Với chức năng, nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, Ngành kiểm sát thủ đô đã luôn tích cực, chủ động đưa ra những giải pháp tăng cường hoạt động công tố và kiể
Trang 1NGUYỄN THỊ HỒNG LOAN
KIỂM SÁT ĐIỀU TRA VỤ ÁN VI PHẠM QUY ĐỊNH
VỀ THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2022
Trang 2NGUYỄN THỊ HỒNG LOAN
KIỂM SÁT ĐIỀU TRA VỤ ÁN VI PHẠM QUY ĐỊNH
VỀ THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 8380104
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS VƯƠNG VĂN BÉP
Hà Nội - 2022
Trang 3nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính xác và trung thực của Luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hồng Loan
Trang 4sức quy báu từ lãnh đạo Viện KSND thành phố Hà Nội, Lãnh đạo, đồng nghiệp Viện KSND huyện Thường Tín; của các thầy, cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình Nhờ những giúp đỡ, tạo điều kiện trên, tác giả đã có thể hoàn thành công việc theo tiến độ được giao
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo Khoa Đào tạo và quản lý học viên trường Đại học kiểm sát Hà Nội và đặc biệt là các thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy các chuyên đề của toàn khóa học đã taọ điều kiện, hướng dẫn, chỉ bảo, chia sẻ kinh nghiệm, góp ý chân thành cho học viên trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn thạc sĩ
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Vương Văn Bép -
Vụ trưởng Vụ kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình (Vụ 9) Viện KSND tối cao - Người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu, xây dựng luận văn để tác giả hoàn thành luận văn đúng tiến độ, đạt chất lượng, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu đề ra
Do thời gian nghiên cứu, xây dựng luận văn không nhiều, trình độ, kinh nghiệm công tác, quá trình nghiên cứu học tập của tác giả còn hạn chế, luận văn không tránh khỏi có những hạn chế, thiếu sót Tác giả rất mong nhận được những ý kiến góp ý chân thành, qúy báu từ phía các thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp để tác giả
có thể hoàn thiện luận văn được tốt hơn và tiếp tục nỗ lực nghiên cứu, học tập, công tác tốt hơn nữa, phấn đấu phát triển đề tài nghiên cứu
Hà Nội, ngày 27 tháng 5 năm 2022
Tác giả
Nguyễn Thị Hồng Loan
Trang 5LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 6
7 Kết cấu của Luận văn 6
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT ĐIỀU TRA VỤ ÁN VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 7
1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa hoạt động kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ 7
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 7
1.1.2 Đặc điểm của hoạt động kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ 17
1.1.3 Ý nghĩa của hoạt động kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ 18
1.2 Nội dung của hoạt động kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ 18
1.2.1 Kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố 18
1.2.2 Kiểm sát việc khởi tố, khởi tố bị can, lập hồ sơ của Cơ quan điều tra 19
1.2.3 Kiểm sát việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn 20
Trang 61.2.4 Kiểm sát việc tiến hành các hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra, Điều tra viên, Cán bộ được giao tiến hành điều tra 21 1.2.5 Kiểm sát việc tạm đình chỉ, phục hồi, đình chỉ điều tra 24 1.2.6 Khắc phục vi phạm 26
1.3 Mối quan hệ giữa hoạt động kiểm sát điều tra và hoạt động thực hành quyền công tố đối với vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
28
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 31 Chương 2 CÔNG TÁC KIỂM SÁT ĐIỀU TRA VỤ ÁN VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 32 2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình tai nạn giao thông tại thành phố Hà Nội
2.3 Những kết quả đạt được trong công tác kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và nguyên nhân 39 2.4 Nguyên nhân của những kết quả đạt được 40 2.5 Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế đối với hoạt động KSĐT vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ từ thực tiễn thành phố Hà Nội 41
2.5.1 Những tồn tại, hạn chế đối với hoạt động KSĐT vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ từ thực tiễn thành phố Hà Nội 41 2.5.2 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế đối với hoạt động KSĐT vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ từ thực tiễn thành phố Hà Nội 43
Trang 7TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 49
Chương 3 YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT ĐIỀU TRA VỤ ÁN VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 50
3.1 Yêu cầu nâng cao chất lượng hoạt động kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ 50
3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội 52
3.2.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật 52
3.2.2 Giải pháp tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật 57
3.3 Một số kiến nghị, đề xuất 60
3.3.1 Đối với Quốc hội, Chính phủ 60
3.3.2 Đối với các cơ quan tố tụng và các cơ quan, tổ chức hữu quan 61
3.3.3 Đối với Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội 62 3.3.4 Đối với Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội 63
3.3.5 Đối với cán bộ, Kiểm sát viên 63
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 64
KẾT LUẬN 65 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 9
37
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thủ đô Hà Nội là địa bàn phức tạp trong công tác bảo đảm an toàn giao thông Từ năm 2008, Hà Nội mở rộng địa giới hành chính, sáp nhập tỉnh Hà Tây, trở thành thành phố lớn nhất cả nước, đời sống kinh tế của người dân được nâng cao, mật độ các phương tiện tham gia giao thông trên địa bàn thành phố Hà Nội ngày càng gia tăng, đa dạng về chất lượng, chủng loại … là áp lực không nhỏ đến
nỗ lực kiềm chế tình hình tai nạn giao thông xảy ra trên địa bàn của thành phố Hà Nội Trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2022, trên địa bàn thành phố Hà Nội xảy ra 3.508 vụ tai nạn giao thông đường bộ, tai nạn giao thông đường sắt, làm chết 1.952 người, 2.310 người bị thương và gây thiệt hại lớn về tài sản Cơ quan điều tra
đã khởi tố 902 vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, chiếm 2,84% tổng số vụ án mới khởi tố (902/31.781 vụ) Các vụ tai nạn giao thông xảy ra không chỉ gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của nhân dân mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế, hệ thống y tế, an sinh xã hội
Với chức năng, nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, Ngành kiểm sát thủ đô đã luôn tích cực, chủ động đưa ra những giải pháp tăng cường hoạt động công tố và kiểm sát điều tra, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan tiến hành tố tụng trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm xảy ra trên địa bàn thành phố Hà Nội nói chung, trong công tác kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ nói riêng để giải quyết kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Tuy nhiên, qua thực tiễn áp dụng pháp luật, công tác kiểm sát giải quyết vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội còn gặp một số tồn tại, hạn chế, khó khăn, vướng mắc như: chưa thực hiện hết các chức năng, nhiệm vụ được giao; chưa phát huy hết vai trò, quyền hạn, trách nhiệm của kiểm sát trong hoạt động kiểm sát điều tra; một số quy định của pháp luật không cụ thể, còn mang tính chung chung nhưng chưa được
Trang 11hướng dẫn kịp thời đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động kiểm sát điều tra của Viện kiểm sá nhân dân thành phố Hà Nội Những vấn đề này cần được nghiên cứu
về cả lý luận và thực tiễn nhằm tìm ra các giải pháp tích cực, hiệu quả để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát điều tra tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trên địa bàn thành phố Hà Nội, từ đó đề xuất, kiến nghị các giải pháp nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động kiểm sát điều tra của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội nói riêng, Ngành kiểm sát nhân dân trong thời gian tới
Xuất phát từ những lý do nêu trên, học viên nhận thấy việc lựa chọn đề tài
“Kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ từ thực tiễn thành phố Hà Nội” làm đề tài luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Luật hình sự
và Tố tụng hình sự là cấp thiết cả về phương diện lý luận và thực tiễn, đáp ứng với công tác đấu tranh phòng chống tội phạm Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trên địa bàn thành phố Hà Nội
2 Tình hình nghiên cứu
Hoạt động kiểm sát điều tra vụ án hình sự nói chung, hoạt động kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ nói riêng là nhiệm vụ hết sức quan trọng của Ngành kiểm sát nhân dân Hoạt động này đã được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu và đã có các công trình được công bố như:
2.1 Về Giáo trình
- Giáo trình thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, truy tố vụ án hình
sự của Trường Đại học kiểm sát Hà Nội, do TS Lại Viết Quang - TS Nguyễn Đức Hạnh (Đồng chủ biên), Nxb, Tư pháp Hà Nội năm 2020;
- Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm) Tập 1 của Trường Đại học kiểm sát Hà Nội, do TS Phạm Mạnh Hùng-TS Lại Viết Quang (Đồng chủ biên), Nxb, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2019;
- Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam của Trường Đại học kiểm sát
Hà Nội, do TS Phạm Mạnh Hùng (Chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia sự thật,
Hà Nội năm 2020
Trang 122.2 Về Đề tài
- Đề tài nghiên cứu cấp bộ “Nâng cao chất lượng kiểm sát hoạt động tư pháp
và thực hành công tố về vấn đề thông khâu và chuyên khâu trong công tác kiểm sát hình sự” của Trường cao đẳng Kiểm sát, năm 2001 và “Những giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp” của Viện khoa học Kiểm sát do Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì đề cập đến về lý luận, thực tiễn của hoạt động kiểm sát điều tra trong tố tụng hình sự;
- Sách chuyên khảo “Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra”, năm 2005 và “Quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp”, năm 2008 do TS Lê Hữu Thể chủ biên;
- Luận án tiến sĩ luật học “Các biện pháp đấu tranh phòng, chống vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ ở thủ đô Hà Nội” Học viện khoa học xã hội năm 2001 của tác giả Bùi Kiến Quốc;
- Luận văn thạc sĩ luật học “Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện phương tiện giao thông đường bộ từ thực tiễn tỉnh Nam định” Học viện khoa học xã hội năm 2017 của tác giả Phạm Tuấn Anh;
- Luận văn thạc sĩ luật học “Kiểm sát điều tra vụ án vi phạm quy định về điều khiển phương tiện phương tiện giao thông đường bộ từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh”, Học viện khoa học xã hội năm 2016 của tác giả Nguyễn Quang Tuấn;
Ngoài ra còn có những bài nghiên cứu, bài viết liên quan đến hoạt động kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành như: Tạp chí kiểm sát, Tạp chí Tòa án nhân dân, Báo bảo
vệ pháp luật, Trang điện tử của bộ tư pháp, Trang điện tử của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội …
Đây là nguồn tư liệu tham khảo bổ ích giúp cho học viên nghiên cứu, hoàn thiện luận văn Các công trình trên có công trình nghiên cứu chuyên sâu về lý luận,
có công trình nghiên cứu chuyên sâu về thực tiễn Song, chưa có công trình cụ thể nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn về hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ xảy ra trên địa bàn thành phố Hà
Trang 13Nội Do đó, đề tài học viên lựa chọn nghiên cứu về một vấn đề mới, không trùng lặp với các công trình nghiên cứu đã được công bố Học viên xây dựng luận văn mang tính hệ thống từ lý luận đến thực tiễn, trên cơ sở kế thừa những vấn đề lý luận
và cách tiếp cận những công trình nêu trên, đưa ra các giải pháp mới nhằm hoàn thiện luận văn của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Từ việc nghiên cứu lý luận, thực tiễn hoạt động kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, những kết quả đã đạt được, chỉ ra những tồn tại, hạn chế, làm rõ nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế, từ đó luận văn đề xuất những biện pháp, giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trên địa bàn Thành phố Hà Nội đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong tình hình mới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về hoạt động kiểm sát điều tra của Viện kiểm sát nhân dân đối với vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ; làm rõ các khái niệm, đặc điểm, nội dung, phạm vi và các điều kiện bảo đảm việc kiểm sát điều tra đối với vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Phân tích, đánh giá thực tiễn hoạt động kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ tại thành phố Hà Nội trong 05 năm (từ năm 2018 đến năm 2022)
- Đề xuất quan điểm và giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ từ thực tiễn thành phố
Hà Nội đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn công tác kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Trang 14từ thực tiễn thành phố Hà Nội từ khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm xảy ra đến khi kết thúc điều tra vụ án hình sự hoặc đình chỉ điều tra
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu hoạt động kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ từ thực tiễn thành phố Hà Nội
Về thời gian: Luận văn nghiên cứu và sử dụng số liệu trong khoảng thời gian
05 năm (từ năm 2018 đến năm 2022)
Về giai đoạn tố tụng: Luận văn nghiên cứu hoạt động kiểm sát điều tra vụ án
Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ từ khi xảy ra vụ tai nạn giao thông, Cơ quan điều tra thụ lý giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi
tố, khởi tố vụ án hình sự đến khi Cơ quan điều tra kết thúc điều tra đề nghị Viện kiểm sát truy tố hoặc, đình chỉ điều tra
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật lịch
sử và duy vật biện chứng Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng nhà nước pháp quyền, về chính sách hình sự, về vấn đề cải cách tư pháp được thể hiện trong Nghị quyết của Đảng và Nghị quyết số 49 - NQ/TW ngày 26/5/2005 về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” của Bộ Chính trị, cũng như Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII năm 2021 của Đảng Cộng sản Việt Nam và tổ chức hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân về công tác kiểm sát điều tra vụ án hình sự
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để xây dựng Luận văn, học viên đã sử dụng các phương pháp cụ thể và đặc thù của khoa học luật hình sự như: phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp
so sánh, đối chiếu; phương pháp diễn dịch, phương pháp quy nạp; phương pháp thống kê để tổng hợp các tri thức khoa học và các luận chứng về các vấn đề nghiên cứu trong luận văn
Trang 15Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, học viên còn áp dụng phương pháp nghiên cứu điển hình, phương pháp dự báo khoa học đối với các vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, từ đó rút ra các luận cứ, luận chứng thực tiễn làm cơ sở cho việc đưa ra các nhận định, đánh giá của mình
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của Luận văn là tài liệu làm rõ, hoàn thiện những vấn đề
