch chứng khoán Thành phố HCM, tính đến 31/12/2018, HOSE có tổng cộng 426 mã chứng khoán niêm yết, trong đó có 373 mã cổ phiếu,

48 trái phiếu công ty và chính quyền địa phương, 2 chứng chỉ quỹ đóng, 1 chứng chỉ quỹ đầu

tư bất động sản (REIT) và 2 chứng chỉ quỹ ETF (thực chất là quĩ mở niêm yết) Vốn hóa thị trường tại HOSE đạt 2,87 triệu tỷ đồng, chiếm trên 90% giá trị vốn hóa thị trường cổ phiếu niêm yết cả nước, tương đương gần 52% GDP năm 2018 Một yếu tố tích cực khác là tháng 09/2018, tổ chức FTSE Russel đã đưa thị trường chứng khoán Việt Nam vào danh sách để xem xét nâng hạng từ Thị trường cận biên lên thành thị trường Mới nổi thứ cấp (Secondary Emerging Market) Như vậy ngoài sản phẩm truyền thống là cổ phiếu, thị trường chứng khoán

TP HCM có thêm các sản phẩm như trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu chính quyền địa phương, ETF, bắt đầu có giao dịch chứng quyền có đảm bảo từ đầu 2018 và giao dịch phái sinh

từ 2017 Tuy nhiên, quy mô thị trường còn rất nhỏ Đơn cử ví dụ dư nợ trái phiếu doanh nghiệp cuối 2018 chỉ đạt khoảng 7% GDP, cao hơn Indonesia (2,9% GDP) và Philippines (6,5% GDP) nhưng thấp hơn nhiều mức bình quân các nước trong khu vực (21% GDP) (Báo cáo của Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc Gia, 2018)

Xét theo quy mô tuyệt đối (giá trị vốn hóa tính theo tỷ đô la) thì HSX của TP HCM có vốn hóa chừng 50 tỷ đô la, một con số rất nhỏ so với khu vực (xem hình 12) Theo số liệu của The Money Project, giá trị vốn hóa trên ba châu lục chính chiếm tới 93% giá trị vốn hóa toàn cầu, trong đó châu Mỹ chiếm tới 40,6%, châu Á chiếm 33,3%, cao hơn châu Âu chỉ chiếm chừng 19,5% Tính tập trung về quy mô các trung tâm dịch chứng khoán cũng thể hiện ở con số 16 trung tâm giao dịch trong “câu lạc bộ 1 ngàn tỷ đô la” chiếm tới 87% giá trị vốn hóa toàn cầu Tuy nhiên, quy mô vốn hóa thị trường chứng khoán không hẳn là chỉ báo tiên quyết về mức độ phát triển hay vị thế tổng thể của một trung tâm tài chính Ví dụ nhìn vào trường hợp Singapore với quy mô thị trường chứng khoán chừng 639 tỷ đô la, chỉ bằng 14% quy mô sàn giao dịch Thượng Hải nhưng vị thế toàn cầu của Trung tâm tài chính Singapore vẫn vượt trội so với Thượng Hải bởi sự đa dạng và tầm ảnh hưởng quốc tế của Singapore trong các mảng sản phẩm dịch vụ thuộc các hoạt động thị trường tài chính khác

Trang 37

Hình 12: So sánh Quy mô thị trường chứng khoán (tỷ đô la) TP HCM và khu vực

Nguồn: http://money.visualcapitalist.com/all-of-the-worlds-stock-exchanges-by-size/

Tóm lại, tuy đã có hình hài tương đối đầy đủ của một hệ thống tài chính tiêu chuẩn, nhưng TP HCM cho đến nay vẫn chưa được xem là một trung tâm tài chính quốc tế (toàn cầu hay khu vực) Trong khi đó, nhiều nền kinh tế trong khu vực đều có các thành phố lớn của mình được xác định là trung tâm tài chính quốc tế Theo Chỉ số Trung tâm Tài chính Toàn cầu (The Global Financial Centres Index 25) công bố vào tháng 3/2019, trong số 102 trung tâm tài chính hàng đầu trên thế giới được xếp hạng, khu vực Đông và Đông Nam Á có 16 trung tâm (Bảng 6)

Bảng 6: Các trung tâm tài chính trong khu vực Đông và Đông Nam Á

Trang 38

Theo đánh giá của GFCI 2019 (xem Phụ lục 2.1), khu vực Đông và Đông Nam Á có Bắc Kinh, Hong Kong, Thượng Hải, Singapore và Tokyo (tính cả châu Á còn có thêm Abu Dhabi, Dubai) được định vị như trung tâm tài chính toàn cầu hàng đầu (global leaders) vừa phát triển rộng về quy mô và sâu về nghiệp vụ Thanh Đảo, Thâm Quyến cũng là trung tâm tài chính toàn cầu nhưng được định vị trong nhóm chuyên sâu (global specialists)

Ở cấp độ trung tâm tài chính quốc tế, khu vực Đông Á và Đông Nam Á có Kuala Lumpur và Seoul là hai thành phố nằm trong danh sách nhóm đã định danh (established international), Busan, Quảng Châu và Đài Bắc ở trong nhóm chuyên sâu (international specialists), Đại Liên, Hàng Châu và Jakarta nằm trong nhóm thị trường tiềm năng (international contenders)

Ở cấp độ khu vực địa phương, Đông Á và Đông Nam Á có Osaka được đánh giá là trung tâm tài chính đã định danh (established player) Cũng ở cấp độ khu vực địa phương, Manila và Thiên Tân (tính cả châu Á còn có còn có Mumbai) là các trung tâm tài chính được đánh giá đang phát triển nhanh (evolving centres)

Theo dõi bảng xếp hạng của GFCI trong hơn một thập kỷ vừa qua cho thấy sự xuất hiện và dịch chuyển vị thế đáng kể của các trung tâm tài chính trên thế giới, đặc biệt là trường hợp của Bắc Kinh và Thượng Hải theo chiều hướng đi lên và Đài Bắc, Seoul, Mumbai, Manila theo chiều hướng đi xuống (Hình 13)

Hình 13: Sự thay đổi vị trí của các IFC trong top 10 toàn cầu và các trung tâm cạnh tranh

trong khu vực châu Á (2010 – 2019)

Nguồn: Tổng hợp từ các Báo cáo của GFCI

Trang 39

Điều này gợi ý TP HCM có thể kỳ vọng xuất hiện trên bản đồ IFC như một trung tâm tài chính phát triển bắt kịp các chuẩn mực quốc tế và tiến tới cải thiện vị thế trên trường quốc tế

Đề án sẽ lựa chọn các trung tâm tài chính trong nhóm dẫn đầu của bảng xếp hạng GFCI lần thứ

25 (2019) và các trung tâm tài chính của khu vực Châu Á, Đông Nam Á, ASEAN để xem xét các kinh nghiệm hình thành và phát triển của họ Một trong các tình huống đặc biệt cần lưu ý

là trường hợp Singapore, một trung tâm tài chính hình thành và phát triển dựa chủ yếu vào chiến lược và chính sách chứ không phải dựa các yếu tố truyền thống về quy mô thị trường hay quy mô nền kinh tế Phụ lục 2.4 sẽ giới thiệu tham khảo một số bảng tóm lược các đặc điểm phát triển của trung tâm tài chính Singapore Đây sẽ là cơ sở để định hướng, hỗ trợ TP HCM trong việc hình thành chiến lược trở thành trung tâm tài chính quốc tế

Báo Business Insider (2015)10 điểm danh 10 trung tâm tài chính mới nổi gây bất ngờ trên thế giới Trong đó, có những trung tâm tài chính như Istanbul tăng 30 bậc từ 2010 trở lại đây, trở thành trung tâm tài chính quan trọng của khu vực Đông Âu - Trung Á (bất kể điều kiện chính trị, kinh tế kém ổn định, không thuận lợi) Ở khu vực châu Á, Bangkok, Kuala Lumpur lần lượt tăng được 11 và 13 vị trí kể từ 2010, Seoul tăng được 21 bậc và đồng thời đứng thứ 5 thế giới trong lĩnh vực ngân hàng

Đề án sẽ tập trung nghiên cứu kinh nghiệm của các nước có sự tăng trưởng vượt bậc này để TP HCM có thể tham khảo và kỳ vọng cho tương lai Để đạt được kỳ vọng này, trước hết TP HCM cần xây dựng hệ thống dữ liệu cho phép đánh giá được vị thế của TP theo các thang đo thông dụng của các tổ chức quốc tế uy tín Đây chính là một phần nhiệm vụ của Đề án Phần tiếp theo gợi ý hướng thực hiện việc đo lường đánh giá này

3.3 Đánh giá vị thế trung tâm tài chính hiện tại của TP HCM

Trong phần 3.2, chúng ta đã đánh giá một cách tương đối vị thế so sánh của TP HCM với các trung tâm tài chính quốc tế trong khu vực Ở thời điểm hiện tại, thông tin dữ liệu sẵn có chưa cho phép đánh giá một cách đầy đủ vị thế Thành phố HCM theo các tiêu chí chuẩn mực quốc

tế để có thể so sánh TP HCM với các trung tâm tài chính quốc tế khu vực và toàn cầu Nghiên cứu tính khả thi trở thành trung tâm tài chính quốc tế Istanbul (2007) bên cạnh việc sử dụng

200 nguồn dữ liệu sẵn có đã đã triển khai 60 cuộc phỏng vấn các bên liên quan trong khu vực tài chính Thổ Nhĩ Kỳ và các ngân hàng quốc tế

Trên cơ sở khảo sát các nghiên cứu học thuật, các bộ tiêu chí chuyên ngành thông dụng, kinh nghiệm quốc tế được khảo sát ở phần trước, giai đoạn 2 đề án sẽ lựa chọn các thang đo khả thi

để đánh giá vị thế hiện tại của TP HCM Việc đánh giá này không chỉ đòi hỏi tập hợp nhiều nguồn thông tin đa dạng hiện hữu, trong và ngoài nước mà còn cần thiết kế bộ câu hỏi khảo sát các chuyên gia tài chính quốc tế Dự kiến trong giai đoạn 3 của đề án sẽ cần triển khai các công việc này

10 http://www.businessinsider.com/10-cities-that-are-rapidly-becoming-major-financial-centres-2015-9

Ngày đăng: 24/07/2023, 01:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm