1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn) thực trạng và giải pháp phát triển du lịch tại căn cứ địa k20 – quận ngũ hành sơn – thành phố đà nẵng

70 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Tại Căn Cứ Địa K20 – Quận Ngũ Hành Sơn – Thành Phố Đà Nẵng
Tác giả Đỗ Lê Tuấn Thanh
Người hướng dẫn ThS. Tăng Chánh Tín
Trường học Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Văn hóa - Du lịch
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp đại học
Năm xuất bản 2018
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 1,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (6)
  • 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề (7)
  • 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu (9)
  • 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (0)
  • 5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu (9)
  • 6. Đóng góp của Khóa luận (11)
  • 7. Bố cục Khóa luận (11)
  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CĂN CỨ ĐỊA CÁCH MẠNG K20 – THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG (12)
    • 1.1. Khái quát về căn cứ địa cách mạng (12)
      • 1.1.1. Khái niệm của căn cứ địa cách mạng, căn cứ “lõm” (12)
      • 1.1.2. Phân loại căn cứ địa cách mạng (12)
      • 1.1.3. Vai trò của căn cứ địa cách mạng (12)
      • 1.1.4. Một số căn cứ địa cách mạng tại Việt Nam (13)
    • 1.2. Căn cứ địa cách mạng K20 – thành phố Đà Nẵng (14)
      • 1.2.1. Điều kiện tự nhiên, dân cư và truyền thống cách mạng (14)
      • 1.2.2. Vai trò của Căn cứ địa K20 trong công cuộc kháng chiến, giải phóng dân tộc (17)
        • 1.2.2.1. Trong kháng chiến chống Pháp (17)
        • 1.2.2.2. Trong kháng chiến chống Mỹ (20)
      • 1.2.3. Các giá trị của Căn cứ địa K20 (22)
        • 1.2.3.1. Giá trị lịch sử (22)
    • 2.1. Thực trạng phát triển du lịch ở một số căn cứ địa tại Việt Nam (27)
    • 2.2. Thực trạng phát triển du lịch tại Căn cứ địa K20 hiện nay (30)
      • 2.2.1. Một số tài nguyên được đưa vào phát triển du lịch (31)
        • 2.2.1.1. Nhà truyền thống K20 (31)
        • 2.2.1.2. Nhà ông Huỳnh Phiên (Huỳnh Vấn) (31)
        • 2.2.1.3. Nhà thờ Bà Nhiêu (33)
        • 2.2.1.4. Nhà thờ tộc Huỳnh (36)
        • 2.2.1.5. Nhà ông Huỳnh Trưng (37)
      • 2.2.2. Hệ thống cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật (39)
      • 2.2.3. Chính sách đầu tư cho phát triển du lịch (40)
      • 2.2.4. Một số tour, tuyến du lịch (41)
      • 2.2.5. Số lượng, thành phần khách du lịch (42)
      • 2.2.6. Các hoạt động của du khách (44)
  • Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI (0)
    • 3.1. Cơ sở đưa ra giải pháp (0)
      • 3.1.1. Chính sách quy hoạch, phát triển du lịch của địa phương (46)
      • 3.1.2. Ý kiến phản hồi của du khách (48)
      • 3.1.3. Ý kiến, nguyện vọng của người dân K20 (50)
    • 3.2. Một số đề xuất, giải pháp nâng cao hiệu quả phát triển du lịch tại căn cứ địa K20 Đà Nẵng 46 1. Giải pháp nghiên cứu quy hoạch tổng thể Khu căn cứ địa K20 (51)
      • 3.2.5. Giải pháp xây dựng tour tuyến du lịch (54)
      • 3.2.6. Giải pháp đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ du lịch (57)
      • 3.2.7. Giải pháp để quảng bá, tuyên truyền (58)
      • 3.2.8. Giải pháp khai thác và phát huy hiệu quả lao động địa phương phục vụ tại Khu Căn cứ cách mạng K20 (59)
  • KẾT LUẬN (60)

Nội dung

Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đề cập đến nhiều vấn đề liên quan đến đường lối quân sự trong các công trình nghiên cứu trong nước, phản ánh từ nhiều cấp độ và cách tiếp cận khác nhau.

Việt Nam và Đường lối quân sự của Đảng ta là biểu tượng cho sự thành công trong chiến tranh nhân dân, nhấn mạnh tầm quan trọng của căn cứ địa cách mạng Bài viết khái quát các khái niệm liên quan đến căn cứ địa, các hình thức phát triển, cơ sở xây dựng và vai trò thiết yếu của nó trong chiến tranh nhân dân.

Các bài viết “Vài suy nghĩ về hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam”;

Bài viết "Căn cứ địa cách mạng truyền thống và hiện tại" của Trần Bạch Đằng và Văn Tạo, đăng trên Tạp chí Lịch sử quân sự, đã làm rõ khái niệm, tính chất, nguồn gốc và đặc điểm của căn cứ địa Các tác giả cũng nêu bật những nét đặc trưng của căn cứ địa ở Việt Nam, đặc biệt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Lịch sử Đảng bộ thành phố Đà Nẵng, tập III (1954 – 1975) của Đảng bộ tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng, cùng với Lịch sử Đảng bộ Quận Sơn Trà (1930 – 1975) và Lịch sử Đảng bộ Quận Ngũ Hành Sơn, cung cấp cái nhìn sâu sắc về quá trình phát triển và hoạt động của Đảng bộ trong giai đoạn lịch sử quan trọng này Những tài liệu này không chỉ ghi lại những sự kiện lịch sử mà còn phản ánh những nỗ lực và đóng góp của Đảng bộ trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Căn cứ lõm K20, hoạt động từ năm 1930 đến 2000, là nơi trú ẩn cho từ 50 đến 100 chiến sĩ biệt động Mặc dù bài viết đã mô tả khái quát về sự ra đời của căn cứ này, nhưng vai trò cụ thể của K20 trong các lĩnh vực quân sự và chính trị vẫn chưa được làm rõ.

Trong công trình “Vành đai diệt Mỹ trên chiến trường Khu 5 – một sáng tạo của chiến tranh nhân dân Việt Nam” của Bộ Tư lệnh Quân khu V – Viện

Lịch sử Quân sự Việt Nam đã phân tích bài viết “Căn cứ lõm” của Nguyễn Quang Tuấn, nêu rõ vai trò và vị trí của các “Căn cứ lõm” trong hoạt động vành đai diệt Mỹ Bài viết tập trung vào một số căn cứ quan trọng ở Đà Nẵng như K20, Thạc Gián, Thanh Khê và Hồng Phước, từ đó làm nổi bật tính chất hoạt động của chúng trong bối cảnh lịch sử.

Căn cứ K20 được coi là "Căn cứ lõm điển hình" tại Đà Nẵng trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ Tuy nhiên, vai trò và quá trình xây dựng của Căn cứ K20 trong các lĩnh vực quân sự, chính trị, kinh tế và văn hóa vẫn chưa được làm rõ.

Công trình Lịch sử đấu tranh cách mạng và xây dựng Đảng bộ phường Bắc

Mĩ An (1930 – 2005) do Đảng bộ hai phường Mỹ An và Khuê Mĩ ấn hành năm

2010 đã trình bày một cách khái lược về sự ra đời, tổ chức và hoạt động của Căn cứ K20 trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

Bài viết trên báo Đà Nẵng, “Di tích K20 – điểm đến còn bỏ ngõ” của tác giả Nhật Hạ, đã nêu rõ các sản phẩm độc đáo có thể khai thác từ Căn cứ K20 Tuy nhiên, bài viết cũng chỉ ra rằng các giá trị tại đây chưa được khai thác hiệu quả, dẫn đến việc chưa đáp ứng được nhu cầu giáo dục truyền thống và chưa thúc đẩy phát triển du lịch tại địa phương.

Căn cứ K20 đã được đề cập trong nhiều bài nghiên cứu và tạp chí khoa học, như www.vietnamtourism.com và tourism.danang.gov.vn, với nội dung khái quát về vai trò của nó trong kháng chiến chống Pháp và Mỹ, cũng như tình hình hiện tại Tuy nhiên, các nghiên cứu này chủ yếu dừng lại ở mức độ tổng quan và chưa đi sâu vào các giải pháp phát triển du lịch tại K20 Mặc dù đã có thông tin quan trọng về Căn cứ K20 trong kháng chiến chống Mỹ, nhưng vẫn thiếu một công trình chuyên khảo nghiên cứu chi tiết về quá trình xây dựng, đặc điểm và đóng góp của Căn cứ K20 đối với cuộc kháng chiến, cũng như phát triển du lịch tại khu vực này ở Đà Nẵng.

Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

- Nguồn tư liệu: luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Hệ thống văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước và Quân đội Nhân dân Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước Những tài liệu này không chỉ ghi lại các quyết định chiến lược mà còn phản ánh tinh thần kiên cường và quyết tâm của dân tộc trong việc giành lại độc lập và tự do.

Tác phẩm của các lãnh tụ và lãnh đạo, đặc biệt là của Hồ Chí Minh, đóng vai trò quan trọng trong việc định hình tư tưởng cách mạng giải phóng dân tộc Những tác phẩm này không chỉ phản ánh quan điểm của Đảng, Nhà nước và Quân đội về cuộc kháng chiến chống Mỹ mà còn nhấn mạnh vai trò của các căn cứ địa cách mạng trong quá trình đấu tranh giành độc lập.

Các tài liệu lưu trữ liên quan đến cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước hiện đang được bảo quản tại Bộ Tư lệnh Quân khu V, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Viện Lịch sử Đảng, Ban Tuyên giáo thành phố Đà Nẵng, cùng với Ban Quản lý Khu di tích Ngũ Hành Sơn và Ban Quản lý Khu di tích K20 tại thành phố Đà Nẵng.

Các công trình nghiên cứu đã được công bố về kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước của Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam và Viện Lịch sử Đảng, cùng với các chuyên khảo, bài viết và báo cáo khoa học trên các tạp chí chuyên ngành trong những năm gần đây Ngoài ra, các công trình về Lịch sử Đảng bộ, Lịch sử kháng chiến và Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân địa phương tại thành phố Đà Nẵng và quận Ngũ Hành Sơn, cũng như các luận án, luận văn về căn cứ địa cách mạng đã được bảo vệ và xuất bản.

+ Tài liệu khảo sát thực tế: Tài liệu khảo sát thực địa tại di tích căn cứ địa cách mạng K20 và xung quanh địa bàn nghiên cứu

Các hồi ký cách mạng bao gồm những câu chuyện và lời kể từ các cán bộ lão thành cách mạng, những nhân chứng lịch sử còn sống, những người đã và đang hoạt động, sinh sống trên địa bàn nghiên cứu.

+ Báo cáo hoạt động của Ban Quản lý Khu di tích K20 và Ban Quản lý Khu di tích Ngũ Hành Sơn qua các năm

Kết hợp phương pháp lịch sử và logic là chính, bên cạnh đó, nghiên cứu còn áp dụng các phương pháp so sánh, thống kê, phân tích, tổng hợp và khái quát dựa trên nguồn tư liệu văn bản và thực địa Đồng thời, có sự hợp tác với chính quyền địa phương, Ban Quản lý Khu di tích Ngũ Hành Sơn, Ban Quản lý Khu di tích Căn cứ địa cách mạng K20, cùng với các nhân chứng lịch sử.

Đóng góp của Khóa luận

Nghiên cứu Căn cứ K20 nhằm phục vụ giáo dục truyền thống và cung cấp tư liệu về hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của quân và dân Đà Nẵng Đồng thời, đề tài cũng xem xét thực trạng phát triển du lịch tại Căn cứ K20 và tìm kiếm giải pháp nâng cao hiệu quả du lịch tại đây Mục tiêu là làm phong phú thêm loại hình du lịch tại Đà Nẵng và đóng góp vào nền kinh tế của người dân địa phương cũng như thành phố Đà Nẵng.

Bố cục Khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo Khóa luận có phần nội dung chia làm ba chương:

- Chương 1: Tổng quan về Căn cứ địa cách mạng K20 – Thành phố Đà Nẵng

- Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch tại Khu di tích Căn cứ địa cách mạng K20 – thành phố Đà Nẵng

Chương 3 trình bày các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phát triển du lịch tại Khu di tích Căn cứ địa cách mạng K20, thành phố Đà Nẵng Những giải pháp này không chỉ giúp thu hút du khách mà còn góp phần bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử văn hóa của khu di tích Việc áp dụng các chiến lược marketing hiệu quả và cải thiện cơ sở hạ tầng sẽ là những yếu tố then chốt trong việc phát triển du lịch bền vững tại đây.

TỔNG QUAN VỀ CĂN CỨ ĐỊA CÁCH MẠNG K20 – THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Khái quát về căn cứ địa cách mạng

1.1.1 Khái niệm của căn cứ địa cách mạng, căn cứ “lõm”

Căn cứ địa cách mạng, theo Từ điển thuật ngữ quân sự Việt Nam, là vùng lãnh thổ và dân cư do lực lượng cách mạng kiểm soát, đảm bảo an toàn tương đối Đây có thể là vùng tự do hoặc căn cứ du kích đã được xây dựng và củng cố vững chắc.

Căn cứ địa cách mạng, theo định nghĩa của Phan Ngọc Liên trong cuốn Từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông, là khu vực lãnh thổ hội tụ đầy đủ các yếu tố "địa lợi, nhân hòa" Nó có khả năng tiến công và phòng thủ, đồng thời sở hữu cơ sở chính trị và quân sự vững chắc, được sử dụng để xây dựng lực lượng cách mạng nhằm phát triển ra các khu vực khác.

Căn cứ “lõm” là thuật ngữ chỉ căn cứ địa cách mạng, khác với căn cứ địa bình thường ở địa bàn và phạm vi hoạt động Trong khi căn cứ địa là khu vực lãnh thổ và dân cư do ta làm chủ và tương đối an toàn, thì căn cứ “lõm” lại có những đặc điểm riêng biệt.

Căn cứ của lực lượng kháng chiến trong kháng chiến chống Pháp và Mỹ nằm sâu trong vùng địch tạm chiếm, nhằm đấu tranh hiệu quả Mặc dù quy mô của căn cứ lõm không lớn, nhưng chúng đóng vai trò quan trọng, giúp lực lượng kháng chiến xây dựng và phát triển để phục vụ cho cả đấu tranh chính trị và vũ trang trong vùng địch hậu.

1.1.2 Phân loại căn cứ địa cách mạng

Theo Từ điển thuật ngữ quân sự Việt Nam, căn cứ địa cách mạng được phân loại theo đơn vị hành chính thành ba cấp: trung ương, địa phương và cơ sở Ngoài ra, căn cứ địa cũng được xác định dựa trên địa hình và vùng lãnh thổ, bao gồm các khu vực đồng bằng, vùng núi và đô thị.

1.1.3 Vai trò của căn cứ địa cách mạng luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Căn cứ địa là nơi cung cấp sức mạnh vật chất, quân sự, và nguồn cổ vũ về tinh thần, chính trị trong cách mạng và kháng chiến, theo cuốn Từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông.

Cũng theo các nguồn tư liệu khác được nghiên cứu cũng cho thấy được vai trò của các căn cứ địa cách mạng Cụ thể:

Căn cứ địa ở Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc tiêu diệt đối phương và là điểm khởi đầu cho các lực lượng kháng chiến tấn công Nó không chỉ hỗ trợ phong trào du kích chiến tranh phát triển ở vùng tạm chiếm mà còn góp phần tạo ra cục diện chiến trường thuận lợi cho cách mạng và kháng chiến.

1.1.4 Một số căn cứ địa cách mạng tại Việt Nam

Trong suốt cuộc kháng chiến chống Pháp, nhiều căn cứ địa quan trọng đã được hình thành và phát triển trên toàn quốc, tiêu biểu như Việt Bắc và các chiến khu Thanh - Nghệ.

- Tĩnh, Nam - Ngãi - Bình - Phú, Chiến khu Đ, Đồng Tháp Mười, U Minh, Dương Minh Châu…

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, miền Bắc đóng vai trò là hậu phương lớn cho miền Nam, với nhiều căn cứ địa cách mạng được xây dựng dựa trên các chiến khu cũ Vĩnh Linh và Tây Ninh đã trở thành "Thủ đô kháng chiến" của miền Nam, trong khi các khu, tỉnh, huyện, xã cũng thiết lập căn cứ địa riêng Căn cứ địa Việt Bắc từng là Thủ đô kháng chiến trong kháng chiến chống Pháp, thể hiện sự liên kết và phát triển của các lực lượng kháng chiến trên toàn chiến trường miền Nam.

Việt Bắc, một vùng phía Bắc Hà Nội, là căn cứ địa cách mạng quan trọng trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, bao gồm 6 tỉnh: Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, và Thái Nguyên Được mệnh danh là “Thủ đô kháng chiến”, nơi đây là trụ sở của Đảng Cộng sản Việt Nam trước năm 1945 và chính phủ Việt Minh trong giai đoạn kháng chiến (1945 - 1954) Việt Bắc còn được gọi là “Thủ đô gió ngàn”, tên gọi này xuất phát từ bài thơ “Sáng tháng năm” của Tố Hữu Sự phát triển của căn cứ địa này gắn liền với hoạt động lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng.

