CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Cơ sở lý thuy_t
2.1.1 Công nghệ thông tin và truyền thông
Theo Pal và Panigrahi (2013), công nghệ thông tin và truyền thông có vai trò thiết yếu trong việc nâng cao chất lượng giáo dục bền vững toàn cầu.
Theo Blurton (2002), ICT được định nghĩa là một tập hợp đa dạng các công cụ và công nghệ phục vụ cho việc giao tiếp, tạo ra, phổ biến, lưu trữ và quản lý thông tin Các công nghệ này bao gồm máy tính, Internet, công nghệ phát thanh và truyền hình, cũng như điện thoại.
Công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) là hạ tầng và các thành phần cho phép tính toán hiện đại Mặc dù không có định nghĩa chung, thuật ngữ này thường chỉ tất cả các thiết bị, thành phần mạng, ứng dụng và hệ thống giúp mọi người và tổ chức tương tác trong thế giới kỹ thuật số ICT thường được sử dụng để đại diện cho một danh sách rộng hơn về các thành phần liên quan đến máy tính và công nghệ kỹ thuật số so với công nghệ thông tin (CNTT).
2.1.2 Sử dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực ngân hàng
Trong những năm gần đây, công nghệ thông tin đã trở thành một phần thiết yếu trong cuộc sống con người Mọi lĩnh vực và ngành nghề đều áp dụng công nghệ thông tin, đặc biệt là trong ngành ngân hàng Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong ngân hàng ngày càng gia tăng, mang lại hiệu quả cao.
Xu hướng này được dự đoán sẽ còn tăng mạnh và phát triển mạnh hơn nữa trong tương lai.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa 4.0, việc tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành ngân hàng được xem là một yêu cầu cấp thiết của nhà nước Nhờ vào các chính sách và chủ trương tập trung vào nguồn nhân lực, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã phát triển kỹ thuật ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại và đồng bộ trong thời gian qua.
Hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam đã có những tiến bộ đáng kể nhờ đầu tư vào công nghệ, bao gồm điện toán đám mây, phân tích dữ liệu và trí tuệ nhân tạo Những ứng dụng này không chỉ nâng cao hiệu suất làm việc của ngân hàng mà còn cải thiện trải nghiệm của khách hàng, mang lại sự hài lòng cao hơn khi sử dụng dịch vụ.
Các ngân hàng hiện nay sử dụng các kênh tiếp cận người dùng trên nền tảng điện thoại thông minh và mạng xã hội để hiểu rõ nhu cầu và tâm lý khách hàng Vai trò của công nghệ thông tin trong ngân hàng là rất quan trọng và thiết thực Hầu hết các ngân hàng tại Việt Nam đã phát triển ứng dụng Mobile Banking, và nhân viên ngân hàng khuyến khích khách hàng thực hiện các giao dịch qua ứng dụng thay vì đến quầy giao dịch.
Việc ứng dụng công nghệ thông tin đã giúp các ngân hàng cải thiện cấu trúc và phương thức hoạt động, đồng thời mở rộng các sản phẩm dịch vụ tài chính mới Điều này không chỉ mang lại lợi ích cho ngân hàng mà còn tạo sự tiện lợi cho khách hàng, giúp tiết kiệm chi phí giao dịch tối đa.
Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng đang được áp dụng rộng rãi, mang lại hiệu quả và độ an toàn cao Nó thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của giao dịch không dùng tiền mặt, đặc biệt là qua điện thoại và internet.
Các ngân hàng luôn chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin để đảm bảo an toàn hệ thống và bảo mật thông tin, đồng thời bảo vệ quyền lợi của khách hàng Ngoài ra, việc cập nhật công nghệ thông tin liên tục giúp ngân hàng bắt kịp xu hướng khoa học công nghệ, nâng cao chất lượng dịch vụ và đáp ứng các tiêu chuẩn chung trong ngành.
2.1.2 Ổn định tài chính 2.1.1.1 Khái niệm về ổn định tài chính
Kể từ khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, các nhà hoạch định chính sách đã chú trọng đến việc đo lường tổng thể vĩ mô để giám sát và điều tiết tài chính Tuy nhiên, do tính phức tạp của hệ thống tài chính và sự đa dạng về quy mô, thể chế, sản phẩm và thị trường, vẫn chưa có định nghĩa thống nhất về ổn định tài chính.
