Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn này giúp người nuôi tôm nâng cao hiểu biết về việc sử dụng thuốc và hóa chất trong nuôi tôm thẻ chân trắng, từ đó đảm bảo hiệu quả, chất lượng an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường.
Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và đề nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, bố cục luận văn gồm 3 chương:
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
Hiện trạng nuôi tôm tại 3 huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát của tỉnh Bình Định
Khảo sát diện tích, sản lượng và năng suất tôm nuôi của 3 huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát được trình bày qua bảng sau:
Bảng 3.1 Năng suất tôm TCT của 3 huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát Năm
Theo bảng 3.1, diện tích nuôi tôm năm 2016 đã giảm so với năm 2015, với huyện Hoài Nhơn có diện tích nuôi lớn nhất là 107,1 ha và huyện Phù Cát có diện tích thấp nhất là 66,8 ha Nguyên nhân của sự giảm sút này là do tình hình dịch bệnh phức tạp và khó kiểm soát trong năm 2015, dẫn đến sản lượng nuôi không đạt và nhiều hộ nuôi đã ngừng hoạt động vào năm 2016.
Sau khi rút kinh nghiệm từ năm 2015, năm 2016, người nuôi tôm đã áp dụng hiệu quả các quy trình kỹ thuật trong nuôi tôm TCT, dẫn đến sự gia tăng đáng kể về sản lượng và năng suất tôm so với năm trước Kết quả này được thể hiện rõ qua bảng 3.1 và đồ thị 3.1, cho thấy năng suất tôm TCT của ba huyện trong giai đoạn 2015-2016.
Huyện Phù Cát năng suất tôm TCT thu được năm 2016 là 5,04 tấn/ha, tăng 22,63% so với năng suất tôm năm 2015
Huyện Phù Mỹ năng suất tôm TCT thu được năm 2016 là 8,40 tấn/ha, tăng 18,31% so với năm 2015
Huyện Hoài Nhơn, năng suất tôm TCT năm 2016 là 7,68 tấn/ha tăng 4,77% so với năng suất năm 2015
Mức tăng năng suất qua các năm ở các huyện có sự khác biệt rõ rệt, trong đó Phù Mỹ dẫn đầu với mức tăng cao nhất, tiếp theo là Hoài Nhơn và Phù Cát.
3.1.2 Trình độ văn hóa người nuôi tôm Điều tra trình độ văn hóa của người nuôi tôm ở 90 hộ nuôi tôm (30 hộ/huyện) ở 3 huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát Kết quả như sau: luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
The content appears to be a series of email addresses and identifiers, which may not convey a coherent message or meaning However, if we focus on the key elements, we can summarize it as follows:This article includes important contact information for students, specifically email addresses associated with the academic institution For further inquiries or assistance, students can reach out via the provided email addresses.
Bảng 3.2 Trình độ văn hóa và khả năng áp dụng kiến thức tập huấn chuyên môn vào nghề nuôi tôm TCT tại 3 huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát
Cấp Các học chỉ tiêu
93,33 96,67 100,00 Áp dụng kiến thức tập huấn vào ao nuôi
Theo thống kê, tỷ lệ người dân áp dụng kiến thức vào thực tế nuôi tôm rất cao, dao động từ 80,00% đến 96,67% (xem phụ lục 6 kèm theo).
Trình độ văn hóa của người nuôi tôm ở ba huyện chủ yếu là tốt nghiệp cấp II, trong đó huyện Phù Mỹ có tỷ lệ tốt nghiệp cấp III cao nhất, còn huyện Hoài Nhơn có tỷ lệ thấp nhất Mặc dù trình độ chuyên môn giữa các huyện tương đương, chủ yếu được đào tạo từ các lớp tập huấn, nhưng việc áp dụng kiến thức vào thực tiễn nuôi tôm lại khác nhau Huyện Phù Cát có tỷ lệ áp dụng thấp nhất, dẫn đến sản lượng và năng suất tôm ở đây cũng thấp hơn so với hai huyện Hoài Nhơn và Phù Mỹ.
Theo điều tra, người nuôi tôm chủ yếu là nam giới trong độ tuổi lao động từ 42 đến 45, với độ tuổi thấp nhất là 22 và cao nhất là 76 Những người trong độ tuổi từ 28 đến 42 thường nuôi tôm thành công hơn so với những người trẻ tuổi hoặc lớn tuổi hơn Độ tuổi này thường có sức khỏe tốt, dám đầu tư và áp dụng khoa học kỹ thuật mới, dẫn đến tỷ lệ thành công cao hơn Ngược lại, người trẻ tuổi thiếu kinh nghiệm, trong khi người lớn tuổi thường bảo thủ và khó thay đổi kỹ thuật, chỉ áp dụng kinh nghiệm nuôi tôm sú vào nuôi tôm thẻ chân trắng, làm giảm khả năng thành công.
Do trình độ văn hóa không đồng đều nên việc tiếp thu và áp dụng những kiến thức kỹ thuật vào thực tế còn có hạn chế nhất định
Theo số liệu điều tra, trong những năm đầu nuôi tôm TCT, hình thức nuôi chủ yếu là TC và BTC tại các vùng nuôi trên cát và đầm Tuy nhiên, sau đó, người dân đã chuyển sang nuôi tôm TCT theo hình thức QCCT, kết hợp với các đối tượng khác như cá và cua, mang lại hiệu quả cao Tỷ lệ diện tích nuôi TC và BTC đã giảm từ 35,9% xuống 33,01%, trong khi tỷ lệ diện tích nuôi QCCT tăng từ 64,10% lên 66,99% (Xem bảng 3.3 và đồ thị 3.2 để biết thêm chi tiết).
Năm 2016, diện tích nuôi tôm QCCT thân thiện môi trường (TTMT) tại huyện Phù Mỹ đã tăng nhanh, với việc áp dụng hình thức nuôi này trên diện tích rộng và mật độ hợp lý, góp phần nâng cao sản lượng và năng suất thu hoạch tôm Trong khi đó, huyện Hoài Nhơn cũng ghi nhận sự gia tăng diện tích nuôi tôm QCCT TTMT, nhưng mức độ tăng trưởng không bằng huyện Phù Mỹ Huyện Phù Cát có diện tích nuôi tôm thấp nhất trong ba huyện.
The content appears to be a series of email addresses and identifiers, which may not convey a coherent message or meaning However, if you are looking for a rewritten version that maintains the essence of the original while adhering to SEO principles, here it is:"Contact us at our official email addresses for inquiries related to student services and academic support For assistance, reach out to ninhd.vT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.Lj.dtt@edu.gmail.com.vn or bkc19134.hmu.edu.vn for further information."
Bảng 3.3 Các hình thức nuôi tôm TCT
BTC QCCT TC-BTC QCCT
Năm 2016, tại Bình Định, 82,36% ao nuôi tôm thẻ chân trắng không có ao lắng và xử lý nước thải, trong khi chỉ có 8,33% hộ nuôi có ao lắng và xử lý nước thải, với diện tích ao xử lý chiếm khoảng 1/5 đến 1/4 diện tích ao nuôi Thực trạng này gây khó khăn trong việc quản lý ao nuôi và giảm thiểu bệnh dịch hàng năm.
Hiện nay, việc nuôi trồng thủy sản đang gặp phải vấn đề nghiêm trọng do người nuôi tự ý lấn chiếm đất để xây dựng ao nuôi mà không tuân theo quy hoạch Chất thải từ các ao nuôi được thải trực tiếp vào nguồn nước, dẫn đến ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng Mặc dù một số khu vực có hệ thống chứa và xử lý nước thải, nhưng theo thời gian, các hệ thống này đã xuống cấp và không đủ khả năng chứa nước thải cho toàn bộ vùng nuôi.
3.1.4 Mùa vụ thả nuôi Điều tra khảo sát mùa vụ thả nuôi tôm của 90 hộ, ở 3 huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát (30 hộ/huyện, vùng trên cát 30 hộ, vùng trên đầm 60 hộ) Kết quả như sau:
Bảng 3.4 Mùa vụ thả nuôi tôm TCT của 3 huyện
Kết quả điều tra cho thấy mùa vụ thả nuôi tôm TCT khác nhau ở từng vùng, với 17,78% hộ nuôi 01 vụ/năm, 53,33% hộ nuôi 02 vụ/năm và 28,89% hộ nuôi 03 vụ/năm trở lên Một số ao nuôi có thể đạt 4 - 5 vụ/năm, thường là ao lót bạt ở vùng đầm và trên cát Thời gian cải tạo ao ngắn từ 7 - 10 ngày, trong khi tôm giống được ương trước từ 20 đến 30 ngày tuổi Tuy nhiên, thời gian cải tạo ngắn dẫn đến hiệu quả diệt khuẩn thấp, môi trường nước dễ ô nhiễm, làm tăng nguy cơ dịch bệnh ở các vùng nuôi nhiều vụ/năm và khó kiểm soát.
Tình hình bệnh và sử dụng thuốc hóa chất điều trị
3.3.1 Kết quả điều tra tình hình bệnh Điều tra khảo sát tình hình bệnh tôm của 3 huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát kết quả như sau:
Tình hình dịch bệnh trên tôm TCT tập trung chủ yếu là bệnh đốm trắng do virus và bệnh môi trường (xem phụ lục 4, 5 và 10 kèm theo)
Kết quả từ bảng 3.14 cho thấy huyện Hoài Nhơn có diện tích bệnh tôm lớn nhất, với 10,41 ha vào năm 2015 và 4,7 ha vào năm 2016 Huyện Phù Mỹ đứng thứ hai với diện tích bệnh tôm là 1,33 ha năm 2015 và 1,9 ha năm 2016 Trong khi đó, huyện Phù Cát không ghi nhận diện tích tôm bệnh do chủ yếu nuôi tôm bằng ao lót bạt, giúp công tác cải tạo, phòng bệnh và kiểm soát bệnh dễ dàng hơn Ngược lại, huyện Hoài Nhơn và Phù Mỹ có ao nuôi chủ yếu là đầm, khiến việc kiểm soát mầm bệnh trở nên khó khăn và công tác phòng trị bệnh cho tôm phụ thuộc vào nhiều yếu tố môi trường.
Bảng 3.14 Tình hình dịch bệnh tôm TCT tại 3 huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát
DT bệnh cả năm (ha) DT bệnh cả năm (ha)
Từ đồ thị 3.7, chúng tôi nhận thấy tỷ lệ bệnh tôm ở ba huyện không đồng đều, dẫn đến sự khác biệt về năng suất tôm Huyện Phù Cát có tỷ lệ bệnh tôm bằng 0 nhờ vào việc quản lý phòng bệnh tốt, nhưng do thiếu chuyên môn và kỹ thuật chăm sóc, năng suất tôm ở đây chỉ đạt từ 4,11 - 5,04 tấn/ha, thấp nhất trong ba huyện được khảo sát.
Huyện Phù Mỹ ghi nhận tỷ lệ bệnh tôm năm 2016 là 2,51%, tăng 96,09% so với năm 2015, cho thấy công tác quản lý bệnh chưa hiệu quả và tình hình dịch bệnh vẫn chưa được cải thiện Tuy nhiên, việc áp dụng các kỹ thuật mới có thể giúp cải thiện tình hình này.
Để đạt được sản lượng tôm cao nhất trong 3 huyện, lên tới 8,40 tấn/ha/năm, việc tuân thủ đúng lịch thời vụ nuôi tôm là rất quan trọng.
Năm 2016, huyện Hoài Nhơn ghi nhận tỷ lệ bệnh tôm chỉ còn 4,39%, giảm 120,27% so với năm 2015, trong khi năng suất tôm tăng từ 7,1 đến 7,68% Sự cải thiện này phản ánh nỗ lực của người dân trong việc phòng chống dịch bệnh và áp dụng kỹ thuật nuôi tôm đúng cách.