Chiến khu Đ là một căn cứ quân sự quan trọng ở miền Đông Nam bộ, phục vụ cho Mặt trận Việt Minh và Quân đội Nhân dân Việt Nam trong Chiến tranh Đông Dương, cũng như cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam trong Chiến tranh Việt Nam Được thành lập vào tháng 2 năm 1946, chiến khu này bao gồm 5 xã: Tân Hòa, Mỹ Lộc, Tân Tịch, Thường Lang, và Lạc An, hiện nay thuộc thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

Căn cứ địa U Minh là một trong những căn cứ cách mạng quan trọng trong các cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đồng thời từng là nơi trú ẩn của nghĩa quân anh hùng Nguyễn Trung Trực Trong suốt 9 năm kháng chiến chống Pháp, U Minh đã đóng vai trò là căn cứ của Quân khu IX, góp phần vào sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc.

Xứ uỷ, Trung ương Cục Miền Nam, Ủy ban Kháng chiến hành chánh Nam Bộ

U Minh Thượng, với kinh xáng Chắc Băng, là trung tâm quan trọng trong khu vực tập kết 200 ngày thực hiện Hiệp định Giơnevơ của miền Nam Sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, đồng chí

Võ Văn Kiệt cùng các đồng chí lão thành Cách mạng đã khôi phục cơ sở và tái thiết phong trào cách mạng U Minh Thượng trở thành căn cứ cách mạng quan trọng của Liên Tỉnh ủy miền Tây, sau này được đổi tên thành Khu Tây Nam Bộ (Khu IX) và Liên Tỉnh ủy Hậu Giang, nơi thành lập Tỉnh ủy lâm thời Rạch Giá.

Căn cứ địa cách mạng K20 – thành phố Đà Nẵng

1.2.1 Điều kiện tự nhiên, dân cư và truyền thống cách mạng

Căn cứ K20 tọa lạc tại khu dân cư Đa Mặn 5, phường Khuê Mỹ, quận Ngũ Hành Sơn, cách phố cổ Hội An khoảng 20km và danh thắng Ngũ Hành Sơn 1,5km về phía Tây Nơi đây cách trung tâm thành phố Đà Nẵng khoảng 10km về phía Đông Nam, với các hướng giáp ranh cụ thể: phía Đông và Bắc giáp đường quy hoạch khu số 4 mở rộng – Nam cầu Tuyên Sơn, phía Tây giáp đường Trần Hưng Đạo, và phía Nam giáp đường cách ly đường dây 110KV Căn cứ có diện tích gần 9ha, dân cư thưa thớt với chỉ vài trăm hộ sống tập trung thành từng xóm nhỏ ở phía Nam, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp trồng lúa và hoa màu.

Căn cứ K20, theo các nhân chứng lịch sử, nằm tại các xóm Đa Phước, Nước Mặn và một phần làng Mĩ Thị, Bà Đa thuộc quận III – Đà Nẵng Trung tâm căn cứ là xóm Đồng, được bao bọc bởi lũy tre và cây cối rậm rạp Phía Đông giáp sông và đồng ruộng, phía Tây giáp sông Cổ Cò, Hòa Quý, Hòa Xuân; phía Nam giáp cánh đồng trũng đến đập Bờ Quan, và phía Bắc giáp cánh đồng rộng lớn kéo dài xuống đập Mĩ Thị Để vào xóm Đồng, Mỹ - Ngụy phải vượt qua một chiếc cầu độc đạo, tạo điều kiện thuận lợi cho việc cảnh giới và bảo vệ căn cứ, giúp phát hiện kẻ địch từ xa và báo động cho cán bộ cách mạng kịp thời.

Tại xóm Đồng, có 32 hộ dân sinh sống, nơi đây từng có khả năng che giấu gần 100 cán bộ, du kích, và chiến sĩ biệt động Với địa thế thuận lợi và được bảo vệ bởi ranh giới tự nhiên, xóm Đồng đã trở thành điểm khởi đầu quan trọng cho việc thông tin liên lạc giữa vùng giải phóng và căn cứ, cũng như giữa căn cứ và trung tâm thành phố thông qua hệ thống giao thông thủy và bộ.

K20 được xác định là một địa điểm trọng yếu ở phía Đông Nam thành phố Đà Nẵng, với vai trò quan trọng trong việc kiểm soát lực lượng cách mạng Địch sử dụng nơi này làm chốt chặn để bảo vệ trung tâm thành phố, trong khi ta coi đây là địa bàn chiến lược để phát triển lực lượng cách mạng K20 không chỉ là cầu nối giữa cách mạng địa phương và vùng giải phóng, mà còn là bàn đạp cho lực lượng vũ trang của ta thực hiện các cuộc phục kích vào vùng địch hậu.

Căn cứ K20 nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, với nhiệt độ trung bình hàng năm dao động từ 25 đến 26 độ C Lượng mưa trung bình hàng năm đạt khoảng 2066mm, chủ yếu tập trung vào các tháng 9, 10, 11 và 12, chiếm khoảng 70% tổng lượng mưa Độ ẩm trung bình tại đây là 82%.

Khu vực này có hai hướng gió chủ đạo: gió Đông và gió Bắc Gió Đông thường thịnh hành từ tháng 4 đến tháng 9, trong khi gió Bắc chiếm ưu thế từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau Do vị trí gần biển, nơi đây thường xuyên phải đối mặt với các đợt gió bão từ biển Đông, với cấp bão thường gặp từ cấp 9 đến cấp 10, xảy ra chủ yếu từ tháng 9 đến tháng 12.

Vùng Căn cứ K20, nằm gần biển và các con sông, chịu ảnh hưởng lớn từ chế độ thủy văn, đặc biệt vào mùa mưa khi nhiều khu vực bị ngập nước và xâm thực mặn, gây tác động tiêu cực đến đời sống và hoạt động sản xuất nông nghiệp của người dân.

Quá trình "Nam tiến" vào vùng đất Đa Mặn, Mĩ Thị, Bà Đa bắt đầu từ những cư dân Việt ở phía Bắc đèo Ngang vào cuối thế kỷ XV và đầu thế kỷ XVI Tại đây, cư dân chủ yếu sống dựa vào nông nghiệp trồng lúa nước và các loại hoa màu như khoai, sắn, ngô, đồng thời phát triển nghề chài lưới và đánh bắt thủy sản trên các dòng sông lân cận Từ đó, các làng như Khuê Bắc dần hình thành trên mảnh đất này.

Mĩ Thị, xóm An Thượng, xóm Vạn Du,…

Vùng Căn cứ K20 trước đây là một khu vực hoang vu với đất đai khô cằn và khí hậu khắc nghiệt, nhưng nhờ sự cần cù và kiên trì của những cư dân đầu tiên, họ đã vượt qua khó khăn để khai hoang lập ấp Qua những gian khổ, người dân nơi đây đã rèn luyện được ý chí kiên cường và tinh thần cộng đồng mạnh mẽ, điều mà không phải nơi nào cũng có được.

Nhân dân Căn cứ K20 luôn ý thức giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc, dù cuộc sống mưu sinh vất vả Họ bảo tồn các phong tục cổ truyền, sinh hoạt giải trí tinh thần và lễ hội dân gian địa phương với nội dung phong phú, đa dạng Những hoạt động này không chỉ phản ánh bức tranh lao động đa màu sắc mà còn thể hiện ước mơ về một cuộc sống tươi đẹp và hạnh phúc.

Trước tốc độ đô thị hóa nhanh chóng, diện tích đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp, dẫn đến việc một bộ phận cư dân chuyển đổi sang các lĩnh vực kinh tế khác như buôn bán và sản xuất đồ thủ công Trong khi đó, một số cư dân vẫn tiếp tục duy trì việc trồng lúa nước và hoa màu, tạo ra những chuyển biến tích cực cho bức tranh kinh tế địa phương.

1.2.2 Vai trò của Căn cứ địa K20 trong công cuộc kháng chiến, giải phóng dân tộc 1.2.2.1 Trong kháng chiến chống Pháp

Cư dân Căn cứ K20 luôn thể hiện tinh thần yêu nước mạnh mẽ, sẵn sàng đứng lên chống lại áp bức và các thế lực ngoại xâm Trong lịch sử chống ngoại xâm, khu vực này đã ghi dấu ấn với nhiều nhân vật tiêu biểu như danh tướng Trần Quang Diệu, đô úy tướng quân Trần Viết Hậy và nhiều tấm gương anh dũng khác.

Bước sang thời cận đại, khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam vào ngày 1/9/1858, nhân dân vùng Căn cứ K20 đã thể hiện lòng yêu nước mạnh mẽ, cùng với cả nước đứng lên chống Pháp Dưới ngọn cờ Cần Vương, tiến sĩ Trần Văn Dư thành lập Nghĩa hội Quảng Nam, lãnh đạo quân đội chống Pháp và làm chủ tỉnh lỵ Quảng Nam từ 1885 đến 1887 Trong thắng lợi chung, nhân dân các làng Khuê Bắc, Mĩ Thị, và xóm An Thượng đã tích cực tham gia Nghĩa hội Quảng Nam, theo Huỳnh Bá Chánh và Nguyễn Văn Diêu, tham gia đánh Pháp và đốt chợ Hà Thân để chặn nguồn tiếp tế của quân Pháp.

Vào đầu thế kỷ XX, phong trào yêu nước của các văn thân sĩ phu như Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, Thái Phiên, Trần Cao Vân đã thu hút sự tham gia tích cực của nhân dân Đặc biệt, vùng Bắc Mĩ An và Khuê Bắc đã trở thành một trong những trung tâm hoạt động của phong trào Duy Tân, cũng như phong trào chống sưu cao, thuế nặng của nông dân Quảng Nam và các tỉnh Trung Kỳ.

Có thể nói rằng trước khi trở thành một căn cứ nổi tiếng, một vùng đất

K20, vùng đất anh hùng của Đà Nẵng, đã có truyền thống đấu tranh kiên cường từ thời trung đại đến cận đại Kể từ khi Đảng ra đời, dưới ngọn cờ cách mạng nhân dân, K20 tiếp tục phát huy tinh thần bất khuất cho đến khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công.

Thực trạng phát triển du lịch ở một số căn cứ địa tại Việt Nam

Khu di tích lịch sử Địa đạo Củ Chi tại Thành phố Hồ Chí Minh, được bảo tồn ở hai khu vực Bến Dược và Bến Đình, cách trung tâm thành phố hơn 70km về phía Tây Bắc, là điểm đến lý tưởng cho du khách yêu thích khám phá lịch sử Tại đây, du khách có cơ hội tham gia vào nhiều hoạt động thực tế thú vị, giúp họ hiểu biết sâu sắc hơn về cuộc sống của người dân địa phương trong thời kỳ hai cuộc chiến tranh cam go Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với giới trẻ trong nước, góp phần nâng cao nhận thức về lịch sử dân tộc.

Khu Căn cứ Địa đạo Củ Chi, được công nhận là Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp quốc gia, là biểu tượng của giá trị và tầm vóc chiến công của hàng vạn chiến sỹ và đồng bào Địa đạo này đã thu hút sự quan tâm của đông đảo du khách trong và ngoài nước, với hàng chục ngàn đoàn khách từ nhiều quốc gia đến tham quan kể từ ngày thống nhất đất nước năm 1975 Nơi đây không chỉ đón tiếp các vị lãnh đạo, chính khách, mà còn là điểm đến của nhiều nhà khoa học, triết gia, nhà văn, nhà báo và cựu chiến binh Mỹ Địa đạo Củ Chi được gia cố và tôn tạo thường xuyên, đảm bảo độ bền vững lâu dài, kết hợp với các công trình giải trí trong khu rừng thiên nhiên rộng rãi và mát mẻ.

Khu di tích liên hoàn tại Bến Dược, nơi từng là căn cứ của Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu Sài Gòn – Gia Định trong thời kỳ kháng chiến, đã được khôi phục nguyên trạng và thu hút đông đảo du khách Đền tưởng niệm liệt sĩ Bến Dược, với diện tích 70.000m², bao gồm cổng tam quan, nhà văn bia, tháp 9 tầng cao khoảng 40m và ngôi điện chính, nơi khắc tên khoảng 50.000 liệt sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc Từ năm 1995, đền đã trải qua hai lần trùng tu, thay đổi chất liệu và bổ sung danh sách liệt sĩ Địa đạo Bến Dược, thuộc hệ thống Địa đạo Củ Chi, là một công trình kiến trúc độc đáo với mạng lưới hầm sâu hơn 200km, phục vụ cho các hoạt động sinh hoạt, hội họp và chiến đấu.

Căn cứ Chiến khu Đ (Tây Ninh) là một điểm đến hấp dẫn cho du khách, đặc biệt trong loại hình du lịch về nguồn đang phát triển tích cực tại tỉnh Tây Ninh Hệ thống di tích đã được đầu tư nâng cấp, cải thiện cơ sở hạ tầng và dịch vụ du lịch, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của du khách, dẫn đến sự gia tăng lượng khách nội địa và bước đầu thu hút khách quốc tế Khách du lịch chủ yếu đến từ TPHCM và các tỉnh lân cận, bao gồm học sinh, sinh viên và cựu chiến binh, trong khi khách quốc tế chủ yếu từ Campuchia và Mỹ Mặc dù du lịch về nguồn được đánh giá cao, việc khai thác tiềm năng tại các di tích lịch sử - văn hóa vẫn còn hạn chế.

Căn cứ Trung ương Cục miền Nam là cơ quan đầu não của cách mạng miền Nam trong cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, thu hút nhiều du khách đến Tây Ninh Tuy nhiên, cơ sở hạ tầng hạn chế và thiếu các điểm vui chơi giải trí khiến du khách thường chỉ tham quan trong ngày và chi tiêu không nhiều.

Theo Phòng quản lí và khai thác di tích, mặc dù hàng năm có hàng chục nghìn khách du lịch trong nước và quốc tế đến tham quan, nhưng việc khai thác di tích cho mục đích kinh tế vẫn chưa được chú trọng Doanh thu từ việc bán sản phẩm du lịch hàng năm còn thấp và chưa tương xứng với tiềm năng của di tích.

Căn cứ Trung ương Cục miền Nam và núi Bà Ðen là hai di tích quan trọng ở Tây Ninh, thu hút du lịch về nguồn Mặc dù lượng khách đến ngày càng tăng, doanh thu từ du lịch vẫn còn khiêm tốn, đặc biệt tại Căn cứ Trung ương Cục miền Nam Nguyên nhân chính là do lãnh đạo địa phương chưa coi đây là điểm du lịch cần đầu tư lớn, chỉ thực hiện các dự án tôn tạo ban đầu mà chưa chú trọng đến việc thu hút và giữ chân du khách Do đó, lượng khách quay lại các điểm du lịch và sử dụng dịch vụ vẫn còn thấp.

Trong những năm qua, du lịch Tây Ninh, đặc biệt là du lịch về nguồn, đã phát triển nhưng vẫn còn hạn chế Số lượng các điểm dịch vụ du lịch và các khu vui chơi, giải trí còn khá ít, điều này ảnh hưởng đến trải nghiệm của du khách.

“địa chỉ đỏ” mới đang ở dạng đầu tư ban đầu hoặc chỉ ở dạng tiềm năng

Du lịch về nguồn ở Tây Ninh đang gặp khó khăn do chất lượng sản phẩm và dịch vụ chưa cao, cùng với hoạt động xúc tiến và quảng bá du lịch chưa hiệu quả, đặc biệt là với thị trường quốc tế Điều này dẫn đến lượng khách nước ngoài rất thấp, chỉ chiếm khoảng 1% tổng số du khách trong năm Các đề án tiếp thị và giới thiệu điểm đến gần như không tồn tại, trong khi khách du lịch chủ yếu đến từ nhu cầu cá nhân và tổ chức với mục đích thăm lại chiến trường xưa, tưởng nhớ đồng đội, hoặc giáo dục thế hệ trẻ.

Thực trạng phát triển du lịch tại Căn cứ địa K20 hiện nay

Đất nước thống nhất, nhân dân Đa Mặn, Mĩ Thị, Bà Đa đang nỗ lực xây dựng cuộc sống mới và phấn đấu cho chủ nghĩa xã hội Di tích lịch sử căn cứ K20, biểu tượng cho lịch sử hào hùng của nhân dân Quảng Nam - Đà Nẵng, hiện đang bị lãng quên và cần được bảo tồn Mặc dù được xem là điểm đến du lịch tiềm năng, khu vực này vẫn chưa được khai thác Đa Mặn, Mĩ Thị, Bà Đa và nhiều địa phương miền Trung thường xuyên phải đối mặt với thiên tai, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự tồn tại của các di tích lịch sử Nhiều căn hầm bí mật và nhà của các gia đình cách mạng đã bị sụt lún và mất dấu tích, đe dọa di sản văn hóa quý giá này.

Sự phát triển lịch sử - xã hội của Đà Nẵng đã dẫn đến những thay đổi đáng kể trong cuộc sống và diện mạo của vùng đất K20 Kể từ sau năm 1975, nhiều khu vườn và mảnh đất của các gia đình đã bị chia tách và thay đổi chủ sở hữu Số lượng người nhập cư tăng lên, trong khi người dân bản địa cũng chuyển chỗ ở đến nơi khác Đồng thời, nhiều gia đình đã cải tạo kiến trúc và kết cấu nhà ở để phù hợp với sự phát triển Quá trình đô thị hóa mạnh mẽ ở Đà Nẵng trong vài thập niên qua cũng đã có những tác động rõ rệt.

Các yếu tố đã ảnh hưởng lớn đến sự tồn tại của hệ thống di tích căn cứ cách mạng K20, hiện chỉ còn 6 địa điểm bảo lưu tốt nhất Trong số đó, 4 địa điểm được xếp hạng di tích, bao gồm nhà ông Huỳnh Phiên (Vấn), nhà thờ Bà Nhiêu, nhà thờ tộc Huỳnh và nhà ông Huỳnh Trưng.

2.2.1 Một số tài nguyên được đưa vào phát triển du lịch 2.2.1.1 Nhà truyền thống K20

Nhà truyền thống K20, do chính quyền và nhân dân địa phương xây dựng, là nơi lưu giữ và trưng bày nhiều tài liệu, hiện vật quý giá, phản ánh truyền thống cách mạng anh hùng của nhân dân K20 và Đà Nẵng Tại đây, các phương tiện và vũ khí được sử dụng để đào hầm bí mật và chiến đấu vẫn được bảo tồn Những địa chỉ đỏ, hầm bí mật và chiến hào xưa đang được đưa vào các chương trình tham quan và giáo dục truyền thống Mỗi hiện vật và sự tích đều gắn liền với những con người có thật, trong đó có những người vẫn đang sống và xây dựng cuộc sống mới trên mảnh đất lịch sử này.

2.2.1.2 Nhà ông Huỳnh Phiên (Huỳnh Vấn)

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, nhà ông Huỳnh Vấn đã trở thành một địa điểm quan trọng cho việc tuyên truyền và tổ chức sinh hoạt chính trị của các cán bộ cách mạng cũng như quần chúng nhân dân địa phương.

Lúc bấy giờ, thân sinh của ông Huỳnh Vấn là ông Huỳnh Miên, một ông

Ông Huỳnh Miên, một người có kiến thức về nho, y, lý, số, đã mở quầy thuốc bắc tại nhà để phục vụ khám chữa bệnh cho dân làng, được nhân dân tôn trọng Với tinh thần yêu nước và căm ghét giặc Pháp, ngôi nhà của ông trở thành cơ sở cách mạng, nơi tổ chức hội họp tuyên truyền về Chủ tịch Hồ Chí Minh và Mặt trận Việt Minh Các cán bộ cơ sở thường xuyên lui tới để giao lưu và phát triển thêm cơ sở mới Đồng thời, ông cũng mở các lớp học bình dân học vụ, xóa mù chữ cho quần chúng, góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng.

Kể từ năm 1954, ông Huỳnh Vấn đã tham gia tổ du kích mật "tam tam" tại Nước Mặn, do Chi bộ Nước Mặn (A2) thành lập và chỉ đạo Do đó, nhiều cán bộ hoạt động bất hợp pháp ở Đa Mặn, Mĩ Thị, Bà Đa thường xuyên đến nhà ông để sinh hoạt và tổ chức hội họp.

Từ năm 1968, ông Huỳnh Vấn được cài vào bộ máy cai trị của ngụy với chức vụ Trưởng ấp cho đến cuối năm 1974, biến căn nhà của ông thành một cơ sở quan trọng Đây là một trong những điểm gặp gỡ và hội bàn của nhiều cán bộ trong quá trình hoạt động tại K20.

Trong thời gian từ năm 1968 đến năm 1974, nhà ông Huỳnh Vấn đã trở thành địa điểm quan trọng cho các đồng chí trong Quận ủy quận III như Lê Quý và Bồn Thông (Hồ Trương) để chỉ đạo phong trào Lực lượng an ninh vũ trang quận III, bao gồm các đồng chí Trưởng Ban an ninh như Đặng Hồng Vân và Văn Thành Công, cũng đóng quân tại đây Đây còn là nơi sinh hoạt và hội họp của thanh niên, du kích địa phương, với sự tham gia của các lãnh đạo Đoàn như Trần Xuân Tiến, Bí thư Đoàn Thanh niên nhân dân cách mạng quận III, nhằm thúc đẩy phong trào Đoàn và hoạt động của học sinh, thanh niên trong khu vực.

Ông Huỳnh Vấn đóng vai trò là cơ sở nội tuyến an toàn, với nhà ông nằm ở điểm kết thúc con đường độc đạo từ xóm Cát vào xóm Đồng, gần nhà thờ tộc Nguyễn Văn Nhà thờ này là điểm bảo vệ vòng ngoài, trong khi nhà ông Huỳnh Vấn là chốt bảo vệ vòng 2 quan trọng cho toàn bộ mạng lưới cơ sở bên trong Từ năm 1968 đến 1974, vào ban đêm, luôn có lực lượng du kích hoặc cơ sở của ta trong lực lượng phòng vệ dân sự ngụy thực hiện nhiệm vụ tuần tra và canh gác tại đây.

Căn nhà của ông Huỳnh Trưng không chỉ là nơi dừng chân tạm thời cho cán bộ, chiến sĩ từ ngoài vào K20, mà còn là điểm trung chuyển cho những người từ K20 trở về các cơ sở khác Trong những ngày Tết Mậu Thân, các đồng chí Hồ Nghinh và Trần Thận – Phó Bí thư Đặc Khu ủy Quảng Đà, đã được đón tiếp tại nhà ông và sau đó tiếp tục hành trình qua nhà ông Huỳnh Vấn để vào xóm Cát, Mĩ Thị, Bà Đa, nhằm thâm nhập vào trung tâm thành phố.

Trong suốt hai cuộc kháng chiến, đặc biệt là trong thời kỳ chống Mỹ, nhà ông Huỳnh Vấn đã đóng vai trò là một cơ sở hợp pháp quan trọng của Khu Căn cứ cách mạng K20.

Nhà ông Huỳnh Vấn từ khi xây dựng đến nay không có sửa chữa lớn nào và diện tích mặt bằng vẫn giữ nguyên Từ năm 2000, ông bà đã chuyển về sống cùng con cháu tại xóm Đa Phước (xóm Cát) để thuận tiện cho sinh hoạt và có một địa điểm riêng để thờ cúng gia tiên, do đó ngôi nhà của ông càng được giữ gìn cẩn thận, khang trang và bền vững.

Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, từ năm 1946 đến năm 1954, nhà thờ

Nhà thờ Bà Nhiêu là địa điểm quan trọng cho các cuộc họp và làm việc của Chi bộ xã An Bắc (Chi bộ Đặng Tuyến) và Khu ủy khu Đông – Đà Nẵng, với sự tham gia của nhiều đồng chí như Trần Viết Thăng, Nguyễn Luận, và Huỳnh Kim Bảng Trong thời kỳ này, Bà Nhiêu đã trở thành một trung tâm lãnh đạo quan trọng của cách mạng địa phương.

Cuối năm 1962, Ban cán sự Đà Nẵng quyết định đào hầm bí mật tại nhà thờ Bà Nhiêu, với kích thước 4m x 2m x 1m, xây dựng bằng bờ lô và tấm bê tông Từ năm 1963 đến 1968, để chuẩn bị cho cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, đã có thêm 5 căn hầm được xây dựng tại các vị trí khác nhau như góc sân, sau vườn, dưới bàn thờ và trong nhà bếp Các căn hầm này có cấu trúc tương tự như hầm đầu tiên, ngoại trừ một hầm ở phía sau vườn lớn hơn, với kích thước 6m x 2m x 1m.

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI

Ngày đăng: 22/07/2023, 16:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chấp hành Đảng bộ Quận Sơn Trà (2000), Lịch sử Đảng bộ Quận Sơn Trà (1930 – 1975), NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ Quận Sơn Trà (1930 – 1975)
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ Quận Sơn Trà
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2000
2. Ban Tuyên giáo thành ủy Đà Nẵng (2005), Đà Nẵng thời đánh Mĩ, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đà Nẵng thời đánh Mĩ
Tác giả: Ban Tuyên giáo thành ủy Đà Nẵng
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2005
4. Bộ Chỉ huy quân sự thành phố Đà Nẵng (2002), Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân thành phố Đà Nẵng (1945 – 2000), NXB Quân đội nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân thành phố Đà Nẵng (1945 – 2000)
Tác giả: Bộ Chỉ huy quân sự thành phố Đà Nẵng
Nhà XB: NXB Quân đội nhân dân
Năm: 2002
5. Bộ Quốc phòng, Trung tâm từ điển bách khoa quân sự (2005), Từ điển thuật ngữ quân sự Việt Nam, NXB Quân đội nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ quân sự Việt Nam
Tác giả: Bộ Quốc phòng, Trung tâm từ điển bách khoa quân sự
Nhà XB: NXB Quân đội nhân dân
Năm: 2005
6. Bộ Tư Lệnh Quân Khu 5 , Viện Lịch sử Quân Sự Việt Nam (2002), Vành đai diệt Mĩ trên chiến trường Khu 5 – một sáng tạo của chiến tranh nhân dân Việt Nam, NXB Quân đội nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vành đai diệt Mĩ trên chiến trường Khu 5 – một sáng tạo của chiến tranh nhân dân Việt Nam
Tác giả: Bộ Tư Lệnh Quân Khu 5, Viện Lịch sử Quân Sự Việt Nam
Nhà XB: NXB Quân đội nhân dân
Năm: 2002
7. Trường Chinh (1976), Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam, tập I, NXB Sự thật, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam
Tác giả: Trường Chinh
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1976
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (1976), Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (12/1976) 9. Đảng bộ tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng (1996), Lịch sử Đảng bộ QuảngNam – Đà Nẵng (1954 – 1975), tập 3, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ QuảngNam – Đà Nẵng (1954 – 1975), tập 3
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 1996
10. Đảng bộ Quận Ngũ Hành Sơn (2005), Lịch sử Đảng bộ Quận Ngũ Hành Sơn (1930 – 2000), Đảng bộ Quận Ngũ Hành Sơn ấn hành Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ Quận Ngũ Hành Sơn (1930 – 2000)
Tác giả: Đảng bộ Quận Ngũ Hành Sơn
Nhà XB: Đảng bộ Quận Ngũ Hành Sơn ấn hành
Năm: 2005
11. Đảng bộ hai phường Mĩ An và Khuê Mĩ (2010), Lịch sử đấu tranh cách mạng và xây dựng Đảng bộ phường Bắc Mĩ An (1930 – 2005), Đảng bộ hai phường Mĩ An và Khuê Mĩ ấn hành Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử đấu tranh cách mạng và xây dựng Đảng bộ phường Bắc Mĩ An (1930 – 2005)
Tác giả: Đảng bộ hai phường Mĩ An và Khuê Mĩ
Nhà XB: Đảng bộ hai phường Mĩ An và Khuê Mĩ ấn hành
Năm: 2010
13. Trần Đình Ba (2011), Việt Nam những điểm đến hấp dẫn, NXB Văn Hóa Thông Tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam những điểm đến hấp dẫn
Tác giả: Trần Đình Ba
Nhà XB: NXB Văn Hóa Thông Tin
Năm: 2011
14. Vũ Thế Bình (2007), Non nước Việt Nam, NXB Văn hóa Thông tin. luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si Sách, tạp chí
Tiêu đề: Non nước Việt Nam
Tác giả: Vũ Thế Bình
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 2007
3. Báo cáo Quy hoạch tổng thể phát triền du lịch Việt Nam thời kỳ 1991- 2010. Tổng cục Du lịch Việt Nam Khác
12. Đề án phát triển Du lịch thành phố Đà Nẵng giai đoan 2016 2020, Sở Du lịch thành phố Đà Nẵng Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm