Đồng thời, dựa trên cơ sở nhận thức sâu sắc vai trò giáo dục khoa cử và trọng dụng nhân tài các vua Nguyễn đã nối tiếp nhau kế thừa những giá trị văn hóa và bài học kinh nghiệm của triều
Trang 2tốt nghiệp với đề tài: “Đội ngũ tiến sĩ dưới triều Nguyễn (1802 - 1883)” Ngoài sự nỗ lực
của bản thân thì tôi còn nhận được sự giúp đỡ từ rất nhiều phía
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến giáo viên hướng dẫn, TS Lê Thị Thu Hiền, người đã gợi mở đề tài và luôn theo sát chỉ dẫn, giúp đỡ tôi đi đúng hướng trong quá trình thực hiện nghiên cứu
Tiếp theo, chúng tôi xin được cảm ơn các thầy cô trong khoa Lịch sử Trường Đại học sư phạm - Đại học Đà Nẵng đã tạo mọi điều kiện cho tôi trong việc tìm và mượn tài liệu liên quan đến đề tài
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc gia đình, bạn bè, người thân đã luôn bên cạnh, quan tâm, động viên và đưa ra những lời khuyên bổ ích, nhờ vậy mà khóa luận tốt nghiệp được hoàn chỉnh hơn
Đà Nẵng, ngày 26 tháng 4 năm 2018 Sinh viên thực hiện
Cao Văn Thế
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
3.1 Mục đích nghiên cứu 4
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4.1 Đối tượng nghiên cứu 4
4.2 Phạm vi nghiên cứu 5
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 5
5.1 Nguồn tư liệu nghiên cứu 5
5.2 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của đề tài 6
7 Bố cục của đề tài 6
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TRIỀU NGUYỄN VÀ ĐỘI NGŨ TIẾN SĨ TRƯỚC TRIỀU NGUYỄN 7
1.1 Tổng quan về triều Nguyễn 7
1.1.1 Chính trị 7
1.1.1.1 Tổ chức bộ máy nhà nước 7
1.1.1.2 Pháp luật 8
1.1.1.3 Quân đội 9
1.1.1.4 Ngoại giao 10
1.1.2 Kinh tế - xã hội 12
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 41.1.3.1 Giáo dục và khoa cử 16
1.1.3.2 Văn hóa 17
1.2 Đội ngũ tiến sĩ trước triều Nguyễn 18
1.2.1 Thời Lý - Trần (1010 - 1400) 18
1.2.2 Thời Hồ (1400 - 1407) 21
1.2.3 Thời Lê sơ (1428 - 1527) 22
1.2.4 Thời Mạc 24
1.2.5 Thời Lê trung hưng 25
CHƯƠNG 2: ĐỘI NGŨ TIẾN SĨ VÀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN 28
ĐỘI NGŨ TIẾN SĨ THỜI NGUYỄN 28
2.1 Khái lược về đội ngũ tiến sĩ thời Nguyễn 28
2.1.1 Số lượng và chức danh 28
2.1.2 Quê quán 31
2.1.3 Độ tuổi 33
2.1.4 Sự nghiệp quan trường 34
2.2 Chính sách phát triển đội ngũ tiến sĩ thời Nguyễn 36
2.2.1 Củng cố, mở rộng hệ thống trường học 36
2.2.2 Duy trì và bổ sung các ân điển 46
CHƯƠNG 3: ĐÓNG GÓP CỦA ĐỘI NGŨ TIẾN SĨ DƯỚI THỜI NGUYỄN 54
3.1 Về chính trị 54
3.1.1 Những kiến nghị, đề xuất 54
3.1.2 Trị loạn 60
3.1.3 Tham gia lãnh đạo phong trào yêu nước kháng Pháp nửa sau thế kỉ XIX 63 3.2 Về kinh tế - xã hội 65
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 53.3.1 Những kiến nghị, đề xuất về giáo dục 70
3.3.2 Dạy học 71
3.3.3 Sáng tác thơ văn, công trình chuyên khảo 75
3.3.4 Một số đóng góp khác 76
3.4 Ngoại giao 77
3.5 Hạn chế của đội ngũ tiến sĩ dưới triều Nguyễn 78
3.6 Nhận xét, đánh giá 80
3.6 Bài học kinh nghiệm 81
KẾT LUẬN 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 6Bảng 2.2: Quê quán của những người đỗ tiến sĩ dưới triều Nguyễn (1802 - 1883) 32 Bảng 2.3: Độ tuổi của những người thi đỗ tiến sĩ dưới triều Nguyễn (1802 - 1883) 33 Bảng 2.4: Thống kê phẩm hàm và chức quan cao nhất của những người đỗ tiến sĩ dưới thời Nguyễn 35 Bảng 2.5 Thống kê một số phủ, huyện nhà Nguyễn thành lập trường học 41 Bảng 2.6 Các ngôi trường tư dưới triều Nguyễn (1802 - 1883) 45 Bảng 3.1: Các cuộc dẹp loạn ở thế kỷ XIX dưới sự lãnh đạo, tham gia của đội ngũ tiến sĩ dưới thời Nguyễn 60 Bảng 3.2: Đội ngũ tiến sĩ triều Nguyễn tham gia vào công việc tổ chức, coi thi
và chấm thi các khoa thi tiến sĩ văn và võ 72 Bảng 3.3: Các quan - tiến sĩ tham gia vào việc đi sứ thời Nguyễn (1802 - 1883) 77 Bảng 3.4: Thống kê các vị “quan - tiến sĩ” không hoàn nhiệm vụ 78
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Ở mọi thời đại, giáo dục luôn là quốc sách hàng đầu, chấn hưng giáo dục là chìa khóa mở cửa vào tương lai dân tộc Văn hoá, khoa học và đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng đối với sự nghiệp chung của đất nước Chuyển động của mỗi triều đại phụ thuộc lớn vào trí tuệ và bản lĩnh của tầng lớp trí thức Để hướng tới một nền kinh tế phát triển, một xã hội dân chủ, văn minh và tích lũy được những giá trị tốt đẹp cho cuộc sống thì việc đào tạo, sử dụng nhân tài cho đất nước được coi là nhân tố tích cực nhất
Trong hơn một thế kỉ tồn tại, giống như các triều đại phong kiến trước đó, triều Nguyễn cũng đã xây dựng và củng cố quyền lực thống trị của mình dựa trên nền tảng tư tưởng Nho giáo Các khoa thi Nho học được tổ chức thường xuyên nhằm đáp ứng nhu cầu bức thiết về phát triển chính trị, văn hóa - xã hội được đặt ra sau khi vương triều được thành lập Đồng thời, dựa trên cơ sở nhận thức sâu sắc vai trò giáo dục khoa cử và trọng dụng nhân tài các vua Nguyễn đã nối tiếp nhau kế thừa những giá trị văn hóa và
bài học kinh nghiệm của triều đại trước, với việc nhận thức “Hiền tài là nguyên khí của
đất nước Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà vươn cao; nguyên khí suy thì thế nước yếu mà xuống thấp Bởi vậy, các đấng thánh đế minh vương chẳng ai không lấy việc gây dựng người tài, kén chọn kẻ sĩ, bồi đắp nguyên khí là việc làm đầu tiên”[24, tr.84]
Nhận thấy được tầm quan trọng của hiền tài đối với đất nước nên từ sớm các bậc minh quân luôn coi trọng và có những chính sách để đào tạo và phát triển nhân tài phục vụ cho công cuộc xây dựng đất nước Dưới thời triều Nguyễn con đường khoa cử rất được đề cao trong việc tuyển chọn quan lại vào bộ máy quản lí hành chính nhà nước Các vua Nguyễn từ Gia Long đến Tự Đức đều rất quan tâm đến đào tạo, tuyển chọn nhân tài, đặc biệt là đào tạo tiến sĩ Nhà nước đã tổ chức đều đặn các kì thi, trong đó, thi Hội để lấy tiến sĩ, thi Đình để công nhận học vị và xếp loại tiến sĩ Sau khi đỗ đạt, các tân tiến sĩ luôn nhận được quan tâm, với các đặc ân đãi ngộ rất trọng hậu của triều đình
và làng xã Những chính sách ấy không chỉ tác dụng khuyến khích, động viên những người đỗ tiến sĩ mà còn thể hiện sự quan tâm của nhà nước đối với giáo dục Cũng từ chính sách ấy mà truyền thống khoa cử được tạo dựng từ các triều đại trước vẫn được tiếp nối, hình thành nên những làng học, họ học, những gia đình khoa bảng Tất cả những
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 8đặc ân của nhà nước đối với các tiến sĩ đã góp phần tạo ra nguồn lực trí thức đông đảo phục vụ cho quốc gia, khuyến khích kẻ sĩ trong dân gian vào chốn quan trường
Chính vì có những chính sách đào tạo, kén chọn và đối đãi người tài rất trọng hậu mà triều Nguyễn đã tuyển dụng được nhiều bậc hiền tài cho đất nước Đội ngũ tiến
sĩ - sản phẩm giáo dục, khoa cử thời Nguyễn như: Phan Thanh Giản, Nguyễn Thượng Hiền, Tống Duy Tân,… trở thành những trụ cột, góp phần đưa quốc gia phong kiến phát triển hưng thịnh trên nhiều mặt Việc tuyển chọn và đóng góp của đội ngũ tiến sĩ thời triều Nguyễn có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển của dân tộc thế kỉ XIX, đồng thời
để lại bài học kinh nghiệm quý báu cho đến ngày nay Trong Nghị Quyết Hội nghị lần
thứ 4 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng khóa XII, Số 05 - NQ,TW đã nhấn mạnh “Chú
trọng phát triển nguồn nhân lực Việt Nam yêu cầu phát triển và hội nhập của đất nước Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đào tạo theo đúng tinh thần nghị quyết Trung ương 8 khóa XI để nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu đổi mới
mô hình tăng trưởng” Điều này cho thấy, nghiên cứu đội ngũ tiến sĩ không chỉ có ý
nghĩa khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc Thông qua bài học kinh nghiệm từ lịch sử, thời đại hiện nay Đảng và Nhà nước cần có những chính sách tuyển dụng, đãi ngộ hợp lí cho đội ngũ trí thức, đồng thời có thể phát huy tài năng, năng lực để phục vụ công cuộc kiến thiết nước nhà
Do đó, nghiên cứu đề tài đội ngũ tiến sĩ dưới triều Nguyễn (1802 - 1883) nhằm rút ra được những bài học kinh nghiệm trong việc phát triển và sử dụng nguồn lực con người một cách hợp lí và có hiệu quả, phục vụ cho việc xây dựng đất nước hiện nay mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Đội ngũ tiến sĩ
dưới triều Nguyễn (1802 - 1883)” làm đề tài khóa luận
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Những năm gần đây, triều Nguyễn luôn là đề tài hấp dẫn thu hút sự tham gia nghiên cứu của tất cả các giới, các ngành trong và ngoài nước Nhiều cuộc hội thảo khoa
học về triều Nguyễn đã được tổ chức trong cả nước Liên quan đến đề tài “Đội ngũ tiến
sĩ dưới triều Nguyễn (1802 - 1883)”, đã có một số công trình nghiên cứu Có thể chia
các công trình đó thành các nhóm vấn đề sau:
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 9- Nhóm các tác phẩm viết về triều Nguyễn như: “Đại Việt sử kí toàn thư” của Ngô Sĩ Liên, hay cuốn “Khâm định Việt sử thông giám cương mục”, “Đại Nam thực
lục”, “Đại Nam hội điển sử lệ” của Quốc sử quán triều Nguyễn, “Lịch sử Việt Nam đại cương” của Trương Hữu Quýnh, Những tác phẩm này ghi chép theo kiểu biên niên và
đề cập các sự kiện liên quan đến tình hình đất nước, kinh tế, xã hội, văn hóa - giáo dục
thời Nguyễn
- Nhóm tác phẩm viết về giáo dục, khoa cử Việt Nam qua các giai đoạn như:
“Quốc triều đăng khoa lục”, “Quốc triều hương khoa lục” đã ghi chép cách thức tổ
chức thi, quy định, nội dung rõ ràng qua từng đời vua và ghi tên của những đậu đỗ tiến
sĩ dưới thời Nguyễn; Khoa cử và giáo dục Việt Nam của Nguyễn Quang Thắng; Lược
khảo về giáo dục khoa cử Việt Nam từ khởi thủy đến năm 1918 của Trần Văn Giáp; Tìm hiều nền giáo dục Việt Nam trước CMT8 năm 1945 do Nguyễn Tiến Cường (chủ biên)…
Điểm chung của hầu hết của các cuốn sách này đều khái lược về chế độ thi cử thời phong kiến trải qua các triều đại, trong đó có thời Nguyễn Tuy nhiên vẫn chưa trình bày và phân tích rõ ràng về đội ngũ tiến sĩ dưới thời Nguyễn và đóng góp của đội ngũ tiến sĩ tới với đất nước
Đặc biệt, năm 2011, Nguyễn Ngọc Quỳnh trong cuốn Hệ thống giáo dục và khoa
cử Nho học triều Nguyễn đã đi sâu vào và phân tích những khía cạnh xung quanh vấn
đề giáo dục khoa cử triều Nguyễn, từ việc phác họa bối cảnh chính trị - xã hội đất nước thời kỳ này tác giả đi sâu về nội dung phương pháp giáo dục, cách thức tiến hành khoa
cử, chọn lựa và sử dụng nhân tài của triều đình nhà Nguyễn Đây có thể xem tài liệu tham khảo quan trọng trong quá trình nghiên cứu đề tài
Bên cạnh đó, có một số tác giả đã đi sâu vào khảo cứu một cách có hệ thống về các nhà khoa bảng Việt Nam (tóm tắt về tiểu sử, khoa thi, sự nghiệp quan trường), trong
đó có thời Nguyễn như: Các nhà khoa bảng Việt Nam do Ngô Đức Thọ chủ biên, Các
vị trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa qua các triều đại phong kiến Việt Nam của Trần
Hồng Đức, Trạng nguyên, tiến sĩ, Hương cống Việt Nam do Bùi Hạnh Cẩn, Minh Nghĩa, Việt Anh, Khoa cử và các nhà khoa bảng triều Nguyễn của Phạm Đức Thành Dũng biên
soạn…
Ngoài ra, cũng có các bài viết trên một số tạp chí có đề cập về vấn đề này như
“Khuyến học xưa và nay” của tác giả Nguyễn Thúc Chuyên (1994) đăng trên tạp chí
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 10Huế xưa và nay số (54), “Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử” của Hội
khoa học Lịch sử Việt Nam (2008) đăng trên tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, “Phương
thức tuyển dụng quan lại cho bộ máy chính quyền nhà nước ở thế kỉ XVII – XVIII” của
tác giả Trần Thị Vinh (2006) đăng trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử (số 1)… Dừ vậy, ở
góc độc nào đó, những nghiên cứu này vẫn chưa nêu được những nội dung chủ yếu mà
đề tài hướng đến
Tóm lại, mặc dù có nhiều đề tài cũng như các công trình nghiên cứu về triều Nguyễn nhưng tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và tổng thể về đội ngũ tiến sĩ ở giai đoạn này Hầu hết các tác phẩm, công trình nghiên cứu trước
đó mới chỉ đề cập hay phân tích một khía cạnh nhất định có liên quan đến đội ngũ tiến
sĩ dưới triều Nguyễn Dù vậy, những công trình nói trên vẫn là nguồn tư liệu để chúng tôi tham khảo để hoàn thành đề tài của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là nhằm tìm hiểu các đặc điểm của đội ngũ tiến
sĩ dưới triều Nguyễn Thông qua đó thấy được đóng góp thiết thực của họ đối với đất nước và đồng thời, rút ra bài học kinh nghiệm cho việc phát triển đội ngũ trí thức trong hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, chúng tôi sẽ thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu về bối cảnh lịch sử Việt Nam dưới thời triều Nguyễn trên các lĩnh vực của chính trị, kinh tế - xã hội, văn hóa - giáo dục
- Phân tích đặc điểm của đội ngũ tiến sĩ và chính sách phát triển đội ngũ tiến sĩ dưới thời triều Nguyễn
- Đóng góp của đội ngũ tiến sĩ đối với đất nước
- Nhận xét, đánh giá về đội ngũ tiến sĩ dưới triều Nguyễn để rút ra bài học kinh nghiệm cho việc phát triển đội ngũ tri thức trong bối cảnh hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 11Với đề tài này, đối tượng nghiên cứu chủ yếu là đội ngũ tiến sĩ dưới triều Nguyễn (1802 -1883) ở các khía cạnh như: hoàn cảnh xuất thân, độ tuổi, sự nghiệp quan trường… và những đóng góp của họ đối với thời triều Nguyễn nói riêng và cả đất nước Việt Nam nói chung
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến đội ngũ tiến
sĩ dưới thời Nguyễn từ năm 1802 đến năm 1883
Về không gian: Với đề tài này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu đội ngũ tiến sĩ
trong phạm vi cả nước dưới thời triều Nguyễn
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài này, chúng tôi đã khai thác tư liệu từ nhiều nguồn khác nhau Có thể phân chia thành các nhóm tư liệu sau:
- Các công trình cổ sử viết về thời Nguyễn có liên quan đến đội ngũ tiến sĩ như: Đại Nam nhất thống chí, Đại Nam thực lục, Đại Nam liệt truyện, Đại Việt sử kí toàn thư, Đại Việt sử kí tục biên, Khâm định Viêt sử thông giám cương mục, Đại Nam Hội điển sử lệ, Quốc triều hương khoa lục, Quốc triều khoa bảng lục, Lịch triều hiến chương loại chí…
- Các công trình tham khảo liên quan đến triều Nguyễn và đội ngũ tiến sĩ dưới triều Nguyễn
- Các công trình NCKH, các khóa luận tốt nghiệp, luận văn, luận án có liên quan đến vấn đề đội ngũ trí thức dưới triều Nguyễn
- Các bài viết trong các tạp chí và những bài viết trên mạng Internet
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Về phương pháp luận: Khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi nghiên cứu dựa trên
phương pháp sử học Mácxit như phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng và phương pháp nghiên cứu duy vật lịch sử để xem xét, đánh giá vấn đề
Về phương pháp nghiên cứu cụ thể: Với đề tài này chúng tôi kết hợp giữa hai
phương pháp nghiên cứu chuyên ngành Lịch sử là phương pháp lịch sử cụ thể và phương pháp logic để xem xét các sự vật hiện tượng kết hợp với các phương pháp khác như
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 12thống kê, mô tả, phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu Vận dụng các phương pháp đó, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi thực hiện qua các bước:
+ Thứ nhất: Tìm kiếm, sưu tầm, tập hợp tư liệu cần thiết phù hợp với nội dung
nghiên cứu của đề tài Chúng tôi đã sử dụng các nguồn tư liệu đang được lưu trữ tại các thư viên như: Thư viện Đại học Sư phạm Đà Nẵng, thư viên khoa học tổng hợp Đà Nẵng, phòng học liệu khoa Lịch sử trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng… Ngoài ra, chúng tôi còn tự tìm kiếm tài liệu qua bạn bè, thầy cô, giáo viên hướng dẫn,…
+ Thứ hai: Sau khi đã thu thập đủ tư liệu, tôi tiến hành phân tích, thống kê các tư
liệu để tìm ra được tính toàn vẹn, phát hiện được các mối liên hệ giữa các vấn đề liên quan, từ đó rút ra kết luận cần thiết liên quan đến nội dung đề tài nghiên cứu
6 Đóng góp của đề tài
Đề tài đưa đến một cái nhìn hệ thống về đội ngũ tiến sĩ dưới triều Nguyễn, những đóng góp của họ cho đất nước Qua đó, giúp chúng ta có cái nhìn tổng quát nhất về đội ngũ tiến sĩ Việt Nam thời phong kiến nói chung và thời triều Nguyễn nói riêng
Đồng thời, đề tài này thành công sẽ cung cấp và bổ sung vào nguồn tư liệu tham khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu và học tập của học sinh, sinh viên và những ai quan tâm đến vấn đề này
Chương 3: Đóng góp của đội ngũ tiến sĩ dưới triều Nguyễn
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 13CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TRIỀU NGUYỄN VÀ ĐỘI NGŨ TIẾN SĨ
TRƯỚC TRIỀU NGUYỄN 1.1 Tổng quan về triều Nguyễn
bộ máy nhà nước mới được thực hiện một cách quy củ và triều đình Nguyễn thật sự trở thành một nhà nước quân chủ chuyên chế phát triển đến đỉnh cao
Dưới thời Gia Long, nhà Nguyễn vẫn duy trì hệ thống các cơ quan trung ương: đứng đầu là vua - người nắm quyền hành cao nhất Bên dưới là 6 bộ (Lại, Bộ, Lễ, Binh, Hình, Công) chịu trách nhiệm chỉ đạo các công việc chung của nhà nước Ban đầu khi mới thành lập, vua Gia Long chia đất nước thành 4 dinh, 7 trấn từ Thanh Hoa đến Bình Thuận, còn phía Bắc từ Sơn Nam Hạ trở ra và phía Nam từ trấn Biên Hòa trở vào chỉ quản lí gián tiếp thông qua viên Tổng trấn Bắc thành và Gia Định thành Đây là một
“biện pháp khôn khéo, linh hoạt của Gia Long trong buổi đầu nhằm thực hiện quản lý đất nước, đồng thời đảm bảo sự tồn tại an toàn của vương triều” [26, tr.14] Tuy nhiên,
trong buổi đầu dựng cơ nghiệp thì hệ thống bộ máy chính quyền Trung ương còn đơn giản, chưa chặt chẽ về mặt thiết chế, đặc biệt là sự phân quyền trong việc quản lý một đất nước rộng lớn từ trước đến giờ
Kế tiếp đời vua Gia Long là triều vua Minh Mệnh (1820 - 1840) Để tăng cường quyền lực tập trung, vua Minh Mạng rất có ý thức trong việc xây dựng và củng cố bộ máy nhà nước quân chủ trung ương tập quyền chặt chẽ, quy củ Công cuộc cải tổ được tiến hành dần dần nhưng quyết liệt bắt đầu từ bộ máy hành chính của cơ quan trung ương sau đó đến các thể chế hành chính ở các địa phương Vua Minh Mạng thành lập
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 14một số cơ quan, tổ chức mới như Nội các, Cơ mật viện, bổ sung thêm chức Tham tri và Chủ sự ở các bộ, thay đổi Ngự sử đài (thời Lê) thành Đô sát viện, thay các chức Câu kê, Cai hợp bằng Thư lại, bãi bỏ Bắc thành và Gia Định thành, thiết lập đơn vị hành chính tỉnh với các chức Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chính, Án sát… Thời kì này bộ máy nhà nước
đã mang tính tập trung, chuyên chế hơn với việc bãi bỏ các khu vực như Bắc thành và Gia Định thành, cả nước được chia thành 1 phủ và 30 tỉnh
Kế nhiệm vua Minh Mạng là vua Thiệu Trị (1841 - 1847), Tự Đức (1847 - 1883) vẫn duy trì thiết chế nhà nước quân chủ chuyên chế, với bộ máy hành chính kiện toàn, chặt chẽ từ trung ương đến địa phương Đồng thời cả hai vị vua trên đều ban hành những chính sách tích cực về kinh tế, xã hội, giáo dục, góp phần ổn định đất nước, luôn quan tâm đến đời sống nhân dân
1.1.1.2 Pháp luật
Pháp luật là phương tiện đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của xã hội, là cơ sở
để con người hoàn thiện ý thức, hành vi đạo đức của mình, nhằm xây dựng một xã hội
có trật tự, kỷ cương, hùng mạnh Bên cạnh việc kiện toàn bộ máy chính quyền nhà nước,
vua Gia Long đã nghĩ ngay đến việc chỉnh đốn về phát luật Bộ luật Gia Long chính thức được khởi soạn vào năm Tân Mùi (1811) do Nguyễn Văn Thành làm Tổng tài soạn, năm 1812 thì hoàn thành Đến năm 1815, nhà vua cho ban hành và áp dụng rộng rãi trên phạm vi cả nước Có thể đánh giá đây là là bộ luật đầy đủ và hoàn chỉnh nhất trong hệ thống luật cổ của nước ta và là bộ luật đầu tiên trong lịch sử phong kiến Việt Nam có sự thống nhất từ Bắc vào Nam
Bộ luật với 22 quyển, chia thành 7 chương, gồm 398 điều và 30 điều tỷ dẫn, được
xây dựng chủ yếu dựa trên bộ “Đại Thanh luật lệ” của nhà Thanh (Trung Quốc) và Luật
Hồng Đức (thời Lê), với 397 điều giống luật của nhà Thanh, chỉ có một điều được lấy
từ Luật Hồng Đức Tuy nhiên, bộ luật đã được điều chỉnh cho phù hợp với đặc điểm tình hình, kinh tế, văn hóa, chính trị của nhà Nguyễn lúc bấy giờ Phần lớn các điều được ban hành trong Luật Gia Long, đều gắn với nhiệm vụ và sự cai quản của 6 bộ (Lại, Công,
Lễ, Hộ, Binh, Hình) Lại luật là những quy định về tổ chức nhà nước và hệ thống quan lại; Công luật quy định về xây dựng, bảo vệ đê điều, lăng tẩm; Lễ luật quy định về ngoại giao và nghi lễ cung đình; Hộ luật quy định về quản lý dân cư và đất đai; Binh luật quy định về tổ chức quân đội và quốc phòng; Hình luật quy định về các tội danh và hình
phạt Trong 398 điều của Luật Gia Long, có 166 điều về hình luật, 66 điều về hộ luật,
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 1510 điều về công luật Một số điều trong Hộ luật đã được cụ thể thành chính sách kinh tế của nhà Nguyễn Từ việc phân chia các điều luật, có thể thấy rằng nhà Nguyễn rất quan tâm tới pháp luật trong quá trình trị nước, đặc biệt là yếu tố hình luật được đề cao, thể hiện sự hà khắc của Luật Gia Long, với mục đích bảo vệ quyền lợi và địa vị của vương triều
So với Luật Hồng Đức, thì Luật Gia Long của triều Nguyễn hà khắc hơn, nhưng nội dung và cách áp dụng rõ ràng hơn Điều này thể hiện qua việc ban hành các nguyên tắc: Nguyên tắc luật định; nguyên tắc so sánh luật; nguyên tắc xét xử theo luật mới; nguyên tắc chiếu cố; nguyên tắc người thân thuộc được che giấu tội cho nhau; nguyên tắc truy cứu trách nhiệm hình sự; nguyên tắc luận tội theo tang vật; nguyên tắc chuộc tội bằng tiền Luật còn nghiêm cấm sử dụng các bản án chưa được biên soạn vào Bộ luật
để làm chuẩn cho việc xét xử Trong luật cũng quy định, nếu quan lại cố tình bao che hoặc bẻ cong sự thật, thì bị ghép vào tội vô ý hay cố ý thêm bớt tội cho người và phải
Sự ra đời của Luật Gia Long và cách thức trị nước gắn liền với pháp trị của triều
dù không phải bộ luật duy nhất dưới thời phong kiến ở nước ta, nhưng có thể được coi
là bộ luật lớn nhất, hoàn chỉnh và đầy đủ dưới chế độ phong kiến Bên cạnh những điều luật hà khắc, áp chế đối với nhân dân, còn có rất nhiều những điều luật có giá trị, mang tính nhân văn trong việc thể hiện mối quan hệ giữa các giai cấp trong xã hội
1.1.1.3 Quân đội
Cũng như các triều đại phong kiến trước đó, việc xây dựng quân đội luôn là mối quan tâm hàng đầu và ưu tiên lớn của triều Nguyễn Triều Nguyễn chủ trương xây dựng quân đội thường trực mạnh với khoảng 20 vạn quân, chia làm 4 binh chủng: bộ binh, thủy binh, pháo binh và tượng binh Cơ cấu tổ chức và hệ thống chỉ huy khá hoàn chỉnh Quân đội nhà Nguyễn chia làm hai bộ phận chính quy, một bộ phận đóng ở kinh đô gọi
là Vệ binh, có nhiệm vụ chính là bảo vệ Kinh thành Phú Xuân (Huế) Hệ thống tổ chức
và biên chế cơ bản gồm có:
- Doanh biên chế 5 vệ
- Vệ biên chế 10 đội, đứng đầu vệ là Vệ úy
- Đội biên chế 5 thập, đứng đầu đội là Suất đội
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 16- Thập biên chế 10 ngũ, do Chánh đội trưởng chỉ huy
- Ngũ gồm 5 người, do Ngũ trưởng chỉ huy
Quân đội nhà Nguyễn càng ngày càng lạc hậu do các vị vua sau này không quan tâm mấy đến việc võ bị Dưới thời Tự Đức, công tác quốc phòng của nhà Nguyễn có sự tương phản rõ rệt với các triều trước Một trong các lý do khiến tình hình quân đội suy sút là vấn đề tài chính Thời kỳ Gia Long hay Minh Mạng, lấy phương Tây làm kiểu mẫu cho việc tổ chức quân đội, hướng đến việc quân cần tinh nhuệ Còn sang thời Tự Đức, vũ khí và trang thiết bị làm mới gần như không có Về thuỷ binh, không tàu hơi nước nào được đóng mới, thuỷ quân thậm chí không đủ khả năng bảo vệ bờ biển chống hải tặc Việc giảng dạy binh pháp không chú trọng tới sách vở phương Tây nữa mà quay
trở lại với “Binh thư yếu” của Trần Hưng Đạo Đời sống quân lính không được quan
tâm thoả đáng, lương thực lại bị ăn bớt Do đó tinh thần chiến đấu của quân sĩ không
cao Nhà sử học Trần Trọng Kim đã nhận xét về việc võ bị thời Tự Đức: “Tuy bấy giờ
nước ta có lính võ sinh, có quan võ tiến sĩ, nhưng mà thời đại khác đi rồi, người ta đánh nhau bằng súng nạp hậu, bằng đạn trái phá chứ không bằng gươm bằng giáo như trước nữa Mà quân lính của mình mỗi đội có 50 người thì chỉ có năm người cầm súng điểu thương cũ, phải châm ngòi mới bắn được, mà lại không luyện tập, cả năm chỉ có một lần tập bắn Mỗi người lính chỉ được bắn có 6 phát đạn mà thôi, hễ ai bắn quá số ấy thì phạt Quân lính như thế, binh khí như thế, mà quan thì lại cho lính về phòng, mỗi đội chỉ để độ chừng 20 tên tại ngũ mà thôi Vậy nên đến khi có sự, không lấy gì mà chống giữ được ” [14, tr234]
Bên cạnh đó, quan điểm khoa học quân sự của vua quan nhà Nguyễn không hề vượt quá khuôn khổ của khoa học quân sự phong kiến Việc không bắt kịp với thành tựu mới của khoa học phương Tây thời Tự Đức khiến quân sự Việt Nam bị lạc hậu nhiều so với phương Tây Do đó, khi bị người Pháp đánh năm 1858, khoảng cách về trang thiết
bị giữa quân đội nhà Nguyễn và quân Pháp đã khá xa
1.1.1.4 Ngoại giao
Dựa vào các tài liệu ghi chép được, chúng ta khẳng định trong tất cả quan hệ với các nước, triều Nguyễn đã đặt quan hệ ngoại giao với nhà Thanh (Trung Quốc) lên ưu tiên hàng đầu Ngay từ khi mới thiết lập, nhà Nguyễn đã cho sứ thần sang Trung Quốc
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 17xin quốc hiệu và cầu phong Năm sau, nhà Thanh sai sứ sang phong vương cho Nguyễn Ánh (Gia Long) Từ đó, nhà Nguyễn phải định kỳ cống nạp
Tuy nhiên trong quan hệ với nhà Thanh không phải cái gì triều Nguyễn cũng phải phục tùng, phụ thuộc theo Thông thường từ Gia Long đến Minh Mạng, Thiệu Trị, sứ nhà Thanh chỉ đến Thăng Long (Hà Nội) làm lễ tuyên phong cho các vua triều Nguyễn Nhưng đến năm Tự Đức thứ nhất, Thự Hiệp biện học sĩ Sơn - Hưng - Yên Tổng đốc Nguyễn Đăng Giai đã làm tờ điệp đề nghị từ nay về sau sứ nhà Thanh, mỗi khi có điển
lễ lớn về bang giao nên đến thẳng kinh Phú Xuân để làm lễ
Triều Nguyễn cũng rất quan tâm đến mối quan hệ với các nước Đông Nam Á Đặc biệt, dưới thời trị vì của vua Minh Mạng được xem là đỉnh cao của quan hệ này Nếu như quan hệ giữa triều Nguyễn với nhà Thanh là quan hệ có tính chất thuần phục, thì quan hệ giữa triều Nguyễn với các nước Đông Nam Á có tính chất đa dạng, phức tạp hơn
Triều Nguyễn mới có chính sách ngoại giao một cách tương đối rõ ràng đối với Xiêm La và một số nước phiên thuộc lân cận trên bán đảo Đông Dương như Ai Lao, Vạn Tượng Còn các quốc gia khác trong khu vực Đông Nam Á, nhất là khu vực Đông Nam Á hải đảo, triều Nguyễn mới chỉ dừng lại ở quan hệ ngoại giao
Đối với các nước phương Tây, ngay từ đầu triều Nguyễn rất đề phòng và cảnh giác Trong giai đoạn đầu, do sự giúp đỡ của thực dân Pháp mà triều Nguyễn được thành lập nên Gia Long thi hành chính sách vô cùng cởi mở với Pháp và đạo Thiên Chúa, nhưng đến thời Minh Mạng, triều Nguyễn khước từ dần mối quan hệ với các nước phương Tây,
bắt đầu thi hành chính sách đàn áp Thiên Chúa giáo và “đóng cửa” ngăn cản ảnh hưởng
của người phương Tây trên đất Việt Nam
Nhìn chung, triều Nguyễn có một chính sách ngoại giao rõ ràng, vừa mềm dẻo và
có thể nói là phù hợp với tình hình thực tế Chính sách đó lấy quan hệ với nhà Thanh
làm trung tâm, chú ý đến các nước có quan hệ “đồng văn”, “đồng chủng” với Việt Nam,
giữ gìn mối quan hệ với các nước Đông Nam Á một cách ổn định, cố gắng phát huy vai trò trung tâm trong khối các nước trên bán đảo Đông Dương
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 18Ở địa phương
Ngay từ đầu khi nhà Nguyễn mới ra đời, vua Gia Long sau này là các vua Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức đều tiếp thu, thừa hưởng kinh nghiệm tổ chức đơn vị hành chính cấp xã thời Lê sơ và có phần sáng tạo thêm
Để thống nhất các đơn vị hành chính, vào năm Tân Mão 1831, vua Minh Mạng tiến hành cải cách hành chính địa phương, xóa bỏ các tổng trấn, đổi các dinh, trấn thành tỉnh Cùng với việc xếp đặt lại các đơn vị hành chính trong cả nước, hệ thống quan chức
ở các địa phương cũng dần được hoàn chỉnh Đối với các tỉnh lớn như Thanh Hóa, vua Minh Mệnh cho đặt chức Tổng đốc, phần lớn cử những người trong tôn thất đảm nhiệm, còn ngoài ra 2 đến 3 tỉnh (như Sơn Tây, Hưng Hóa, Tuyên Quang) đặt một viên Tổng đốc và một viên Tuần phủ Giúp việc cho Tổng đốc, Tuần Phủ có hai Bố chính, Án sát,
về quân sự Dưới tỉnh là phủ huyện, châu, tổng, xã Phủ và tổng là cấp chính quyền trung gian, còn cấp chính quyền cơ sở là xã được tổ chức chặt chẽ nhằm đảm bảo quyền lực nhà nước đến tận các xã thôn
Từ sau năm 1835, đối với các vùng dân tộc thiểu số ở phía Bắc, vua Minh Mệnh đặt ra lệnh bãi bỏ chế độ Thổ quan thế tập, chính thức bổ dụng quan lại của triều đình đến cai trị trực tiếp ở các châu, huyện Đồng thời, Minh Mệnh cũng cho đổi tên gọi toàn
bộ các động, sách thành xã để thống nhất đơn vị hành chính cơ sở trong nước
Với cuộc cải cách hành chính năm 1831 - 1832, Minh Mệnh đã kiện toàn khá hoàn chỉnh cơ cấu hành chính và bộ máy chính quyền địa phương, tạo nên sự đồng bộ và liên kết trong bộ máy chính quyền từ Trung ương đến địa phương Bộ máy hành chính thời Minh Mạng tiếp tục được duy trì ở các triều vua Nguyễn sau này
1.1.2 Kinh tế - xã hội
1.1.2.1 Về kinh tế
Sau một thời gian loạn lạc, đất nước luôn trong tình trạng bất ổn định nên vấn đề phục hồi kinh tế được đặt ra hết sức bức thiết cho vương triều Nguyễn Khi vừa lên ngôi, Gia Long ban hành ngay chính sách khẩn hoang, quân điền, thủy lợi… tập trung chủ yếu ở miền Nam và miền Trung, để phục hồi nền sản xất nông nghiệp vốn đã sa sút nghiêm trọng ở nhiều thế kỉ trước Các vua Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức tiếp nối công việc trên ở những mức độ khác nhau Tính từ năm 1802 đến năm 1858, triều Nguyễn đã ban hành 46 quyết định khẩn hoang cho đồng bằng Nam Bộ Các phương thức khẩn
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 19hoang được áp dụng trong thời kì này tập trung chủ yếu vào việc lập đồn điền và doanh điền, cùng với hình thức tư nhân khai hoang, 52% quyết định cho chuyển thành sở hữu
tư nhân, 48% thuộc sở hữu nhà nước
Công tác trị thủy, thủy lợi thiết thực với sản xuất nông nghiệp và đời sống nhân dân cũng được triều Nguyễn quan tâm chú ý Lần đầu tiên trong lịch sử vấn đề “bỏ đê” hay “giữ đê” được triều Nguyễn đưa ra bàn luận công khai tại triều đình Chính quyền
đã cho tiến hành các biện pháp khơi thông, nạo vét, đào mới nhiều sông ngòi, kênh rạch tại nhiều tỉnh thành, nhất là vùng đồng bằng ven biển
Kinh tế công thương nghiệp ở thế kỉ XIX có xu hướng phát triển do nhu cầu xã hội
và những thuận lợi về sự thống nhất lãnh thổ, sự hoàn thiện của hệ thống giao thông thủy lộ Các ngành nghề thủ công phát triển ở khu vực nông thôn và một số thành phố,
đô thị Triều Nguyễn đã cho tăng cường xây dựng các quan xưởng, chủ yếu tập trung ở kinh thành Huế Trong chính quyền hình thành những cơ quan chức năng chuyên trách
về từng sản phẩm Quản lí chung các ngành, nghề thủ công của nhà nước là ti Vũ khố chế tạo, gồm 57 cục trông coi từng ngành cụ thể như: đúc súng, làm đồ trang sức, làm gạch ngói, khắc in… Làm việc trong những quan xưởng đều là những người thợ giỏi, được trưng tập tại các địa phương nên sản phẩm làm ra được đánh giá về kĩ thuật rất cao Việc buôn bán và trao đổi qua các tuyến buôn bán đường dài và hệ thống chợ quê vẫn tiếp tục được mở rộng
Một trong những hoạt động có ý nghĩa trong giai đoạn này là khai khoán Phần lớn
số mỏ được giao cho các thương nhân, các tù trưởng miền núi lĩnh trưng, hằng năm nộp thuế cho nhà nước Đối với một số mỏ quan trọng, triều Nguyễn trực tiếp tổ chức khai thác Các mỏ lớn thường tập trung nằm ở miền núi, vì vậy chính quyền đặc biệt quan tâm đến công tác khai thác và tận thu khoáng sản ở những vùng này
Quan hệ ngoại giao buôn bán giữa nước ta với các nước láng giềng và các nước trong khu vực Đông Nam Á đã có quan từ lâu đời bởi dựa trên vị trí địa lý thuận lợi, sự gần gũi và tương đồng về văn hóa Hoạt động ngoại thương được tiến hành thông qua
hệ thống đường biển và đường bộ Hàng hóa trao đổi chủ yếu các sản vật như: đường,
tơ, quế, hạt tiêu, cau, bông, gỗ…
Trong công cuộc giao thiệp buôn bán với các nước phương Tây ở nửa đầu thế kỉ XIX, triều đình Nguyễn không chấp nhận việc kí kết các hiệp định thương mại chính
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 20thức với bất kỳ các quốc gia nào, nhưng cũng không thực hiện đóng cửa đối với các thuyền buôn phương Tây chỉ đến với mục đích buôn bán Sự có mặt của các lái buôn và các hoạt động mua bán của họ đã đem lại sức sống cho nền ngoại thương đã có thời suy tàn [tr.410]
1.1.2.2 Về xã hội
Trị vì một đất nước thống nhất, được quyền quản lý lãnh thổ rộng lớn, nhưng trước thực trạng tình hình chính trị ở mỗi miền vẫn còn khác nhau, nên chính quyền nhà Nguyễn trong buổi đầu dựng nghiệp cũng gặp không ít khó khăn Các vua Gia Long, Minh Mệnh đã tìm mọi cách sớm ổn định tình hình để có thể tạo dựng nền móng cho sự nghiệp phát triển lâu dài cho vương triều
Xã hội Việt Nam lúc bấy giờ đang có những chuyển biến mới, nhu cầu bức thiết đặt ra phải chỉnh đốn bộ máy nhà nước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, pháp luật, văn hóa … cho phù hợp với tình hình đất nước trong tình hình mới Với những chính sách và biện pháp vừa kịp thời vừa tích cực, triều Nguyễn đã phần nào ổn định về mặt chính trị, xã hội, đời sống nhân dân được cải thiện Tuy nhiên, chính sách kinh tế toàn diện của triều Nguyễn những năm đầu của thế kỉ XIX vẫn còn bất cập với tình hình thực
tế tại nhiều địa phương trong toàn quốc
Nạn kiêm tính, cướp đoạt ruộng đất của địa chủ, cường hào vẫn diễn ra thường xuyên, liên tục, thậm chí ngày càng nghiêm trọng hơn Ruộng đất công của làng xã bị thu hẹp dần Nhà nước lại duy trì chế độ thuế khóa nặng nề nhằm đảm bảo quyền lợi cho chính quyền phong kiến Ngay cả những năm mất mùa, đói kém người nông dân vẫn phải nộp tô thuế thay bằng tiền Các quan lại cường hào nhân cơ hội thu thuế bòn rút, nhũng nhiễu những người dân cùng cực Cùng với đó là chế độ lao dịch, gánh nặng thảm khốc đối với nhân dân Luật nhà Nguyễn quy định mỗi năm dân đinh phải chịu 60 ngày lao dịch Trong dân gian vẫn lưu truyền nhiều ca dao, thơ, hò, vè nói về sự khổ cực của người nông dân trên công trường xây dựng Điển hình trong đó là câu ca dao nói về công cuộc xây dựng Vạn Niên cơ ở thời vua Tự Đức, đây là một trong những nguyên
nhân khiến người dân, binh lính nổi dậy ủng hộ các cuộc khởi nghĩa:“Vạn Niên là Vạn
Niên nào, Thành xây xương lính hào đào máu dân”
Công tác trị thủy, thủy lợi tuy được chú ý, nhưng chưa được đẩy mạnh tích cực, chưa khắc phục thiên tai hạn hán, vỡ đê, ngập lụt… dẫn đến tình trạng mất mùa, đói
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 21kém, dịch bệnh lan tràn, đặt biệt tại các tỉnh Bắc Bộ và Trung Bộ Chỉ tính riêng ở thời Gia Long đã xảy ra 6 lần đói lớn vào các năm 1803, 1804, 1810, 1814, 1816… trên địa bàn cả nước Rồi theo gần như thành chu kì trong suốt thời Nguyễn, cứ khoảng năm đến bảy năm lại xảy ra một trận dịch bệnh hoặc diễn ra một trận đói to
Trước thực trạng đó, nhiều phong trào nổi dậy chống lại ách áp bức của chính quyền triều Nguyễn được nổ ra từ rất sớm và được liên tục phát triển qua các triều Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị và Tự Đức Phạm vi các cuộc nổi dậy thường nổ ra tại các vùng đồng bằng, miền núi phía Bắc, sau đó lan rộng vào các tỉnh miền Trung và miền Nam Theo thống kê cho đến năm 1862, khi triều Nguyễn ký hòa ước mất 3 tỉnh miền Đông cho thực dân Pháp, thì có khoảng gần 500 cuộc nổi dậy chống lại triều đình của các tầng lớp nông dân Các cuộc nổi dậy được phân làm các nhóm sau đây:
- Các cuộc nổi dậy của “cựu thần triều Lê”, lấy danh nghĩa “phù Lê” để dương cao ngọn cờ chống lại triều đình, tiêu biểu như: khởi nghĩa Lê Duy Lương, Lê Duy Hiển
- Các cuộc nổi dậy của các tướng lĩnh, hoặc con cháu của các viên quan đã từng phụng sự triều Tây Sơn, chống lại triều Nguyễn, tiêu biểu như: Nguyễn Văn Tuyết, Vũ Đình Lục, Đặng Trần Siêu, Quách Tất Thúc
- Các cuộc nổi dậy của nông dân và tầng lớp nhân dân vùng đồng bằng Bắc Bộ như của Vũ Đình Lục, Trần Lê Quyên, Nguyễn Trấn, đặc biệt là cuộc nổi dậy của Phan Bá Vành, Cao Bá Quát
- Các cuộc nổi dậy các dân tộc thiểu số vùng núi phía Bắc như khởi nghĩa của Ma Danh Cúc, khởi nghĩa Quách Tất Thúc, khởi nghĩa của Lê Duy Lương, Khởi nghĩa của Nông Văn Vân
- Các cuộc phản kháng của dân tộc thiểu số phía Nam tại Đá Vách, cuộc binh biến của Lê Văn Khôi
Nhìn chung vào thời kì đầu của 4 vị vua triều Nguyễn, các cuộc nổi dậy đều nổ ra liên tục ở khắp nơi, vì vậy nhà Nguyễn đã thường xuyên đề ra các chính sách nhằm đối phó sự phát triển của phong trào Từ những chính sách, thủ đoạn như: đàn áp bằng lực lượng quân sự, mua chuộc, dụ dỗ bằng tiền và quan chức… mà triều Nguyễn sử dụng,
đã phản ánh rõ sự lúng túng, bị động của chính quyền trước sự lớn mạnh của các cuộc nổi dậy
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 221.1.3 Văn hóa - giáo dục
1.1.3.1 Giáo dục và khoa cử
Cũng như các triều đại phong kiến khác, triều Nguyễn rất đề cao và chú trọng việc
phát triển văn hóa, giáo dục, đặc biệt là gìn giữ những truyền thống hiếu học, “tôn sư
trọng đạo” của dân tộc Việt Nam Nhờ sự quan tâm thiết thực của nhà nước, giáo dục
đã từng bước khôi phục và phát triển trong từng giai đoạn, qua đó cũng đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong xây dựng chính quyền trong buổi đầu nối nghiệp Đồng thời, vương triều Nguyễn cũng đã ban hành các chính sách xã hội, tạo điều kiện cho dân chúng, chăm lo phát triển kinh tế, củng cố lòng tin đối với nhân dân
Nhằm bổ sung những người có học vấn, tài năng cho bộ máy chính quyền Trung ương và các địa phương, Gia Long chủ trương mở các khoa thi để kén chọn nhân tài
Trong lời dụ bàn về phép khoa cử năm Nhâm Tuất (1802) có viết:“Khoa mục là con
đường bằng phẳng của học trò, thực không thiếu được Phải nên giáo dục thành tài, rồi sau thi Hương thi Hội lần lượt cử hành, thì người hiền tài sẽ nối tiếp nhau lên giúp việc” [22, tr.527] Đến năm Đinh Mão (1807), Gia Long tổ chức khoa thi Hương đầu
tiên ở 6 trường thi (Nghệ An, Thanh Hoa, Kinh Bắc, Sơn Tây, Sơn Nam và Hải Dương) lấy đỗ 61 Hương cống Tuy nhiên, đến thời Minh Mệnh năm 1822, kỳ thi Hội đầu tiên mới được tổ chức Trong nửa đầu thế kỉ, nhà Nguyễn đã đào tạo được hơn 206 Tiến sĩ,
và hơn 1100 Hương cống, Cử nhân
Bên cạnh hình thức tuyển dụng quan lại thông qua hình thức khoa cử, nhà Nguyễn
còn có một số hình thức khác như tuyển cử Năm 1827, Minh Mệnh ra chỉ dụ cho Bộ Lại và Bộ Lễ rằng: “Nhà nước lấy khoa mục cầu nhân tài, nhưng người đức cao tài
rộng, hoặc còn sót ở ngoài khoa mục, cho nên đời xưa có phép tuyển cử để thu nhân tài bị bỏ sót Khoa mục cùng tuyển cử mà chí công, thì lo gì chẳng được người thực tài”[23, tr.672] Ngoài ra, hình thức bảo cử cũng được các vua triều Nguyễn chú trọng,
đặc biệt dưới đời vua Tự Đức, nay đặt cách cho các quan trong kinh, ngoài các trấn đều
Trang 23chúng Với nhiều hình thức cụ thể như: củng cố, mở rộng hệ thống trường lớp, phát triển đội ngũ học quan và ban thưởng xứng đáng cho các sĩ tử chăm chỉ cũng như trách phạt nghiêm khắc với học trò lười nhác…
Trong thực tế, dưới thời nhà Nguyễn, nhiều người đỗ học vị Phó bảng ra làm quan, đem đức hạnh và trí lực thi thố với đời, rất nhiều người tài năng lưu danh sử sách, chẳng hạn các vị Phó bảng như cụ Nguyễn Văn Siêu, cụ Phan Chu Trinh, cụ Nguyễn Sinh Sắc… Cũng có nhiều người chỉ đỗ Cử nhân nhưng đóng góp bao sức lực cho nước nhà như các cụ Nguyễn Công Trứ, Đặng Huy Trứ, Phan Bội Châu…
Trong dân chúng, việc học tập khá thông thoáng Chỉ cần có học lực khá, người
ta cũng có thể mở trường tư thục để dạy học Mỗi làng có vài ba trường tư thục, hoặc
ở nhà thầy, hoặc ở nhà người hào phú nuôi thầy cho con học và cho con các nhà lân cận đến học
1.1.3.2 Văn hóa
Bên cạnh sự phát triển rực rỡ của giáo dục thì văn hóa dưới triều Nguyễn cũng phát triển không kém Tiếp nối dòng mạch của thế kỉ XVIII, văn học nửa đầu thế kỉ XIX đã đạt tới bước phát triển rực rỡ Dòng văn học chữ Hán tiếp tục phát triển với nhiều nhà thơ, nhà văn nổi tiếng như: Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Siêu, Minh Mạng,
Tự Đức, Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương… Văn học chữ Nôm cũng đạt tới đỉnh cao của dòng văn học quốc âm dân tộc Triều Nguyễn khuyến khích sáng tác bằng chữ Nôm,
do đó, trào lưu này được tỏa rộng khắp các tầng lớp nho sĩ cho đến bình dân đông đảo
và nhân dân lao động Các vua Nguyễn, mở đầu là Gia Long, đến Minh Mệnh, và đặc biệt là Tự Đức rất chuộng văn thơ Nôm Văn học dân gian tiếp tục duy trì
Thành tựu khoa học chủ yếu trong thời kì này là sự ra đời của các bộ sử, địa lí và
bách khoa thư lớn như: Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam thực lục
tiền biên và chính biên, Khâm định Đại Nam hội điển sử lệ, Đại Nam liệt truyện, của
Quốc sử quan triều Nguyễn, Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, Gia
Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức… Kĩ thuật vẽ bản đồ đạt được những thành
tựu mới, đặc biệt là Đại Nam nhất thống toàn đồ được vẽ cuối đời Minh Mệnh thể hiện
tương đối chính xác hình ảnh nước Đại Nam thống nhất bao gồm cả quần đảo Trường
Sa và Hoàng Sa ngoài Biển Đông
Nghệ thuật kiến trúc điêu khắc với nhiều công trình thành quách và lăng tẩm được xây dựng, trong đó tiêu biểu là quần thể kiến trúc cố đô Huế, Hoàng thành, Ngọ Môn,
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 24lăng của các vị vua… Những thành tựu đó đã góp phần đưa nền văn hóa nước ta tiếp tục phát triển và hội nhập
Những thành tựu văn hóa, văn học, nghệ thuật có vai trò góp phần làm cho đất nước phát triển vững mạnh Vì vậy, trên cơ sở tình hình kinh tế, chính trị như trên đã đặt ra yêu cầu cho nhà nước phong kiến là không chỉ hoạch định các chính sách về kinh
tế, chính trị mà còn phải có những biện pháp thiết thực để củng cố, phát huy nền văn hóa mang đậm tính dân tộc nước nhà
1.2 Đội ngũ tiến sĩ trước triều Nguyễn
1.2.1 Thời Lý - Trần (1010 - 1400)
Năm 1070, 60 năm sau ngày dời đô ra Thăng Long, Lý Thánh Tông dựng Văn Miếu, thờ Chu Công, Khổng Tử, Tứ phối và tác tượng 72 vị tiên hiền là học trò giỏi của Khổng Tử Năm 1076, Lý Nhân Tông xây dựng Quốc Tử Giám nhằm dạy dỗ con em các bậc quốc tử để biết đạo trị nước an dân
Năm 1236, Quốc tử giám được đổi tên thành Quốc tử viện, mở rộng cho con em quan văn vào học Năm 1253, Trần Thái Tông xuống chiếu cho các nho sĩ trong nước thông kinh sử đến Quốc tử viện học tập, nghe giảng học Tứ thư, Ngũ kinh Năm 1281, nhà Trần mở thêm nhà học ở phủ Thiên Trường Đến đây, trường lớp của nhà nước hầu như dừng lại, không phát triển thêm Năm 1397, vào những năm cuối triều Trần, Trần Thuận Tông mới xuống chiếu về việc học Như vậy, hệ thống trường học của nhà nước phong kiến Lý - Trần từ bậc ấu học đến bậc đại học suốt gần bốn thế kỷ phát triển hết sức chậm chạp, ít ỏi, chỉ có ở kinh đô và một số phủ châu thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng Việc học tập ở các địa phương hầu như hoàn toàn do nhân dân tự lo liệu, chủ yếu là do nhà chùa và các nho sĩ mở
Triều Lý - Trần chưa quan tâm nhiều đến việc mở trường lớp công ở địa phương, nhưng lại chú ý đến việc tổ chức khoa cử với nhịp độ ngày một tăng, ngày một đi vào quy củ Năm 1075, vua Lý Nhân Tông cho mở khoa thi tam trường đầu tiên lấy tên là Minh kinh bác học kén chọn người thông minh, sáng suốt, học rộng để ra làm quan Số trúng tuyển là 10 người, đỗ đầu là Lê Văn Thịnh Ông được tuyển vào làm quan trong triều, sau lên tới chức Thái sư Năm 1085, Lý Nhân Tông lại mở khoa thi chọn người tài văn học vào Hàn Lâm viện để nghiên cứu kinh sử giảng tập cho vua Đỗ đầu kỳ thi này là Mạc Hiển Tích, được bổ làm Hàn lâm viện học sĩ, rồi thăng đến chức Thượng
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 25thư Năm 1185, vua Lý Cao Tông mở khoa thi chọn nhân sĩ trong nước từ 19 tuổi trở lên, thông thạo Thi Thư vào chầu giảng ở ngự điện Khoa này chọn 20 người, ba người
đỗ đầu là Đỗ Thế Diên, Bút Quốc Khái và Đặng Nghiên Năm 1195, Lý Cao Tông mở khoa thi tam giáo nhằm kén chọn những người giỏi cả 3 giáo ra giúp vua, giúp nước Sang thời Trần (1225 - 1400), khoa cử đi vào nề nếp hơn thời Lý Năm 1232, Trần Thái Tông mở khoa thi Thái học sinh, chia các thí sinh trúng tuyển cao thành ba giáp
Đỗ đệ nhất giáp khoa này có hai người là Trương Hành và Lưu Diễm, đệ nhị giáp là Đặng Diễn và Trịnh Phẫu, đệ tam giáp là Trần Chu Phổ Năm 1239, lại ấn định cứ 7 năm một lần thi hội Năm 1247, vua Trần Thái Tông mở khoa thi Thái học sinh Ở khoa này, triều đình chọn 40 người đỗ, trong đó 3 người đầu bảng gọi là tam khôi Từ đây, bắt đầu có danh hiệu Trạng Nguyên, Bảng nhãn và Thám hoa Để khuyến khích việc học, việc thi ở những nơi xa kinh đô và các vùng dân tộc, từ năm Bính Thìn (1256), triều đình lấy 2 trạng nguyên Kinh và Trại Nhưng từ khoa Ất Hợi (1275) lại chỉ lấy 1 trạng nguyên như trước Năm Giáp Thìn (1304), vua Trần Anh Tông quy định phép thi phải qua 4 kỳ:
- Kì thứ nhất: Thi ám tả chuyên mục, Thiên tử và Thiên y quốc
- Kì thứ nhì: Thi kinh nghĩa và thi phú
- Kì thứ ba: Thi chiếu, chế, biểu
- Kì thứ tư: Thi một bài văn sách
Năm 1304 đến năm 1393, nhà Trần tổ chức thêm 4 kì thi đại khoa nữa Dựa trên
nguồn tư liệu các sách Đại Việt sử kí toàn thư và Các nhà khoa bảng Việt Nam, chúng
tôi đã lập ra bảng sau:
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 26Bảng 1.1: Các khoa thi và số người đỗ tiến sĩ thời Lý - Trần (1075 - 1400)
(Đvt: Người)
nguyên
Bảng nhãn
Thám hoa
Nhị giáp
Tam giáp
[Nguồn: Đại Việt sử kí toàn thư, Các nhà khoa bảng Việt Nam]
Theo bảng 1.1, thời Lý tổ chức được 3 khoa thi là Ất Mão Thái Ninh 4 (1075), Bính Dần Quảng Hựu 2 (1086) và Ất Tỵ Trinh Phù 10 (1185) đã chọn được tổng số 5 Bảng nhãn Nhưng đến thời Trần, triều đình đã tổ chức đến 13 khoa thi, tuyển chọn
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 27được 9 Trạng nguyên, 20 Bảng nhãn, 6 Thám hoa, 7 Nhị giáp và 1 Tam giáp cho đất nước Như vậy có thể thấy khoa cử thời Trần đi vào nề nếp và phát triển hơn thời Lý nhiều Việc học tập và tuyển chọn quan lại được triều đình chú trọng hơn trước Song song với việc bồi dưỡng nhân tài là củng cố cơ sở vật chất và tích cực xây dựng các trường học công Vì thế, việc tổ chức khoa cử có nhịp độ ngày một tăng và ngày càng
đi vào quy củ
Theo sự thống kê của chúng tôi qua các sách Đại Việt sử kí toàn thư và Các nhà
khoa bảng Việt Nam thì quê quán, độ tuổi, sự nghiệp quan trường của những người đỗ
trong các kì thi thời Lý - Trần như sau:
- Quê quán: Hải Dương có 12 người; Hà Tây có 5 người; Bắc Ninh có 4 người; Nam Định có 6 người; Hưng Yên, Thanh Hóa đều có 5 người; Thái Bình, Hà Nội, Bắc Giang đều có 2 người; Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Quảng Bình đều có 1 người
- Độ tuổi: Thời kì này do một số hạn chế về nguồn tư liệu chép lại, do đó chỉ một vài trường hợp ghi rõ về độ tuổi thi đỗ như: Nguyễn Hiền 13 tuổi đỗ Trạng nguyên, Lê Văn Hưu 18 tuổi đỗ Bảng nhãn, Đặng Ma La 14 tuổi đỗ Thám hoa cùng khoa thi Thái học sinh năm Đinh Mùi Thiên Ứng Chính Bình 16 (1247); Nguyễn Trung Ngạn 14 tuổi
đỗ Hoàng giáp khoa thi Thái học sinh năm Giáp Thìn niên hiệu Hưng Long 12 (1304);
Lý Đạo Tái 21 tuổi đỗ khoa thi Giáp Tuất niên hiệu Bảo Phù 2 (1274), Trần Đạo Tái 14 tuổi đỗ Bảng nhãn dưới triều Trần Thánh Tông (1257 - 1278)
- Sự nghiệp quan trường: Những ngưỡi đỗ trong các kì thi do nhà nước tổ chức sẽ được bổ dụng vào các chức quan khác nhau tùy theo hạng đỗ Tuy nhiên thời Lý - Trần
do hạn chế của sử sách ghi chép, không cụ thể từng cấp bậc, phẩm hàm, cho nên thống
kê không đầy đủ Một vài trường hợp được bổ dụng các chức quan như sau: Hàn lâm viện học sĩ, Nhập nội đại hành khiển, Bộc xạ đều có 2 người; Nội cấp sự, Triều nghị đại phu, Ngự sử Trung tướng, Tri Phủ, An phủ sứ, Tư nghiệp Quốc Tử Giám, Thượng thư… đều có 1 người
1.2.2 Thời Hồ (1400 - 1407)
Năm 1400, Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, lập nên triều Hồ (1400 - 1407) Tháng
8 năm 1400, Hồ Quý Ly tổ chức kì thi Thái học sinh, chọn được 20 người, trong đó có Nguyễn Trãi đỗ Đệ nhị giáp khoa thi này
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 28Năm Giáp Thân (1404), Hồ Hán Thương định lại phép thi cử nhân: ngoài 4 trường thi như triều Trần, nhà Hồ còn tổ chức một cuộc thi viết chữ Hán và môn Toán pháp, tổng cộng có 5 kì thi Đồng thời Hồ Hán Thương cũng quy định: Cứ 3 năm mở một khoa: tháng 8 năm nay thi Hương, người nào trúng tuyển được miễn lao dịch, đến tháng
8 năm sau dự thi ở bộ Lễ, người nào trúng tuyển mới được lựa chọn bổ dụng Lại tháng
8 năm sau nữa thi Hội, người nào trúng tuyển được gọi là Thái học sinh (tức là tiến sĩ) Nhà Hồ tuy chỉ tồn tại thời gian ngắn ngủi nhưng đã chấn chỉnh lại chế độ thi cử
và đưa vào chương trình thi Hương ở thế khỉ XIV môn toán pháp, một việc mà mấy trăm năm sau trước khi Pháp tới xâm lược nước ta, cũng chẳng có triều đại nào nghĩ tới việc thi toán đối với người sắp được bổ ra làm quan
Theo Đại Việt sử kí toàn thư và Các nhà khoa bảng Việt Nam, triều đình nhà Hồ
chỉ tổ chức được 2 khoa thi là Canh Thìn Thánh Nguyên 1 năm 1400 và Ất Dậu Khai Đại 3 năm 1405 nhưng đã tuyển chọn cho đất nước 10 tiến sĩ Tuy chỉ tồn tại trong thời gian ngắn ngủi nhưng những đóng góp về giáo dục của triều đại nhà Hồ cho đất nước là rất đáng tự hào trong đó phải kể đến việc đào tạo nên những danh nho, danh thần nổi tiếng sau này như Lí Tử Tấn, Vũ Mộng Nguyên,
Như vậy, sự phát triển về giáo dục mà biểu hiện cụ thể là phát triển về việc tuyển chọn đội ngũ tiến sĩ qua các triều đại Lý, Trần, Hồ đã đặt nền móng cơ bản cho những triều đại sau kế tục và phát huy hơn nữa nền giáo dục Đại Việt, là cơ sở cho nền giáo dục khoa cử thời Lê sơ hoàn thiện về nội dung lẫn hình thức
1.2.3 Thời Lê sơ (1428 - 1527)
Triều Lê, tồn tại gần 100 năm (1428 - 1527), được coi là triều đại thịnh trị nhất và
đã đào tạo một đội ngũ tiến sĩ đông đảo qua con đường thi cử Tổng cộng đã tổ chức được 26 khoa thi Hội, lấy đỗ 989 tiến sĩ Những tiến sĩ thi đỗ dưới triều Lê phân làm
nhiều thứ hạng gồm có: Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ (chia làm ba bậc đó là: Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa), Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (còn gọi Hoàng giáp), Đệ
tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân Trong số 989 tiến sĩ có: 20 Trạng nguyên, 23 Bảng
nhãn, 20 Thám hoa, 315 Hoàng giáp, 607 Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân Điều này cho thấy, thời kì Lê sơ đã rất quan tâm đến giáo dục và tổ chức thi cử một cách chặt chẽ,
hệ thống, tuyển chọn một lực lượng rất lớn tiến sĩ để phục vụ cho bộ máy chính quyền
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 29Trong các vua thời Lê sơ, đời vua Lê Thánh Tông đã tổ chức 12 khoa thi chiếm số lượng nhiều nhất trong tổng số (12/26) Lấy đỗ 501 tiến sĩ, trong đó có 9 Trạng nguyên,
11 Bảng nhãn, 10 Thám hoa, 158 Hoàng giáp, 313 Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân
Trong Lịch triều Hiến chương loại chí thì Phan Huy Chú đã nhận xét: “Khoa cử thịnh
nhất là đời Hồng Đức Cách lấy đỗ rộng rãi, cách chọn người công bằng, đời sau càng không thể theo kịp” [4, tr.31] Như vậy, ta thấy rằng vua Lê Thánh Tông rất quan tâm
đến giáo dục, với nhiều chính sách tiến bộ và tổ chức thi cử đều đặng mang tính chất công bằng nên thu hút nhiều sĩ tử đến với các kì thi tiến sĩ, lấy đó làm con đường tiến thân
Các đời vua kế tiếp như Hiến Tông, Uy Mục, Tương Dực, Chiêu Tông và Cung Hoàng cũng đều tổ chức được 2 khoa thi, lấy đỗ 399 tiến sĩ Xem bảng 1.2, ta thấy cuối thời cuối Lê sơ, khoa mục không còn thịnh vượng như trước Dưới thời các vua như Uy Mục, Tương Dực, Chiêu Tông, Cung Hoàng thì số lượng người đi thi không nhiều như trước đó, số tiến sĩ đỗ đạt ngày càng giảm Điều đó cũng phản ánh thực tế rằng, nhà nước không có những chính sách kịp thời để tạo động lực cho các sĩ tử chuyên tâm học tập để ứng thí và ra làm quan phục vụ chế độ Bên cạnh đó còn do các vị vua sau này thời gian trị vì ngắn, một phần chưa quan tâm đến mối quan hệ chặt chẽ giữa nhân tài đối với quốc gia Cho nên số lượng sĩ tử đến với trường thi giảm đáng kể, những người
đỗ tiến sĩ ít hơn thời kì đầu
- Quê quán: Đa số những người đỗ tiến sĩ dưới triều Lê sơ đều xuất phát từ các tỉnh đồng bẳng Bắc Bộ như: Hải Dương, Bắc Ninh, Hà Nội, Hà Tây, Hưng Yên,… trong đó Hải Dương có 208 người, chiếm 21,4%; Bắc Ninh có 151 người, chiếm 15,5%;
Hà Tây có 136 người, chiếm 14%; Hưng Yên có 80 người, chiếm 8,2%; Hà Nội có 78 người, chiếm 8%; Vĩnh Phúc có 51 người, chiếm 5,2%
Các tỉnh Trung Bộ, Trung du phía Bắc có tỷ lệ rất thấp như: Quảng Trị có 1 người, chiếm 0,1%; Phú Thọ có 1 người, chiếm 0,1% Thậm chí có một số tỉnh như Ninh Bình, Quảng Bình trong gần 100 năm không có nào đỗ tiến sĩ cả
- Độ tuổi: Những người đỗ tiến sĩ phổ biến nhất là từ độ tuổi 18 tuổi - 29 tuổi, có
231 người, chiếm 23,8%; từ 30 tuổi - 39 tuổi có 151 người, chiếm 15,5 % Trong đó số tiến sĩ đỗ dưới 18 tuổi trong thời Lê sơ chỉ có 1 người, chiếm 0,1%, đó là Nguyễn Nhân
Dư (người ở xã Kim Đôi huyện Vũ Ninh - nay là thị trấn Nghĩa Đô quận Cầu Giấy, Hà
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 30Nội, đỗ tiến sĩ lúc 17 tuổi vào năm 1472 đời vua Lê Thánh Tông) Không riêng với những người trẻ tuổi, có khá nhiều người cao tuổi vẫn đi thi và đỗ tiến sĩ khi đã trên 50 tuổi, có 12 người, chiếm 1,2% Chẳng hạn như Nguyễn Nghiễm (60 tuổi, đỗ tiến sĩ năm
1478 đời vua Lê Thánh Tông), Thân Nhân Tín (52 tuổi, đỗ tiến sĩ năm 1490 đời vua Lê Thánh Tông), Nguyễn Cảnh Diễn (56 tuổi, đỗ tiến sĩ năm 1502 đời vua Lê Hiến Tông), Phạm Vĩnh Truyền (53 tuổi, đỗ năm 1526 đời vua Lê Cung Hoàng)… Đây là những người cao tuổi nhất trong số tiến sĩ đỗ dưới triều Lê sơ
- Sự nghiệp quan trường: các tiến sĩ thời Lê sơ khi tham gia vào chốn quan trường
đã giữ những chức quan khác nhau, từ chánh bát phẩm cho đến chánh nhất phẩm Trong
đó chiếm đa phần là chức Thượng thư (hoặc kiêm nhiệm các chức) có 147 người, chiếm 18%; Tả thị lang có 69 người, chiếm 19%; Hiến sát sứ có 51 người, chiếm 7,9%; Thừa chính sứ có 45 người, chiếm 19%; Tham chính có 43 người, chiếm 7,4%; Hữu thị lang
có 40 người, chiếm 19% và Giám sát ngự sử có 37 người, chiếm 11% Như vậy, trong
số 989 tiến sĩ thì hầu hết được bổ dụng vào các chức quan trong bộ máy hành chính từ trung ương đến địa phương Ngoài ra, có một số trường hợp người đỗ tiến sĩ không ra làm quan mà về dạy học tại các trường làng và một số lượng khá lớn tiến sĩ không rõ
sự nghiệp quan trường như thế nào
1.2.4 Thời Mạc
Nhà Mạc giành ngôi nhà Lê năm 1527, vào thời điểm nhà Lê đã dần suy thoái, trong nội bộ quan lại đang phân hóa mạnh mẽ, một phần trốn chạy, ở ẩn hoặc tìm cách chống đối triều Mạc non trẻ Trong điều kiện lịch sử đầy khó khăn phức tạp đó, để tồn tại và thực hiện mục tiêu của mình, nhà Mạc phải lo tổ chức bộ máy chính quyền, quân
sự và phát triển kinh tế, văn hóa - giáo dục
Trước yêu cầu xây dựng và củng cố bộ máy chính quyền mà tầng lớp quan liêu Nho sĩ đóng vai trò then chốt, vương triều Mạc đã quan tâm và coi trọng giáo dục khoa
cử trong buổi đầu mới thành lập Một trong những công việc cần thiết để tạo ra đội ngũ quan lại để phục vụ cho đất nước là tổ chức các khoa thi tiến sĩ
Sau 2 năm cầm quyền nhà Mạc tổ chức khoa thi tiến sĩ đầu tiên vào năm Kỷ Sửu (1529) niên hiệu Minh Đức đời Mạc Thái Tổ Trong khoa thi này đã chọn được Đệ nhất giáp 3 tiến sĩ, Đệ nhị giáp 8 tiến sĩ, Đệ tam giáp 15 tiến sĩ đồng xuất thân Sau khoa thi đầu tiên, nhà Mạc tổ chức đều đặn 3 năm một kì thi tiến sĩ, bất chấp chiến tranh, hau có
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 31khi phải rời Thăng Long lên Cao Bằng cố thủ Điều này thể hiện sự quyết tâm cao của nhà Mạc trong việc tuyển chọn nhân tài và tinh thần hiếu học trong nhân dân ta Trong 60 năm trị vì đất nước, vương triều Mạc tổ chức được 22 khoa thi, tuyển chọn 485 tiến sĩ, trong đó có 11 Trạng nguyên Đặc biệt đến đời vua Mạc Đăng Doanh (1530 - 1539) chỉ với 3 khoa thi đã lấy đỗ 95 tiến sĩ, trong đó có 3 trạng nguyên kỳ tài: Nguyễn Thiên (1532), Nguyễn Bỉnh Khiêm (1535) và Giáp Hải (1538) đây là những trí thức có công lao rất lớn đối với vương triều Ngoài ra, khoa thi lấy đỗ ít nhất là năm Ất Sửu niên hiệu Thuần Phúc 1 (1565) đời Mạc Mậu Hợp chỉ lấy 16 người Tiếp đó các khoa thi được tổ chức các năm 1544, 1568, 1571, 1574, 1580, 1589, 1592, mỗi khoa thi lấy đỗ 17 người Tính trung bình mỗi khoa thi triều Mạc lấy đỗ 22 người Đây là số lượng khá lớn trong một kì thi đại khoa Nếu so sánh số lượng các khoa thi được tổ chức cũng như số lượng lấy đỗ tiến sĩ trong một khoa, triều Mạc cũng không thua kém gì các triều đại khác Sau thời Lê Thánh Tông chỉ có triều Mạc mới liên tục thực hiện đúng quy chế đúng 3 năm tổ chức một kì thi Với kết quả này có thể khẳng định triều Mạc quan tâm sâu sắc đến khoa cử giáo dục đương thời
1.2.5 Thời Lê trung hưng
Bước sang thế kỉ XVI - XVII, triều Lê bước vào giai đoạn khủng hoảng, suy sụp
và sự phân chia đất nước với sự tồn tại của chính quyền Lê - Trịnh ở Đàng Ngoài và chính quyền chúa Nguyễn ở Đàng Trong, do đó, giáo dục có phần suy thoái Dưới thời
Lê trung hưng (1533 - 1786) vẫn giữ phép thi của triều Hậu Lê Năm Giáp Dần (1554)
mới bắt đầu cho thi Chế khoa và cho đậu hạng Tiến sĩ xuất thân và Tiến sĩ đồng xuất
thân
Trong điều kiện khó khăn ở buổi đầu, phải đến năm Chính Trị 8 (1565) mới mở được Chế khoa lần 2 và đến mười mấy năm sau mới mở được Chế khoa lần 3 năm Gia Thái 5 (1577) Từ khoa thi Canh Thìn Quang Hưng 3 (1580) thực hiện tương đối đều ba năm một khoa thi Từ năm Ất Mùi (1595) khoa thi tiến sĩ đầu tiên được tổ chức tại kinh
đô Thăng Long và định lệ 3 năm một kì thi Cũng từ đây trở đi các quy chế khảo hạch
sĩ tử, thi Hương, thi Hội thường được điều chỉnh Chương trình học tập, cách thức chọn
đề thi cũng được sửa đổi nhiều lần, không ngoài mục đích kén chọn nhân tài cho đất nước Trong thời kì này, con đường khoa cử có những tệ nạn làm ảnh hưởng xấu đến những người thanh danh các bậc nho sĩ có tài, như trường hợp thu tiền Thông kinh trong khoảng đầu đời Cảnh Hưng Lúc bấy giờ, luôn mấy năm mất mùa đói kém, nhiều cuộc
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 32bạo động của nhân dân liên tiếp nổ ra Triều đình dụng binh ở nhiều nơi, tiêu phí tốn kém, nên đã đề xuất biện pháp người thi Hương phải nộp 3 quan tiền thì không phải qua khảo hạch Vì vậy, người ta đua nhau nộp tiền và tình trạng nhờ người làm thay hoặc mang sách sao chép xảy ra ở trường thi Trong dân gian đã có những câu nói, vè, thơ về
việc này như “Sinh đồ ba quan” Tuy nhiên, hiện tượng này chỉ tồn tại trong một thời
gian, những người không phải thực học thì khó có thể đỗ đại khoa
Như vậy, trong khoảng hơn 200 năm, chỉ kể các Chế khoa và khoa thi tiến sĩ chính thức của triều Lê trung hưng từ khoa Giáp Dần đến khoa Đinh Mùi Chiêu Thống
1 (1787) đã mở được 73 khoa thi, lấy đỗ 722 tiến sĩ Tuy nhiên, số lượng của những người đỗ tiến sĩ trung bình mỗi khoa thi ít hơn số lượng dưới thời vua Lê Thánh Tông Suốt đời Lê trung hưng chỉ có một khoa đỗ nhiều nhất là 22 người Đều này đã phản ánh một thực tế lịch sử, những năm tháng chiến tranh đã phá hoại nặng nề đất nước, cản trở
sự phát triển của văn hóa, giáo dục để khắc phục thật sự khó khăn và lâu dài, chế độ khoa cử cũng như toàn bộ chế độ phong kiến suy yếu bế tắc và chưa có cách nào khơi thông để dòng chảy mạnh lên được
- Quê quán: Đa số những người đỗ tiến sĩ dưới thời Lê trung hưng đều xuất phát
từ các tỉnh đồng bẳng Bắc Bộ như: Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Dương, Thanh Hóa, Hà Tây, Hưng Yên, Hà Tĩnh, Nghệ An,… trong đó Hà Nội có 144 người, chiếm 19,8%; Bắc Ninh có 94 người, chiếm 12,9%; Hải Dương có 92 người, chiếm 12,7%; Thanh Hóa có
89 người, chiếm 12,2%; Hà Tây có 85 người, chiếm 11,7%; Hưng yên có 67 người, chiếm 9,2%, Hà Tĩnh có 35 người , chiếm 4,8%, Nghệ An có 34 người, chiếm 4,7% Các tỉnh Trung Bộ, Trung du phía Bắc có tỷ lệ rất thấp như: Huế có 1 người, chiếm 0,1%; Thái Nguyên có 1 người, chiếm 0,1%
- Độ tuổi: Những người đỗ tiến sĩ phổ biến nhất là từ độ tuổi 30 tuổi - 39 tuổi, có
238 người, chiếm 38,9%; từ 19 tuổi - 29 tuổi có 218 người, chiếm 30%, từ 40 tuổi - 49 tuổi có 126 người, chiếm 17,3%, trên 50 tuổi có 48 người chiếm 6,6% Ngoài ra có một
có 52 trường hợp không ghi rõ về độ tuổi khi đỗ tiến sĩ Duy nhất có một trường hợp đỗ tiến sĩ khi vừa 19 tuổi, đó là Lê Huy (người ở Đông Sơn, Thanh Hóa, tiến sĩ năm 1664 đời vua Lê Huyền Tông) và còn vài trường hợp nữa đỗ tiến sĩ khi đang rất trẻ như Nguyễn Công Phụ, Phạm Quý Thích (đỗ năm 20 tuổi), Đỗ Công Bật, Nguyễn Quốc Bảo, Nguyễn Công Hãng, Nguyễn Quang Luân, Nguyễn Kiều, Trương Thì (đều đỗ năm
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 3321 tuổi) Không riêng gì những người trẻ tuổi, có khá nhiều những người cao tuổi đỗ tiến sĩ như: Nguyễn Nghi (61 tuổi),Đặng Phi Hiển, Nguyễn Khắc Vân, Trịnh Lương Bật (đều 62 tuổi), Đặng Kính Chỉ (63 tuổi), Nguyễn Hữu Thường, Vũ Miễn (64 tuổi), Đặng Thì Mẫn (65 tuổi) và Quách Đồng Dần (68 tuổi)
- Sự nghiệp quan trường: các tiến sĩ thời Lê trung hưng khi tham gia vào chốn quan trường đã giữ những chức quan khác nhau, từ chánh bát phẩm cho đến chánh nhất phẩm Trong đó chiếm đa phần là chức Tả thị lang có 68 người, chiếm 20,5%; Hữu thị lang có 61 người, chiếm 20,5%; Hiến sát sứ có 59 người, chiếm 11,8%; Giám sát ngự
sử có 54 người, chiếm 15,3%; Tham chính có 47 người, chiếm 10,1%; Tự khanh có 43 người, chiếm 10,3% và Cấp sự trung có 42 người, chiếm 6,4% Như vậy, trong số 722 tiến sĩ thì hầu hết được bổ dụng vào các chức quan trong bộ máy hành chính từ trung ương đến địa phương Ngoài ra, có một số trường hợp người đỗ tiến sĩ không ra làm quan mà về dạy học tại các trường làng và một số lượng khá lớn tiến sĩ không rõ sự nghiệp quan trường như thế nào
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 34CHƯƠNG 2: ĐỘI NGŨ TIẾN SĨ VÀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
ĐỘI NGŨ TIẾN SĨ THỜI NGUYỄN 2.1 Khái lược về đội ngũ tiến sĩ thời Nguyễn
2.1.1 Số lượng và chức danh
Khoa cử là hình thức để kén chọn nhân tài cho Tổ quốc nên cổ nhân đã từng quan
niệm “Nhân tài là nguyên khí của nước nhà, mà khoa cử là con đường rộng mở của các
học trò” Đúng vậy, lịch sử đã chứng minh điều đó trong chế độ phong kiến Việt Nam,
những bậc hiền tài, đức độ giúp vua trị nước đều xuất thân từ Nho học và lấy con đường thi cử làm tiến thân
Triều Nguyễn, tồn tại gần 143 năm (1802 - 1945), là triều đại cuối cùng trong chế độ phong kiến Việt Nam Các vua triều Nguyễn từ Gia Long đến Tự Đức đều rất quan tâm đến việc đào tạo nhân tài Nhận thấy việc khoa cử tuyển chọn nhân tài là cần thiết nên chỉ năm năm sau khi lên ngôi, vào năm 1807, vua Gia Long đã tổ chức khoa thi Hương đầu tiên để lựa chọn nhân tài Tiếp sau đó, các kì thi Hương tiếp tục tổ chức, tuy nhiên với mật độ thưa giảm Vì vị vua đầu tiên của triều Nguyễn phải dành nhiều tâm huyết cho việc xây dựng đất nước trên lĩnh vực kinh tế, nông nghiệp, an ninh - quốc phòng, nên dưới thời Gia Long các hoạt động liên quan đến giáo dục diễn ra còn rời rạc, khoảng cách giữa các kì thi thi Hương là 6 năm 1 lần và chưa có kì thi Hội nào được tổ chức
Đến thời vua Minh Mạng, việc đào tạo và tuyển chọn quan lại mới được chấn chỉnh và mở mang thêm, trở thành nề nếp, quy củ Tất cả đều nhằm mục đích tuyển chọn thêm người tài bổ sung vào bộ máy quản lí đất nước Từ thời vua Minh Mạng đã bắt đầu
tổ chức khoa thi Hội và thi Đình đều ở kinh thành Định kì và thể thức thi vẫn theo quy định nhà Lê sơ nhưng theo luật “ Tứ bất” do vua Gia Long đặt ra là: không lập hoàng hậu, không đặt Tể Tướng, không lấy Trạng nguyên, không phong tước cho người ngoài Hoàng tộc Như vậy người thi đỗ đầu kì thi không được mang danh hiệu Trạng nguyên
mà chỉ có danh từ Bảng nhãn trở xuống
Tính từ khoa thi Hội ở triều vua Minh Mạng cho đến vua Tự Đức, triều Nguyễn
đã tổ chức được 27 khoa thi Hội lấy đỗ 206 tiến sĩ Những tiến sĩ thi đỗ dưới triều
Nguyễn cũng được phân làm nhiều thứ hạng khác nhau như: Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập
đệ (còn gọi là: (Bảng nhãn, Thám hoa), Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (còn gọi là Hoàng
giáp), Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân Trong số 206 tiến sĩ có: 10 Đệ nhất giáp tiến
sĩ cập đệ, 42 Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân, 154 Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân Điều
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 35này cho thấy, nhà Nguyễn bước đầu đã quan tâm đến giáo dục và tổ chức thi cử một cách chặt chẽ, hệ thống, tuyển chọn một lực lượng tiến sĩ có trình độ, học thức để phục
vụ cho bộ máy chính quyền
Bảng 2.1: Các khoa thi và tiến sĩ đỗ dưới triều Nguyễn (1802 - 1883)
Trang 3613 Kỷ Dậu niên hiệu Tự Đức 2 (1849)
[Nguồn: Các nhà khoa bảng Việt Nam (1075-1919)]
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 37Ở bảng 2.1, có thể thấy đời vua Tự Đức (1847 - 1883) đã tổ chức 16 khoa thi chiếm số lượng nhiều nhất trong tổng số (16/27), lấy đỗ 102 tiến sĩ, trong đó có 8 Đệ nhất giáp, 23 Đệ nhị giáp, 71 Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân Như vậy, ta thấy rằng vua Tự Đức rất quan tâm đến giáo dục, với nhiều chính sách tiến bộ và tổ chức thi cử đều đặn mang tính chất công bằng nên thu hút nhiều sĩ tử đến với các kì thi tiến sĩ, lấy
đó làm con đường tiến thân Rất nhiều người trong số họ đã trở thành trụ cột của triều đình, danh nhân văn hóa nổi tiếng và thực sự có những đóng góp lớn lao cho sự phát triển của đất nước trong thời kì này
Còn đối với vị vua Minh Mạng (1820 - 1840) đã tổ chức được 6 khoa thi Hội lấy
đỗ 54 tiến sĩ, (trong đó có 11 Đệ nhị giáp, 45 Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân) Nối tiếp là đời vua Thiệu Trị (1841 - 1847) tổ chức 5 khoa thi Hội lấy đỗ 48 tiến sĩ (có 2 Đệ nhất giáp, 8 Đệ nhị giáp, 38 Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân)
Nhìn chung, trong suốt thời gian từ khi mới thành lập vương triều Nguyễn vào năm 1802 cho đến năm 1884, trải qua các đời vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức đã quan tâm đến việc phát triển giáo dục, tổ chức các kì thì thi Hương, thi Hội, thi Đình Đồng thời, ban hành những chính sách kịp thời, tích cực và hợp lí đã thu hút nhân tài cũng như tuyển chọn đội ngũ có học thức, tài năng, đức độ ra phục vụ cho bộ máy chính quyền
2.1.2 Quê quán
Tinh thần hiếu học, rèn luyện kinh sách với mục đích quyết tâm ra làm quan để thay đổi số phận đã thôi thúc các sĩ tử dưới thời Nguyễn lấy đó làm con đường lập nghiệp Đa số họ đều xuất thân từ các vùng quê nghèo cho đến huyện, phủ và kinh thành
trên cả nước Qua sách Các nhà khoa bảng Việt Nam của Ngô Đức Thọ và Các vị Trạng
nguyên, bảng nhãn, thám hoa qua các triều đại phong kiến Việt Nam của Trần Hồng
Đức, tôi lập nên bảng sau đây:
Bảng 2.2: Quê quán của những người đỗ tiến sĩ dưới triều Nguyễn (1802 - 1883)
Trang 384 Thừa Thiên Huế 19 9,2
[Nguồn: Các nhà khoa bảng Việt Nam (1075 - 1919); Các vị Trạng nguyên, bảng
nhãn, thám hoa qua các triều đại phong kiến Việt Nam]
Bảng số liệu thống kê cho thấy, các tỉnh đồng bẳng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ như: Nghệ An, Hà Nội, Hà Tĩnh, Thừa Thiên Huế,… luôn có người đỗ tiến sĩ nhiều nhất trong các khoa thi như: Nghệ An có 26 người, chiếm 12,6%; Hà Nội có 25 người, chiếm 12,1%; Hà Tĩnh và Thừa Thiên Huế đều có 19 người, chiếm 9,2%; Hà Tây và Quảng Bình đều có 16 người, chiếm 7,7%
Các tỉnh Trung du phía Bắc, Trung Bộ và Nam Bộ có tỷ lệ đỗ tiến sĩ rất thấp như: Bắc Giang, Hải Phòng, Gia Định, Bến Tre đều chỉ có 1 người, chiếm 0,5%, Thậm chí
có một số tỉnh không có người nào đỗ tiến sĩ trong suốt thời gian triều Nguyễn trị vì cả
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 39Có thể lý giải sự chênh lệch giữa các địa phương có số người đỗ tiến sĩ khác nhau bởi vì các tỉnh ở đồng bằng Bắc Bộ là nơi có truyền thống hiếu học lâu đời Các tỉnh ở đây có nền kinh tế khá phát triển, cho nên việc học tập giáo dục rất được quan tâm Họ xem việc thi cử là con đường tiến thân lập nghiệp Do đó khi triều đình tổ chức các khoa thi để lấy người tài phục vụ đất nước thì số người đậu đỗ tiến sĩ ở đấy lúc nào cũng nhiều hơn ở nơi khác Còn ở các tỉnh Trung Bộ, Nam Bộ, trung du phía Bắc điều kiện kinh tế còn nghèo cho nên việc học tập để thi cử còn nhiều khó khăn, chưa có nhiều chính sách giáo dục khuyến khích người cho nên việc thi cử để ra làm quan còn hạn chế
Bảng 2.3: Độ tuổi của những người thi đỗ tiến sĩ dưới triều Nguyễn (1802 - 1883)
[Nguồn: Các nhà khoa bảng Việt Nam (1075 - 1919); Các vị Trạng nguyên, bảng
nhãn, thám hoa qua các triều đại phong kiến Việt Nam]
Ở bảng 2.3 cho ta biết: Những người đỗ tiến sĩ phổ biến nhất là từ độ tuổi 18 tuổi
- 29 tuổi, có 75 người, chiếm 36,4 %; từ 30 tuổi - 39 tuổi có 97 người, chiếm 47 % Không riêng với những người trẻ tuổi, có khá nhiều người cao tuổi vẫn đi thi và đỗ tiến
sĩ khi đã trên 50 tuổi, có 5 người, chiếm 2,4% Chẳng hạn như Nguyễn Hoằng Nghĩa (51 tuổi, đỗ tam giáp đồng tiến sĩ năm 1835 đời vua Minh Mạng), Phạm Duy Đôn (55 tuổi, đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ năm 1865 đời vua Tự Đức), Vũ Tuấn (55 tuổi, đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân năm 1879 đời vua Tự Đức 32), Dương Thúc Hạp (50 tuổi,
đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân năm 1884 đời vua Kiến Phúc 1)… Đây là những người cao tuổi nhất trong số tiến sĩ đỗ dưới triều Nguyễn
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 40Thông qua độ tuổi của những người đỗ tiến sĩ dưới thời Nguyễn, ta thấy một điều rằng con đường học tập luôn rộng mở đối với những ai luôn cố gắng vươn lên và không phân biệt tuổi tác Nhà nước đã có những chính sách giáo dục hợp lí, khuyến khích kẻ
sĩ đến với quan trường cho nên đã tạo ra một đội ngũ tiến sĩ đông đảo bổ sung vào bộ máy chính quyền nhà nước
2.1.4 Sự nghiệp quan trường
Sau khi trải qua các kì thi sát hạch do triều đình tổ chức thì những người đỗ cao trong các kì thi sẽ được bổ dụng chức quan theo thứ bậc của hạng đỗ Kế thừa và tiếp thu từ các triều đại trước, vương triều Nguyễn đã có quy định về việc phong hàm và chức quan cho các tiến sĩ Từ những xuất phát điểm ban đầu đó, bằng tài năng, nỗ lực của từng cá nhân, các tiến sĩ đã đạt được các chức vị khác nhau nơi chốn quan trường Điều này được thống kê ở bảng 2.4
Bảng 2.4: Thống kê phẩm hàm và chức quan cao nhất của những người đỗ tiến sĩ dưới thời Nguyễn