Hiện nay, chăn nuôi lợn không chỉ là chăn nuôi nhỏ lẻ tận dụng phế phụ phẩm như trước kia mà chăn nuôi lợn theo mô hình kiểu trang trại, với số lượng lợn lớn ngày càng đi lên và không ng
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y
Thái Nguyên - 2020
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 3Trong thời gian thực tập tốt nghiệp tại cơ sở, em được trại lợn công ty Phát Đạt, thành phố Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ rất nhiều
để em có thể hoàn thành tốt khoá luận tốt nghiệp đại học của mình Nhân dịp này, em xin bày tỏ lòng biết ơn và kính trọng sâu sắc tới: Ban Giám Hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y và toàn thể các thầy giáo, cô giáo khoa Chăn nuôi Thú y đã tạo mọi điều kiện, dạy dỗ và đào tạo em trong suốt thời gian học tập tại trường
Đặc biệt thầy giáo hướng dẫn TS Phùng Đức Hoàn đã tận tâm, tận lực
hướng dẫn, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để em thực hiện thành công đề tài và sửa chữa giúp em hoàn thành tốt khoá luận tốt nghiệp
Đồng thời, em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới tập thể, cán bộ kỹ thuật
và các anh chị em công nhân viên tại trại lợn công ty Phát Đạt, thành phố Phúc Yên
- tỉnh Vĩnh Phúc đã giúp đỡ em trong quá trình thực hiện khóa luận này
Cuối cùng, em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình và người thân đã luôn
ở bên em động viên về tinh thần và ủng hộ về vật chất để em có thể hoàn thành khóa học này
Một lần nữa em xin được gửi tới các thầy giáo, cô giáo và các bạn bè đồng nghiệp lời cảm ơn sâu sắc, lời chúc sức khoẻ cùng những điều tốt đẹp nhất
Em xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 08 tháng 07 năm 2020
Sinh viên
Đặng Thị Mai
Trang 4LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT v
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 2
1.2.1 Mục tiêu 2
1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề 2
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 3
2.1.2 Cơ sở vật chất của trang trại 4
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trang trại 5
2.1.4 Thuận lợi, khó khăn 6
2.2 Cơ sở khoa học 7
2.2.1 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái 7
2.2.2 Sinh lý tiết sữa của lợn nái và các yếu tố ảnh hưởng 12
2.2.3 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con 15
2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 28
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 28
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 30
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN 33
3.1 Đối tượng 33
3.2 Địa điểm và thời gian thực hiện 33
3.3 Nội dung thực hiện 33
Trang 53.4 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện 33
3.4.1 Các chỉ tiêu thực hiện 33
3.4.2 Phương pháp thực hiện 33
3.4.3 Chẩn đoán và điều trị bệnh tại cơ sở 34
3.4.4 Các công việc khác 34
3.4.5 Phương pháp tính toán các chỉ tiêu 34
PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 35
4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trại lợn công ty Phát Đạt 35
4.2 Kết quả thực hiện quy trình nuôi dưỡng đàn lợn nái 36
4.2.1 Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng cho đàn lợn nuôi tại cơ sở 37
4.2.2 Quy trình phòng bệnh tại cơ sở 39
4.2.3 Công tác vệ sinh, sát trùng chuồng trại 39
4.3 Chẩn đoán và điều trị bệnh tại cơ sở 41
4.3.1 Bệnh của lợn nái 41
4.3.2 Các công việc khác 43
4.3.3 Kết quả công tác phòng bệnh cho lợn tại trại 44
4.3.4 Kết quả chẩn đoán bệnh cho lợn nái tại trại 46
4.3.5 Kết quả điều trị bệnh trên lợn nái nuôi con 47
4.4 Kết quả thực hiện các thao tác khác tại trại 48
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 49
5.1 Kết luận 49
5.2 Đề nghị 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi lợn qua 3 năm 2017 - 2019 35
Bảng 4.2 Số lợn nái và lợn con theo mẹ trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng 36
Bảng 4.3 Lịch vệ sinh, sát trùng chuồng trại 39
Bảng 4.4 Kết quả vệ sinh, sát trùng 44
Bảng 4.5 Lịch tiêm vắc xin cho lợn 45
Bảng 4.6 Kết quả chẩn đoán bệnh cho lợn nái tại trại 46
Bảng 4.7 Kết quả điều trị bệnh trên lợn nái 47
Bảng 4.8 Kết quả thực hiện các thao tác trên lợn con 48
Trang 7TS : Tiến sĩ
TT : Thể trọng TTTN : Thực tập tốt nghiệp
Trang 8Hiện nay, chăn nuôi lợn không chỉ là chăn nuôi nhỏ lẻ tận dụng phế phụ phẩm như trước kia mà chăn nuôi lợn theo mô hình kiểu trang trại, với số lượng lợn lớn ngày càng đi lên và không ngừng phát triển về quy mô số đầu lợn, đồng thời giống lợn đa dạng hơn đã dần trở thành ngành sản xuất hàng hóa, góp phần tăng thu nhập cho người nông dân, cải thiện bữa ăn cho nhiều gia đình, nâng cao sức khỏe, dân trí
và văn minh xã hội
Các giống lợn nội không còn phù hợp nữa mà phải phát triển nhanh đàn lợn lai
và lợn ngoại Bởi vì chăn nuôi lợn ngoại có năng suất cao, tăng trọng nhanh đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng, nhất là khu vực thành phố và các khu công nghiệp do đó giá trị hàng hóa cao
Tuy nhiên, hiện nay ngành chăn nuôi lợn đang phải liên tục đối mặt với nhiều khó khăn Trình độ dân trí còn hạn chế trong việc áp dụng khoa học kĩ thuật vào thực tế sản xuất, vẫn còn tồn tại những phương thức chăn nuôi phân tán, nhỏ lẻ Người chăn nuôi và các cán bộ cơ sở vẫn chưa được trang bị đầy đủ những kiến thức về thú y, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố ngoại cảnh như: những bất ổn về giá cả, nguồn gốc thức ăn, chất tồn dư trong sản phẩm chăn nuôi và tình hình dịch bệnh đang bùng phát ngày càng phức tạp gây nhiều khó khăn và thách thức, đặc biệt là chăn nuôi lợn nái sinh sản và đàn lợn con theo mẹ