lý luận và thực tiễn về hoạt động kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ từ thực tiễn thành phố Hà Nội Từ những phân tích, đánh giá thực trạng công tác kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ; nhận định được những tồn tại, hạn chế, thiếu sót trong công tác kiểm sát điều tra; đề xuất các biện pháp, giải pháp, kiến nghị, nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trên địa bàn thành phố Hà Nội Luận văn còn có giá trị tham khảo chung trong công tác nghiên cứu, học tập và nâng cao chất lượng công tác kiểm sát điều tra các vụ án hình sự nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, không để xảy ra oan, sai, bỏ lọt tội phạm và người phạm tội
7 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của Luận văn gồm 03 chương:
Chương 1 Những vấn đề chung về hoạt động kiểm sát điều tra vụ án Vi
phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Chương 2 Công tác kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia
giao thông đường bộ từ thực tiễn thành phố Hà Nội
Chương 3 Yêu cầu và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động kiểm sát
điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Trang 16Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT ĐIỀU TRA VỤ
ÁN VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa hoạt động kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
Hoạt động kiểm sát điều tra (KSĐT) vụ án hình sự (VAHS) là hoạt động quan trọng, cơ bản của Ngành kiểm sát nhân dân (KSND) Để hiểu về hoạt động KSĐT VAHS nói chung, KSĐT vụ án vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ nói riêng, cần xác định được một số khái niệm cơ bản như sau:
* Vụ án hình sự
Khái niệm vụ án được định nghĩa như sau: “vụ án là một việc có dấu hiệu trái pháp luật mang tính chất hình sự hoặc tranh chấp giữa các chủ thể pháp luật được đưa ra tòa án hoặc cơ quan trọng tài giải quyết” [34, tr.860]
Từ khái niệm trên, có thể đưa ra khái niệm VAHS như sau: VAHS là vụ việc phạm pháp có dấu hiệu là tội phạm đã được quy định trong BLHS, đã được CQĐT
ra lệnh khởi tố VAHS để tiến hành điều tra, VKS truy tố, xét xử hoặc các Cơ quan tiến hành tố tụng đình chỉ, tạm đình chỉ giải quyết vụ án theo các trình tự, thủ tục đã được quy định trong BLTTHS
* Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông trong khi tham gia giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác Các quy định nhằm đảm bảo cho an toàn giao thông đường bộ đối với người, phương tiện thao gia giao thông đường bộ được quy định tại Luật giao thông đường
bộ năm 2008 Theo đó, người tham gia giao thông đường bộ buộc phải thực hiện hoặc không thực hiện hành vi cụ thể theo luật định nhằm đảm bảo cho việc tham gia giao thông được an toàn cho chính tính mạng, sức khỏe, tài sản của người tham gia
Trang 17giao thông cũng như tính mạng, sức khỏe, tài sản của những người tham gia giao thông khác, những cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan
Người thực hiện hành vi vi phạm quy định tại Luật giao thông đường bộ khi tham gia giao thông, tùy từng tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm gây ra
có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, Nghị định 123/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng hải; giao thông đường bộ, đường sắt; hàng không dân dụng hoặc bị xử lý hình sự về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường
bộ quy định tại Điều 260 BLHS năm 2015
* Vụ án vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là vụ việc vi phạm các quy định của Luật giao thông đường bộ có dấu hiệu là tội phạm đã được quy định tại Điều 260 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017
Tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ quy định tại Điều
260 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như sau:
1 Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù
từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên
mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%; d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03
Trang 18a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;
b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác;
c) Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;
d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;
đ) Làm chết 02 người;
e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%: g) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng
3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Làm chết 03 người trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên
mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên; c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên
4 Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trong trường hợp
có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả quy định tại một trong các điểm a,
b và c khoản 3 Điều này nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm
5 Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm [28, tr.284 - 286]
Điều 260 BLHS năm 2015 quy định gồm 05 khoản với 04 quy định cấu thành tội phạm, mức hình phạt tương ứng và 01 điều khoản quy định về hình phạt
bổ sung đối với người phạm tội Khoản 1 Điều 260 là cấu thành tội phạm cơ bản, khoản 2, khoản 3 là cấu thành tội phạm định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự của người phạm tội, khoản 4 là cấu thành tội phạm với quy định hậu quả xảy ra của
Trang 19tội phạm ở trường hợp giả định “trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến
hậu quả ” và khoản 5 quy định về hình phạt bổ sung “cấm đảm nhiệm chức vụ,
cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định”
- Các yếu tố cấu thành tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Từ quy định của pháp luật hình sự về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ Theo giáo trình Luật Hình sự Việt Nam (phần các tội phạm - tập 2) của trường Đại học Kiểm sát Hà Nội xác định bốn yếu tố cấu thành tội phạm gồm:
* Khách thể của tội phạm: Tội phạm xâm phạm an toàn giao thông đường
bộ, đồng thời, xâm phạm quyền được tôn trọng và bảo vệ về sức khỏe, tài sản của người khác
* Mặt khách quan của tội phạm: Mặt khách quan của tội vi phạm quy định
về tham gia giao thông đường bộ thể hiện ở hành vi của người tham gia giao thông đường bộ vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Hành vi của người tham gia giao thông đường bộ vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là hành vi của người khi tham gia giao thông đường bộ mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các quy định của pháp luật về tham gia giao thông đường bộ
Hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ cấu thành tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ thuộc một trong các trường hợp sau:
- Gây thiệt hại về tài sản 100.000.000 đồng trở lên
- Có khả năng thực tế làm chết 03 người trở lên nếu không được ngăn chặn kịp thời;
Trang 20- Có khả năng thực tế gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên nếu không được ngăn chặn kịp thời;
- Có khả năng gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên nếu không được ngăn chặn kịp thời
Trường hợp điều khiển phương tiện giao thông đường bộ di chuyển, hoạt động nhưng không tham gia giao thông đường bộ (như di chuyển, hoạt động trong trường học, công trường đang thi công hoặc đang khai thác) mà gây tai nạn thì người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ không bị truy cứu TNHS về tội
vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ quy định tại Điều 260 BLHS mà
bị truy cứu TNHS về tội phạm tương ứng khác nếu thỏa mãn dấu hiệu của tội phạm
đó như tội vô ý làm chết người (Điều 128 BLHS), tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Điều 129 BLHS) hoặc tội vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở những nơi đông người (Điều 295 BLHS)
* Mặt chủ quan của tội phạm: Tội phạm thực hiện với lỗi vô ý Người
phạm tội nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi, thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình có thể xảy ra nhưng cho rằng hậu quả đó không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được hoặc không thấy trước hậu quả nguy hiểm đã xảy ra nhưng phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó nếu có
sự chú ý cần thiết
* Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội phạm là người đủ 16 tuổi trở lên và
có năng lực TNHS, là người tham gia giao thông đường bộ Người tham gia giao thông đường bộ gồm người điều khiển, người sử dụng phương tiện tham gia giao thông đường bộ; người điều khiển, dẫn dắt súc vật; người đi bộ trên đường bộ
* Hình phạt:
- Khung hình phạt tại khoản 1: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp
sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
Trang 21+ Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng
- Khung hình phạt tại khoản 2:
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
+ Không có giấy phép lái xe theo quy định;
Không có giấy phép lái xe theo quy định bao gồm các trường hợp: Không có giấy phép, bằng lái hoặc chứng chỉ chuyên môn phù hợp; điều khiển phương tiện giao thông trong thời hạn bị tước quyền sử dụng giấy phép, bằng lái hoặc chứng chỉ chuyên môn do cơ quan có thẩm quyền cấp đối với loại phương tiện đang điều khiển; điều khiển phương tiện giao thông trong thời hạn bị cơ quan có thẩm quyền cấm chỉ huy, điều khiển phương tiện đó
Thời hạn sử dụng của giấy phép lái xe do cơ quan có thẩm quyền cấp được tính từ ngày cấp phép đến khi hết hạn ghi trên giấy phép lái xe đó (hoặc theo quy định của pháp luật về thời hạn của giấy phép lái xe đó)
Trường hợp người điều khiển phương tiện giao thông đã bị cơ quan có thẩm quyền tạm giữ giấy phép lái xe mà cần tiếp tục điều khiển phương tiện nốt hành trình còn lại thì trên hành trình đó không bị coi là không có giấy phép lái xe theo quy định
- Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác;
Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng các chất kích thích mạnh khác là một trong những trường hợp sau đây:
+ Điều khiển xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn
Trang 22Điều khiển xe mô tô, xe gắn máy mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam/100 mililit máu hoặc 0,25 miligam/1 lít khí thở
Điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà trong cơ thể có chất ma túy hoặc chất kích thích khác
+ Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn; Đây là trường hợp sau khi gây tai nạn, người phạm tội đã bỏ chạy để trốn tránh sự điều tra, phát hiện, xử ly của cơ quan có thẩm quyền hoặc tuy không bỏ chạy để trốn trách nhiệm nhưng sau khi gây tai nạn đã bỏ đi, không cứu giúp người
bị nạn khi có điều kiện để cứu giúp
Trong trường hợp người phạm tội cố ý không cứu giúp người bị nạn mà người
bị nạn chết thì người phạm tội cũng không bị truy cứu TNHS thêm về tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng theo Điều 132 BLHS
+ Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông; Không chấp hành điều lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông
là không chấp hành hiệu lệnh của cảnh sát giao thông hoặc người khác được giao nhiệm vụ hướng dẫn giao thông tại nơi thi công, nơi ùn tắc giao thông, ở bến phà, tại cầu đường đi bộ đi chung với đường sắt
để mặc cho hậu quả đó xảy ra mà cho rằng hậu quả chết người không xảy ra hoặc
có thể ngăn ngừa được hoặc không thấy hậu quả chết người nhưng người đó phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó
+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%:
+ Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng
- Khung hình phạt tại khoản 3:
Trang 23Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
+ Làm chết 03 người trở lên;
Phạm tội làm chết 03 người trở lên là trường hợp phạm tội mà hành vi phạm tội gây hậu quả chết 03 người trở lên Tuy nhiên, người phạm tội không cố ý gây ra hậu quả này
+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;
+ Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên
- Khung hình phạt tại khoản 4:
Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến một trong các hậu quả sau nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm: khả năng thực tế làm chết 03 người trở lên; khả năng thực tế gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên; khả năng thực tế gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên
- Hình phạt bổ sung tại khoản 5:
Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm [14, tr 28 - 34]
* Hoạt động kiểm sát điều tra
Trang 24quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư, của Công an nhân dân được giao tiến hành một số hoạt động điều tra và các cơ quan khác trong Quân đội nhân dân và người tiến hành điều tra là những người thuộc cơ quan điều tra, các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra được phân công thực hiện nhiệm vụ điều tra Quá trình điều tra, các cơ quan, người tiến hành điều tra tiến hành các biện pháp điều tra theo quy định của BLTTHS nhằm xác định tội phạm, người thực hiện hành vi phạm tội và các tình tiết khác làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án
Như vậy, theo quan điểm của tác giả có thể định nghĩa: Điều tra VAHS là việc những người có thẩm quyền, được CQĐT, Cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra giao nhiệm vụ tiến hành các biện pháp điều tra hợp pháp theo quy định của BLTTHS nhằm thu thập các chứng cứ, tài liệu chứng minh tội phạm, người phạm tội và các vấn đề liên quan, ban hành bản bản Kết luận điều tra kết thúc điều tra VAHS chuyển hồ sơ vụ án đến Viện kiểm sát (VKS) để VKS nghiên cứu, quyết định việc truy tố, Tòa án xét xử hoặc đình chỉ vụ án theo quy định của BLTTHS
- Kiểm sát điều tra
Hiến pháp năm 1959 đã ghi nhận chế định Viện kiểm sát nhân dân (VKSND), trong đó xác định vị trí, chức năng và các nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của hệ thống VKSND Việt Nam Kể từ đó đến nay, lịch sử Hiến pháp nước ta ghi nhận 03 lần sửa đổi, bổ sung Song, chức năng, nhiệm vụ của Ngành KSND luôn giữ một vai trò quan trọng, được hiến định mà không một cơ quan, ban ngành nào
có thể thay thế được Hiến pháp năm 2013 một lần nữa khẳng định vai trò của Ngành KSND tại khoản 1 và khoản 3 Điều 107:
1 VKSND thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp
3 VKSND có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất [21, tr.57]
Trên cơ sở quy định của Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức VKSND năm
2014 đã quy định nhiệm vụ kiểm sát hoạt động tư pháp như sau:
Trang 25Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của VKSND để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân
sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành
án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật [24, tr.10 - 11]
Trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, hai chức năng thực hành quyền công
tố (THQCT) và kiểm sát các hoạt động tư pháp được thực hiện thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND khi THQCT và KSĐT Hoạt động KSĐT với tính chất là một chức năng cơ bản của VKS thì hoạt động đó có bản chất pháp lý là kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp các hoạt động TTHS được thực hiện bởi CQĐT và các cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra VAHS nhằm bảo đảm việc điều tra đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội
- Hoạt động kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Từ những phân tích trên, theo quan điểm của tác giả có thể rút ra khái niệm công tác KSĐT vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ như sau: KSĐT vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là một trong những hoạt động của VKS trong những công tác kiểm sát hoạt động tư pháp của VKS Theo đó, VKS thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo luật định để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và những chủ thể tham gia tố tụng khác, bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc giai đoạn điều tra, nhằm bảo đảm cho quá trình điều tra được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, không làm oan người vô tội cũng như không bỏ lọt tội phạm
Trang 261.1.2 Đặc điểm của hoạt động kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Hoạt động KSĐT vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, KSĐT vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là hoạt động của VKS nhằm thực hiện chức năng THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp Theo đó VKS sử dụng thẩm quyền theo luật định để thực hiện các hoạt động nhằm kiểm sát tính có căn cứ, tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và hành vi của những người tham gia tố tụng khác
Thứ hai, chủ thể của hoạt động KSĐT vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên (KSV), Kiểm tra viên (KTV) được phân công giải quyết vụ án Quá trình KSĐT vụ án, Viện trưởng, Phó Viện trưởng được phân công phụ trách, KSV, KTV được phân công ngoài việc phải nắm rõ các quy định của pháp luật nói chung, của Ngành KSND nói riêng, họ còn phải thường xuyên cập nhật kịp thời các quy định của pháp luật về việc tham gia giao thông: Luật giao thông đường bộ, luật giao thông đường sắt, …
Thứ ba, đối tượng của KSĐT vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là việc tuân theo pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố, điều tra VAHS như: CQĐT, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT, ĐTV, Cán bộ điều tra, cơ quan và người có thẩm quyền trong cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra
Thứ tư, phạm vi của hoạt động KSĐT vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ được thực hiện từ khi có quyết định khởi tố vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và kết thúc khi có kết luận điều tra, đề nghị truy tố hoặc đình chỉ điều tra Việc xác định phạm vi như vậy là thể hiện tính đầy đủ, toàn diện của công tác KSĐT của VKS, cũng thể hiện đầy đủ bản chất pháp
lý của hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong điều tra vụ án Vi phạm quy
Trang 27định về tham gia giao thông đường bộ VKS kiểm tra tính có căn cứ, tính hợp pháp trong hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng trong điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
1.1.3 Ý nghĩa của hoạt động kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Hoạt động KSĐT vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ nhằm đảm bảo pháp luật được tuân thủ một cách nghiêm chỉnh và thống nhất trong suốt cả quá trình điều tra VAHS
1.2 Nội dung của hoạt động kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định
về tham gia giao thông đường bộ
Hoạt động KSĐT vụ án hình sự được nêu cụ thể tại Giáo trình thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, truy tố vụ án hình sự của trường Đại học kiểm sát [20, tr.71-320] Từ những nội dung được nêu trong giáo trình, theo học viên, hoạt động KSĐT vụ án Vi phạm quy định về về tham gia giao thông đường bộ gồm những nội dung sau:
1.2.1 Kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
Theo quy định tại Điều 160 BLTTHS năm 2015, khi kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, VKS phải kiểm sát việc tiếp nhận, trực tiếp kiểm sát việc kiểm tra, xác minh và việc lập hồ sơ giải quyết nguồn tin của các cơ quan; kiểm sát việc tạm đình chỉ, phục hồi giải quyết về nguồn tin Sau khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố từ các nguồn chuyển đến, CQĐT phải tiến hành phân loại, xác minh sơ bộ ban đầu Trong thời hạn
03 ngày, kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thuộc thẩm quyền giải quyết, Thủ trưởng CQĐT ban hành quyết định phân công Điều tra viên giải quyết; đồng thời trong thời hạn 24 giờ phải chuyển quyết định phân công và thông báo bằng văn bản về kết quả tiếp nhận kèm theo hồ sơ vụ việc đến VKSND cùng cấp để thụ lý kiểm sát theo quy định tại khoản 5 Điều 146 BLTTHS [10, tr.2]
Đối với vụ tai nạn giao thông, hiện trường có ý nghĩa hết sức quan trọng, có giá trị mang tính “Cốt lõi” Hoạt động kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường,
Trang 28khám nghiệm tử thi của KSV được quy định tại Điều 15 Luật TCVKSND năm
2014, khoản 1 Điều 166 BLTTHS và được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 201,
202 BLTTHS và Quy chế số 03 và Quy chế tạm thời công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, thực nghiệm điều tra và giám định ban hành kèm theo Quyết định số 170/QĐ-VKSTC ngày 02/5/2018 của Viện trưởng VKSND tối cao (Quy chế 170)
Thực hiện tốt công tác khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, chúng
ta có thể xác định được một cách tương đối đầy đủ, chính xác các thông tin liên quan đến vụ tai nạn giao thông như: thời gian xảy ra vụ việc, điều kiện thời tiết, ánh sáng, mặt đường, phương tiện gây tai nạn, hướng, tốc độ di chuyển của các phương tiện, vị trí va chạm, … giúp KSV, ĐTV xác định được ngay lỗi của người tham gia giao thông, hạn chế đến mức thấp nhất việc kéo dài thời gian giải quyết, phải tạm đình chỉ giải quyết do không xác định được lỗi trong vụ tai nạn giao thông Vì vậy, công tác khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi phải được thực hiện một cách cẩn trọng, tỉ mỉ, đúng theo trình tự, thủ tục quy định, do cán bộ kỹ thuật chuyên môn thực hiện Trước khi tiến hành khám nghiệm hiện trường vụ án khám nghiệm tử thi, CQĐT có trách nhiệm thông báo thời gian, địa điểm tiến hành, sơ bộ nội dung vụ án để VKS phân công KSV kiểm sát việc khám nghiệm [10, tr.6] KSV khi tiến hành kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi phải thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục hướng dẫn tại Quy chế 170, nghiêm túc, cẩn trọng, nhằm đảm bảo không bỏ qua các dấu vết, chứng cứ quan trọng Đối với những vụ
án phức tạp, KSV cần báo cáo ngay lãnh đạo Viện tham gia chủ trì kiểm sát hoạt động khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, trao đổi với CQĐT, cơ quan chuyên môn để xác định đúng đắn diễn biến vụ việc,
1.2.2 Kiểm sát việc khởi tố, khởi tố bị can, lập hồ sơ của Cơ quan điều tra
Kiểm sát việc khởi tố vụ án là việc VKS kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can của CQĐT, cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra, đảm bảo tính có căn cứ, tính hợp pháp của các quyết định khởi tố Các quyết định phải kiểm sát trong giai đoạn này bao gồm: Quyết
Trang 29định khởi tố vụ án hình sự, quyết định thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án, quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can Mục đích của hoạt động này nhằm đảm bảo việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can được tiến hành đúng pháp luật, đảm bảo tính có căn cứ và tính hợp pháp Nếu thấy căn cứ khởi tố vụ án, khởi tố bị can của CQĐT không đúng, VKS kiên quyết ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố của CQĐT theo quy định tại Điều 158, 179 BLTTHS
Ngoài ra, khi kiểm sát việc khởi tố, VKS còn thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của BLTTHS như ban hành văn bản kiến nghị yêu cầu CQĐT, cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra khắc phục vi phạm trong hoạt động khởi tố vụ án hình sự Đây là quyền hạn hết sức quan trọng của VKS nhằm bảo đảm các vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường
bộ khi khởi tố vụ án, khởi tố bị can không để xảy ra vi phạm, không để xảy ra oan, sai, bỏ lọt tội phạm và người phạm tội
Kiểm sát việc lập hồ sơ vụ án của CQĐT nhằm đảm bảo hồ sơ vụ án được xây dựng một cách khách quan, đúng thủ tục, trình tự, đúng thẩm quyền và hình thức luật định Hồ sơ vụ án phải thể hiện được đầy đủ các loại tài liệu cần thiết mà pháp luật TTHS quy định, được đánh số bút lục và thống kê các tài liệu có trong hồ
sơ theo quy định của Ngành KSND đã đề ra
1.2.3 Kiểm sát việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn
Biện pháp ngăn chặn (BPNC) là những biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc được quy định trong BLTTHS do các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng quyết định, áp dụng đối với người bị buộc tội nhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, bỏ trốn, tiêu hủy chứng cứ hoặc cản trở quá trình điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng hoặc để bảo đảm thi hành án hình sự Các BPNC được quy định tại các Điều 109, 110, 111, 112, 113, 117, 119,
121, 122, 123, 124 BLTTHS gồm: giữ người trong trường hợp khẩn cấp; bắt; tạm giữ; tạm giam; cấm đi khỏi nơi cư trú; bảo lĩnh; đặt tiền để bảo đảm; tạm hoãn xuất cảnh Các BPNC làm hạn chế quyền con người, quyền công dân của người bị áp
Trang 30Để áp dụng BPNC, KSV cần nghiên cứu, đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội để xem xét áp dụng BPNC phù hợp Vì vậy, để xem xét việc áp dụng BPNC, hồ sơ đề nghị phê chuẩn áp dụng BPNC của CQĐT đối với người thực hiện hành vi phạm tội phải được thu thập đầy đủ các căn cứ, tài liệu đảm bảo cho việc đề nghị áp dụng BPNC của CQĐT là phù hợp, cần thiết theo các căn cứ quy định của BLTTHS Nếu CQĐT áp dụng BPNC không tương xứng thì VKS kiên quyết yêu cầu thay đổi BPNC phù hợp hơn
1.2.4 Kiểm sát việc tiến hành các hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra,
Cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra, Điều tra viên, Cán bộ được giao tiến hành điều tra
Kiểm sát việc tiến hành một số hoạt động điều tra của CQĐT, cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra, Điều tra viên, Cán bộ điều tra nhằm đảm bảo các hoạt động điều tra được tiến hành theo đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự, các hoạt động điều tra nhằm tìm ra sự thật khách quan của vụ án; các vấn
đề cần giải quyết trong VAHS như căn cứ xác định tội phạm, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, vấn đề bồi thường thiệt hại cho bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án … Kết quả của các hoạt động điều tra là việc làm rõ tất cả các vấn đề trong vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ để các cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định giải quyết vụ án một cách phù hợp: CQĐT đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra vụ án, đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra
vụ án đối với bị can, kết thúc điều tra đề nghị truy tố đến VKS, VKS đình chỉ, tạm đình chỉ, truy tố đến Tòa án, Tòa án đình chỉ, tạm đình chỉ giải quyết hoặc xét xử vụ
án theo quy định của pháp luật
Theo quy định của BLTTHS, các biện pháp điều tra của CQĐT trong quá trình điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ gồm:
- Kiểm sát việc hỏi cung bị can: Hoạt động hỏi cung bị can được CQĐT thực hiện ngay sau khi ban hành Quyết định khởi tố bị can Hoạt động hỏi cung bị can có
ý nghĩa hết sức quan trọng vì bị can là chủ thể thực hiện hành vi phạm tội Hoạt động hỏi cung bị can đạt kết quả có thể giúp CQĐT nắm được chính xác, đầy đủ
Trang 31nhất diễn biến vụ tai nạn giao thông để có định hướng điều tra phù hợp, đảm bảo chất lượng, tiến độ điều tra vụ án Theo quy định của Ngành KSND, trước khi phê chuẩn quyết định khởi tố bị can của CQĐT, VKS bắt buộc phải tiến hành hỏi cung
bị can Đây là biện pháp KSĐT hiệu quả nhất đối với hoạt động điều tra của CQĐT Khi trực tiếp hỏi cung bị can, KSV sẽ gặp hỏi những vấn đề còn nghi vấn, tìm hiểu xem bị can có bị đánh đập, ép cung, bức cung …
Theo quy định tại Điều 183 BLTTHS, quá trình kiểm sát hoạt động hỏi cung
bị can, KSV có thể thực hiện bằng hai hình thức là kiểm sát trực tiếp hoạt động hỏi cung bị can của CQĐT hoặc kiểm sát gián tiếp qua biên bản hỏi cung bị can KSV cần bàn bạc, trao đổi với ĐTV về nội dung cần đấu tranh làm rõ với bị can, lập kế hoạch hỏi cung, đánh giá thái độ của bị can để lựa chọn phương pháp hỏi cung, đặt
ra câu hỏi phù hợp với trình độ nhận thức của từng bị can, tập trung hỏi đấu tranh làm rõ các vấn đề còn mâu thuẫn trong vụ án (nếu có), đấu tranh làm rõ các vấn đề còn chưa được làm sáng tỏ, phát hiện các chứng cứ, tài liệu, các tình tiết mới chưa được phát hiện, thu thập trong hồ sơ vụ án… KSV cần đặc biệt chú ý đến việc kiểm sát hoạt động hỏi cung bị can khi vụ án có bị can kêu oan, có lời khai mâu thuẫn, bị can chối tội, bị can khai báo gian dối để che dấu người phạm tội hoặc che dấu một tội phạm khác, bị can khiếu nại hoạt động điều tra của CQĐT … KSV cần nghiên cứu kỹ hồ sơ, xem xét, đánh giá, đối chiếu nội dung biên bản hỏi cung bị can với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án để có thể đảm bảo giải quyết vụ án một cách triệt để, đúng quy định của pháp luật
- Kiểm sát việc lấy lời khai của bị hại, người làm chứng, đương sự: Theo quy định tại khoản 1 Điều 4, Điều 62, Điều 66 BLTTHS thì: Đương sự trong VAHS gồm nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra; Người làm chứng là người biết được những tình tiết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ
án và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập đến làm chứng Việc lấy lời khai của bị hại, người làm chứng và đương sự trong vụ án Vi phạm quy định
Trang 32về tham gia giao thông đường bộ được thực hiện theo quy định tại Điều 185, 188 BLTTHS KSV kiểm sát hoạt động lấy lời khai người bị hại, người làm chứng và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan của ĐTV nhằm đảm bảo việc lấy lời khai được thực hiện theo quy định của pháp luật, kịp thời phát hiện ra những vi phạm, thiếu sót của CQĐT để kiến nghị yêu cầu khắc phục, xử lý vi phạm kịp thời
- Kiểm sát hoạt động đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra của CQĐT: Hoạt động đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra của CQĐT được thực hiện theo quy định tại các Điều 189, 190 và Điều 204 BLTTHS Kiểm sát hoạt động đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra nhằm kiểm tra, phát hiện các tình tiết có ý nghĩa cho việc chứng minh tội phạm, người phạm tội và phát hiện các vi phạm để khắc phục, bảo đảm các hoạt động điều tra của CQĐT được thực hiện theo quy định của pháp luật, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng Khi xét thấy cần tiến hành hoạt động đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra, KSV cần trao đổi với ĐTV xây dựng kế hoạch nêu rõ thời gian, địa điểm, nội dung thực hiện các biện pháp điều tra để đảm bảo kết quả điều tra, tránh những vi phạm, thiếu sót dẫn đến phải thực hiện lại hoạt động điều tra Để công tác kiểm sát hoạt động đối chất, nhận dạng và thực nghiệm điều tra đạt kết quả, KSV cần nghiên cứu kỹ các quy định của pháp luật về hoạt động đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra; nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án; xác định điểm mâu thuẫn, nghi vấn và yêu cầu CQĐT tiến hành các biện pháp điều tra