Theo Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB), ổn định tài chính là điều kiện cần thiết để hệ thống tài chính, bao gồm các trung gian tài chính, thị trường và cơ sở hạ tầng, có khả năng chịu đựng các cú sốc mà không làm gián đoạn quá trình phân bổ tiết kiệm cho các cơ hội đầu tư ECB xác định ba điều kiện cụ thể cho ổn định tài chính: (i) Hệ thống tài chính phải di chuyển hiệu quả các nguồn lực từ người tiết kiệm sang nhà đầu tư; (ii) Rủi ro tài chính cần được đánh giá và quản lý chính xác; (iii) Hệ thống tài chính phải có khả năng hấp thụ các cú sốc kinh tế bất ngờ Trong đó, điều kiện thứ ba là quan trọng nhất, vì việc không thể hấp thụ cú sốc có thể dẫn đến khủng hoảng tài chính tổng thể Ngân hàng Trung ương Đức cũng nhấn mạnh rằng ổn định tài chính là khả năng duy trì hoạt động hiệu quả của hệ thống ngay cả trong thời kỳ kinh tế căng thẳng, đồng thời tạo ra nền tảng cơ sở hạ tầng tài chính hiệu quả.
Anatolyevna và Ramilevna (2013) định nghĩa ổn định tài chính là khả năng của hệ thống tài chính, bao gồm thị trường tài chính, trung gian tài chính và cơ sở hạ tầng, để chống lại các cú sốc tài chính, từ đó duy trì hoạt động phân phối tiết kiệm cho các cơ hội đầu tư Định nghĩa này nhấn mạnh mối liên hệ giữa ổn định tài chính và việc giảm thiểu rủi ro Sự ổn định tài chính có thể khác nhau giữa các nền kinh tế phát triển và đang phát triển; ở các quốc gia phát triển, nó thường dựa vào tình trạng của các tổ chức tài chính phi ngân hàng, trong khi ở các nền kinh tế đang phát triển, ngân hàng đóng vai trò trụ cột chính do thị trường chứng khoán chưa hoàn thiện Do đó, ổn định tài chính không chỉ là khả năng phục hồi của các trung gian tài chính trước cú sốc mà còn là khả năng thực hiện hiệu quả chức năng trung gian tiết kiệm và đầu tư trong nền kinh tế thực.
Sự bất ổn tài chính của ngân hàng trái ngược với ổn định tài chính và liên quan đến nhiều khái niệm khác nhau.
Theo Mishkin (1999), bất ổn tài chính gây cản trở luồng thông tin, khiến hệ thống không thể thực hiện hiệu quả chức năng phân bổ tài chính cho các cá nhân có cơ hội đầu tư.
Các lý thuy_t nền tảng
Thuyết chi phí đại diện, được giới thiệu bởi Jensen & Meckling (1976), giải thích ảnh hưởng của cơ cấu sở hữu đến lợi nhuận Theo lý thuyết này, các nhà quản lý thường ưu tiên lợi ích cá nhân hơn là tối ưu hóa tài sản và lợi ích của chủ sở hữu Một giải pháp hiệu quả để giảm mâu thuẫn đại diện là sở hữu quản trị, giúp tăng cường tỷ lệ sở hữu của các nhà quản lý trong công ty, từ đó hài hòa lợi ích giữa họ và cổ đông Nhìn chung, các ngân hàng thuộc sở hữu của cổ đông có khả năng hoạt động hiệu quả hơn so với ngân hàng tương hỗ, ngân hàng hợp tác xã hay ngân hàng Chính phủ.
Lý thuyết tín hiệu được nhắc đến từ đầu thập niên 70 của thế kỷ XX, đến năm
Năm 1973, Spence thực hiện nghiên cứu thị trường lao động và phát triển lý thuyết tín hiệu Theo lý thuyết này, để tìm kiếm việc làm, người lao động cần phát tín hiệu, tức là cung cấp thông tin cá nhân cho thị trường lao động nhằm thể hiện khả năng của mình.
Thuyết phát tín hiệu, theo Ross (1977), đề cập đến sự khác biệt trong thông tin giữa các giám đốc, bộ phận trong công ty và các nhà đầu tư Các nhà quản lý có quyền truy cập vào thông tin tài chính quan trọng hơn so với những người bên ngoài, trong khi các nhà đầu tư phải đối mặt với thông tin có thể gây hiểu lầm Biến động trong cơ cấu vốn có thể phát tín hiệu cho các bên bên ngoài về hiệu quả hoạt động của công ty Heid và cộng sự (2014) chỉ ra rằng cơ cấu vốn bền vững truyền tín hiệu tích cực về giá trị ngân hàng tới thị trường Điều này cho thấy nếu các nhà quản trị ngân hàng ứng phó tốt với thông tin từ dịch bệnh Covid-19, họ sẽ có thể xây dựng chiến lược kinh doanh phù hợp.
Theo lý thuyết tín hiệu, để giảm thiểu bất cân xứng thông tin, các công ty cần phát tín hiệu cho các bên liên quan Tuy nhiên, các công ty thường phát tín hiệu có lợi cho bản thân nhằm che giấu những điểm yếu và tăng cường sức cạnh tranh để thu hút vốn đầu tư Điều này cho thấy rằng nhà quản lý có thể sử dụng các công cụ để cung cấp thông tin tích cực nhất về doanh nghiệp cho các nhà đầu tư.
2.2.3 Thuy_t chi phí giao dịch
Thuyết chi phí giao dịch: Khái niệm chi phí giao dịch lần đầu tiên được Ronald
Coase trong bài viết nổi tiếng năm 1937 "Bản chất của doanh nghiệp" đã đề cập đến chi phí giao dịch, bao gồm thời gian và chi phí cho việc đàm phán, soạn thảo và thực thi các hợp đồng Thuyết này sau đó được Foss phát triển.
Vào năm 1996, đầu tư vào công nghệ được cho là giảm chi phí sản xuất, dẫn đến giá bán thấp hơn và giảm chi phí giao dịch cho người mua, giúp khách hàng tiếp cận sản phẩm giá rẻ mà vẫn đảm bảo chất lượng Đến năm 2004, nghiên cứu của Chen chỉ ra rằng việc áp dụng công nghệ không chỉ tăng năng suất mà còn giảm chi phí giao dịch Trong ngành ngân hàng, chi phí này sẽ giảm khi ngân hàng sử dụng công nghệ để hỗ trợ giao dịch, cho phép khách hàng thực hiện giao dịch từ bất kỳ đâu mà không cần đến ngân hàng Hơn nữa, đầu tư vào công nghệ không chỉ cải thiện chất lượng sản phẩm mà còn nâng cao hiệu suất phục vụ khách hàng, đồng thời cho phép đo lường sự thay đổi của chi phí giao dịch.
2.2.4 Học thuy_t về cú sốc kinh t_
Học thuyết về cú sốc kinh tế chỉ ra rằng sự thay đổi của các biến số kinh tế vĩ mô có thể ảnh hưởng lớn đến kết quả kinh tế của một quốc gia, bao gồm thất nghiệp, tiêu dùng và lạm phát Các cú sốc này thường không thể đoán trước và xuất phát từ những sự kiện ngoài tầm kiểm soát của các giao dịch kinh tế thông thường Chúng có tác động lâu dài và sâu rộng, được xem là nguyên nhân của suy thoái và chu kỳ kinh tế theo lý thuyết chu kỳ kinh doanh thực (RBC) Đại dịch Covid-19 đã chứng minh rõ ràng điều này khi gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh tế xã hội toàn cầu, bao gồm Việt Nam, với sự đứt gãy chuỗi cung ứng, doanh nghiệp phá sản, người dân mất mạng sống và tỷ lệ thất nghiệp gia tăng, dẫn đến sự ngưng trệ của nền kinh tế.
2.2.5 Lý thuy_t chấp nhận và sử dụng công nghệ
Lý thuyết chấp nhận và sử dụng công nghệ (TAM) là nền tảng quan trọng cho sự thành công của hệ thống thông tin, theo DeLone & McLean (2016) Các thành phần chính của lý thuyết này bao gồm nhận thức về tính hữu ích, nhận thức về tính dễ sử dụng, và thái độ cũng như hành vi sử dụng công nghệ Nhận thức đóng vai trò quyết định trong việc ảnh hưởng đến hành vi người dùng TAM đã trở thành cơ sở lý thuyết cho nhiều nghiên cứu về hệ thống thông tin, đặc biệt là những nghiên cứu liên quan đến hành vi người sử dụng, và đã được mở rộng kết hợp với các lý thuyết khác, bao gồm lý thuyết thành công theo mô hình D&M.
Các nghiên cứu trước
Del Gaudio và cộng sự (2021) đã nghiên cứu tác động của công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) đến lợi nhuận và rủi ro kiệt quệ tài chính trong ngành ngân hàng, dựa trên dữ liệu Chỉ số Phát triển Thế giới do Ngân hàng Thế giới cung cấp.
Kết quả nghiên cứu cho thấy công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT-TT) có vai trò quan trọng trong việc nâng cao các chỉ số hiệu suất trong ngành ngân hàng Hơn nữa, sự ổn định tài chính tổng thể của ngành này được củng cố nhờ vào việc áp dụng mạnh mẽ công nghệ CNTT và công nghệ tài chính, từ đó làm gia tăng khoảng cách dẫn đến tình trạng vỡ nợ.
Một nghiên cứu của Asongu và Biekpe (2018) đã phân tích tác động của việc bổ sung thông tin và công nghệ thông tin (ICT) đến sức mạnh thị trường trong ngành ngân hàng châu Phi Kết quả cho thấy rằng việc giảm năng lượng có ảnh hưởng đáng kể, làm giảm khối lượng đầu tư và tiết kiệm, đồng thời tăng chi phí trung gian tài chính, dẫn đến sự suy giảm trong tăng trưởng kinh tế.
Nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Minh (2022) chỉ ra rằng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) có tác động tích cực đến phát triển tài chính tại một số quốc gia Đông Nam Á, bao gồm Việt Nam, Singapore, Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Brunei và Philippines trong giai đoạn 1996-2019 Dữ liệu được thu thập từ Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) Kết quả nghiên cứu nhấn mạnh rằng các quốc gia Đông Nam Á cần xây dựng chính sách phù hợp để thúc đẩy phát triển tài chính thông qua ICT.
Nghiên cứu của Linh và Khánh (2022) chỉ ra rằng chuyển đổi số ngân hàng thúc đẩy sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) trong hệ thống ngân hàng toàn cầu Nghiên cứu này phân tích tác động của ICT đến hiệu quả hoạt động của 39 ngân hàng tại Việt Nam trong giai đoạn 2009-2020 Kết quả cho thấy có mối quan hệ đồng biến đáng kể giữa khả năng sinh lời của ngân hàng và chỉ số ICT Tác động tích cực này được thể hiện rõ trong quá trình chuyển đổi kỹ thuật số, với lợi tức đầu tư vào cơ sở hạ tầng CNTT vượt qua chi phí cài đặt ban đầu Những phát hiện này khẳng định rằng tiến bộ trong CNTT-TT giúp ngân hàng hoạt động hiệu quả hơn khi chuyển từ hệ thống truyền thống sang kỹ thuật số.
Nghiên cứu của Thanh và Tú (2022) chỉ ra rằng mặc dù có nhiều nghiên cứu về tác động của công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng, câu hỏi liệu ICT có thể cải thiện hiệu quả ngân hàng vẫn chưa có lời giải, đặc biệt ở các nước mới nổi như Việt Nam Chương này phân tích tác động của phát triển CNTT-TT đến hiệu quả hoạt động của ngành ngân hàng Việt Nam trong giai đoạn 2007-2019 Trong giai đoạn đầu, hiệu quả và năng suất của các ngân hàng được ước tính bằng phương pháp Phân tích phong bì dữ liệu Giai đoạn thứ hai, các chỉ số hiệu quả và năng suất được hồi quy dựa trên các đặc điểm vĩ mô và vi mô của ngành ngân hàng, bao gồm mức độ phát triển CNTT-TT Kết quả cho thấy sự phát triển CNTT-TT có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả của các ngân hàng Việt Nam, tuy nhiên mức độ ảnh hưởng này khác nhau giữa các ngân hàng.
Bảng 2.1 Tóm tắt các nghiên cứu trước có liên quan đến ảnh hưởng của truyền thông công nghệ lên ổn định tài chính
Tác giả Khung thời gian Nơi nghiên cứu Kết quả nghiên cứu
Del Gaudio và cộng sự (2021) 1995-2015 Ngành ngân hàng
Công nghệ thông tin đóng vai trò tích cực trong việc cải thiện lợi nhuận.
Các quốc gia Đông Nam Á (Việt Nam, Singapore, Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Bruney và Philippines)
ICT có tác động cùng chiều đến phát triển tài chính tại một số quốc gia Đông Nam Á. Linh và Khánh
Kết quả cho thấy khả năng sinh lời của ngân hàng và chỉ số ICT có mối quan hệ đồng biến đáng kể.
Hiệu quả của các ngân hàng Việt Nam được đóng góp tích cực bởi sự phát triển CNTT- TT
2.3.2 Ảnh hưởng cua đa dạng hoá đ_n ổn định tài chính
Naiwei và cộng sự (2018) đã nghiên cứu tác động của đa dạng hóa tài sản đến khả năng sinh lời của các ngân hàng ở ba quốc gia châu Á, bao gồm Malaysia, Pakistan và Indonesia, trong giai đoạn 2006 – 2012 Kết quả cho thấy rằng đa dạng hóa tài sản có mối quan hệ nghịch với khả năng sinh lời, cụ thể là chỉ số ROA.
Nghiên cứu của Petria và cộng sự (2015) cho thấy rằng việc đa dạng hóa thu nhập không tác động đến khả năng sinh lời của các ngân hàng tại 27 quốc gia thành viên châu Âu trong giai đoạn 2004 – 2011.
Kim và cộng sự (2020) đã tiến hành nghiên cứu trên một mẫu ngân hàng thương mại từ các quốc gia OECD, nhằm điều tra tác động của đa dạng hóa ngân hàng đối với sự ổn định tài chính Kết quả cho thấy có mối quan hệ phi tuyến tính đáng kể giữa hai yếu tố này.
Mức độ đa dạng hóa ngân hàng vừa phải có thể tăng cường tính ổn định của ngân hàng, trong khi đa dạng hóa quá mức lại dẫn đến tác động ngược.
Theo nghiên cứu của Shim (2019), việc gia tăng đa dạng hóa cho vay có ảnh hưởng tích cực đến sức mạnh tài chính của ngân hàng Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng sự tập trung thị trường có mối quan hệ tiêu cực với rủi ro mất khả năng thanh toán của ngân hàng, phù hợp với quan điểm “tập trung-ổn định” Kết quả cho thấy các ngân hàng đa dạng hóa hoạt động trong các thị trường có mức độ tập trung cao có sự ổn định tài chính tốt hơn so với các ngân hàng hoạt động ở các thị trường ít tập trung hơn.
Võ Đức Thọ (2017) đã nghiên cứu ảnh hưởng của đa dạng hóa đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại (NHTM) tại Việt Nam trong giai đoạn 2001 – 2015 Kết quả cho thấy rằng đa dạng hóa tiền gửi, tín dụng và tài sản đều có tác động tích cực đến khả năng sinh lời của các NHTM, trong khi đa dạng hóa thu nhập lại có ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng sinh lời này.
Nghiên cứu của Thịnh và cộng sự (2021) phân tích tác động của đa dạng hóa đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2007 – 2018 Kết quả cho thấy rằng đa dạng hóa thu nhập có ảnh hưởng tích cực đến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) Bên cạnh đó, tốc độ tăng trưởng tài sản và quy mô ngân hàng cũng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao khả năng sinh lời của các ngân hàng.
Nghiên cứu của Hoàng Thị Thương Thảo (2017) về tác động của đa dạng hóa thu nhập đến lợi nhuận của ngân hàng thương mại Việt Nam đã sử dụng dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau.
Trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2016, 32 ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam đã được phân tích Hai chỉ tiêu chính là ROAA và ROAE được sử dụng để đo lường lợi nhuận của ngân hàng Đồng thời, mức độ đa dạng hóa được đánh giá thông qua biến INCDIV, theo nghiên cứu của Stiroh KJ và cộng sự (2006) cũng như Chiorazzo và cộng sự.
Khoảng trống nghiên cứu
Nghiên cứu trước đây đã chỉ ra nhiều yếu tố vĩ mô và vi mô ảnh hưởng đến ổn định tài chính của các ngân hàng thương mại, nhưng vẫn còn thiếu các nghiên cứu về tác động của công nghệ truyền thông và đa dạng hóa đến vấn đề này, đặc biệt là trong bối cảnh Việt Nam Do đó, bài nghiên cứu này nhấn mạnh sự cần thiết phải lấp đầy khoảng trống này, nhằm làm rõ cách mà công nghệ thông tin và truyền thông tác động đến mọi khía cạnh của đời sống, cũng như ảnh hưởng đến ổn định tài chính của các ngân hàng Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp những hàm ý chính sách phù hợp để đối phó với những tác động tiêu cực của công nghệ thông tin đối với ổn định tài chính trong những năm tới của ngành ngân hàng.
Kết luận chương 2 đã trình bày các khái niệm, lý thuyết nền tảng, và các nghiên cứu trước đây cùng với những hạn chế của chúng Những nội dung này sẽ là cơ sở quan trọng để nhóm phát triển mô hình hình thành giả thuyết và phương pháp nghiên cứu trong chương tiếp theo.
PHƯƠNG PHÁP VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Chương này tập trung vào việc thu thập và đánh giá dữ liệu, nhằm trả lời câu hỏi về tác động của công nghệ đến ổn định tài chính tại các ngân hàng thương mại Việt Nam Tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả và phân tích hồi quy trên dữ liệu bảng để chứng minh mối quan hệ giữa các biến giả thuyết, chỉ số ICT Index, fintech và đa dạng hoá.
3.1 Các giả thuy_t nghiên cứu
Theo Saunders và cộng sự (2012), trong nghiên cứu khoa học có bốn chủ nghĩa chính: thực chứng, hiện thực, diễn giải và thực dụng Chủ nghĩa thực chứng được áp dụng khi có bằng chứng xác thực và có thể thống kê, nhằm thử nghiệm các giả thuyết Các nhà nghiên cứu thực chứng sử dụng phương pháp hệ thống để phân tích dữ liệu Chủ nghĩa hiện thực tương tự nhưng mở rộng tri thức để đưa ra kết luận có giá trị, mặc dù kết quả có thể bị ảnh hưởng bởi phạm vi thông tin hạn chế Chủ nghĩa diễn giải nhấn mạnh rằng chỉ thu thập số liệu định lượng không đủ để đánh giá bối cảnh thương mại và quản trị, do đó cần xem xét dữ liệu định tính để có cái nhìn toàn diện Chủ nghĩa thực dụng kết hợp cả hai phương pháp định tính và định lượng, coi đây là cách tiếp cận hợp lý để phát triển quy trình và mối quan hệ rõ ràng, mặc dù chủ nghĩa thực chứng có thể không phù hợp khi không thể thu thập toàn bộ dữ liệu trong thời gian ngắn.
3.2 Các phương pháp ti_p cận
Nghiên cứu này yêu cầu một cách tiếp cận cẩn thận, với ba phương pháp chính được áp dụng Đầu tiên, phương pháp diễn dịch được thực hiện thông qua việc phân tích tài liệu liên quan để xây dựng lý thuyết và kiểm tra tính chính xác của các giả thuyết, sử dụng dữ liệu định lượng Ngược lại, phương pháp quy nạp tập trung vào việc thu thập và điều tra thông tin, thường được áp dụng trong các nghiên cứu định tính để tìm ra kết quả Trong nghiên cứu này, phương pháp diễn dịch sẽ được sử dụng để phân tích ảnh hưởng của công nghệ thông tin và truyền thông đến sự ổn định tài chính của các ngân hàng thương mại.
Bảng 3.1 Quy trình nghiên cứu
Mô hình và phương pháp nghiên cứu
Thu thập và xử lý dữ liệu
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.4 Xây dựng các bi_n trong mô hình nghiên cứu
3.4.1 Cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu
Nghiên cứu cho thấy công nghệ thông tin ảnh hưởng tích cực đến các ngân hàng thương mại Việt Nam, đặc biệt từ khi công nghệ này phát triển Tác động của công nghệ thông tin có sự khác biệt giữa các ngân hàng lớn và nhỏ, cũng như liên quan đến rủi ro tín dụng Bài nghiên cứu này nhằm tìm hiểu tác động đáng kể của công nghệ thông tin đến sự ổn định tài chính của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam Dữ liệu được thu thập từ năm 2009 đến 2021 sẽ giúp phân tích rõ hơn về tác động này qua các biến số cụ thể.
Trong nghiên cứu này, tác giả đánh giá sự ổn định tài chính của ngân hàng thông qua 5 chỉ số tài chính quan trọng: ROA, ROE, Z-CORE, RAROA và RAROE Những chỉ tiêu này không chỉ phản ánh tính ổn định tài chính mà còn thể hiện hiệu quả kinh doanh của ngân hàng Cụ thể, ROA đo lường tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản, trong khi ROE đo lường tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu Bên cạnh đó, chỉ số Z-SCORE giúp đánh giá rủi ro phá sản của doanh nghiệp.
Nhiều nhà nghiên cứu, như Pasiouras và Kosmidou (2007), cho rằng ROA là chỉ số quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng, vì nó không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố tài chính cao Các nghiên cứu của Naceur và Kandil (2009), Naceur và Omran (2011), Dietrich và Wanzenried (2011) cùng Sufian (2011) đã sử dụng cả ROA và ROE trong phân tích của họ.
Xác định biếnROAROERAROARAROEZ-SCORE 3.2.3 Các bi_n độc lập và giả thuy_t nghiên cứu
Quy mô ngân hàng lớn mang lại sức mạnh tài chính cao, cho phép ngân hàng mở rộng cho vay và đầu tư, đồng thời lựa chọn khách hàng uy tín, từ đó tăng lợi nhuận Theo nghiên cứu của Hu và các cộng sự (2004), ngân hàng lớn có nguồn nhân lực dồi dào và kinh nghiệm trong xử lý các vấn đề về sự lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức Nhiều nghiên cứu, như của A Ghosh (2005) và Rajan và Dhal (2003), cũng chỉ ra mối tương quan tích cực giữa nợ xấu và quy mô ngân hàng.
(2013), Đoàn Thị Thanh Thủy (2015), Nguyễn Thị Hồng Vinh (2015), Nguyễn Tuấn Kiệt và Định Hồng Phú (2016)
Biến SIZE được xác định là Ln (tổng tài sản) Qua việc lược khảo các tài liệu, tác giả kỳ vọng rằng quy mô ngân hàng càng lớn sẽ có tác động tích cực đến lợi nhuận.
Giả thuyết H1: Quy mô ngân hàng và ổn định tài chính tỉ lệ thuận với nhau.
Lạm phát (INF) là hiện tượng khi lượng tiền trong lưu thông vượt quá nhu cầu, dẫn đến mất giá và tăng giá cả hàng hóa Nó ảnh hưởng đến giá trị dòng tiền thực trong chi phí và doanh thu của các chủ thể kinh tế Mặc dù lạm phát vừa phải có thể mang lại tác động tích cực, lạm phát cao và phi mã lại gây ra hậu quả nghiêm trọng Nghiên cứu của Dietrich & Wanzenried (2014), Syafri (2012), Vincent và Gemechu (2013), Gul, Irshad và Zaman (2011), Alper và Anbar (2011) chỉ ra rằng lạm phát có tác động hai mặt đến lợi nhuận của ngân hàng, theo Nkusu.
Lạm phát tăng sẽ làm giảm thu nhập thực của khách hàng vay, theo nghiên cứu của Klein (2013) và các tác giả khác như Louzis và cộng sự (2010), Fojack (2005), Đỗ Quỳnh Anh và Nguyễn Đức Hùng (2013), Đoàn Thị Thanh Thủy (2015) Những nghiên cứu này cũng chỉ ra mối tương quan dương giữa tỷ lệ nợ xấu và tỷ lệ lạm phát.
Xác định biến: tỷ lệ lạm phát của nền kinh tế = Được xác định tỷ lệ lạm phát hằng năm mà nhà nước công bố.
Theo lược khảo các tài liệu vừa thực hiện ở trên, tác giả kỳ vọng tỷ lệ lạm phát càng thấp thì tác động tăng đến lợi nhuận.
Giả thuyết H2: tỷ lệ lạm phát của nền kinh tế và ổn định tài chính tỉ lệ nghịch với nhau
Tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại Khi nền kinh tế phát triển mạnh, nhu cầu về vốn và các dịch vụ ngân hàng gia tăng, thúc đẩy sự phát triển của ngân hàng Ngược lại, khi kinh tế trì trệ, doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tiêu thụ hàng hóa và thanh khoản, dẫn đến rủi ro phá sản và tổn thất cho ngân hàng Nhiều nghiên cứu, như của Dietrich & Wanzenried (2014) và Syafri (2012), đã chỉ ra rằng GDP có tác động tích cực đến kết quả kinh doanh của ngân hàng, thể hiện qua mối quan hệ với ROE và ROA.
(2003), Jimenez và Saurina (2006), và Fofack (2005), Khemraj và Pasha (2009) cũng chỉ ra bằng chứng cho thấy mối quan hệ ngược chiều giữa tốc độ tăng trưởng GDP và nợ xấu.
Xác định biến: tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GROWTH) = ln(𝐺 𝐺 𝐺)
Theo lược khảo các tài liệu vừa thực hiện ở trên, tác giả kỳ vọng GDP càng cao thì tác động tăng đến lợi nhuận.
Giả thuyết H3: Tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội và ổn định tài chính tỉ lệ thuận với nhau.
Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (ETA/EQUITY) là chỉ số quan trọng để đánh giá đòn bẩy tài chính của ngân hàng Tỷ lệ cao cho thấy khả năng an toàn vốn và khả năng thanh toán nợ cho các chủ nợ Nghiên cứu của Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2015) chỉ ra rằng tỷ lệ này có mối quan hệ nghịch với khả năng sinh lời Ngược lại, nghiên cứu của Lê Long Hậu và Phạm Xuân Quỳnh (2017) cho thấy tỷ lệ vốn chủ sở hữu cho vay trên tổng tài sản lại có mối quan hệ dương với khả năng sinh lời.
Xác định biến: ETA= VCSH/TTS
Theo lược khảo các tài liệu vừa thực hiện ở trên, tác giả kỳ vọng ETA càng cao thì tác động tăng đến lợi nhuận.
Giả thuyết H4: Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản và ổn định tài chính tỉ lệ thuận với nhau.
Chi phí hoạt động trên tổng tài sản (COSTA) là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến lợi nhuận ngân hàng Khi chi phí hoạt động tăng cao, lợi nhuận sẽ giảm nếu thu nhập không thay đổi Ngoài ra, nếu tốc độ tăng thu nhập không theo kịp tốc độ tăng chi phí hoạt động, điều này cũng sẽ tác động tiêu cực đến lợi nhuận Nghiên cứu của Lepetit và cộng sự (2007) cùng với Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2015) đã chỉ ra những mối liên hệ này.
Lê Long Hậu và Phạm Xuân Quỳnh (2017) cho thấy, tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng tài sản và khả năng sinh lời có tương quan nghịch.
Xác định biến: COSTA= Chi phí hoạt động/ Tổng tài sản
Theo lược khảo các tài liệu vừa thực hiện ở trên, tác giả kỳ vọng COSTA càng thấp thì tác động tăng đến lợi nhuận.
Giả thuyết H5: Chi phí hoạt động trên tổng tài sản và ổn định tài chính tỉ lệ nghịch với nhau
Tỷ lệ tiền gửi khách hàng trên tổng nợ (DLR) được coi là nguồn vốn huy động giá rẻ và dễ dàng hơn so với các khoản vay từ tổ chức tín dụng và ngân hàng Nhà nước Tỷ lệ này càng cao sẽ mang lại lợi ích cho ngân hàng trong việc quản lý nguồn vốn cho vay Nghiên cứu của Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2015) cho thấy DLR có mối tương quan dương với khả năng sinh lời, trong khi nghiên cứu của Lê Long Hậu và Phạm Xuân Quỳnh (2017) lại chỉ ra rằng DLR có mối tương quan nghịch với khả năng sinh lời Biến DLR được xác định bằng công thức: DLR = Tiền gửi khách hàng / Tổng nợ.
Theo lược khảo các tài liệu vừa thực hiện ở trên, tác giả kỳ vọng DLR càng cao thì tác động tăng đến lợi nhuận.
Giả thuyết H6: Tiền gửi khách hàng trên tổng nợ và ổn định tài chính tỉ lệ thuận với nhau.
Việc đa dạng hóa thu nhập ngoài lãi trên tổng tài sản (INCDIV) giúp ngân hàng sử dụng hiệu quả nguồn lực, giảm chi phí quản lý và hoạt động, đồng thời giảm sự phụ thuộc vào hoạt động tín dụng Điều này không chỉ tăng khả năng cạnh tranh mà còn gia tăng lợi nhuận Ngân hàng càng đa dạng hóa thu nhập thì tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) càng cao (Syed và cộng sự, 2018; Hồ Thị Hồng Minh & Nguyễn Thị Cành, 2015).
Xác định biến: INCDIV= Thu nhập ngoài lãi/ tổng tài sản
Theo lược khảo các tài liệu vừa thực hiện ở trên, tác giả kỳ vọng INCDIV càng cao thì tác động tăng đến lợi nhuận.
Giả thuyết H7: Đa dạng hoá thu nhập và ổn định tài chính tỉ lệ thuận với nhau.