Trang 9Để phát triển, nâng cao giá trị kinh tế cho ngành chăn nuôi lợn, chăn nuôi lợn nái là một trong những khâu quan trọng góp phần quyết định đến sự thành công trong chăn nuôi lợn Xuất phát từ thực tế trên, được sự đồng ý của BCN Khoa Chăn nuôi
Thú y và thầy giáo hướng dẫn, em tiến hành chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trị bệnh trên đàn lợn nái nuôi tại trại lợn công ty Phát Đạt
- thành phố Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1 Mục tiêu
- Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trang trại
- Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại
- Nắm được các loại thức ăn dành cho lợn nái sinh sản, khẩu phần ăn và cách cho lợn nái sinh sản qua từng giai đoạn
- Nắm được các bệnh hay xảy ra đối với lợn nái sinh sản và lợn con đồng thời
có phương pháp phòng trị bệnh hiệu quả nhất
1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề
- Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại chăn nuôi công ty Phát Đạt
- Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ nuôi tại trại
- Xác định tình hình nhiễm bệnh trên đàn lợn nái sinh sản và áp dụng các biện pháp phòng trị bệnh
- Chăm chỉ, học hỏi để nâng cao kỹ thuật, tay nghề của bản thân
Trang 10PHẦN 2
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý: Trang trại chăn nuôi lợn Phát Đạt thuộc thôn Cao Quang, xã Cao
Minh, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
Thành phố Phúc Yên có địa hình đa dạng, có cả nông thôn và đô thị, có vùng đồi rừng, bán sơn địa, vùng đồng bằng Trang trại nằm trên vùng bán sơn địa thuộc
xã Cao Minh
+ Phía Đông giáp phường Xuân Hòa
+ Phía Tây giáp xã Nam Viêm
+ Phía Nam giáp xã Bá Hiến
+ Phía Bắc giáp xã Ngọc Thanh
Đây là điều kiện khá thuận lợi cho việc giao lưu buôn bán giữa các xã, huyện thành bên cạnh Trại lợn và lò mổ chỉ cách chợ Xuân Hòa thành phố Phúc Yên 5km, nên có vị trí thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế, giải quyết được một phần nhỏ cho đầu ra Xã cách thủ đô Hà Nội 40km về phía nam
2.1.1.1 Khí hậu
Khí hậu là yếu tố quan trọng trong đời sống sinh hoạt của người dân cũng như trong chăn nuôi Nó quyết định đến sự phát triển của ngành nông nghiệp trong đó có trồng trọt và chăn nuôi, mà hiện nay chăn nuôi đang có xu hướng tăng mạnh
Xã Cao Minh cũng như thành phố Phúc Yên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ bình quân năm là 23○C, có nét đặc trưng nóng ẩm mưa nhiều về mùa hè, hanh khô kéo dài và lạnh về mùa đông
Nhiệt độ không khí có nét đặc trưng sau: cực đại trung bình năm 20,5○C, cực đại tuyệt đối là 41,6○C, cực tiểu tuyệt đối là 3,1○C
Độ ẩm không khí tương đối trung bình năm là 83%, độ ẩm cực tiểu tuyệt đối
là 16%
Trang 11Hướng gió chủ yếu về mùa đông là Đông - Bắc, về mùa hè là Đông - Nam, vận tốc gió trung bình năm là 2,4m/s Khí hậu tương đối cho phát triển nông nghiệp
đa dạng
Nhìn chung, điều kiện khí hậu của xã khá là thuận lợi cho nông nghiệp phát triển cả về trồng trọt và chăn nuôi Tuy nhiên, có những tháng bất lợi như mùa hè nhiệt độ, độ ẩm cao là điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật phát triển và gây bệnh Chính vì vậy việc phòng và trị bệnh cho đàn gia súc là quan trọng
Lượng mưa: Mùa mưa tập trung 85% lượng mưa cả năm và kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 Tổng lượng mưa trung bình là 1340mm, số ngày mưa trung bình là
132 ngày Lượng mưa tăng dần từ đầu mùa đến giữa mùa và đạt cực đại vào tháng
7 Mùa khô là 6 tháng còn lại, mưa ít, lượng mưa không đáng kể, chỉ chiếm 25% tổng lượng mưa cả năm Tháng 12 là tháng mưa cực tiểu với 12 - 18 mm, lượng mưa trung bình tháng cao nhất là 237,8 mm
2.1.1.2 Giao thông, thủy lợi
Trại có hệ thống giao thông thuận lợi kết nối với các khu vực trung tâm và các khu vực xung quanh; có đường liên thôn chạy qua gần khu vực trại đã được bê tông hóa, lòng đường rộng thuận lợi cho ô tô có thể ra vào trại để vận chuyển con giống, thức ăn, vật tư cũng như các sản phẩm chăn nuôi
Trại có hệ thống dẫn nước và ống thoát nước thải đã qua xử lý xuống ao thả cá
để kết hợp nuôi lợn với nuôi cá, từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế của trại và hạn chế chất thải trong chăn nuôi thải ra ngoài môi trường
2.1.2 Cơ sở vật chất của trang trại
Trang trại chăn nuôi lợn Phát Đạt là trại tư nhân bắt đầu hoạt động chăn nuôi
từ năm 2009 với quy mô là 120 nái đến năm 2013 công ty có mở thêm quy mô lên
300 nái và 800 lợn thịt trên diện tích là 3 ha
Cơ sở vật chất ở trại tương đối đầy đủ để phục vụ cho chăn nuôi như: hệ thống nước, phòng thay đồ, hệ thống điện, kho cám, kho thuốc, phòng pha tinh…
- Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có 3 quạt thông gió đối với các chuồng đẻ, chuồng lợn nái
Trang 12chửa, chuồng thịt, 2 quạt thông gió đối với chuồng cách ly và 2 quạt thông gió đối với chuồng lợn đực và chuồng lợn loại Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính Mỗi cửa sổ có diện tích 1,5 m2, cách nền 1,2 m, mỗi cửa sổ cách nhau 40 cm Trên trần được lắp hệ thống chống nóng bằng tôn lạnh
- Hệ thống điện: nguồn cấp điện có điện lưới và máy phát dự phòng Đối với chuồng bầu, hệ thống điện được cung cấp đầy đủ đảm bảo độ sáng phục vụ cho công tác chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái bầu
- Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan Nước uống cho lợn được cấp từ hai bể lớn, một bể xây dựng ở đầu chuồng thịt 1 và một bể ở đầu chuồng đẻ 2 Nước tắm và nước xả gầm, phục vụ cho công tác khác, được bố trí từ các bể lọc và được bơm qua hệ thống ống dẫn tới bể chứa ở giữa các chuồng
- Phòng pha tinh của trại được trang bị các dụng cụ hiện đại như: kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng liều tinh, nồi hấp cách thủy và một số thiết
bị khác
- Hệ thống xử lý môi trường: chất thải được xử lý bằng hệ thống biogas trước khi thải ra môi trường, có giàn khử mùi phía sau quạt hút gió, có hố hủy lợn xa khu vực chăn nuôi
- Một số dụng cụ và trang thiết bị khác: tủ lạnh bảo quản vaccine, tủ thuốc để bảo quản và dự trữ thuốc cho trại, xe chở cám từ nhà kho xuống chuồng, máy nén khí phun sát trùng di động khu vực ngoài chuồng nuôi
- Trại có một nhà khách, một phòng họp, ba dãy nhà ở công nhân viên, ba khu
vệ sinh và nhà tắm cho công nhân viên cũng như khách thăm trại và một nhà bếp
ăn
- Tổng trại có 9 chuồng nuôi, trong đó có: hai chuồng đẻ với 96 ô đẻ, hai chuồng lợn nái chửa với 246 ô lợn nái chửa, một chuồng đực với 9 ô đực, một chuồng hậu bị có ba ô quy mô là 50 con/lứa, một chuồng cai sữa có 26 ô quy mô là
650 con/lứa và ba chuồng thịt có 16 ô quy mô là 700 lợn thịt/lứa
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trang trại
Cơ cấu của trại được tổ chức như sau:
+ 01 giám đốc Công ty
Trang 13+ 01 quản lý trại
+ 01 kĩ sư công ty thức ăn chăn nuôi Green Feed + 05 công nhân
+ 07 sinh viên thực tập Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ, nhóm khác nhau như tổ chuồng đẻ, tổ chuồng nái chửa, tổ chuồng thịt và tổ chuồng cai sữa Mỗi một khâu trong quy trình chăn nuôi đều được khoán đến từng công nhân và sinh viên, nhằm nâng cao trách nhiệm, thúc đẩy sự phát triển của trại
2.1.4 Thuận lợi, khó khăn
Trang trại nhập các giống lợn ông bà, bố mẹ từ Công ty có uy tín như CP, Green Feed,… nên việc phòng và trị bệnh cho lợn nái dễ dàng hơn
Trang 14- Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết biến đổi thất thường là điều kiện cho nhiều loại dịch bệnh bùng phát quanh năm nên khâu phòng trừ bệnh gặp nhiều khó khăn
- Năm 2019 dịch tả lợn Châu Phi bùng phát trại gặp nhiều khó khăn lớn trong vấn đề phòng chống dịch bệnh
- Do ảnh hưởng của dịch bệnh, trên thị trường giá thịt lợn giảm sâu gây không
ít khó khăn đối với thịt lợn của các trang trại chăn nuôi theo tiêu chuẩn, vì chất lượng thịt tốt hơn so với chất lượng thịt bán ngoài chợ nên giá thành đắt hơn Tuy nhiên vì lợi nhuận nhiều trang trại thu gom lợn từ dân sau đó dán mác thịt lợn sạch
và bán ra thị trường với giá rẻ hơn
2.2 Cơ sở khoa học
2.2.1 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái
2.2.1.1 Sự thành thục về tính và thể vóc
a) Sự thành thục về tính Gia súc phát triển đến một giai đoạn nhất định thì sẽ có biểu hiện về tính dục Con đực có khả năng sinh ra tinh trùng, con cái có khả năng sinh ra tế bào trứng Lúc này tất cả các bộ phận sinh dục như: buồng trứng, tử cung, âm đạo đã phát triển hoàn thiện và có thể bắt đầu bước vào hoạt động sinh sản
+ Giống
Các giống lợn khác nhau thì tuổi thành thục về tính cũng khác nhau Hầu hết các giống lợn nội thành thục sớm hơn các giống lợn ngoại, những giống có tầm vóc nhỏ thường thành thục sớm hơn những giống có tầm vóc lớn
Theo Phạm Hữu Doanh và và Lưu Kỷ (2003) [3], tuổi động dục đầu tiên ở lợn nội (Ỉ, Móng Cái) rất sớm, từ 4 - 5 tháng, khi khối lượng đạt từ 20 - 25 kg Ở lợn nái lai tuổi động dục lần đầu muộn hơn so với lợn nội thuần, ở lợn lai F1 (nội x ngoại) động dục bắt đầu lúc 6 tháng tuổi khi khối lượng cơ thể đạt 50 - 55 kg; lợn ngoại động dục muộn hơn từ 6 - 8 tháng khi đạt 65 - 80 kg; lợn Ỉ, Móng Cái động dục lần đầu vào 4 -
5 tháng tuổi (121 - 158 ngày tuổi), các giống lợn ngoại Yorkshire, Landrace muộn hơn từ 7 - 8 tháng tuổi
Trang 15+ Điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng
Chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng ảnh hưởng khá lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn cái Lợn được nuôi dưỡng với khẩu phần thức ăn đầy đủ, phù hợp nhu cầu dinh dưỡng thành thục sinh dục sớm hơn so với lợn được nuôi dưỡng với khẩu phần thức ăn có giá trị dinh dưỡng thấp Lợn nái được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng tốt sẽ thành thục ở độ tuổi trung bình là 188,5 ngày (6 tháng tuổi) và nếu hạn chế thức ăn thì sự thành thục về tính sẽ xuất hiện lúc 234,8 ngày (trên 7 tháng tuổi)
+ Điều kiện ngoại cảnh
Khí hậu và nhiệt độ ảnh hưởng tới tuổi thành thục về tính của gia súc Những giống lợn nuôi ở vùng có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm thường thành thục về tính sớm hơn những giống lợn nuôi ở vùng có khí hậu ôn đới và hàn đới
Mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng cũng là yếu tố ảnh hưởng tới thành thục tinh dục của lợn Ở mùa hè lợn nái hậu bị thành thục chậm hơn so với mùa thu - đông, điều
đó có thể do ảnh hưởng của nhiệt độ trong chuồng nuôi gắn liền với mức tăng trọng thấp trong các tháng nóng bức
Sự có mặt của con đực cũng ảnh hưởng tới sự thành thục của lợn nái hậu bị Nếu lợn cái được nuôi chung hoặc gần với lợn đực sẽ thúc đẩy nhanh sự thành thục
về tính của chúng hơ so với nuôi nhốt xa con đực
Tuy nhiên, một vấn đề cần lưu ý là tuổi thành thục về tính thường sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc Vì vậy, để đảm bảo sự sinh trưởng và phát triển bình thường của lợn mẹ và đảm bảo những phẩm chất giống của thế hệ sau nên cho gia súc phối giống khi đã đạt một khối lượng nhất định tuỳ theo giống Ngược lại, cũng không nên cho gia súc phối giống quá muộn vì ảnh hưởng tới năng suất sinh sản của một đời nái, đồng thời ảnh hưởng tới thế hệ sau của chúng Theo Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ (2003) [3], không nên cho phối giống ở lần động dục đầu tiên, vì ở thời kỳ này cơ thể lợn chưa phát triển đầy đủ, chưa tích tụ được chất dinh dưỡng nuôi thai, trứng chưa chín một cách hoàn chỉnh
b) Sự thành thục về thể vóc
Sự thành thục về thể vóc thường diễn ra chậm hơn sự thành thục về tính Sau