Tình hình bệnh tôm diễn biến phức tạp qua các năm, gây thiệt hại lớn cho người nuôi Năng suất tôm không chỉ phụ thuộc vào dịch bệnh mà còn vào trình độ chuyên môn và kỹ thuật chăm sóc của người nuôi Do đó, ý thức cộng đồng và trình độ chuyên môn của người nuôi tôm là rất quan trọng.
3.3.2 Các loại bệnh phổ biến trên tôm TCT Điều tra về các loại bệnh phổ biến của 90 hộ nuôi tôm (30 hộ/huyện) ở
3 huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát Kết quả như sau:
Bảng 3.15 Các loại bệnh trên tôm TCT tại 3 huyện Chỉ tiêu STT
Tên bệnh Dấu hiệu bệnh lý và tác hại Số hộ Tỷ lệ
Khi xuất hiện đốm trắng tròn đều dưới vỏ tôm, thường ở vùng giáp đầu ngực, tôm có thể chết với tỷ lệ từ 70-100% trong vòng 5-7 ngày sau khi có dấu hiệu bệnh lý Đối với tôm còn nhỏ, đa phần sẽ bị xả bỏ hoàn toàn.
Tôm vào bờ có gan teo nhỏ chỉ còn 1/3 thể tích bình thường, thậm chí có trường hợp gan bị nhũn rữa và có màu trắng đục Tình trạng này dẫn đến việc tôm bỏ ăn và có thể chết rải rác, với tỷ lệ tử vong từ 20-70% trong vòng 4-7 ngày sau khi xuất hiện dấu hiệu bệnh.
Bệnh Đen mang, vàng mang
Mang tôm bị biến đổi màu sắc từ trắng ngà sang vàng, nâu hoặc đen Khi bệnh trở nặng, hầu hết các tơ mang sẽ chuyển sang màu đen và có hiện tượng rách nát Bệnh này không chỉ gây ra tình trạng chết rải rác mà còn có thể dẫn đến số lượng tôm chết nhiều, làm giảm chất lượng của tôm.
Xuất hiện các vùng mềm vỏ kitin, sau đó tạo điểm nâu, đen, các phần 13 14,44 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Bệnh mòn râu và cụt đuôi ở tôm, như chân bò, chân bơi và đuôi tôm, thường biểu hiện bằng việc các bộ phận này phồng lên rồi dần mòn cụt, với màu đen ở chỗ mòn Khi mắc bệnh, tôm có thể bỏ ăn, và nếu bệnh nặng, tôm sẽ yếu đi và chết Ngay cả khi bệnh nhẹ, nó cũng làm giảm chất lượng tôm thương phẩm.
Cuối hướng gió, xuất hiện các đoạn phân trắng nổi lên mặt nước Tôm có đuôi phân màu trắng đục, đường ruột bị đứt quãng hoặc trống rỗng, dẫn đến tình trạng tôm giảm ăn và chậm lớn.
Bệnh co rút, Bệnh đục thân (hoại tử cơ do yếu tố vô sinh)
Bệnh tôm có dấu hiệu co rút cứng ngay cả khi tôm còn sống, với đuôi cong về phía bụng Tôm khó vận động, bắt mồi và thường chết rải rác.
- Phần giữa thân tôm có màu trắng đục, hoạt động yếu, kém ăn hay bỏ ăn, chết rải rác
Tôm mắc bệnh sẽ có màu sắc cơ thể nhợt nhạt, với giáp đầu ngực phồng lên và chuyển sang màu vàng Mang tôm bị bệnh thường có màu trắng, vàng nhạt hoặc nâu, trong khi gan có màu vàng nhạt Tỷ lệ chết của tôm khi nhiễm bệnh có thể lên đến 100%.
Theo bảng 3.15, bệnh trên tôm TCT tại 3 huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát rất phức tạp và đa dạng Bệnh đốm trắng chỉ chiếm tỷ lệ thấp (8,90%), trong khi phần lớn các bệnh còn lại do yếu tố môi trường gây ra.
Các bệnh môi trường phổ biến nhất bao gồm bệnh đầu vàng với tỷ lệ 53,33%, tiếp theo là bệnh teo gan và sưng gan chiếm 23,33% Ngoài ra, còn có một số bệnh khác như bệnh phân trắng, đốm đen và hoại tử cơ, nhưng tỷ lệ mắc phải thấp hơn.
Kết quả kiểm tra tồn dư kháng sinh trong tôm nuôi
Chúng tôi đã hợp tác với Chi cục Quản lí chất lượng Nông, Lâm sản và Thủy sản để thực hiện hoạt động tăng cường hệ thống thú y thủy sản trong khuôn khổ Dự án Nguồn lợi ven biển vì sự phát triển bền vững (CRSD) tại tỉnh Bình Định Trong quá trình này, chúng tôi đã tiến hành lấy mẫu giám sát kiểm tra dư lượng kháng sinh cấm như Chloramphenicol và Nitrofurans trong tôm nuôi tại ba huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ và Phù Cát Chi phí cho một đợt lấy mẫu giám sát là 93.201.000 VNĐ, một khoản chi phí không đáng kể so với thiệt hại do dịch bệnh trên tôm gây ra và lợi nhuận từ sản lượng tôm chất lượng xuất khẩu.
Kết quả từ bảng 3.18 cho thấy, trong giai đoạn 2015-2016, các phân tích CRSD không phát hiện tồn dư kháng sinh trong tôm TCT Cụ thể, không có dư lượng của các nhóm Tetracyclines, độc tố nấm mốc, Chloramphenicol, thuốc diệt nấm, ký sinh trùng, và thuốc nhuộm Malachite green Điều này chứng tỏ rằng tôm TCT được sản xuất an toàn và không chứa các chất độc hại.
The content appears to be a series of email addresses and identifiers, which may not convey a coherent message or meaning However, if you are looking for a structured summary, it could be presented as follows:This article includes various email addresses and student identifiers, specifically related to the academic context of a student identified as BKD002ac The emails provided are associated with educational institutions, indicating a focus on communication within an academic setting.
Bảng 3.18 Kết quả phân tích tồn dư kháng sinh trong tôm TCT tại 3 huyện năm 2015-2016[9], [10]
Dư lượng tối đa (MRL)(ppb)
Thông tư số 15/2009/TT- BNN
Số lượng mẫu Kết quả phân tích Số lượng mẫu Kết quả phân tích
Kháng sinh cấm sử dụng
(không phát hiện) 6 KPH (không phát hiện)
Ciprofloxacin, Sarafloxacin, Flumequin) 1 KPH 1 KPH
Nhóm Sulfornamide(Sul) (Sulfadimethoxazole, Sulfadiazine, Sulfachoropyridazine, Sulfadimidine)
The content appears to be a series of email addresses and identifiers, which may not convey a coherent message or meaning However, if you are looking for a structured summary, it could be presented as follows:The article includes multiple email addresses associated with the identifier "Stt.010.Mssv.BKD002ac," specifically "ninhd.vT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.LjvT.Bg.Jy.Lj.dtt@edu.gmail.com.vn" and "bkc19134.hmu.edu.vn." These addresses may be relevant for communication or identification purposes within an academic or administrative context.
Dư lượng tối đa (MRL)(ppb)
Thông tư số 15/2009/TT- BNN
Kết quả phân tích Số lượng mẫu Kết quả phân tích
Kháng sinh cấm sử dụng
Nhóm Quinolones (Enrofloxacin, Ciprofloxacin, Sarafloxacin, Flumequin)
Nhóm Tetracyline (Tet) (Oxytetracyline, Tetracyline, Doxycycline)
Nhóm Sulfornamide(Sul) (Sulfadimethoxazole, Sulfadiazine, Sulfachoropyridazine, Sulfadimidine)
The content appears to be a series of email addresses and identifiers, which may not convey a coherent message or meaning However, if we focus on the key elements, we can summarize it as follows:This article includes important contact information for students, specifically email addresses associated with academic identifiers For further inquiries, students can reach out via the provided emails, ensuring effective communication within the educational institution.
Dư lượng tối đa (MRL)(ppb)
Thông tư số 15/2009/TT- BNN
Số lượng mẫu Kết quả phân tích Số lượng mẫu Kết quả phân tích
Kháng sinh cấm sử dụng
Ciprofloxacin, Sarafloxacin, Flumequin) 1 KPH 1 KPH
Nhóm Tetracyline (Tet) (Oxytetracyline, 100 KPH KPH
Tetracyline, Doxycycline) Nhóm Sulfornamide(Sul) (Sulfadimethoxazole, Sulfadiazine, Sulfachoropyridazine, Sulfadimidine)
The content appears to be a series of email addresses and identifiers, which may not convey a coherent message or meaning However, if we focus on the key elements, we can summarize it as follows:This article includes important contact information for students, specifically email addresses associated with academic identifiers For further inquiries, students can reach out via the provided emails, ensuring effective communication within the educational institution.
Tôm nuôi ở Bình Định hiện đang được xuất khẩu sang các thị trường lớn như Châu Âu, Châu Mỹ, Úc và Nhật Bản, với quy trình kiểm tra nghiêm ngặt về nguồn gốc và kháng sinh Tôm Việt Nam hoàn toàn không có tồn dư kháng sinh cấm, nhờ vào sự giám sát chặt chẽ từ Chi cục Quản lí chất lượng Nông, Lâm sản và Thủy sản Các cuộc kiểm tra định kỳ và đột xuất đã nâng cao nhận thức của người nuôi về tầm quan trọng của an toàn thực phẩm, giúp hạn chế dịch bệnh, tăng sản lượng và giá trị sản phẩm, đồng thời phát triển nghề nuôi tôm bền vững.
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
Qua kết quả điều tra 90 hộ nuôi tôm tại 3 huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát chúng tôi sẽ rút ra được một số kết luận:
Năm 2016, năng suất tôm TCT tại ba huyện đã tăng so với năm 2015 Đối với người nuôi tôm, phần lớn có trình độ văn hóa tốt nghiệp trung học cơ sở, trong khi chuyên môn chủ yếu đến từ các lớp tập huấn.
Hiện nay, xu hướng nuôi tôm TCT đang gia tăng theo hình thức nuôi QCCT TTMT, với mục tiêu hạn chế mầm bệnh Mật độ nuôi tôm chủ yếu dao động từ 80 - 120 con/m², và thường được thực hiện trong 2 vụ mỗi năm.
Tình hình dịch bệnh hiện nay rất phức tạp với 7 loại bệnh xuất hiện ở cả 3 huyện, trong đó bệnh môi trường, đặc biệt là bệnh hoại tử gan, chiếm tỷ lệ lớn Tất cả các hộ dân đều sử dụng thuốc và hóa chất để phòng ngừa và điều trị bệnh cho tôm, với kháng sinh phổ biến nhất là Bay Met và Leader Các hóa chất thường được sử dụng bao gồm vôi đá, vôi nung, saponin, phân lân, vitamin C và một số loại men vi sinh Mặc dù tỷ lệ điều trị bệnh bằng kháng sinh rất cao, nhưng hiệu quả điều trị lại không đạt yêu cầu.
Các hộ nuôi tôm TCT thường sử dụng kháng sinh để điều trị bệnh, nhưng kết quả điều tra hàng năm cho thấy không có dư lượng kháng sinh trong tôm nuôi Điều này chứng tỏ rằng người dân tuân thủ quy định về liều lượng sử dụng thuốc và không sử dụng các loại thuốc nằm trong danh mục cấm.
Chi phí thuốc là một trong ba khoản chi phí lớn nhất hàng năm, ảnh hưởng đáng kể đến ngân sách của người dân.
The content appears to be a series of email addresses and identifiers, which may not convey a coherent message or meaning However, if we focus on the key elements, we can summarize it as follows:The article includes multiple email addresses associated with the identifier "Stt.010.Mssv.BKD002ac" and the domain "hmu.edu.vn," indicating a connection to an educational institution The repeated mention of "ninhd" and variations suggests a specific individual or department within the organization.
- Lựa chọn tôm giống đạt chất lượng Thả giống với mật độ phù hợp với đặc điểm ao nuôi
- Hạn chế việc sử dụng thuốc hóa chất, nên tăng cường sử dụng các chế phẩm sinh học trong quá trình nuôi tôm
Sở NNPTNT và Chi cục Quản lí Chất lượng Nông, Lâm sản và Thủy sản Bình Định cần tăng cường công tác kiểm tra định kỳ dư lượng kháng sinh trên địa bàn tỉnh để đảm bảo chất lượng sản phẩm nông sản.
[1] Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2009), Thông tư số 15/2009/TT-BNN PTNT ngày 17/03/2009, Bộ trưởng Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn
[2] Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2016), Thông tư số 10/2016/TT-BNN PTNT ngày 01/06/2016, Bộ trưởng Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn
[3] Bộ Thủy sản (1999), Chương trình phát triển nuôi trồng thủy sản thời kỳ 1999-2000
[4] Bộ Thủy sản (2006), NAFIQUAVED- Kết quả kiểm soát dư lượng các chất độc hại trong sản phẩm Thủy sản nuôi tháng 2/2007
[5] Chi cục Chăn nuôi - Thú y Bình Định, báo cáo tổng kết tình hình dịch bệnh của thủy sản tôm nước lợ năm 2015
[6] Chi cục Nuôi trồng Thủy sản Bình Định, báo cáo tổng kết sản xuất nuôi tôm nước lợ năm 2015
[7] Chi cục Nuôi trồng Thủy sản Bình Định, báo cáo tổng kết sản xuất nuôi tôm nước lợ năm 2016
[8] Chi cục Thú y Bình Định, báo cáo tổng kết tình hình dịch bệnh của thủy sản tôm nước lợ năm 2016
[9] Chi cục Quản lý Chất lượng Nông Lâm sản và Thủy sản Bình Định
(2015), Báo cáo tổng kết DA CRSD năm 2015
[10] Chi cục Quản lý Chất lượng Nông Lâm sản và Thủy sản Bình Định
(2016), Báo cáo tổng kết DA CRSD năm 2016 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
The content appears to be a series of email addresses and identifiers, which may not convey a coherent message or meaning However, if we focus on the key elements, we can summarize it as follows:The article includes multiple email addresses associated with the identifier "Stt.010.Mssv.BKD002ac" and the domain "hmu.edu.vn," indicating a connection to a specific academic or administrative context.
[11].Chi cục Quản lý Chất lượng Nông Lâm sản và Thủy sản Bình Định
(2016), Báo cáo kết quả thực hiện chương trình kiểm soát dư lượng các chất độc hại trong Động vật và Thủy sản nuôi năm 2016
[12].Cục Quản lý Chất lượng Nông Lâm sản và Thủy sản (2008), Sổ tay thực hiện chương trình kiểm soát dư lượng
[13].Thái Bá Hồ và Ngô Trọng Lư (2004), Kỹ thuật nuôi tôm thẻ chân trắng,
Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội
[14] Nguyễn Khắc Hường (2007), Sổ tay kỹ thuật nuôi trồng Thủy hải sản, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật Hà Nội, tr.84-90
[15] TS Trần Viết Mỹ (2009), Cẩm nang nuôi tôm chân trắng (Pennaeus vannmei), Trung tâm khuyến nông, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Tp Hồ Chí Minh, 30 trang
[16] Nguyễn Văn Năm, Phạm Văn Ty (2007), Vai trò chế phẩm sinh học trong nuôi trồng Thủy sản, Thông tin khoa học công nghệ, Kinh tế
Thủy sản số 3/2007, Bộ Thủy sản