- Kiểm sát việc khám xét, thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản: Đây là hoạt động của VKS sử dụng các quyền hạn của mình theo quy định của BLTTHS kiểm sát các hoạt động khám xét, thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, thu giữ phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử, thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản của CQĐT được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự, bảo đảm quyền con người, quyền công dân của những người tham gia tố tụng Các hoạt động điều tra trên được thực hiện cần tuân thủ quy định tại các Điều 126, 128, 129, 130, 178, 199 BLTTHS
- Kiểm sát việc áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt: Các biện pháp
Trang 33điều tra tố tụng đặc biệt được ghi nhận tại Điều 223 BLTTHS gồm: biện pháp ghi
âm, ghi hình bí mật; biện pháp nghe điện thoại bí mật; biện pháp thu thập bí mật dữ liệu điện tử VKS cần kiểm tra, xem xét, đánh giá tính chất, mức độ cần thiết phải
áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt Các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt này phải được Viện trưởng VKSND cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành theo quy định tại khoản 3 Điều 225 BLTTHS và thời hạn áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt phải tuân thủ về thời hạn theo quy định tại Điều 226 BLTTHS
Để kiểm sát hoạt động điều tra tố tụng đặc biệt, KSV cần nghiên cứu kỹ hồ
sơ, xác định căn cứ đề nghị áp dụng biện pháp điều tra của CQĐT, đề xuất với Lãnh đạo Viện quan điểm chấp nhận hay không chấp nhận áp dụng hoạt động điều tra của CQĐT Khi đã phê chuẩn biện pháp điều tra của CQĐT, KSV cần kiểm sát chặt chẽ, kịp thời phát hiện vi phạm trong quá trình thực hiện điều tra, kịp thời đề xuất Viện trưởng ra quyết định hủy bỏ quyết định điều tra tố tụng đặc biệt khi thuộc một trong các trường hợp: có đề nghị bằng văn bản của Thủ trưởng CQĐT có thẩm quyền, có vi phạm trong quá trình áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt, không cần thiết tiếp tục áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt
Quá trình kiểm sát các hoạt động điều tra, KSV cần lưu ý khi có người dưới
18 tuổi tham gia tố tụng được quy định riêng biệt, chi tiết, cụ thể tại chương XXVIII BLTTHS
Vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ hiện nay trên cả nước nói chung, trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng có xu hướng trẻ hóa về tuổi của những người tham gia tố tụng Vì vậy đòi hỏi KSV được phân công KSĐT vụ án cần nghiên cứu kỹ các quy định của pháp luật TTHS nói chung, quy định về các thủ tục đặc biệt đối với người dưới 18 tuổi tham gia tố tụng nói riêng và còn phải tự trau dồi, học tập kiến thức tâm lý lứa tuổi nhằm đảm bảo kết quả KSĐT vụ án
1.2.5 Kiểm sát việc tạm đình chỉ, phục hồi, đình chỉ điều tra
1.2.5.1 Kiểm sát việc tạm đình chỉ
Quá trình điều tra vụ án, khi đã hết thời hạn điều tra vụ án mà có những căn
cứ thuộc các trường hợp quy định tại Điều 229, Điều 443 BLTTHS thì CQĐT ra
Trang 34quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự, tạm đình chỉ điều tra VAHS đối với
bị can: chưa xác định được bị can hoặc không biết bị can đang ở đâu; bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo khác có giấy chứng nhận của Hội đồng giám định pháp y; CQĐT đã trưng cầu giám định nhưng chưa có kết quả giám định KSV cần kiểm sát chặt chẽ căn cứ tạm đình chỉ của CQĐT theo quy định của BLTTHS
Do đặc trưng của vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ có tính chất phức tạp: đối tượng gây tai nạn bỏ trốn, không xác định được bị can; cần trưng cầu nhiều loại giám định như: giám định dấu vết va chạm, giám định tuổi, giám định kỹ thuật phương tiện, giám định thương tích, định giá tài sản, giám định pháp y tâm thần do ảnh hưởng sau tai nạn … Vì vậy, các vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ phải tạm đình chỉ chiếm tỷ lệ cao KSV được phân công cần kiểm sát chặt chẽ căn cứ tạm đình chỉ, thời gian tạm đình chỉ, đôn đốc thu thập các tài liệu cần thiết, kiên quyết phục hồi điều tra vụ án, bị can khi căn cứ tạm đình chỉ đã hết
1.2.5.2 Kiểm sát việc phục hồi điều tra
Khi các VAHS tạm đình chỉ điều tra mà căn cứ tạm đình chỉ điều tra đã hết thì CQĐT ra quyết định phục hồi điều tra để tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của BLTTHS Các trường hợp phục hồi điều tra vụ án được quy định tại Điều 235 BLTTHS Thời hạn điều tra vụ án phục hồi điều tra được quy định tại Điều 172,
174 BLTTHS
Ngay sau khi phục hồi điều tra vụ án, KSV cần nghiên cứu kỹ hồ sơ, trao đổi với ĐTV nhanh chóng thực hiện các biện pháp điều tra cần thiết, kịp thời xem xét, đánh giá những vấn đề mới phát sinh sau khi phục hồi điều tra vụ án để tiếp tục giải quyết đảm bảo thời hạn điều tra, tránh trường hợp lại phải gia hạn thời hạn điều tra, tiếp tục tạm đình chỉ điều tra vụ án
1.2.5.3 Kiểm sát việc đình chỉ vụ án
Quá trình điều tra VAHS, khi vụ án có một trong những trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 230 BLTTHS - căn cứ để chấm dứt hoạt động điều tra theo quy định của BLTTHS thì CQĐT phải ra quyết định đình chỉ điều tra Các căn cứ đình chỉ điều tra gồm: Người đã yêu cầu khởi tố tự nguyện rút yêu cầu đối với các vụ án
Trang 35khởi tố theo yêu cầu của người bị hại quy định tại khoản 2 Điều 155 BLTTHS; các căn cứ được quy định tại Điều 157 BLTTHS: không có sự việc phạm tội, hành vi không cấu thành tội phạm, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu TNHS, người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật, đã hết thời hiệu truy cứu TNHS theo quy định tại Điều 27 BLHS, tội phạm đã được đại xá, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho
xã hội đã chết, tội phạm thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của người bị hại quy định tại khoản 1 các Điều 134, 134, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của BLHS mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố; người phạm tội tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội theo quy định tại Điều 16 BLHS; có căn
cứ miễn truy cứu TNHS theo quy định tại Điều 29, khoản 1 Điều 91 BLHS; đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm Kiểm sát việc đình chỉ điều tra nhằm bảo đảm việc đình chỉ của CQĐT có căn cứ, đúng pháp luật và phát hiện, yêu cầu khắc phục kịp thời những vi phạm trong việc đình chỉ điều tra
Thực hiện Quy chế phối hợp liên ngành, trước khi đình chỉ điều tra vụ án, ĐTV phải chuyển hồ sơ cho KSV trao đổi thống nhất việc đình chỉ điều tra KSV tiến hành KSĐT vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ cần kiểm sát chặt chẽ ngay từ đầu, hạn chế tối đa những vi phạm, thiếu sót dẫn đến phải đình chỉ điều tra có lỗi của VKS
1.2.6 Khắc phục vi phạm
Phát hiện vi phạm trong quá trình KSĐT VAHS là nhiệm vụ quan trọng của VKS Việc phát hiện vi phạm của CQĐT, cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra, ban hành kiến nghị yêu cầu khắc phục vi phạm, kiến nghị xử lý người thực hiện hành vi sai phạm nhằm đảm bảo pháp luật được thực hiện nghiêm minh
Để thực hiện tốt nhiệm vụ phát hiện vi phạm, KSV cần thực hiện các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, cần kiểm sát chặt chẽ hoạt động điều tra, phát hiện vi phạm kịp thời KSV cần nghiên cứu kỹ hồ sơ, bám sát tiến độ điều tra của CQĐT, Cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra, kiên quyết yêu cầu chuyển hồ sơ, tài
Trang 36liệu để VKS tiến hành kiểm sát theo quy định tại khoản 5 Điều 88 BLTTHS Khi phát hiện có vi phạm, thiếu sót, cần trao đổi, yêu cầu khắc phục ngay và không để xảy ra vi phạm tương tự Nếu CQĐT không khắc phục vi phạm hoặc đối với những
vi phạm có tính chất nghiêm trọng, KSV cần tổng hợp vi phạm, báo cáo Lãnh đạo Viện ban hành kiến nghị, kháng nghị yêu cầu khắc phục vi phạm kịp thời
Hai là, kiểm sát việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng Theo quy định của BLTTHS thì người tham gia TTHS bao gồm: Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, người bào chữa… Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng là đảm bảo để quyền và nghĩa vụ của họ được tôn trọng, được thực hiện đầy đủ; mọi vi phạm pháp luật liên quan đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng phải được phát hiện và khắc phục kịp thời
Ba là, giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền điều tra Khi phát sinh tranh chấp về thẩm quyền điều tra như thẩm quyền điều tra theo lãnh thổ, thẩm quyền điều tra theo vụ việc, VKS phải nghiên cứu, xem xét giải quyết VKS cũng có trách nhiệm giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền điều tra giữa các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Trong trường hợp vụ án không thuộc thẩm quyền điều tra của mình, CQĐT phải đề nghị VKS cùng cấp ra quyết định chuyển vụ án cho CQĐT có thẩm quyền để tiếp tục điều tra Trường hợp thấy vụ án không thuộc thẩm quyền của CQĐT cấp mình thì VKS yêu cầu CQĐT tiến hành các thủ tục để VKS ra quyết định chuyển vụ án cho Cơ quan có thẩm quyền Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của CQĐT, VKS cùng cấp phải ra quyết định chuyển vụ án cho CQĐT có thẩm quyền
Bốn là, yêu cầu CQĐT cung cấp tài liệu liên quan để kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra khi cần thiết VKS yêu cầu CQĐT cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan để kiểm sát tính có căn cứ, tính hợp pháp của các quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền khi tiến hành các hoạt động điều tra Khi phát hiện việc điều tra không đầy đủ, vi phạm pháp luật thì VKS yêu cầu CQĐT tiến
Trang 37hành hoạt động điều tra đúng pháp luật sau đó kiểm tra việc điều tra và thông báo kết quả cho VKSvà cung cấp tài liệu liên quan đến hành vi, quyết định tố tụng có vi phạm pháp luật trong việc điều tra
Năm là, yêu cầu Thủ trưởng CQĐT thay đổi Điều tra viên, Cán bộ điều tra,
xử lý nghiêm minh Điều tra viên, Cán bộ điều tra vi phạm pháp luật trong hoạt động
tố tụng Trong quá trình điều tra, khi phát hiện ĐTV, cán bộ điều tra có vi phạm pháp luật trong hoạt động tố tụng, VKS ra văn bản yêu cầu Thủ trưởng CQĐT thay đổi Điều tra viên, Cán bộ điều tra đồng thời xử lý nghiêm minh đối với những cá nhân vi phạm Mục đích của quy định này nhằm kịp thời khắc phục các vi phạm pháp luật của ĐTV, cán bộ điều tra trong tiến hành các hoạt động điều tra, đảm bảo quá trình điều tra VAHS được diễn ra một cách đầy đủ, đúng quy định pháp luật, đảm bảo quyền, lợi ích của người tham gia tố tụng
Sáu là, xử lý vi phạm; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền khắc phục, xử lý nghiêm minh vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp; kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm [24, tr.12] Vì vậy, trong quá trình KSĐT, nếu phát hiện thấy các cơ quan, tổ chức có thiếu sót, sơ hở là nguyên nhân, điều kiện dẫn tới phát sinh
vi phạm, tội phạm thì VKS phải có kiến nghị cụ thể để các cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật; tham mưu với cấp ủy, chính quyền địa phương áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật
1.3 Mối quan hệ giữa hoạt động kiểm sát điều tra và hoạt động thực hành quyền công tố đối với vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
THQCT và KSĐT là hai chức năng của VKS được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật, giữa hai chức năng này tuy có đối tượng, phạm vi và nội dung hoạt động khác nhau nhưng có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau Nếu như đối tượng tác động của quyền công tố là tội phạm và người phạm tội, đối tượng của KSĐT là việc tuân theo pháp luật là hành vi và quyết định của
Trang 38các cơ quan tiến hành tố tụng, của những người có thẩm quyền; Mục đích và nhiệm
vụ của THQCT là làm sáng tỏ tội phạm đã xảy ra, vạch trần lỗi của người phạm tội
để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự, còn mục đích và nhiệm vụ của KSĐT là phát hiện kịp thời các việc làm vi phạm pháp luật của các chủ thể trong TTHS trong giai đoạn điều tra để yêu cầu khắc phục vi phạm pháp luật Hai chức năng này đều có mục đích và nhiệm vụ chung đều là nhằm bảo đảm việc truy cứu TNHS đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm (Điều 1 và Điều
23 BLTTHS) Như vậy, chính đối tượng, mục đích và nhiệm vụ của từng hoạt động
đã quy định nên mối quan hệ chặt chẽ giữa chức năng THQCT và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS với những đặc trưng cơ bản sau đây:
Thứ nhất, về mối quan hệ giữa THQCT và KSĐT, tuy không phải là quan hệ nhân quả, quan hệ trước sau; phụ thuộc và chi phối lẫn nhau nhưng chúng có quan
hệ hỗn hợp tác động lẫn nhau do pháp luật quy định, nhằm bảo đảm mục đích của TTHS là mọi tội phạm đều phải được khởi tố, điều tra, xử lý kịp thời, không để xảy
ra các trường hợp oan, sai, vi phạm tới quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Thứ hai, theo quy định của pháp luật thì THQCT trong giai đoạn điều tra và hoạt động KSĐT được bắt đầu từ khi khởi tố VAHS và cùng kết thúc khi giai đoạn điều tra kết thúc, tức là khi có bản kết luận điều tra, đề nghị truy tố hoặc ra quyết định đình chỉ điều tra
Thứ ba, THQCT và KSĐT đều được thực hiện theo nguyên tắc tổ chức và hoạt động của VKS là nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành Hay nói cách khác, trong quá trình THQCT và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong mọi trường hợp đều do Viện trưởng quyết định nhưng có sự phân công, phân cấp trong nội bộ cơ quan VKS; VKS cấp dưới chịu sự lãnh đạo của VKS cấp trên; Viện trưởng VKS các địa phương chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng VKSNDTC
Thứ tư, THQCT và KSĐT đều do một chủ thể tiến hành đó là VKS mà người trực tiếp tiến hành các hoạt động này gồm có Viện trưởng, Phó Viện trưởng và các KSV
Hai chức năng THQCT và KSĐT có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, chức năng này làm tiền đề, bổ sung qua lại cho chức năng còn lại Do đó, khi thực
Trang 39hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, VKS phải luôn luôn xác định hai hoạt động có tính độc lập tương đối với nhau nhưng chúng cũng đồng thời có mối quan hệ biện chứng, không thể tách rời Hoạt động KSĐT đạt hiệu quả sẽ là điều kiện giúp cho chức năng THQCT được đúng đắn và ngược lại, công tác THQCT có hiệu quả sẽ tạo điều kiện cho hoạt động KSĐT đạt được mục tiêu, nhiệm vụ trong quá trình điều tra
Trang 40TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Chương 1 của khóa luận đã làm rõ những nội dung sau: Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trong luật hình sự Việt Nam Trong đó, tác giả đã đưa ra được khái niệm về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật hiện hành về tội phạm nói chung và tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ nói riêng Cùng với đó, tác giả phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm của tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo quy định tại Điều 260 BLHS Phân tích khái niệm, đối tượng, phạm vi, đặc điểm, nội dung hoạt động KSĐT vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trên cơ sở phân tích các quy định về KSĐT trong BLTTHS, Quy chế 03/2017 và những văn bản pháp luật khác có liên quan Mối quan hệ giữa THQCT và KSĐT vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ Hai chức năng này tuy có đối tượng, phạm vi và nội dung hoạt động khác nhau nhưng có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau, hai chức năng này đều có mục đích và nhiệm vụ chung đều là nhằm bảo đảm việc truy cứu TNHS đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm Chính đối tượng, mục đích và nhiệm vụ của từng hoạt động
đã quy định nên mối quan hệ chặt chẽ giữa chức năng THQCT và KSĐT