Trang 16một thời kỳ sinh trưởng và phát triển, đến một thời điểm nhất định con vật đạt tới độ trưởng thành về thể vóc Đối với lợn nái nội thường phối giống lần đầu lúc 6 - 7 tháng tuổi khi khối lượng đạt 40 - 50 kg, đối với lợn nái ngoại lúc 8 - 9 tháng tuổi khi khối lượng đạt 115 - 120 kg thì mới nên cho phối giống
2.2.1.2 Chu kỳ động dục và thời điểm phối giống thích hợp
a) Chu kỳ động dục Lợn nái sau khi thành thục về tính thì cứ mỗi khoảng thời gian nhất định, toàn thân và cơ quan sinh dục có những biến đổi đặc biệt kèm theo sự rụng trứng Hiện tượng này lặp đi lặp lại một cách có chu kỳ gọi là chu kỳ động dục hay chu kỳ tính Sau cai sữa 3 - 5 ngày lợn nái động dục trở lại, cho phối lúc này lợn sẽ thụ thai, trứng rụng nhiều đạt số lượng con cao (Hội chăn nuôi Việt Nam, 2006) [9]
Các giai đoạn của chu kỳ động dục (4 giai đoạn)
+ Giai đoạn trước động dục: kéo dài 1 - 2 ngày, là giai đoạn từ khi thể vàng tiêu huỷ tới lần động dục tiếp theo Đây là giai đoạn chuẩn bị môi trường ở đường sinh dục cái để đón trứng rụng và tinh trùng từ ngoài vào
Dưới ảnh hưởng của estrogen, cơ quan sinh dục có nhiều biến đổi như: tế bào vách ống dẫn trong phát triển có nhiều nhung mao để chuẩn bị đón trứng rụng Màng nhầy tử cung âm đạo tăng sinh, được cung cấp nhiều máu
+ Giai đoạn động dục: kéo dài 2 - 3 ngày Gồm 3 thời kỳ liên tiếp: Hưng phấn, chịu đực và hết chịu đực
Những biểu hiện về hành vi sinh dục là: đứng yên cho con khác nhảy, kêu rống, thần kinh nhạy cảm, bồn chồn, thích nhảy lên lưng con khác, ăn ít hoặc bỏ ăn,
ôm đực một cách vội vã, âm hộ ướt và đỏ, dịch nhầy tiết nhiều Càng tới thời điểm rụng trứng thì âm hộ đỏ tím, dịch tiết ra nhiều keo đặc lại, mắt đờ đẫn Cuối giai đoạn này trứng rụng (sau khi động dục từ 35 - 40 giờ), thời gian trứng rụng kéo dài
từ 10 - 15 giờ và nên phối 2 lần cho lợn sẽ có hiệu quả thụ thai cao
Giai đoạn này nếu được thụ thai thì chu kỳ sẽ dừng lại do sự hình thành và tồn tại của thể vàng Chu kỳ chỉ xuất hiện trở lại sau một thời gian con vật đẻ xong + Giai đoạn sau động dục: kéo dài 3 - 4 ngày, là giai đoạn phát triển sớm của thể vàng, bắt đầu sau khi kết thúc động dục Thời kỳ này thể vàng ở buồng trứng đã
Trang 17xuất hiện tiết progesteron để ức chế động dục Sự tăng sinh và tiết dịch của tử cung ngừng lại mô màng nhầy tử cung bong ra cùng với lớp tế bào biểu mô âm đạo hóa sừng thải ra ngoài
Hoạt động sinh dục đã giảm rõ rệt, âm hộ teo dần tái nhạt, con vật không muốn gần con đực, không cho con khác nhảy lên lưng, lợn ăn uống tốt hơn và dần trở lại trạng thái bình thường
+ Giai đoạn yên tĩnh: kéo dài 12 - 14 ngày, là giai đoạn thể vàng hoạt động, thường khởi đầu vào ngày thứ tư sau khi rụng trứng và kết thúc khi thể vàng tiêu huỷ Cơ quan sinh dục không có biểu hiện rõ những hoạt động chức năng Những biểu hiện về hành vi sinh dục không có Đây là giai đoạn nghỉ ngơi, yên tĩnh để hồi phục lại cấu tạo, chức năng cũng như năng lượng cho hoạt động của chu kỳ tiếp theo
Thời điểm phối giống thích hợp
Để lợn nái đạt tỷ lệ thụ tinh cao, số con đẻ ra nhiều, cần phối giống đúng thời điểm vì thời gian trứng có khả năng thụ thai là rất ngắn Như vậy, phải cho lợn nái phối giống 10 - 12 giờ trước lúc rụng trứng tức là 8 - 10 giờ trước khi chịu đực Thời điểm phối giống thích hợp nhất đối với lợn nái ngoại và lợn nái lai cho phối vào cuối ngày thứ 2 và ngày thứ 3 tính từ lúc bắt đầu động dục Đối với lợn nái nội là cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ 3 do thời gian động dục ở lợn nái nội ngắn hơn
Trang 18estrogen trong máu đạt 64 - 100% sẽ kích thích con vật có những biểu hiện động dục Đồng thời dưới tác động của estrogen cơ quan sinh dục biến đổi: tử cung hé
mở, âm hộ, âm đạo sung huyết, tiết niêm dịch, sừng tử cung và ống dẫn trứng tăng sinh tạo điều kiện cho sự làm tổ của hợp tử sau này Nếu lợn không có chửa, thể vàng sẽ bị phá hủy ngày thứ 16 - 17 của chu kỳ Lúc đó tuyến yên được giải phóng khỏi ức chế, tiếp tục sản sinh ra FSH, LH và noãn bao trên buồng trứng lại tiếp tục phát triển, giải phóng ra estrogen, chu kỳ mới lại bắt đầu
c) Một số chỉ tiêu sinh lý sinh dục của lợn nái + Tuổi động dục lần đầu
Là tuổi khi lợn nái có biểu hiện động dục lần đầu tiên Tuổi động dục lần đầu khác nhau phụ thuộc vào giống lợn Lợn nội tuổi động dục lần đầu sớm hơn lợn ngoại, lợn nái lai tuổi động dục lần đầu muộn hơn so với lợn nái nội Để đạt được hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con nái bền lâu cần bỏ qua 1 - 2 chu kỳ động dục rồi mới phối giống
Tuổi động dục lần đầu còn phụ thuộc vào mùa vụ và chịu ảnh hưởng của ngoại cảnh, thời gian chiếu sáng, nhiệt độ môi trường, sự tiếp xúc với con đực cũng như chế
độ dinh dưỡng, mức độ sinh trưởng trước và sau cai sữa
+ Tuổi phối giống lần đầu
Thông thường ở lần động dục đầu tiên người ta chưa tiến hành phối giống cho lợn nái, vì thời điểm này lợn chưa thành thục về thể vóc, số lượng trứng rụng còn ít Người ta thường tiến hành phối giống cho lợn nái vào chu kỳ thứ 2 hoặc thứ 3 Tuổi phối giống lần đầu được tính bằng cách cộng tuổi động dục lần đầu với thời gian động dục của một hoặc hai chu kỳ nữa hoặc tuổi tại thời điểm phối giống lần đầu
+ Tuổi đẻ lứa đầu
Tuổi đẻ lứa đầu là tuổi lợn mẹ đẻ lứa đầu tiên Lợn nái nội (Ỉ, Móng Cái) trong sản xuất tuổi đẻ lứa đầu thường 11 - 12 tháng Lợn nái lai và lợn nái ngoại nên cho
đẻ lứa đầu lúc 12 - 13 tháng tuổi (Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ, 2003) [3]
2.2.1.3 Sinh lý chửa và đẻ
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [5], gia súc cái mang thai trong một thời gian nhất định tùy từng loài gia súc, khi bào thai phát triển đầy đủ, dưới tác động
Trang 19của cơ chế thần kinh - thể dịch, con mẹ sẽ xuất hiện những cơn rặn để đẩy bào thai, nhau thai và các sản phẩm trung gian ra ngoài
Đẻ là quá trình đưa thai đã phát triển thành thục theo đường sinh dục của mẹ ra ngoài Nếu không đủ hai điều kiện trên tức là đẻ không bình thường
Trước khi đẻ, cơ thể mẹ có nhiều thay đổi quan trọng có liên quan tới việc đẩy thai ra ngoài như: dây chằng xương chậu giãn, gia tăng chiều dài từ 25 - 30% so với bình thường (người ta gọi là hiện tượng sụt lưng), nút cổ tử cung loãng Trước khi
đẻ từ 12 - 48 giờ thân nhiệt hơi hạ xuống Cổ tử cung mở, sữa bắt đầu tiết
Ở lợn, sữa đầu là một trong những chỉ tiêu quan trọng để xác định thời điểm đẻ: Trước khi đẻ 3 ngày, hàng vú giữa vắt ra nước trong; trước khi đẻ 1 ngày, hàng
vú giữa vắt được sữa đầu; trước khi đẻ 1/2 ngày, hàng vú trước vắt được sữa đầu và trước khi đẻ 2 - 3 giờ, hàng vú sau vắt được sữa đầu
Lợn là một loài đa thai nên đẻ từng con một, cách khoảng 10 - 15 hoặc 20 phút đẻ
1 con Thời gian đẻ của lợn trung bình kéo dài từ 1 - 6 giờ, nếu quá 6 giờ mà thai chưa
ra thì cần xem xét để có biện pháp tác động ngay
2.2.2 Sinh lý tiết sữa của lợn nái và các yếu tố ảnh hưởng
2.2.2.1 Sinh lý tiết sữa của lợn nái
Sữa là sản phẩm tiết ra từ tuyến vú, là thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, dễ tiêu hóa, hấp thu, rất cần thiết cho gia súc non đang bú sữa và là loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao đối với con người
Sự tiết sữa của lợn nái trong quá trình nuôi con là một quá trình sinh lý phức tạp Quá trình tiết sữa của lợn nái là một quá trình phản xạ, do những kích thích vào bầu vú gây nên Phản ứng tiết sữa của lợn nái tương đối ngắn và chuyển dần từ trước ra sau Cần tách riêng lợn con để trước chờ đến khi cả đàn đẻ xong mới cho cả đàn vào
bú, nhưng nhất thiết phải cho lợn con bú sữa đầu chậm nhất là 2 giờ sau đẻ để lợn con
có đủ kháng thể sau khi sinh vì trong sữa đầu của lợn mẹ có chứa globulin giúp cho
cơ thể lợn con có sức đề kháng với ngoại cảnh
Khi bú, lợn con dùng mõm thúc vào vú lợn mẹ, thời gian thúc vú mẹ của lợn con có thể từ 5 - 7 phút, sau đó đột nhiên nằm im hoàn toàn và tiến hành bú Sữa tiết
Trang 20ra thể hiện rõ nhất là lúc lợn mẹ kêu ịt ịt, lợn con mút chặt đầu vú, hai chân trước đạp thẳng vào bầu vú, nằm yên mút theo đợt tiết sữa của lợn mẹ
Lượng sữa của lợn nái tiết sữa tăng cao dần từ lúc mới đẻ, cao nhất lúc 21 ngày sau khi đẻ, sau đó giảm dần
2.2.2.2 Sữa lợn mẹ
Sữa lợn mẹ có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao tỷ lệ nuôi sống của lợn con Việc cai sữa cho lợn con có thể thực hiện được ngay từ khi đẻ ra, tuy nhiên sữa lợn mẹ luôn được coi là nguồn thức ăn lý tưởng cho lợn con Nguyên liệu để tạo nên sữa đều được lấy từ máu, phải có một lượng máu rất lớn chảy qua bầu vú mới đảm bảo cho nhu cầu tạo sữa: khoảng 540 lít máu chảy qua bầu vú mới tạo được thành 1 lít sữa lợn mẹ Sữa lợn mẹ tiết ra trong vòng 2 - 3 ngày đầu sau khi đẻ gọi là sữa đầu Theo Trịnh Văn Thịnh (1978) [30], thức ăn đầu tiên của lợn con là sữa đầu Sữa đầu có đặc điểm là màu vàng đặc và hơi mặn, khi đun dễ ngưng kết Thành phần dinh dưỡng của sữa đầu khác hẳn so với sữa thường, trong sữa đầu các thành phần như protein, vitamin… đều cao hơn so với sữa thường Trong sữa đầu lượng vật chất khô đạt 22,3%, cao hơn sữa thường (19,6%) Hàm lượng protein cũng cao hơn sữa thường (11,5% so với 6,8%), tuy nhiên hàm lượng khoáng, chất béo và đường lactose lại thấp hơn sữa thường
Đặc biệt trong sữa đầu có chứa nhiều kháng thể globulin và các chất khác bảo
vệ lợn con mới đẻ chống lại sự tấn công của các vi rút, vi trùng gây bệnh Lượng globulin chiếm khoảng 50% tổng số protein của sữa đầu, sau đó giảm dần Khả năng hấp thụ globulin của lợn con chỉ xảy ra trong những giờ đầu sau khi sinh (trong vòng
24 giờ đầu tiên) Do vậy sữa đầu đóng vai trò quan trọng đối với lợn con theo mẹ
2.2.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiết sữa của lợn nái
a) Giống và cá thể Các giống lợn khác nhau có khả năng tiết sữa khác nhau Các giống lợn được cải tạo có năng suất sữa cao hơn các giống lợn chưa được cải tạo Ví như lợn Ỉ có sản lượng sữa bình quân là 20,1 - 25 kg, lợn Móng Cái là 27,5 - 29,1 kg, lợn Đại Bạch nuôi tại Việt Nam có sản lượng sữa bình quân là 40 - 50 kg
Trang 21Thể trạng của lợn mẹ cũng ảnh hưởng đến năng suất sữa trong thời kỳ đầu của quá trình tiết sữa Lợn mẹ gầy yếu thì khả năng tiết sữa kém hơn lợn mẹ có thể trạng trung bình Có thể tăng lượng thức ăn cho lợn mẹ trong những ngày đầu tiên sau khi đẻ
để tăng khả năng tiết sữa, tuy nhiên nếu lợn mẹ gầy yếu được tăng thức ăn có thể làm tăng tỷ lệ mỡ sữa mà không làm tăng sản lượng sữa
b) Tuổi và lứa đẻ Theo Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ (2003) [3], lứa đẻ tốt nhất là lứa thứ 2 đến lứa thứ 6 - 7 Tuổi sinh sản ổn định từ năm tuổi thứ 2 đến năm tuổi thứ 4, sang năm đẻ thứ
5 lợn có thể đẻ tốt nhưng con dễ bị còi cọc, chậm lớn; lợn nái già thường hay đẻ khó, thai chết lưu và cắn con
Sản lượng sữa của lợn mẹ tăng dần từ lứa thứ 1 - 3, ổn định từ lứa 3 - 8, sau đó giảm dần theo sự tăng lên của tuổi Đó là do lợn nái đẻ lứa đầu, các tuyến bào chưa phát dục hoàn chỉnh, chưa có thói quen cho lợn con bú Còn ở lứa đẻ tiếp theo sản lượng sữa bắt đầu tăng
Trong một chu kỳ tiết sữa, lượng sữa tăng dần sau khi đẻ và đạt cao nhất ở tuần thứ 3, sau đó giảm dần đến tuần thứ 8
c) Số con đẻ ra/lứa Nếu số lượng con đẻ ra/lứa cao thì sản lượng sữa/chu kỳ sẽ cao, song lượng sữa của một con bú được trong 8 tuần sẽ ít và ngược lại
d) Nuôi dưỡng và chăm sóc
Là yếu tố ảnh hưởng chủ yếu đến sản lượng sữa của lợn nái Nuôi dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng và chất lượng sữa vì những chất dinh dưỡng cần thiết để tạo thành sữa đều lấy từ thức ăn Tỷ lệ nuôi sống ở lợn con tăng lên nếu chúng ta cho lợn mẹ ăn khẩu phần ăn có nhiều chất béo ở giai đoạn cuối của giai đoạn chửa và thời
kỳ tiết sữa đầu
Khẩu phần ăn của lợn nái trong quá trình có chửa và tiết sữa có ảnh hưởng đến các thành phần hóa học của sữa Khi cho lợn nái ăn tăng khẩu phần ăn, sẽ làm tăng thành phần hóa học của sữa thông qua tăng quá trình trao đổi đến bầu vú lợn mẹ Quá trình hình thành các chất dinh dưỡng của sữa lợn mẹ được thông qua quá trình tổng
Trang 22hợp, một số thông qua quá trình lọc và một số chuyển thẳng trực tiếp từ máu Hàm lượng các vitamin của sữa phụ thuộc vào hàm lượng các vitamin trong thức ăn và cả lượng vitamin dự trữ ở gan hoặc các tế bào
2.2.3 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con
2.2.3.1 Quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ
- Quy trình nuôi dưỡng
Thức ăn cho lợn nái nuôi con phải là những thức ăn ảnh hưởng tốt đến sản lượng và chất lượng sữa, có giá trị dinh dưỡng cao, dễ tiêu hóa Không cho lợn nái ăn thức ăn đã thối, mốc, gây chèn ép thai sinh ra đẻ non, đẻ khó, hoặc ép thai chết ngạt
Thức ăn hỗn hợp cho lợn nái nuôi con dùng trong chăn nuôi công nghiệp phải đảm bảo đủ protein, năng lượng và các thành phần vitamin, khoáng theo đúng tiêu chuẩn quy định như năng lượng trao đổi 3100 Kcal, protein 15%, Ca từ 0,9 - 1,0%,
P từ 0,7% (Trần Thanh Vân và cs, 2017) [26]
Lượng thức ăn cho lợn nái nuôi con: ngày cắn ổ đẻ nên cho lợn nái ăn ít thức
ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (0,5 kg) hoặc không cho ăn, nhưng cho uống nước tự do Sau ngày đẻ thứ 1, 2 và 3 cho thức ăn hỗn hợp với lượng thức ăn từ 1 - 2 - 3 kg tương ứng Ngày nuôi con thứ 4 đến ngày thứ 7, cho ăn 4 kg thức ăn hỗn hợp/nái/ngày Từ ngày thứ 8 đến ngày cai sữa cho heo ăn theo công thức tính: lượng thức ăn/nái/ngày = 2 kg + (số con x 0,35 kg/con)
Số bữa ăn trên ngày: 2 bữa (sáng, chiều), nếu lợn mẹ gầy thì cho ăn thêm 0,5 kg, lợn mẹ béo thì bớt đi 0,5 kg thức ăn/ngày Một ngày trước ngày cai sữa lượng thức ăn của lợn mẹ giảm đi 20 - 30% Ngày cai sữa cho lợn mẹ nhịn ăn, hạn chế uống nước Đối với những lợn nái có số con lớn hơn 10, đàn con mập, lợn mẹ gầy thì cho lợn mẹ
ăn theo khả năng (không hạn chế) bằng cách tăng số bữa ăn/ngày cho lợn mẹ
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [14], thức ăn dùng cho lợn nái đẻ phải là những thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao, dễ tiêu hóa Không cho lợn nái ăn thức ăn
Trang 23có hệ số choán cao gây chèn ép thai sinh ra đẻ non, đẻ khó hoặc ép thai chết ngạt Một tuần trước khi lợn đẻ phải căn cứ vào tình trạng sức khỏe cụ thể của lợn nái
để có kế hoạch giảm dần lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe tốt thì một tuần trước khi đẻ giảm 1/3 lượng thức ăn, trước đẻ 2 - 3 ngày giảm 1/2 lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe yếu thì không giảm lượng thức ăn mà giảm dung tích của thức ăn bằng cách tăng cường cho ăn các loại thức ăn dễ tiêu hóa Những ngày lợn đẻ phải căn cứ vào thể trạng của lợn nái, sự phát dục của bầu
vú mà quyết định chế độ dinh dưỡng cho hợp lý
Ngày lợn nái cắn ổ đẻ, cho lợn nái ăn ít thức ăn tinh (0,5 kg) hoặc không cho thức ăn tinh nhưng uống nước tự do
- Quy trình chăm sóc
Việc chăm sóc lợn nái mẹ có vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và sức khỏe của cả lợn mẹ và lợn con Chuồng trại phải được vệ sinh sạch sẽ Trước khi lợn đẻ 10 - 15 ngày cần chuẩn bị đầy đủ chuồng đẻ Tẩy rửa vệ sinh, khử trùng toàn bộ ô chuồng, nền chuồng, sàn chuồng dùng cho lợn con và lợn mẹ Yêu cầu chuồng phải khô ráo, ấm áp, sạch sẽ, có đầy đủ ánh sáng Sau khi vệ sinh tiêu độc nên để trống chuồng từ 3 - 5 ngày trước khi lợn nái vào đẻ
Trong quá trình chăm sóc lợn nái đẻ, công việc cần thiết và rất quan trọng là việc chuẩn bị ô úm cho lợn con Ô úm rất quan trọng đối với lợn con, nó có tác dụng phòng ngừa lợn mẹ đè chết lợn con, đặc biệt những ngày đầu mới sinh lợn con còn yếu ớt, lợn mẹ mới đẻ xong sức khỏe còn rất yếu chưa hồi phục
Theo dõi thường xuyên sức khỏe của lợn mẹ, quan sát bầu vú, thân nhiệt lợn
mẹ liên tục trong 3 ngày đầu sau khi đẻ để phát hiện sát nhau, sốt sữa hoặc nhiễm trùng để có biện pháp xử lý kịp thời
2.2.3.2 Quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái nuôi con
- Quy trình nuôi dưỡng
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [14], thức ăn cho lợn nái nuôi con phải là
những thức ăn có ảnh hưởng tốt đến sản lượng và chất lượng sữa Đó là các loại thức ăn xanh non như các loại rau xanh, các loại củ quả như bí đỏ, cà rốt, đu đủ Thức ăn tinh tốt như gạo tấm, cám gạo, bột mỳ, các loại thức ăn bổ sung đạm động
Trang 24vật, đạm thực vật, các loại khoáng, vitamin Không cho lợn nái nuôi con ăn các loại thức ăn thối mốc, biến chất, hư hỏng Thức ăn hỗn hợp cho lợn nái nuôi con dùng trong chăn nuôi công nghiệp phải đảm bảo đủ protein, năng lượng và các thành phần vitamin, khoáng theo đúng tiêu chuẩn quy định như năng lượng trao đổi
3100 kcal; protein 15%; canxi từ 0,9 - 1,0 %; photpho 0,7 %
Lượng thức ăn cho lợn nái nuôi con cũng đóng vai trò quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và khả năng điều tiết sữa của lợn mẹ, chính vì vậy
ta cần phải có một khẩu phần ăn hợp lý và đầy đủ dinh dưỡng cho lợn mẹ Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [14], trong quá trình nuôi con, lợn nái được cho ăn như sau:
- Đối với lợn nái ngoại
Ngày cắn ổ đẻ: Cho lợn nái ăn ít thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (0,5 kg) hoặc không cho ăn, nhưng cho uống nước tự do
Sau ngày đẻ thứ 1, 2 và 3 cho ăn thức ăn hỗn hợp với lượng thức ăn từ 1 - 2
- 3 kg tương ứng
Ngày nuôi con thứ 4 đến ngày thứ 7: cho ăn 4 kg thức ăn hỗn hợp/nái/ngày
Từ ngày thứ 8 đến cai sữa cho ăn theo công thức:
Lượng thức ăn/ nái/ ngày = 2 kg + (số con x 0,35 kg/ con)
Số bữa ăn trên ngày: 2 (sáng và chiều)
Nếu lợn mẹ gầy thì cho ăn thêm 0,5 kg, lợn mẹ béo thì giảm 0,5 kg thức ăn/ ngày
Ngoài ra cho lợn nái ăn từ 1 - 2 kg rau xanh/ ngày sau bữa ăn tinh (nếu có rau xanh)
Một ngày trước ngày cai sữa lượng thức ăn của lợn mẹ giảm đi 20 - 30%
Ngày cai sữa cho lợn mẹ nhịn ăn, hạn chế uống nước
- Đối với lợn nái nội
Công thức tính nhu cầu thức ăn cho lợn nái nội nuôi con/ ngày đêm Lợn nái nội có khối lượng cơ thể dưới 100 kg, mức ăn trong 1 ngày đêm được tính như sau:
Thức ăn tinh = 1,2 kg + (số lợn con theo mẹ x 0,18 kg)
Trang 25Thức ăn thô xanh: 0,3 đơn vị
Lợn nái nội có khối lượng cơ thể từ 100 kg trở lên, mức ăn cho 1 ngày đêm giai đoạn nuôi con được tính như sau:
Thức ăn tinh = 1,4 kg + (số con theo mẹ x 0,18 kg)
Thức ăn thô xanh: 0,4 đơn vị
là 30 phút/ ngày, sau tăng dần số giờ vận động lên
Chuồng trại của lợn nái nuôi con yêu cầu phải đảm bảo luôn khô ráo, sạch
sẽ, không có mùi hôi thối, ẩm ướt Do vậy hàng ngày phải vệ sinh chuồng trại, máng ăn, máng uống sạch sẽ Chuồng lợn nái nuôi con phải có ô úm lợn con và ngăn tập ăn sớm cho lợn con Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp là 18 - 20°C, độ
ra Các biện pháp phòng bệnh tổng hợp được đưa lên hàng đầu, xoay quanh các yếu
tố môi trường, mầm bệnh, vâṭ chủ Do vậy, việc phòng bệnh cũng như trị bệnh phải kết hợp nhiều biện pháp khác nhau
- Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt
Theo Nguyễn Ngọc Phụng (2005) [15], bệnh xuất hiện trong một đàn lợn thường do nguyên nhân phức tạp, có thể là bệnh truyền nhiễm, hoặc không truyền nhiễm hoặc có sự kết hợp cả hai Có rất nhiều biện pháp đã được đưa ra áp dụng nhằm kiểm soát các khả năng xảy ra bệnh tật trên đàn lợn Phần lớn các biện pháp này đều nhằm làm giảm khả năng lan truyền các tác nhân gây bệnh và nâng cao sức
Trang 26đề kháng của đàn lợn
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [14], từ 3 - 5 ngày trước dự kiến đẻ, ô chuồng lợn nái đã được cọ rửa sạch, phun khử trùng bằng hóa chất như crezin 5 %
hoặc bằng loại hóa chất khác nhằm tiêu độc khử trùng chuồng lợn nái trước khi đẻ
- Vệ sinh chuồng trại và thiết bị chăn nuôi
Chuồng trại phải đảm bảo phù hợp với từng đối tượng vật nuôi, thoáng mát mùa Hè, ấm áp mùa Đông, đảm bảo cách ly với môi trường xung quanh Tẩy uế chuồng trại sau mỗi lứa nuôi bằng phương pháp: rửa sạch, để khô sau đó phun sát trùng bằng các loại thuốc sát trùng và trống chuồng ít nhất 15 ngày với vật nuôi thương phẩm, 30 ngày đối với vật nuôi sinh sản Với những chuồng nuôi lưu cữu hoặc chuồng nuôi có vật nuôi bị bệnh truyền nhiễm, cần phải vệ sinh tổng thể và triệt để Sau khi đưa hết vật nuôi ra khỏi chuồng, xử lý theo hướng dẫn của thú y, cần phun sát trùng kỹ (pha dung dịch sát trùng và phun theo hướng dẫn khi chống dịch) toàn bộ chuồng nuôi từ mái, các dụng cụ và môi trường xung quanh, để khô
và dọn, rửa
- Phòng bệnh bằng vắc xin
Phòng bệnh bằng vắc xin là biện pháp phòng bệnh chủ động có hiệu quả nhất Theo Nguyễn Bá Hiên và cs (2012) [6], vắc xin là một chế phẩm sinh học mà trong đó chứa chính mầm bệnh cần phòng cho một bệnh truyền nhiễm nào đó (mầm bệnh này có thể là vi khuẩn, virus, độc tố hay vật liệu di truyền như ARN, ADN…) Khi đưa vắc xin vào cơ thể vật nuôi, chưa có kháng thể chống bệnh ngay mà phải sau 7 - 21 ngày (tuỳ theo từng loại vắc xin) mới có miễn dịch
2.2.3.2.2 Điều trị bệnh
Theo Nguyễn Bá Hiên và cs (2012) [6], nguyên tắc để điều trị bệnh là:
Toàn diện: Phải phối hợp nhiều biện pháp như hộ lý, dinh dưỡng, dùng thuốc
Điều trị sớm trên cơ sở chẩn đoán đúng bệnh để dễ lành bệnh và hạn chế lây lan Diệt căn bệnh là chủ yếu kết hợp chữa triệu chứng
Trang 27Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơ thể, làm cho cơ thể tự nó chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít bị tái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền
Phải có quan điểm khi chữa bệnh, chỉ nên chữa cho những gia súc có thể chữa lành mà không giảm sức kéo và sản phẩm Nếu chữa kéo dài, tốn kém vượt quá giá trị gia súc thì không nên chữa
Những bệnh rất nguy hiểm cho người mà không có thuốc chữa thì không nên chữa
Các biện pháp chữa bệnh truyền nhiễm là:
Hộ lý: Cho gia súc ốm nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiện vệ sinh tốt (thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh) Theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, hô hấp, phân, nước tiểu, phát hiện sớm những biến chuyển của bệnh để kịp thời đối phó Cho gia súc ăn uống thức ăn tốt và thích hợp với tính chất của bệnh
Dùng kháng huyết thanh: Chủ yếu dùng chữa bệnh đặc hiệu vì vậy thường được dùng trong ổ dịch, chữa cho gia súc đã mắc bệnh Chữa bệnh bằng kháng huyết thanh là đưa vào cơ thể những kháng thể chuẩn bị sẵn, có tác dụng trung hòa mầm bệnh hoặc độc tố của chúng (huyết thanh kháng độc tố)
Dùng hóa dược: Phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng, một số hóa dược dùng chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầm bệnh Dùng hóa dược chữa bệnh phải tác động mạnh và sớm, vì nhiều loài vi khuẩn có thể thích ứng với liều lượng nhỏ
Dùng kháng sinh: Kháng sinh là những thuốc đặc hiệu có tác dụng ngăn cản
sự sinh sản của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn Tuy nhiên sử dụng kháng sinh có thể gây nhiều tai biến do thuốc có tính độc, do phản ứng dị ứng, do một lúc tiêu diệt nhiều vi khuẩn làm giải phóng một lượng lớn độc tố, làm giảm phản ứng miễn dịch của cơ thể
Phải chẩn đoán đúng bệnh để dùng đúng thuốc, dùng sai thuốc sẽ chữa không khỏi bệnh mà làm cho việc chẩn đoán bệnh về sau gặp khó khăn
Trang 28Chọn loại kháng sinh có tác dụng tốt nhất đối với mầm bệnh đã xác định Dùng liều cao ngay từ đầu, những lần sau có thể giảm liều lượng
Không nên vội vàng thay đổi kháng sinh mà phải chờ một thời gian để phát huy tác dụng của kháng sinh
Phải dùng phối hợp nhiều loại kháng sinh để làm giảm liều lượng và độc tính của từng loại, làm diện tác động đến vi khuẩn rộng hơn, tăng tác dụng điều trị và hạn chế hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc
Phải tăng cường sức đề kháng của cơ thể gia súc như nuôi dưỡng tốt, dung thêm vitamin, tiêm nước sinh lý…
2.2.3.3 Những hiểu biết về một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nái 2.2.3.3.1 Bệnh viêm tử cung
Theo Nguyễn Văn Thanh và cs (2016) [19], viêm tử cung là một hội chứng thường xuất hiện trên lợn nái sau khi đẻ có nhiều nguyên nhân gây viêm tử cung như: dinh dưỡng, tuổi, lứa đẻ, tình trạng sức khỏe, chăm sóc và quản lý, vệ sinh, tiểu khí hậu chuồng nuôi Nhưng nguyên nhân chính luôn có trong các trường hợp
là do vi sinh vật, nguyên nhân khác sẽ làm giảm sức đề kháng của cơ thể hoặc tạo điều kiện cho vi sinh vật xâm nhập và phát triển để gây nên các triệu chứng
Lợn nái viêm tử cung sẽ bị tổn thương lớp niêm mạc Từ đó gây ảnh hưởng sự tiết prostagladin F2 và làm xáo trộn chu kỳ động dục, làm tăng tình trạng chậm sinh và vô sinh
* Nguyên nhân
Theo Nguyễn Xuân Bình (2000) [1], bệnh viêm tử cung xảy ra ở những thời gian khác nhau nhưng bệnh xảy ra nhiều nhất vào thời gian sau khi đẻ 1 - 10 ngày Theo Đoàn Thị Kim Dung và Lê Thị Tài (2002) [4], nguyên nhân gây ra bệnh
viêm tử cung chủ yếu do vi khuẩn tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus), liên cầu dung huyết (Streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgaris, Klebriella, dung huyết E.coli, còn có thể do trùng doi (Trichomonas foetus) và do nấm Candida albicans
Trang 29Mặt khác, khi gia súc đẻ, nhất là trường hợp đẻ khó phải can thiệp, niêm mạc tử cung bị xây sát và tạo các ổ viêm, mặt khác các bệnh truyền nhiễm như sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, lao… thường gây viêm tử cung, âm đạo
* Triệu chứng
Theo Nguyễn Văn Thanh (2007) [18] khi lợn nái bị viêm, các chỉ tiêu lâm sàng như thân nhiệt và tần số hô hấp đều tăng Lợn bị sốt theo quy luật, sáng sốt nhẹ 39 - 39,5°C; chiều 40 - 41°C Tuỳ vào vị trí tác động của quá trình viêm đối với tử cung của lợn nái, người ta chia thành ba thể viêm: viêm nội mạc tử cung, viêm cơ tử cung, viêm tương mạc tử cung
Con vật ăn kém, sản lượng sữa giảm, đôi khi con vật cong lưng rặn
Từ cơ quan sinh dục chảy ra hỗn dịch lẫn nhiều mảnh tổ chức, mùi hôi tanh, có màu trắng đục, hồng hay nâu đỏ Khi nằm lượng dịch chảy ra nhiều hơn
Theo Lê Minh và cs (2017) [9], tùy theo mức độ tổn thương, loại vi khuẩn, mức
độ phát triển và hoạt động của vi khuẩn, sự rối loạn chức năng sinh lý và nội tiết tử cung mà tử cung có biểu hiện các triệu chứng lâm sàng khác nhau
* Hậu quả
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [5]; Trần Thị Dân (2006) [2], khi lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau:
Sảy thai do:
Lớp cơ trơn ở thành tử cung có đặc tính co thắt Khi mang thai, sự co thắt của
cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của progesterone, nhờ vậy phôi có thể bám chặt
vào tử cung
Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử cung tiết
nhiều prostaglandin F 2α (PGF 2α ), PGF 2α gây phân huỷ thể vàng ở buồng trứng bằng cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây co mạch hoặc thoái hoá các mao quản ở thể vàng nên giảm lưu lượng máu đi đến thể vàng Thể
vàng bị phá huỷ, không tiết progesterone nữa, do đó hàm lượng progesterone
trong máu sẽ giảm làm cho tính trương lực co của cơ tử cung tăng, vì vậy gia súc cái có chửa dễ bị sảy thai
Trang 30Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc thai chết lưu Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn nên lợn con trong giai đoạn theo
mẹ thường bị tiêu chảy
Theo Trần Thị Dân (2006) [2], lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại
Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung sau khi sinh
đẻ Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa đẻ sau là nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ Mặt khác, viêm tử cung là một trong các nguyên nhân dẫn đến hội chứng MMA (viêm tử cung, viêm vú và mất sữa), từ đó làm cho tỷ lệ lợn con nuôi sống thấp
* Biện pháp phòng trị
- Phòng bệnh
Theo Nguyễn Tài Năng và cs (2016) [11], vệ sinh chuồng trại sạch sẽ một tuần trước khi lợn đẻ, rắc vôi bột hoặc nước vôi 20% sau đó rửa sạch bằng nước thường, tắm cho lợn trước khi đẻ, vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục và bầu vú
Theo Lê Văn Năm (2009) [10], trong khi đỡ đẻ bằng tay phải sát trùng kĩ bằng cồn, xoa trơn tay bằng vaselin hoặc dầu lạc
Cho lợn nái chửa thường xuyên vận động, đảm bảo ăn uống đầy đủ, vệ sinh sạch sẽ
Kiểm tra nghiêm ngặt dụng cụ dẫn tinh đúng quy định và không để nhiễm khuẩn
Không sử dụng lợn đực bị nhiễm khuẩn đường sinh dục để nhảy trực tiếp hoặc lấy tinh
Phòng bệnh truyền nhiễm Leptospirosis, Brucellosis… bằng cách dùng vắc
xin đúng quy định, đúng thời gian cho đàn lợn sinh sản tránh những trường hợp bị sốt đột ngột gây sẩy thai
- Điều trị
Điều trị cục bộ: Bơm rửa tử cung ngày 1 - 2 lần, mỗi lần 2 - 4 lít nước đun sôi
để nguội pha thuốc tím 0,1% hay nước muối sinh lý 0,9%, sau đó bơm hoặc đặt