1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn) thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của dân tộc chăm trên địa bàn tỉnh an giang

84 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của dân tộc Chăm trên địa bàn tỉnh An Giang
Tác giả Ngô Thị Mai
Người hướng dẫn PGS.TS. Cao Thu Hằng
Trường học Học viện Khoa học Xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
Chuyên ngành Chính sách công
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 691,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

chuyên ngành Chính sách công với mong muốn mang chút ý nghĩa đóng góp cho việc bảo tồn và phát huy những vốn quý của văn hóa dân tộc, gìn giữ và phát triển di sản văn hóa dân tộc Chăm củ

Trang 1

NGÔ THỊ MAI

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA CỦA DÂN TỘC CHĂM TRÊN ĐỊA BÀN

Trang 2

NGÔ THỊ MAI

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA CỦA DÂN TỘC CHĂM TRÊN ĐỊA BÀN

Trang 3

Chăm sinh sống, cũng là tỉnh có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số Vì vậy, văn hóa của An Giang luôn mang nhiều dấu ấn đậm nét và phong phú sắc màu độc đáo của các dân tộc cộng cư trên địa bàn Phát triển văn hóa thì không thể nào bỏ qua việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của dân tộc Vì đó là thành tố không thể thiếu, là một bộ phận trong hệ thống của văn hóa, là một phần quan trọng làm nên nét độc đáo và bản sắc riêng của văn hóa tộc người

Nhận thức được tầm quan trọng đó, trong những năm qua, Tỉnh ủy, Ủy ban Nhân dân tỉnh An Giang đã đề ra nhiều chính sách liên quan đến vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Chăm Nhờ đó, nhận thức về văn hóa của các cấp, các ngành được nâng lên Đời sống văn hóa của nhân dân ngày càng phong phú, văn hóa truyền thống của dân tộc được phát huy Sản phẩm văn hóa, văn học nghệ thuật ngày càng phong phú hơn Nhiều phong trào, hoạt động văn hóa đạt được những kết quả cụ thể, thiết thực Nhiều di sản văn hóa vật thể trong tỉnh được bảo tồn, tôn tạo Đội ngũ làm công tác văn hóa, văn nghệ có nhiều tiến bộ trong thực thi công vụ Tuy nhiên, theo đánh giá của tỉnh An Giang qua 05 năm thực hiện Nghị quyết

số 33-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương khóa XI, bên cạnh những kết quả đáng ghi nhận thì việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc Chăm còn của tỉnh vẫn còn những hạn chế nhất định Một số di sản văn hóa của dân tộc Chăm, do không thực hiện bảo tồn đúng, đã có nguy cơ bị mai một; văn hóa, ẩm thực của dân tộc có nguy cơ bị lai căng Đời sống văn hóa tinh thần của người dân Chăm ở cấp

xã còn nghèo nàn Việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa chưa phủ đều, chưa phát huy hiệu quả Hệ thống thiết chế văn hóa và cơ sở vật chất, kỹ thuật cho hoạt động văn hóa vẫn còn thiếu, chưa đồng đều, hiệu quả sử dụng chưa cao Công tác đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý văn hóa cấp tỉnh, huyện còn hạn chế

Trong bối cảnh phát triển hiện nay, phát triển du lịch được xem là ngành kinh

tế mũi nhọn của tỉnh Việc nghiên cứu khai thác tài nguyên bản địa, đặc biệt là di

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 4

chuyên ngành Chính sách công với mong muốn mang chút ý nghĩa đóng góp cho việc bảo tồn và phát huy những vốn quý của văn hóa dân tộc, gìn giữ và phát triển di sản văn hóa dân tộc Chăm của tỉnh nhà như một trong những tài nguyên quý giá, hấp dẫn, cốt lõi trong phát triển du lịch, góp phần xây dựng con người văn hóa An Giang và phát triển kinh tế xã hội tỉnh An Giang

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong các đề tài nghiên cứu về văn hóa của tỉnh, chưa có nội dung nghiên cứu

rõ ràng, cụ thể về chính sách văn hóa như một thực thể của chính sách công Và cũng chưa có công trình nào nghiên cứu độc lập về việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của dân tộc Chăm trên địa bàn tỉnh An Giang

Các đề tài nghiên cứu về văn hóa dân tộc Chăm tại An Giang được quan tâm nhiều vào chủ đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân gian Chăm để phát triển du lịch Như đề tài cấp tỉnh “Nghiên cứu bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Chăm trong phát triển du lịch tỉnh An Giang”, với mục tiêu nhằm xác định các giá trị văn hóa của người Chăm tại An Giang; đồng thời xác định các yếu tố văn hóa có thể khai thác để phục vụ du lịch nhằm góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của người Chăm nói riêng và phát triển du lịch văn hóa tỉnh An Giang nói chung

Đề tài cấp tỉnh “Nghiên cứu và biên soạn bộ tài liệu dạy và học tiếng Chăm (An Giang)” do TS Phú Văn Hẳn chủ nhiệm, Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ đơn vị chủ trì đã hoàn thành, chuyển giao và giới thiệu 5 bộ giáo trình dạy tiếng Chăm từ tập 1 - tập 5 và tập hướng dẫn sử dụng bộ giáo trình, nhóm tác giả đã tổ chức buổi tập huấn phương pháp giảng dạy bộ giáo trình tiếng Chăm cho các cán bộ phụ trách công tác giáo dục dân tộc và các giáo viên dạy tiếng Chăm thuộc huyện

An Phú, huyện Châu Phú và thị xã Tân Châu Triển khai thực hiện ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học của nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh “Nghiên cứu và biên soạn bộ tài liệu dạy và học tiếng Chăm (An Giang)” Đề tài được xây dựng dựa trên cơ sở

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 5

lần thứ X, nhằm phát huy và bảo tồn văn hóa dân tộc Chăm An Giang và gắn với phát triển du lịch [44, tr 20]

Bên cạnh các nghiên cứu về người Chăm tại An Giang, nhiều nghiên cứu về người Chăm sinh sống tại các vùng, miền khác nhau đã đượcnhiều tác giả thực hiện, tiêu biểu là nghiên cứu về người Chăm ở miền Trung Công trình “Văn hóa phi vật thể người Chăm Ninh Thuận của nhóm tác giả Phan Văn Dốp, Phan Quốc Anh, Nguyễn Thị Thu đã khái quát cơ sở lý luận về văn hóa phi vật thể người Chăm Ninh Thuận, chính sách của Đảng và Nhà nước về văn hóa Chăm, thực tiễn công tác bảo tồn văn hóa Chăm và miêu tả cụ thể các loại hình di sản văn hóa phi vật thể của người Chăm ở Ninh Thuận, nhằm mục đích tư liệu hóa các di sản văn hóa phi vật thể, đánh giá mức độ tồn tại của chúng trong cộng đồng người Chăm Ninh Thuận, cũng là một biện pháp nỗ lực để bảo tồn văn hóa Chăm Tương tự, cuốn “Văn hóa Chăm H’Roi” của Trung tâm Văn hóa Chăm Ninh Thuận cũng là một tư liệu quý về văn hóa Chăm ở các vùng miền của Việt Nam, góp phần bảo tồn di sản vật thể và phi vật thể người Chăm H’Roi ở miền Trung Tùy bút “Những cuộc đi và cái nhà” của nhà nghiên cứu Inrasara kể những câu chuyện trong hành trình cuộc đời, cũng là một tác phẩm thú vị để hiểu thêm về văn hóa người Chăm

Nhìn chung, các nghiên cứu trên đây tương đối bao quát các khía cạnh văn hóa dân gian của tộc người Chăm tại Việt Nam nói chung và tại An Giang nói riêng Tuy nhiên, nghiên cứu về người Chăm tại tỉnh An Giang thì chưa đề cập sâu đến việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của cộng đồng dân tộc này trên địa bàn tỉnh

Nhiều đề tài luận văn về nghiên cứu chính sách văn hóa, về bảo tồn và phát huy

di sản văn hóa Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu ở các tỉnh, địa phương khác Chưa có nghiên cứu về chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa trên phạm vi tỉnh An Giang Sơ lược các công trình như: Luận văn thạc sĩ Chính sách công của tác giả

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 6

Nguyễn Thị Hoàng Nguyên với đề tài “Thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Xơ Đăng, tỉnh Quảng Nam” (2018), của tác giả Trần Quỳnh Mai với đề tài “Thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa trên địa bàn thành phố Tam Kỳ” (2020), tác giả Nguyễn Thanh Cường với đề tài

“Chính sách phát triển du lịch từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi” (2016), tác giả Dương Trung Việt với “Chính sách phát triển văn hóa từ thực tiễn huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi” (2016) Đây là những tài liệu nghiên cứu thực tiễn thực hiện chính sách công để tác giả tham khảo trong quá trình thực hiện luận văn của mình

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của dân tộc; đánh giá thực trạng thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc Chăm, đề tài đề xuất giải pháp tăng cường hiệu quả thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của dân tộc Chăm trên địa bàn tỉnh An Giang hiện nay, nhằm góp phần đáp ứng tốt hơn yêu cầu thực tiễn về phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa phù hợp với điều kiện của địa phương

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nêu trên, luận văn xác định các nhiệm vụ:

Thứ nhất, làm rõ một số vấn đề lý luận về việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát

huy di sản văn hóa dân tộc

Thứ hai, đánh giá thực trạng kết quả tổ chức thực hiện chính sách bảo tồn và

phát huy di sản văn hóa ở dân tộc Chăm tỉnh An Giang

Thứ ba, đề xuất quan điểm,mục tiêu, một số giải pháp cơ bản nhằm nâng

caothực hiện chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa ở dân tộc Chăm trên địa bàn tỉnh An Giang hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1 Đối tượng nghiên cứu

Thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của dân tộc Chăm trên địa bàn tỉnh An Giang

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 7

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

Luận văn tiến hành nghiên cứu, khảo sát số liệu, kết quả tình hình thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của dân tộc Chăm trên địa bàn tỉnh

An Giang từ năm 2000 đến nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của khoa học nghiên cứu về chính sách công; quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách của nhà nước về văn hóa, bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành luận văn, tác giả sử dụng các phương pháp cơ bản như sau:

- Phương pháp khảo sát, nghiên cứu tài liệu: tác giả đã thu thập thông tin từ

nhiều nguồn tài liệu thứ cấp như các văn bản quy phạm pháp luật, sách, báo, ấn phẩm nghiên cứu khoa học, báo cáo nghiên cứu của địa phương và thực tiễn hoạt động của bản thân… có các nội dung liên quan đến đề tài

- Phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội để thống kê, tổng hợp, phân

tích,…số liệu và dữ liệu, đối chiếu, so sánh, đưa ra những luận điểm, kết luận

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn góp phần hệ thống hóa về mặt lý luận chính sách công, làm rõ hơn một số vấn đề lý luận về thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của dân tộc Chăm trên địa bàn tỉnh An Giang

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn nhằm đánh giá thực trạng thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của dân tộc Chăm trên địa bản tỉnh An Giang, trên cơ sở đó, đề tài có ý nghĩa khuyễn nghị nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách này ở An Giang hiện nay Luận văn là tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác nghiên cứu, giảng dạy về những vấn đề liên quan đến việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc Chăm và những ai quan tâm đến vấn đề này

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 8

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu gồm

3 chương như sau:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy

di sản văn hóa ở Việt Nam hiện nay

Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của dân tộc Chăm trên địa bàn tỉnh An Giang

Chương 3: Quan điểm, mục tiêu, giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của dân tộc Chăm trên địa bàn tỉnh An Giang

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 9

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY

DI SẢN VĂN HÓA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài và tầm quan trọng của việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa

1.1.1 Khái niệm chính sách công

Trên thế giới có rất nhiều quan niệm khác nhau về chính sách công Có thể kế đến một số định nghĩa tiêu biểu sau:

Chính sách công theo Thomas Dye: “Chính sách công là bất kỳ những gì nhà

sách công là toàn bộ các hoạt động của Nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi công dân" [14, tr 5]; theo Charle L Cochran and Eloise

F Malone thì : “Chính sách công bao gồm các quyết định chính trị để thực hiện các chương trình nhằm đạt được những mục tiêu xã hội” [14, tr 8];

Ở nước ta, cũng có nhiều quan niệm rất khác nhau về chính sách công Có thể

kể ra đây một số định nghĩa đáng chú ý sau:

Tác giả Nguyễn Hữu Hải quan niệm rằng: “Chính sách công là kết quả ý chí chính trị của nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau, bao hàm trong đó định hướng mục tiêu và cách thức giải quyết những vấn

đề công trong xã hội” [25, tr 51]

Viện Chính trị học cho rằng: “ chính sách công là chương trình hành động hướng đích của chủ thể nắm hoặc chi phối quyền lực công cộng” [55, tr 235], một tập thể các tác giả khác lại cho rằng: “Chính sách công là một tập hợp những quyết định liên quan với nhau do nhà nước ban hành,bao gồm các mục tiêu và giải pháp

để giải quyết một vấn đề công nhằm đạt được các mục tiêu phát triển” [20, tr 10] Tác giả Lê Chi Mai phân tích về khái niệm chính sách công ở Việt Nam, có chủ thể ban hành là Nhà nước, CSC là kết quả của các quyết định chính phủ nhằm duy trì tình trạng của xã hội hoặc giải quyết các vấn đề của xã hội, trong đó là các

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 10

vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội theo mục tiêu tổng thể của Đảng đã vạch

ra từ trước Vì vậy mà ở Việt Nam, chúng ta thường đề cập đến cụm từ “chính sách của Đảng và Nhà nước” [14, tr9-11]

TS Lê Văn Hòa trong công trình “Quản lý thực thi Chính sách công theo kết quả” đã khái quát quan niệm về chính sách công cùng những đặc điểm rút ra như

sau: “Chính sách công là một tập hợp các quyết định liên quan với nhau do Nhà

nước ban hành, bao gồm các mục tiêu và giải pháp để giải quyết một vấn đề công nhằm đạt được các mục tiêu phát triển.” [21, tr 7]

Theo đó, học giả đã rút ra 07 đặc điểm cơ bản về chính sách công: Thứ nhất,

CSC bắt nguồn từ các quyết định do Nhà nước ban hành và nội dung của chính sách

được thể hiện trong các văn bản, quyết định của Nhà nước Thứ hai, CSC bao gồm

một tập hợp các quyết định được ban hành qua một giai đoạn và kéo dài sang cả giai đoạn thực thi chính sách CSC luôn không được thể hiện rõ ràng trong một quyết định đơn lẻ, mà có xu hướng được xác định dưới dạng một chuỗi các quyết

định gắn liền với nhau Thứ ba, CSC hướng tới giải quyết vấn đề công và tác động đến lợi ích của một hoặc nhiều nhóm dân số trong xã hội Thứ tư, CSC bao gồm hai

bộ phận cấu thành là mục tiêu và giải pháp chính sách Thứ năm, mục tiêu của CSC

là tạo ra những thay đổi và nhằm đạt được các mục tiêu phát triển của đất nước

hoặc địa phương Thứ sáu, các CSC luôn thay đổi theo thời gian, bởi những quyết

định sau đó có thể có những điều chỉnh so với các quyết định trước đó, hoặc do có những thay đổi trong định hướng chính sách ban đầu; hoặc là kinh nghiệm về thực thi chính sách công được phản hồi vào quá trình ra quyết định; và do định nghĩa về

các vấn đề CSC cũng thay đổi qua thời gian Cuối cùng, về cơ bản CSC được xem

là đầu ra của quá trình quản lý nhà nước, là sản phẩm trí tuệ của đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước và của cả xã hội [21, tr.8]

Các định nghĩa trên cho thấy cách quan niệm của các học giả về chính sách công có một số điểm lưu ý sau:

Thứ nhất, với tư cách chính sách của nhà nước, chính sách công chỉ xuất hiện trong thời kỳ xã hội loài người đã có nhà nước

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 11

Thứ hai, chủ thể chính sách công là nhà nước và nếu có mở rộng thì cũng chỉ đến các chủ thể chính trị khác song cũng đặt mối quan hệ liên quan đến nhà nước Tuy nhiên, với đặc thù chính trị ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội (Điều 4, Hiến pháp) Đảng lãnh đạo Nhà nước thông qua việc vạch ra cương lĩnh, chiến lược, các định hướng chính sách – đó chính là những căn cứ để Nhà nước ban hành CSC Như vậy, về thực chất, các chính sách công ở Việt Nam là do Nhà nước, Chính phủ Việt Nam đề ra, trên cơ sở cụ thể hóa đường lối, chiến lược và các định hướng chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm phục vụ lợi ích nhân dân Về cốt lõi, mục tiêu chinh sách

đã được Đảng định hướng, Nhà nước được trao quyền xây dựng chính sách để hiện thực hóa các ý tưởng, mục tiêu tổng thể của Đảng

Thứ ba, việc đề xuất thực hiện một chính sách công có thể là giải quyết những vấn đề bức xúc, quan tâm chung của cộng đồng theo những mục tiêu nhất định Thứ tư, chính sách công bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau; là một quá trình từ khâu xác định ý tưởng, hoạch định, thực hiện đến đánh giá, điều chỉnh chính sách Như vậy, chính sách công có nhiều khái niệm từ những góc nhìn khác nhau Theo tác giả, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chính sách công có thể được hiểu là tất cả quyết định làm hay không làm của chủ thể được trao quyền lực công nhằm xử lý những vấn đề mang tính xã hội, cộng đồng trên mọi lĩnh vực của đời sống nhằm đạt mục tiêu phát triển của quốc gia, của địa phương

1.1.2 Khái niệm thực hiện chính sách công

Thực hiện hay thực thi chính sách công là quá trình đưa chính sách công vào thực tiễn đời sống xã hội thông qua việc ban hành các văn bản, chương trình, dự án thực hiện/thực thi chính sách công và tổ chức thực hiện chúng nhằm hiện thực hóa mục tiêu chính sách công.[21 , tr 12]

Như phân tích của các học giả, chu trình chính sách công là một chuỗi các giai đoạn kế tiếp có liên quan với nhau từ khi lựa chọn được vấn đề chính sách đến khi kết quả chính sách được đánh giá

Thực hiện chính sách là một khâu hợp thành chu trình chính sách, nếu thiếu vắng công đoạn này thì chu trình chính sách không thể tồn tại Thực hiện chính sách

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 12

là một hệ thống nhất - nhất là với hoạch định chính sách So với các khâu khác trong chu trình chính sách, thực hiện chính sách có vị trí đặc biệt quan trọng, là bước hiện thực hóa chính sách trong đời sống xã hội Cũng có thể nhận định, đó là khâu trung tâm của chu trình chính sách

Chu trình rút gọn của chính sách công gồm 3 bước:

Để đảm bảo chất lượng và hiệu quả tổ chức thực hiện chính sách cần phải bảo đảm các 03 yêu cầu: (1) Thực hiện đúng trình tự các bước trong tổ chức thực hiện chính sách công (2) Thực hiện đúng và đầy đủ nội dung các bước tổ chức thực hiện chính sách công.(3) Đề cao trách nhiệm của các chủ thể tham gia tổ chức thực hiện chính sách công, chủ động đề xuất các biện pháp, giải pháp để tổ chức thực hiện các bước có hiệu quả

Các bước tổ chức thực hiện chính sách công bao gồm:

1 Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách

2 Phổ biến, tuyên truyền chính sách

3 Phân công, phối hợp thực hiện chính sách

4 Duy trì chính sách

5 Điều chỉnh chính sách

6 Theo dõi kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách

7 Đánh giá tổng kết rút kinh nghiệm

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 13

Chủ thể tham gia thực hiện CSC, bao gồm:

(1) Chủ thể thực hiện: là các cơ quan nhà nước và nhân sự của các cơ quan đó – đây là chủ thể chịu trách nhiệm thực hiện chính sách công

(2) Chủ thể tham gia: là các đối tác phi nhà nước (các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước);

(3) Chủ thể tham gia với tư cách là đối tượng hưởng thụ CSC: cộng đồng dân

cư, các nhóm dân số, thậm chí cả người dân

1.1.3 Khái niệm chính sách văn hóa và thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa

1.1.3.1 Khái niệm chính sách văn hóa

Chính sách văn hóa là một trong những lĩnh vực của chính sách công

Căn cứ định nghĩa của UNESCO năm 2002: “Chính sách văn hóa là một tổng

thể các nguyên tắc hoạt động quyết định các cách thực hành, các phương pháp quản lý hành chính và phương pháp ngân sách của Nhà nước dùng làm cơ sở cho các hoạt động văn hóa”

Có quan niệm cho rằng, chính sách văn hóa là hệ thống các nguyên tắc, các thực hành của nhà nước trong lĩnh vực văn hóa nhằm phát triển và quản lý thực hiện đời sống văn hóa theo quan điểm phát triển và các thức quản lý riêng, đáp ứng như cầu phát triển đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân trên cơ sở vận dụng các điều kiện vật chất và tinh thần sẵn có của xã hội [45, tr 21]

Chính sách văn hóa bao hàm nhiều nội dung Phân loại theo lĩnh vực văn hóa thì chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa là một nội dung quan trọng

1.1.3.2 Khái niệm thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa

Về khái niệm Di sản văn hóa

Theo Luật Di sản văn hóa thì Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật

thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 14

Di sản văn hóa vật thể “là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa

học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia”

Di sản văn hóa phi vật thể “là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá

nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác.”

Di sản văn hóa là thành tố quan trọng, góp phần làm nên bản sắc văn hóa của một quốc gia, dân tộc, tộc người; là cái độc đáo, thu hút, hấp dẫn đối với nhu cầu tìm hiểu, trải nghiệm văn hóa trong hoạt động du lịch; có thể nói, về mặt tinh thần đó là hồn cốt của dân tộc, về mặt vất chất đó là tài sản, tài nguyên quý giá của quốc gia, mang giá trị

về mặt kinh tế nếu được phát huy phù hợp

Khái niệm bảo tồn và phát huy di sản văn hóa

Theo Từ điển Tiếng Việt của GS Hoàng Phê, “bảo tồn là giữ lại không để cho mất đi” [13, tr 49], “phát huy là làm cho cái hay, cái tốt tỏa tác dụng và tiếp tục nảy

nở thêm” [13, tr 973]

Đối với di sản văn hóa phi vật thể, bảo tồn hay bảo vệ, theo Công ước về Bảo

vệ Di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO, 2003: “Bảo vệ" Di sản văn hóa phi vật thể là các biện pháp có mục tiêu đảm bảo khả năng tồn tại của di sản văn hóa phi vật thể, bao gồm việc nhận diện, tư liệu hoá, nghiên cứu, bảo tồn, bảo vệ, phát huy, củng

cố, chuyển giao, đặc biệt là thông qua hình thức giáo dục chính thức hoặc phi chính thức cũng như việc phục hồi các phương diện khác nhau của loại hình di sản này Đối với di sản văn hóa vật thể, Luật Di sản định nghĩa: “Bảo quản di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật quốc gia là hoạt động phòng ngừa và hạn chế nguy cơ làm hư hỏng mà không làm thay đổi những yếu tố nguyên gốc vốn có của

di tích lịch sử - văn hóa, danh la thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia”

Văn hóa là toàn bộ những sáng tạo và phát minh của loài người Vì lẽ đó, văn hóa không phải là bất biến, sẽ luôn sản sinh nhằm thích ứng với nhu cầu của đời sống

và đòi hỏi của sự sinh tồn Những phức thể bên trong văn hóa như nghệ thuật, tín

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 15

ngưỡng, phong tục tập quán, cách thức ăn mặc ở, … hình thành nên văn hóa, qua thời gian trở thành truyền thống, là thói quen thực hành của con người, đó cũng chính là

di sản văn hóa, là cái khó biến đổi hơn trong quá trình vận động phát triển Để nó không biến đổi hay mất đi những cái hay cái đẹp, cái tinh hoa, hồn cốt dân tộc, thì di sản văn hóa cần được bảo tồn để giữ gìn, cần được phát huy để lan tỏa và phát triển cái hay cái đẹp vốn có của mình Phát huy tốt di sản sẽ đồng thời bảo tồn bền vững di sản đó Cho nên, bảo tồn và phát huy luôn phải là 02 khái niệm song hành, tương hỗ khi đề cập đến vấn đề di sản văn hóa Phát huy di sản văn hóa cũng chính là quan niệm về bảo tồn di sản gắn với phát triển, xem di sản là một lựa chọn cho phát triển,

vì vậy cần phải có những kế hoạch, chiến lược phát triển phù hợp để khai thác giá trị, thúc đẩy phát triển kinh tế, đồng thời thông qua khai thác là sự lan tỏa, quảng bá cái đẹp của di sản, thúc đẩy cộng đồng cùng gìn giữ bảo tồn di sản

Về khái niệm chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa

Như đã đề cập, chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa là phần quan trọng của chính sách văn hóa của Đảng và Nhà nước Việt Nam Và đã được đề cập

từ rất sớm

Trong Đề cương văn hóa năm 1943, vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Việt Nam đã được đề cập với nội dung “trong văn hóa cổ của nước ta, có nhiều hạt ngọc bị che phủ bởi một lớp bụi thời gian, mà bổn phận của chúng ta là phải tiếp thu sự nghiệp, đặng tìm tòi, lượm lặt, nghiên cứu, không được bỏ sót một hạt…” Trong Sắc lệnh số 65/SL ngày 23 tháng 11 năm 1945 do Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký ghi: nghiêm cấm việc phá hủy đình, chùa, đền, miếu hoặc các nơi thờ tự khác, cũng như cung điện, thành quách cùng lăng mộ…

Các văn kiện của Đảng; Các văn bản pháp quy của Nhà nước như Hiến pháp, Luật Di sản văn hóa, Chiến lược phát triển văn hóa, Pháp lệnh về bảo vệ và sử dụng

di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh, Pháp lệnh Bảo tàng, Luật Thư viện, Nghị định về bảo quản tu bổ di tích, Thông tư hướng dẫn về kiểm kê di sản,… Tất

cả là sự thể hiện chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của Việt Nam ngày càng rõ ràng

Có thể khái quát, chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa được coi như

những sách lược, chiến lược cụ thể của Đảng và Nhà nước nhằm bảo tồn và phát

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 16

huy di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học ở Việt Nam

Về khái niệm Thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa

Với các cách hiểu như trên về di sản văn hóa, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa, chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa, có thể hiểu, thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa là quá trình đưa chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa vào cuộc sống nhằm thực hiện mục tiêu đề ra

Mục tiêu cơ bản của chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa nhằm tập

trung vào 03 vấn đề: Thứ nhất là để thống kê vốn di sản văn hóa của dân tộc Thứ

hai là để bảo tồn và phát huy di sản văn hóa thành nguồn lực phát triển xã hội Thứ

ba là thỏa mãn nhu cầu văn hóa của nhân dân, đóng góp vào kho tàng văn hóa của

quốc gia và thế giới

1.1.4 Tầm quan trọng của việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa

Từ nhận định về khái niệm và mục tiêu khái quát nêu trên, có thể nói việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa có vai trò rất quan trọng đối với

sự phát triển của đất nước, sự phát triển của văn hóa quốc gia, văn hóa mỗi vùng miền, địa phương và đóng góp quan trọng vào công cuộc phát triển kinh tế xã hội Vai trò quan trọng đó thể hiện cơ bản trên các mặt sau:

Thứ nhất, thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa góp phần

quan trọng trong công cuộc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc

Di sản văn hóa là yếu tố cơ bản tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc Vì vậy, giữ gìn di sản văn hóa của mỗi dân tộc cũng chính là giữ gìn bản sắc văn hóa của cộng đồng dân tộc ấy, góp phần tôn tạo, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc của đất nước Việt Nam

Trong quá trình giao lưu, hội nhập ngày càng sâu rộng trên các mặt của đời sống kinh tế xã hội, Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định “xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” là quan điểm xuyên suốt trong sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa của toàn dân Bản sắc văn hóa chính là cốt cách của dân tộc, là những giá trị được nhân dân lựa chọn và lưu truyền từ đời này

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 17

sang đời khác, qua bao lớp thăng trầm của lịch sử vẫn không bị mất đi, đó chính là những tinh hoa văn hóa mà mỗi dân tộc đều cần phải giữ gìn, làm cơ sở để sáng tạo những giá trị văn hóa mới, góp phần làm cho văn hóa của dân tộc mình ngày càng phát triển hưng thịnh Có như vậy thì những giá trị văn hóa tiến bộ mới được phát triển, những giá trị văn hóa không phù hợp sẽ bị loại bỏ trong đời sống Chúng ta sẽ không phải lo ngại sự du nhập những loại hình văn hóa không phù hợp làm biến đổi bản sắc văn hóa dân tộc trong điều kiện giao lưu, hội nhập như hiện nay Gìn giữ di sản để góp phần gìn giữ được bản sắc văn hóa dân tộc, để kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại làm cơ sở cho sự phát triển của văn hóa trong những giai đoạn tiếp theo

Thứ hai, thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa góp phần

quảng bá hình ảnh Việt Nam, tăng cường giao lưu và hội nhập

Giao lưu, hội nhập là xu thế tất yếu Tiến trình toàn cầu hóa càng làm cho xu thế này diễn ra mạnh mẽ Di sản văn hóa luôn chứa đựng những nét văn hóa độc đáo, đặc sắc và hấp dẫn của mỗi dân tộc Và với cộng đồng 54 dân tộc anh em, Việt Nam có cả một kho tàng vô giá về di sản, bức tranh tổng thể đa sắc màu để chúng ta

tự hào quảng bá ra thế giới, góp phần khẳng định giá trị, hình ảnh con người và đất nước Việt Nam, giao lưu thúc đẩy phát triển văn hóa đa quốc gia, tạo ra những mối quan hệ tốt đẹp giúp cho sự hợp tác kinh tế, an ninh, quốc phòng và các lĩnh vực khác được thuận lợi hơn, đạt hiệu quả cao hơn, góp phần vào sự nghiệp bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước

Thứ ba, thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa là giữ gìn,

phát huy nguồn lực nội sinh để phát triển kinh tế đất nước

Di sản văn hóa luôn được xác định là tài sản quý báu của mỗi dân tộc và mỗi quốc gia Di tích, danh lam thắng cảnh, nghệ thuật truyền thống, các sản phẩm nghề thủ công truyền thống, ẩm thực Việt Nam,… đã ngày càng nổi tiếng trên thế giới, không chỉ hấp dẫn khách du lịch mà còn thu hút nhiều nguồn lực đầu tư, các quỹ tài trợ bảo tồn từ các tổ chức quốc tế Di sản được khai thác đem lại hiệu quả kinh tế cao trong các loại hình du lịch văn hóa, du lịch nông nghiệp, du lịch tâm linh, sinh thái,…Nhiều sản phẩm từ di sản văn hóa được xuất khẩu các nước trên thế giới

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 18

Như vậy, thực hiện gìn giữ, phát huy di sản không chỉ tạo điều kiện cho ngành kinh

tế du lịch phát triển mà còn tác động tăng trưởng đến các ngành kinh tế khác Đây chính là nguồn lực nội sinh phong phú để phát triển kinh tế đất nước, đưa đất nước tiến lên giàu mạnh trong tương lai

1.2 Chủ thể và các bước thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa ở Việt Nam

Thứ nhất, về chủ thể thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa

Chủ thể thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa ở Việt Nam bao gồm:

- Chủ thể chịu trách nhiệm thực hiện chính sách: ở cấp trung ương là Chính phủ, các bộ và cơ quan ngang bộ, chủ lực tham mưu và tổ chức thực hiện là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; ở cấp tỉnh là HĐND, UBND cấp tỉnh, các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, chủ lực tham mưu và tổ chức thực hiện là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; ở cấp huyện là HĐND, UBND cấp huyện, các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện, chủ lực tham mưu và tổ chức thực hiện là Phòng Văn hóa

và Thông tin cấp huyện; và ở cấp xã là UBND cấp xã, Ban Văn hóa xã hội cấp xã là chủ lực

Chủ thể tham gia: là các đối tác phi nhà nước (các doanh nghiệp, các tổ chức,

cá nhân trong và ngoài nước) Các bên đối tác có thể bao gồm các viện nghiên cứu, các trường đại học, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, các tổ chức phi chính phủ, hiệp hội nghề nghiệp và cả người dân

Chủ thể tham gia với tư cách là đối tượng thụ hưởng thụ lợi ích từ chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa ở Việt Nam bao gồm: cộng đồng dân

cư, các nhóm dân số, các dân tộc thiểu số, người dân Việt Nam ở các địa phương,

trong và ngoài nước

Thứ hai, các bước thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa

Bước 1: Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách bảo tồn và phát

huy các giá trị di sản văn hóa

Tổ chức thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa là quá trình phức tạp, diễn ra trong một thời gian dài, vì thế chúng cần được lập kế

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 19

hoạch, lên chương trình để các cơ quan nhà nước triển khai thực hiện một cách chủ động Kế hoạch triển khai thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa phải được xây dựng trước khi đưa chính sách vào cuộc sống Các cơ quan triển khai thực thi chính sách từ trung ương đến địa phương đều phải xây dựng

kế hoạch, chương trình thực hiện cụ thể để thực hiện đầy đủ các nội dung chính sách đã đề ra, nhằm đảm bảo chính sách mang lại kết quả như mục tiêu đã xác định Nội dung của kế hoạch sẽ bao gồm: Kế hoạch tổ chức, điều hành; Kế hoạch

dự kiến các nguồn lực; Kế hoạch thời gian triển khai thực hiện chính sách và Kế

hoạch kiểm tra, đôn đốc thực thi chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa

Để đáp ứng tính hiệu quả và khả thi cao thì các kế hoạch thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa ở bất cứ cấp nào, địa phương nào, ngành nào thì cũng phải đảm bảo các nội dung từ mục đích yêu cầu, nêu bật được ý nghĩa công tác bảo tồn và phát huy di sản đang tác động, đến quy định về thời gian thực hiện và hoàn thành, phạm vi hoạt động, mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể, chủ thể tham gia, đề ra nhiệm vụ, hoạt động cụ thể, dự toán và bố trí kinh phí cụ thể cùng các điều kiện vật chất, trang thiết bị thực hiện kế hoạch, phân công trách nhiệm các bên liên quan, bố trí nhân lực thực hiện, có cơ chế kiểm tra, theo dõi, đôn đốc, tổng kết đánh giá, quy định về các chế độ quyền lợi, các biện pháp khen thưởng để kịp thời động viên các đối tượng thực hiện tốt nhiệm vụ, kể cả quy định về kỷ luật cá nhân, tập thể làm sai, thiếu trách nhiệm trong thực thi chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa, quy định

Đối với những những kế hoạch chiến lược, cần phải phân kỳ thực hiện, bố trí nguồn vốn theo lộ trình thực hiện, quy định những nội quy, quy chế về tổ chức, điều hành hệ thống tham gia thực thi chính sách đảm bảo sự gắn kết và phối hợp chặt chẽ giữa các bên, sự kết nối thông tin thông suốt và có tính tương tác phản hồi từ trên xuống, từ dưới lên và thông tin hai chiều qua lại từ các cơ quan cùng cấp có liên quan; có cơ chế điều chỉnh kế hoạch phù hợp từng giai đoạn thực hiện, từng mục tiêu phải hoàn thành Có sơ kết, tổng kết, đánh giá rút kinh nghiệm nhằm đề xuất cho giai đoạn tiếp theo và khen thưởng những điển hình tiêu biểu

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 20

Nguyên tắc phê duyệt và điều chỉnh kế hoạch: kế hoạch được thực hiện ở phạm vi cấp nào thì lãnh đạo cấp đó có thẩm quyền phê duyệt và điều chỉnh kế hoạch, đảm bảo giá trị pháp lý bắt buộc các chủ thể tham gia tổ chức thực hiện chính sách phải thực hiện nghiêm túc Ví như Kế hoạch bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của dân tộc Chăm ở An Giang thì sẽ do Lãnh đạo UBND tỉnh phê duyệt, hoặc Giám đốc Sở VHTTDL tỉnh An Giang ký ban hành nếu được UBND tỉnh ủy quyền

Bước 2: Phổ biến, tuyên truyền chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị di

sản văn hóa

Bước thực hiện này giúp cho các đối tượng chính sách và mọi người dân tham gia thực thi hiểu rõ về mục đích, yêu cầu của chính sách; về tính đúng đắn của chính sách trong điều kiện hoàn cảnh nhất định và về tính khả thi của chính sách Qua đó để họ tự giác thực hiện theo yêu cầu quản lý của nhà nước Đồng thời còn giúp cho mỗi cán bộ, công chức có trách nhiệm tổ chức thực thi nhận thức được đầy

đủ tính chất, trình độ, quy mô của chính sách với đời sống xã hội để chủ động tích cực tìm kiếm các giải pháp thích hợp cho việc thực hiện mục tiêu chính sách và triển khai thực thi có hiệu quả kế hoạch tổ chức thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa được giao

Để tham gia quá trình phổ biến, tuyên truyền chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa cần có sự tham gia của: Chủ thể phổ biến, tuyên truyền chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa; Đối tượng được phổ biến, tuyên truyền chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa, là những người thực thi, những người thụ hưởng và cả những đối tượng gián tiếp chịu tác động từ chính sách đã ban hành

Công tác phổ biến, tuyên truyền chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa cần được thực hiện thường xuyên, liên tục, bằng nhiều hình thức như trực tiếp tiếp xúc, trao đổi với các đối tượng tiếp nhận; gián tiếp qua các phương tiện thông tin đại chúng v.v để tăng tính hiệu quả, đồng bộ và toàn diện

Bước 3: Phân công, phối hợp thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy các

giá trị di sản văn hóa

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 21

Thể hiện phân công trên các chủ thể tham gia thực hiện chính sách, gồm (1) Phân công, phối hợp các cơ quan, chính quyền điều hành

- Chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa là chính sách công được thực thi trên phạm vi không gian rộng lớn, tối thiểu cũng là một địa phương vì thế số lượng các đối tượng cá nhân và tổ chức tham gia thực thi chính sách là rất lớn Số lượng tham gia bao gồm các đối tượng tác động của chính sách, công dân thực hiện và bộ máy tổ chức thực thi của nhà nước

- Các hoạt động nhằm thực hiện mục tiêu của chính sách diễn ra cũng hết sức phong phú, phức tạp theo không gian và thời gian

Bởi vậy, muốn tổ chức thực thi chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa có hiệu quả phải tiến hành phân công, phối hợp giữa các cơ quan quản

lý ngành, các cấp chính quyền địa phương, các yếu tố tham gia thực thi chính sách

và các quá trình ảnh hưởng đến thực hiện mục tiêu chính sách Cụ thể như ở Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch được phân công là cơ quan chủ trì quản lý, tham mưu cho Chính phủ ở cấp Trung ương; Sở VHTTDL các tỉnh thành là cơ quan chuyên môn chủ trì thực hiện ở cấp tỉnh, Phòng Văn hóa và Thông tin chủ trì thực hiện công tác này ở cấp huyện, quản lý cả địa bàn cơ sở Bên cạnh đó còn cần phải phân công rõ ràng các cơ quan phối hợp thực hiện công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa, vì xét trên bình diện tổng thể, có nhiều chính sách khác (giáo dục, y tế, tôn giáo, dân tộc, công nghiệp, du lịch,…) có liên quan và tác động đến chính sách này, ngược lại, để thực hiện tốt công tác bảo tồn và phát huy các giá trị

di sản văn hóa thì cần phải huy động toàn xã hội cùng tham gia

(2) Phân công, phối hợp các đối tượng thực hiện

Chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa trong quá trình thực

hiện sẽ tác động đến lợi ích của các bộ phận dân cư theo các hướng khác nhau Có

bộ phận được hưởng lợi nhiều, có bộ phận được hưởng lợi ít Do đó, để cho chính sách thực hiện được đúng mục tiêu quản lý thì cần phải phối hợp các yếu tố, bộ phận, đối tượng tác động và liên quan đến nhau

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 22

Bước 4: Duy trì chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị di sản

Duy trì chính sách là toàn bộ hoạt động đảm bảo cho chính sách phát huy tác dụng trong đời sống chính trị xã hội Để thực hiện tốt việc duy trì chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị di sản thì đòi hỏi các bên liên quan phải duy trì đảm bảo các điều kiện để các kế hoạch triển khai thực hiện chính sách được thực thi có hiệu quả Cơ quan chủ trì tổ chức thực hiện các chương trình, kế hoạch bảo tồn, phát huy

di sản phải chủ động cụ thể hóa nội dung triển khai bằng các văn bản mang tính pháp lý – qui định rành mạch, hợp lý trách nhiệm, quyền hạn của các chủ thể thực hiện; tránh tình trạng lẫn lộn quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ của các chủ thể thực hiện Cơ quan phối hợp phải có trách nhiệm cao trong thực hiện các nhiệm vụ được phân công, đảm bảo kết nối thông tin hai chiều để phản hồi kết quả thực hiện, kịp thời xử lý những vấn đề phát sinh, điều chỉnh phù hợp trong lộ trình kế hoạch Bên cạnh đó, cần có sự tham gia của nhân dân, cụ thể đối với chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa thì phải có sự tham gia thực hiện của cộng đồng dân tộc – chủ thể nắm giữ di sản đó và các tầng lớp nhân dân Trong quá trình duy trì chính sách, việc quan trọng hơn cả là cần đảm bảo các điều kiện nguồn lực và nhân lực thực thi các nhiệm vụ, nếu không đảm bảo được yếu tố này, chính sách có nguy

cơ cao không đạt được mục tiêu đề ra, thậm chí không thực hiện được

Bước 5: Điều chỉnh chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa

Là một hoạt động cần thiết diễn ra thường xuyên trong tiến trình tổ chức thực thi chính sách công để cho chính sách ngày càng phù hợp với yêu cầu quản lý và tình hình thực tế

Cơ quan nhà nước các ngành, các cấp - chủ thể thực hiện chính sách bảo tồn

và phát huy các giá trị di sản cần phải thường xuyên nắm bắt kết quả thực hiện ở từng giai đoạn của các chương trình, kế hoạch đã triển khai, kịp thời phát hiện những khó khăn, bất cập, những vấn đề phát sinh để chủ động điều chỉnh biện pháp,

cơ chế chính sách nhằm thực hiện có hiệu quả chính sách Trong quá trình này, phải đặc biệt lưu ý là việc điều chỉnh không làm thay đổi mục tiêu chính sách

Thẩm quyền điều chỉnh chính sách thuộc về cơ quan ban hành chính sách quyết định điều chỉnh

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 23

Bước 6: Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy

các giá trị di sản văn hóa

Đây là việc bắt buộc phải làm để chính sách được kịp thời bổ sung, hoàn thiện Đồng thời cũng kịp thời phát hiện những vi phạm trong công tác tổ chức thực hiện chính sách, có những biện pháp chấn chỉnh để nâng cao hiệu quả thực hiện mục tiêu chính sách Tránh tình trạng kế hoạch, chương trình được ban hành ồ ạt nhưng đến khi đánh giá kết quả thì lại không đạt, chính vì thiếu kiểm tra, theo dõi, đôn đốc nên chính sách bị buông trôi, không thực hiện hoặc thực hiện chiếu lệ, không đến nơi đến chốn

Bước 7: Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm thực hiện chính sách bảo tồn và

phát huy các giá trị di sản văn hóa

Là bước cuối cùng không thể bỏ qua trong chu trình tổ chức thực hiện chính sách Trên cơ sở nội dung các kế hoạch, chương trình đã ban hành triển khai và những nội qui, qui chế đã ban hành để quy định những nguyên tắc tổ chức thực hiện chính sách, cơ quan nhà nước – chủ thể quản lý, thực thi chính sách cần tổ chức đánh giá kết quả thực hiện nhằm thấy được hiệu quả của chính sách đạt đến đâu và

có những định hướng cho giai đoạn tiếp theo Qua đánh giá toàn diện trên các mặt công tác chỉ đạo điều hành, công tác phối hợp, việc bố trí nguồn lực, trang thiết bị, kinh phí thực hiện chính sách, trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân được phân công thực hiện từng nhiệm vụ và cả sự đồng thuận, hưởng ứng tham gia của các chủ thể hưởng lợi từ chính sách có đạt kết quả như mong đợi hay không; đánh giá những kết quả thành tựu, hạn chế, nguyên nhân, rút ra bài học kinh nghiệm, định hướng giải pháp tiếp theo, tuyên dương khen thưởng những điển hình tích cực trong tổ chức thực hiện, kịp thời khắc phục những hạn chế, yếu kém, điều chỉnh chính sách cho phù hợp

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 24

Tiểu kết Chương 1

Ở Chương 1, luận văn đã khái quát một số khái niệm có liên quan đến đề tài từ

cơ sở khoa học về chính sách công, chính sách văn hóa như một thực thể của chính sách công, chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa như một thành tố của chính sách văn hóa, các khái niệm về di sản văn hóa, về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa, vai trò của việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa, chủ thể và các bước thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa ở Việt Nam

Nội dung chương 1 nhằm hệ thống cơ sở lý luận về thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa ở Việt Nam hiện nay, tạo tiền đề lý luận để phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp ở những chương sau

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 25

Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA CỦA DÂN TỘC CHĂM

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH AN GIANG

2.1 Giới thiệu chung về tỉnh An Giang, di sản văn hóa của dân tộc Chăm

và một số yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy

di sản văn hóa của dân tộc Chăm trên địa bàn tỉnh An Giang

2.1.1 Giới thiệu chung về tỉnh An Giang

An Giang là tỉnh nằm ở phía Tây Nam của tổ quốc, là vùng đất đầu nguồn sông Cửu Long; là trung tâm kinh tế thương mại và là cửa ngõ giao thương giữa vùng đồng bằng sông Cửu Long với các nước thuộc tiểu vùng sông Mê Kông, như Campuchia, Lào, Thái Lan… cùng với lợi thế vùng biên giới, cảnh quan, khí hậu, văn hóa dân tộc có nhiều điểm thuận lợi và hấp dẫn, nên An Giang đang từng bước trở thành trung tâm thương mại và du lịch ở đồng bằng sông Cửu Long

Tỉnh An Giang có 11 đơn vị hành chính cấp huyện trực thuộc, bao gồm 2 thành phố, 1 thị xã và 8 huyện với 156 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm 21 phường, 16 thị trấn và 119 xã An Giang có 18 xã đặc biệt khó khăn và 12 ấp đặc biệt khó khăn thuộc 10 xã, trong đó có 8 xã khu vực III và 10 xã biên giới theo Quyết định 900/QĐ-TTg ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Thủ Tướng chính phủ và Quyết 414/QĐ-UBDT ngày 11/7/2017 của Ủy ban Dân tộc

Dân số toàn tỉnh (năm 2018) là 2,164 triệu người với 543.764 hộ; có 119.219 người dân tộc thiểu số, với 28.481 hộ, chiếm 5,26% so dân số cả tỉnh Ngoài dân tộc Kinh chiếm đa số, còn có 28 dân tộc thiểu số; có 03 dân tộc thiểu số

có dân số khá đông là Khmer, Chăm và Hoa; trong đó, dân tộc Khmer 93.717 người (chiếm 4,2% so dân số cả tỉnh); dân tộc Chăm 15.327 người (chiếm 0,67% so dân

số cả tỉnh); dân tộc Hoa 10.079 người (chiếm 0,38% so dân số cả tỉnh); còn lại là 25 dân tộc thiểu số khác (gồm Mường, Nùng, Tày, Thái, Ê Đê, Raglay, Xtiêng, Cơ Tu ) sinh sống rải rác trên địa bàn; mỗi dân tộc thiểu số ở An Giang đều có đặc điểm riêng

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 26

Đồng bào dân tộc Khmer định cư lâu đời ở An Giang, phần lớn sống tập trung nhiều nhất ở huyện Tri Tôn và Tịnh Biên; có tập quán canh tác nông nghiệp vùng cao dựa vào tự nhiên, chăn nuôi gia đình, làm thuê theo mùa vụ; đồng bào Khmer thường sống tập trung theo từng phum, sóc liền kề chân núi thuộc vùng Bảy Núi, vùng đất giồng, gò cao; có quan hệ khá chặt chẽ với thân nhân, dòng tộc ngoài nước như Campuchia, Thái Lan ; đồng bào Khmer theo Phật giáo Nam tông, đời sống văn hoá tinh thần và các thiết chế cộng đồng gắn với nhà chùa, (toàn tỉnh có

66 chùa Khmer); lực lượng sư sãi có uy tín cao trong cộng đồng dân tộc Khmer, có vai trò điều hòa các mối quan hệ, tạo sự đoàn kết, gắn bó mọi người trong cộng đồng, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, xây dựng phum, sóc ngày một tiến bộ Hiện tại có 66 chùa Phật giáo Nam tông Khmer

Dân tộc Chăm sống tập trung ở huyện An Phú và thị xã Tân Châu; số còn lại sống rải rác ở các huyện Châu Phú, Châu Thành; theo đạo Hồi giáo Islam, sinh hoạt tôn giáo ở các thánh đường và tiểu thánh đường; phần lớn đồng bào Chăm sống bằng nghề mua bán nhỏ, chăn nuôi, dệt vải, thêu đan, chài lưới, đánh bắt thuỷ sản Các hoạt động giao lưu văn hóa, thể thao, du lịch, hành hương, du học… được duy trì, phát triển, góp phần đẩy lùi nhiều hủ tục lạc hậu Hiện tại An Giang có 12 thánh đường, 16 tiểu thánh đường và 01 Ban Đại diện cộng đồng Hồi giáo tỉnh

Dân tộc Hoa sống xen kẽ với người Kinh ở các trung tâm đô thị; đa số theo đạo phật, tín ngưỡng dân gian; phần lớn là kinh doanh thương mại, sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, nên có đời sống vật chất ổn định và không ngừng phát triển Quan hệ trong cộng đồng thể hiện nét đặc trưng về dòng tộc, họ (theo gia phả), đồng hương (theo ban, hội…) Tỉnh có 19 miếu; 03 Hội tương tế người Hoa ở thành phố Long Xuyên, Châu Đốc và thị xã Tân Châu, với nhiều hoạt động giao lưu văn hóa, văn nghệ khá phong phú, đa dạng [5, tr 2,3]

Tỉnh An Giang hiện có 86 di tích được xếp hạng, trong đó có 02 di tích Quốc gia đặc biệt, 28 di tích quốc gia, 56 di tích cấp tỉnh, 06 di sản văn hóa phi vật thể đã được lập hồ sơ khoa học để đưa vào danh mục di sản phi vật thể của quốc gia (Phụ lục 2, 3, 4, 5)

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 27

An Giang có nhiều di tích lịch sử - văn hoá nổi tiếng như: lăng Thoại Ngọc Hầu, miếu Bà Chúa Xứ và chùa Tây An (ở thành phố Châu Đốc), nơi ra đời đạo Bửu Sơn Kì Hương (ở xã Thới Sơn, huyện Tịnh Biên), Bửu Hương Tự và căn cứ địa Láng Linh (ở xã Thạnh Mỹ Tây, huyện Châu Phú), nơi khai sáng đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa (ở địa phận các xã Ba Chúc, Lương Phi và Lê Trì, huyện Tri Tôn), làng Hoà Hảo (thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân) nơi phát nguyên đạo Phật giáo Hòa Hảo, và hệ thống thánh đường (Masjid) của cộng đồng Chăm theo Hồi giáo Islam Ngày nay, bên cạnh cộng đồng người Việt, người Hoa, người Khmer, cộng đồng người Chăm cũng đã trở thành bộ phận dân cư chính mang nhiều nét văn hoá đặc sắc riêng trong sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội của tỉnh An Giang

2.1.2 Khái quát về cộng đồng dân tộc Chăm ở tỉnh An Giang

Trước đây, các nhà khoa học thường gọi người Chăm ở tỉnh An Giang bằng nhiều thuật ngữ khác nhau như: Chăm Châu Đốc, Chăm Châu Giang, Chăm Hồi giáo… Do đó, để thống nhất cách gọi, các nhà nghiên cứu sử dụng thuật ngữ Chăm Islam để chỉ người Chăm theo đạo Hồi chính thống Người Chăm Islam ở An Giang được hình thành từ hai nguồn chủ yếu: từ Trung Bộ di cư vào và một phần khác không nhỏ từ Campuchia sang định cư vùng đất Tây Nam Trong quá trình định cư, người Chăm Islam ở An Giang đã hình thành 4 nhóm:

Nhóm thứ nhất, nhóm người có nguồn gốc từ bán đảo và các quần đảo

Malaysia, Indonesia, được gọi là Chăm Chà-và (Chăm Java, Chăm Chvea, Chăm Java), tức người Chăm nói tiếng Mã Lai và người Java Kur - người Hồi giáo nói tiếng Khmer Người Chăm Java và người Java Kur là con cháu của những người

Mã Lai đến từ Malaysia, Indonesia Họ kết hôn với phụ nữ người Chăm và người Khmer, con cái của họ nói tiếng Mã Lai, Chăm và Khmer Tất cả họ đều theo Islam giáo (dòng Sunni) Do có sự tương đồng về nguồn gốc Melayu-Polynesian, người Chăm từ Việt Nam và người Java, Mã Lai định cư ở Campuchia; sau đó họ di cư về

An Giang và tạo thành một cộng đồng có chung tín ngưỡng Islam Sunni

Nhóm thứ hai, người Chăm từ Nam Trung Bộ đã di cư xuống Châu Đốc từ

những thế kỉ XVII - XIX Họ sống hòa đồng với người Chăm Nam Bộ, Mã Lai, Java thuộc nhóm 1 và theo Hồi giáo Sunni Họ tự xưng là người Islam dòng Sunni

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 28

Lâu dần họ hòa lẫn tiếng nói cũng như bản sắc văn hóa với người Islam địa phương

Ở nhóm Chăm này, có sự phân biệt để nhận dạng, đó là những tập quán sinh hoạt hàng ngày của họ có mối tương đồng với người Chăm ở Nam Trung Bộ (tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận) Ví dụ như trong ẩm thực, họ không quen ăn các món ăn truyền thống mang đặc trưng văn hóa Mã Lai của người Chăm vùng Châu Giang,

nhưng họ lại thích các món mắm muối làm từ cá đồng (masin ritaong)

Nhóm thứ ba, nhóm người Chăm Tua - là những người gìn giữ và thực hành

những nguyên lý Hồi giáo, cũng như những tập quán trong nghi lễ tín ngưỡng - tôn giáo của ông bà xưa để lại Các tập quán này đều phù hợp với những luật định của Islam chính thống giáo, nhưng mang hơi hướng cổ truyền thể hiện bản sắc Islam giáo của người Chăm Họ sinh hoạt trong những thánh đường Hồi giáo có lịch sử hàng trăm năm kể từ khi người Chăm di cư về khu vực Châu Đốc - An Giang ngày nay

Nhóm thứ tư, nhóm người Chăm Muda - là nhóm cải cách theo xu hướng Ả

Rập hóa Họ rập khuôn theo chính sách tôn giáo của Arabsaudi phát động (giáo phái Sunni), nhưng trong quá trình hành đạo họ loại bỏ hết các tập quán xã hội trong thực hành tôn giáo Islam ở địa phương Từ đó đã tạo nên nét khác biệt trong đời sống sinh hoạt cũng như đặc điểm sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng - tôn giáo giữa người Chăm Tua và Chăm Muda Nhóm Chăm này chiếm một số lượng nhỏ và thường sinh hoạt tôn giáo ở những thánh đường riêng mới xây; đồng thời tách hẳn

ra khỏi hệ thống Hồi giáo cũ ở Nam Bộ

Có thể nói, trải qua bao thăng trầm của lịch sử, do sự phân bố khác biệt nhau về địa bàn cư trú, điều kiện địa lý, môi trường xã hội, nên đặc điểm lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng - tôn giáo của cộng đồng dân tộc Chăm ở Việt Nam không đồng nhất, mà mang tính đặc trưng riêng cho từng khu vực và địa phương Trong đó, có cộng đồng người Chăm Islam ở tỉnh An Giang là một trường hợp điển hình cho sự đa dạng ấy

Văn hoá Việt Nam được hợp thành từ những tinh hoa của nhiều tộc người sống chung cùng một lãnh thổ quốc gia dân tộc Trong đó, văn hoá người Chăm có vai trò ảnh hưởng sâu sắc, bởi tính truyền thống lâu đời và sự độc đáo của nó Hiện nay, người Chăm sống chủ yếu ở khu vực Nam Trung Bộ và Nam Bộ Ở tỉnh An Giang người Chăm với dân số 15.327 nhân khẩu, 3.273 hộ, chiếm 0,67% dân số của

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 29

tỉnh và gần 20% tổng dân số người Chăm ở Việt Nam Họ cư trú ở 5/11 huyện, thị

xã và thành phố của tỉnh An Giang Trong đó, huyện, thị xã có đông người Chăm sinh sống là huyện An Phú và thị xã Tân Châu Ở đó, họ định cư thành từng khu

vực gọi là puk hay palei Thường các palei này nằm dọc theo các con sông và cồn, người Chăm gọi là Koh Nguồn sinh sống chủ yếu của đồng bào Chăm làm nghề

trồng lúa nước, buôn bán nhỏ và đánh bắt thủy sản Họ theo một tôn giáo duy nhất

Đó là Islam giáo, hay còn gọi là đạo Hồi Không biết tự bao giờ tiếng kinh cầu nguyện như những mật ngôn sâu thẳm nối trường liên tưởng từ quá khứ trở về hiện tại Những âm thanh như lời tự tình, thể hiện nỗi khát vọng bất tận của con người mong muốn vượt thoát quy luật tử sinh nghiệt ngã của vạn vật

Nếu như biểu tượng văn hoá Chăm ở miền Trung là các tháp cổ, còn đối với người Chăm Islam ở An Giang thì biểu tượng của họ là các thánh đường Thánh đường có từ rất sớm ở biên giới Tây Nam, Việt Nam Theo bia ký người Chăm ghi lại thì họ đã xây dựng các thánh đường của mình từ thế kỷ XVII Người Chăm gọi

các thánh đường là các Sang magik hay Majip Không gian nội thất bên trong thánh

đường rất rộng, thoáng mát và không có tượng thờ Đặc biệt là mái vòm Qudda - tượng trưng cho vòm trời

Tất cả thánh đường đều được xây dựng ở nơi cao ráo, rộng thoáng tạo sự bề thế, hoành tráng để biểu thị uy lực Nhìn chung, thánh đường người Chăm theo Islam giáo cho ta cảm giác phảng phất sự dung hợp màu sắc nghệ thuật kiến trúc Ả Rập, Malaysia và Indonesia Tuy nhiên, các thánh đường đó đã dung hoà một cách tuyệt vời các ảnh hưởng nói trên và chuyển hoá tài tình thành cái riêng của họ Đó

là tài năng, là trí tuệ của người nghệ sỹ, là bản lĩnh của một dân tộc Phải ngắm nhìn

từ xa cảnh hoàng hôn trong tiếng cầu nguyện, du khách mới cảm nhận hết vẻ đẹp kỳ

ảo của các thánh đường Những thánh đường tọa lạc nơi đó có cái đã gần 300 năm, kiêu hãnh và huyền bí Đây cũng là trung tâm giáo dục và là nơi tiến hành các nghi thức tín ngưỡng - tôn giáo của người Chăm theo đạo Hồi.[34, tr 3-6]

Báo cáo chính trị Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số tỉnh An Giang lần thứ

III năm 2019 số: 01/BC-BCĐ.ĐH, ngày 5/11/2019 của Ban Chỉ đạo Đại hội đại

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 30

biểu các dân tộc thiểu số tỉnh An Giang thống kê dân số người Chăm chiếm 0,67% trong tổng số 2,164 triệu người dân An Giang, được phân bố đều ra các làng Chăm trên địa bàn tỉnh Theo truyền thống, người Chăm sinh sống tập trung trong các Puk

và Palei (tương tự như các xóm, làng của người Việt) An Giang có 9 Palei Chăm là: ParekSabâu (xã Khánh Bình, huyện An Phú), Koh Koi (xã Nhơn Hội, huyện An Phú), Koh Kakia (xã Quốc Thái, huyện An Phú), Pulao Ba (Lama) (xã Vĩnh Trường, huyện An Phú), Koh Kapoah (xã Đa Phước, huyện An Phú), Phũm Soài (xã Châu Phong, thị xã Tân Châu), Mot Churt (xã Châu Phong, thị xã Tân Châu), Katampong (xã Khánh Hoà, huyện Châu Phú), Vĩnh Hanh (huyện Châu Thành) và

01 palei nhỏ ở phường Mỹ Long (TP.Long Xuyên)

Người Chăm An Giang theo đạo Hồi giáo Islam, thánh đường là nơi sinh hoạt tôn giáo của cộng đồng Ở mỗi thánh đường Chăm chính thức thành lập một Ban quản trị thánh đường gồm các thành viên:

- Đứng đầu là Giáo cả: do Hakêm đảm trách, là người quản trị cao nhất ở thánh đường Islam

- 2 Phó Giáo cả: do Naif đảm trách, là phụ tá cho Hakêm, là người thay mặt Hakêm giải quyết công việc khi Hakêm vắng mặt Một người phụ trách công tác xã hội, một người phụ trách công tác tôn giáo

- Ahly: là người phụ trách tiểu thánh đường, giúp việc cho Hakêm

- Bi-lăk (muszin): người làm nhiệm vụ ngâm những câu kêu gọi tín đồ làm lễ vào trưa ngày thánh lễ Islam (thứ sáu hàng tuần)

- Khotip: giảng giải giáo lý cho tín đồ tại thành đường vào ngày thánh lễ thứ sáu hàng tuần

- I-mâm: hướng dẫn tín đồ thực hiện nghi thức cầu nguyện vào ngày thánh lễ, thường là nam tín đồ trưởng thành, am hiểu giáo lý, đạo đức gương mẫu

- Tuôl (Tuan): là giáo viên chăm sóc cho trẻ em người Chăm đọc thánh kinh (mọi tín đồ đều phải biết đọc), phụ trách phổ biến giáo lý cho các môn đệ Thường

là những người có điều kiện đã được học nhiều năm ở các trường Islam ở Mecca

- Ông Seăk: là người chăm sóc dọn dẹp thánh đường sạch sẽ, được tập thể đồng ý tuyển chọn và được hưởng một số hoa lợi tại thánh đường

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 31

* Di sản vật thể

- Kiến trúc Người Chăm An Giang còn thể hiện sự tài hoa, khéo léo trong nghệ thuật kiến trúc độc đáo của mình, đó là các thánh đường Những công trình nghệ thuật này hầu hết đều do người Chăm tự thiết kế, xây dựng hay trùng tu, bảo quản Hiện nay, toàn tỉnh An Giang có 12 thánh đường và 16 tiểu Thánh đường (Ban Đại diện cộng đồng Hồi giáo tỉnh An Giang, 2015), trong đó đáng chú ý nhất phải kể đến là Thánh đường Mubarak ở ấp Châu Giang, xã Châu Phong, thị xã Tân Châu Thánh đường này được

Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là di tích kiến trúc cấp quốc gia ngày vào 12 tháng

12 năm 1986 Đây được xem là một thánh đường có lối kiến trúc tiêu biểu của cộng đồng người Chăm ở An Giang Với những nét kiến trúc nghệ thuật độc đáo, mang đậm màu sắc tôn giáo, thánh đường Mubarak là một trong những thánh đường tiêu biểu cho lối kiến trúc độc đáo của người Chăm Islam ở Việt Nam nói chung và An Giang nói riêng, nó mang dáng dấp của thánh đường Islam trên thế giới Chính vì vậy, Thánh đường này được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là Di tích kiến trúc cấp Quốc gia ngày vào 12 tháng 12 năm 1986 và được công nhận là kiến trúc nghệ thuật vào ngày 05 tháng 12 năm 1989 Thánh đường được xây dựng khá sớm, từ năm 1750 bằng gỗ lợp lá Tính đến nay, thánh đường đã trải qua 04 lần xây dựng và sửa chữa lớn Lần xây dựng gần nhất vào năm 1965, thánh đường được xây mới bằng bê tông cốt sắt, và tồn tại cho đến nay

Nhà ở truyền thống của người Chăm là những ngôi nhà sàn gỗ, có kiến trúc khá độc đáo, mang nét khác biệt so với nhà sàn của người Kinh Tuy nhiên, do quá trình sống nơi đây, với nhiều yếu tố khách quan cùng với điều kiện kinh tế gia đình, ngày nay đa số họ cất nhà gần giống như người Kinh, những nét đặc trưng bị mai một quả là điều đáng tiếc

- Trang phục Trang phục truyền thống của người Chăm nói chung có thiết kế kết hợp với chất liệu vải dệt riêng, tạo nên một nét khá độc đáo, bởi nó làm cho chúng ta dễ nhận ra đó

là trang phục của người Chăm Phụ nữ thường đội khăn hình chữ nhật bằng vải mịn, mỏng, màu trắng (người Chăm Islam ở An Giang thường sử dụng khăn màu trắng,

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 32

nhóm Chăm vùng khác có nhóm sử dụng thêm màu khác Chẳng hạn, Chăm Hroi thường đội khăn màu chàm) thêu viền bằng chỉ màu với nhiều họa tiết Khi đội khăn,

họ thường phủ trên mái tóc hoặc quấn gọn trên đầu hay quấn theo hình chữ nhân Khi mặc lễ phục, phụ nữ Chăm đội khăn lớn (có loại dài 23 m) với hoa văn đa dạng đỏ, trắng, vàng theo bố cục dải bang được quàng từ đầu phủ xuống kín hai vai, chéo xuống hông với chiếc áo dài màu trắng Váy của phụ nữ Chăm thường có màu nền là tím đỏ, kết hợp hài hòa với các màu khác như: xanh biếc, vàng mơ hoặc trắng Trong trang phục của nam dân tộc Chăm vùng Ninh Thuận, người lớn tuổi thường để tóc dài, quấn khăn màu trắng, dệt thêu hoa văn có viền mép hai đầu khăn cũng như các tua vải Họ thường quấn khăn theo hình chữ nhân, hai đầu khăn xuôi theo hướng hai tai (có nhóm quấn gọn trên đầu, chẳng hạn nhóm Chăm Hroi ở miền Trung) Trang phục truyền thống của nam người Chăm là chiếc váy và quần Ở An Giang, nam thường quấn xà rông với các màu nâu, đỏ, tím, xanh lá cây, xanh dương Họ thường

sử dụng vải xà rông của nam giới được dệt theo chiều dọc một dãy hoa văn có màu sắc khác biệt so với màu nền của chiếc xà rông Khi mặc, họ quấn xà rông nhưng phải tính toán sao cho dãy hoa văn này nằm ở phần giữa thân phía sau lưng Một đặc điểm khác về trang phục nam người Chăm là cách thiết kế áo theo kiểu khoét cổ, can thân và nách từ một miếng vải khổ hẹp thẳng ở giữa làm trung tâm của áo cho cả áo ngắn và áo dài Nam của nhóm Chăm Hroi thường mặc áo cánh xẻ ngực màu sáng hoặc tối, cổ tròn cài cúc, viền ở cổ sườn, hai thân trước, gấu áo được trang trí và đính các miếng kim loại hình tròn Ngoài áo ngắn xẻ ngực, nam người Chăm còn có áo dài

xẻ nách màu trắng hoặc đỏ dùng trong các dịp lễ

Ở An Giang, trong lễ cưới, cô dâu mặc áo dài nhung màu đỏ pha tím, dài đến gối, không xẻ hông, đội khăn ren trắng, tóc và hai tai đều cài hoa và trâm cài trên đầu, mang các loại trang sức: vòng vàng, kiềng, nhẫn xuyến còn chú rể mặc chiếc

áo dài truyền thống màu trắng của người Hồi giáo, đầu quấn khăn sà pạnh Tuy nhiên, cũng có khi chú rể không thích đội khăn sà pạnh mà đội nón capé, có hình tròn, không vành, trang trí đẹp mắt Ngoài bộ trang phục truyền thống, nhiều chú rể mặc thêm một áo vest (thường là màu đen)

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 33

Phụ nữ Chăm khi tiếp xúc với khách hoặc khi ra đường đều đội khăn trên đầu

để che kín tóc chứ không phải che mặt như người theo Islam ở Ả Rập Ngày nay, thiếu nữ Chăm ưa thích chiếc khăn đội đầu dệt bằng sợi kim tuyến, sợi bạc chiếu óng ánh, điều này một phần do ảnh hưởng từ Malaysia

Nhìn chung, trang phục của người Chăm An Giang với các sản phẩm dệt hoa văn, họa tiết đa dạng như hình ô vuông, sóng nước, vân mây, bông dâu, lồng đèn, đường kẻ sọc, tinh xảo, mềm mại, duyên dáng được kết hợp hài hòa cùng với chất liệu tơ, vải, kỹ thuật dệt truyền thống với nhiều công cụ riêng, trải qua nhiều công đoạn, mất nhiều thời gian của quy trình sản xuất đã tạo nên nét độc đáo, mang đậm bản sắc văn hóa Chăm [44, tr 36, 37]

*Di sản văn hóa phi vật thể dân tộc Chăm:

Nghi lễ vòng đời là di sản văn hóa phi vật thể đặc trưng của đồng bào Chăm

An Giang phản ảnh đầy đủ nét sinh hoạt văn hóa truyền thống Tất cả những nghi lễ

từ lúc sinh đến lúc trưởng thành và mất đi đều mang những dấu ấn đặc sắc của tôn giáo, chế độ mẫu hệ Đám cưới người Chăm An Giang luôn là đề tài hấp dẫn trong phục dựng tái hiện những nghi lễ đặc trưng nhất của người dân tộc Chăm, từ trang phục cho đến cách tiến hành nghi lễ, ẩm thực, tín ngưỡng

Tiếng nói, chữ viết: Người Chăm An Giang ảnh hưởng của Đạo hồi do đó,

ngôn ngữ nói và viết cũng có sự liên hệ mật thiết Ngữ hệ Ả Rập, học kinh Coran Kết quả khảo sát cho thấy, ở các Thánh đường Chăm đều duy trì việc dạy chữ Chăm cho đồng bào vào các buổi tối Ban quản trị Thánh đường cử những người

am hiểu để giảng dạy chữ cho các em Ở thánh đường ấp Khánh Mỹ, xã Khánh Hòa, huyện Châu Phú có 5 lớp giảng dạy chữ viết, trong đó phân các cấp độ cụ thể, đồng thời tùy theo mỗi lứa tuổi mà phân ra nam nữ ngồi chung Giáo viên nữ chịu trách nhiệm dạy cho các em nữ trên 11 tuổi Ngoài việc học chữ, các em còn được dạy nhiều phong tục, cách ứng xử theo những giáo lý từ kinh Coran Việc học chữ

là tự nguyện, tuy nhiên qua khảo sát cho thấy nhu cầu học chữ Chăm tại các Thánh đường tương đối đông Đặc biệt, ở ấp Đồng Ky xã Quốc Thái có lớp dạy chữ Chăm tại nhà riêng của Thầy Về kinh phí lớp học, hầu như không đóng học phí mà do Thánh đường tài trợ Đối với các gia đình có điều kiện có thể bồi dưỡng học phí cho

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 34

người dạy Người Chăm chia thành nhiều bộ phận khác nhau, họ có thể nói tiếng Chăm, có thể hiểu 1 phần ngôn ngữ Mã Lai, Khmer…

Ca dao, tục ngữ, hò vè: Đây là loại hình di sản văn hóa phi vật thể có nguy cơ bị

mai một rất cao vì theo quy định khắt khe của Đạo Hồi hạn chế ca hát, nhảy múa, vì vậy mà loại hình này ít còn tồn tại đối với người Chăm Qua khảo sát còn lại một vài nghệ nhân lớn tuổi còn biết một vài bài bản hát ru, tuy nhiên, điệu hát có 1 số từ Chăm

cổ nên thế hệ trẻ không hiểu hết lời bài hát Vấn đề này cần kí âm lại, duy trì và gìn giữ

để loại hình trên không bị mai một

Ẩm thực Chăm rất phong phú và đa đạng, chịu ảnh hưởng sâu sắc của những

quy định cấm kỵ trong tôn giáo Người Chăm Islam không ăn những thức ăn mà không do họ tự tay giết mổ hoặc đã được thực hiện nghi lễ tôn giáo trước khi chế biến Thịt heo và rượu, bia là những thực phẩm cấm kỵ

Một số món ẩm thực chăm tiêu biểu là cơm nị, cari , tung lò mò, cơm bò; Các

loại bánh dân gian Haklinba (bánh quai vạc), Hacho (bánh rế), Haco (bánh bò

nướng) rất được du khách ưa chuộng thưởng thức [xem Phụ lục 1]

Âm nhạc, nghệ thuật truyền thống của người Chăm Islam ở An Giang

Âm nhạc của người Chăm Islam ở An Giang không phong phú như người Chăm ở miền Trung, chỉ có bộ gõ là Trống Rap-bà-nà, được sử dụng trong các nghi

lễ tôn giáo, các diễn xướng nghệ thuật dân gian

Múa, hát không được khuyến khích theo quy định tôn giáo nên nhiều năm liền phong trào văn hóa văn nghệ trong vùng đồng bào Chăm ở An giang không phát triển Hiện nay, các nhạc sĩ trong tỉnh đã nỗ lực nghiên cứu và sáng tác nhiều ca khúc phù hợp với âm sắc trong văn hóa tín ngưỡng của dân tộc Chăm, lực lượng nghệ sĩ, biên đạo múa, đạo diễn của tỉnh đã biên soạn nhiều điệu múa Chăm Qua

đó nhiều tác phẩm nghệ thuật hát múa đã được hình thành, góp phần phát triển và chuyển biến lớn trong sinh hoạt tinh thần, hưởng thụ văn hóa của đồng bào Chăm ở

Trang 35

Nghề dệt đồng bào Chăm An Giang:

Nghề dệt của người Chăm , đặc biệt là dệt thổ cẩm còn được duy trì và phát triển khá tốt Các sản phẩm thường dệt là váy, áo, khăn đội đầu, xà rông đủ các màu sắc, hoa văn, họa tiết khác nhau như sóng nước, vân mây, ô vuông, kẻ sọc, lồng đèn, bông dâu rất đẹp mắt và được ưa chuộng cả trong và ngoài nước

Làng nghề dệt hiện còn ở xã Châu Phong, thị xã Tân Châu, là một địa chỉ thu hút khách du lịch khá tốt Tuy nhiên hiện trạng hiện nay chỉ còn 03 hộ giữ nghề dệt thổ cẩm truyền thống Số còn lại đã theo xu hướng sản xuất công nghiệp nên nghề dệt

đã có nhiều biến đổi

Lễ hội truyền thống dân tộc Chăm An Giang:

Đồng bào Chăm An Giang rất tôn sùng tôn giáo, luôn hướng về Thánh Alla, vị Thánh của đạo Islam Mỗi ngày 5 lần, đúng thời gian đồng bào người Chăm sẽ hướng về các thánh đường để cầu nguyện; trong đó, ngày thứ 6 là ngày cầu nguyện quan trọng nhất Các tín đồ tập trung ở thánh đường lớn, cùng các vị giáo cả đứng lên đọc về giáo lý Islam, nghe khuyên răn về việc chấp hành tốt tôn giáo, pháp luật, xây dựng nếp sống văn minh…Bởi mọi người tin rằng, khi thực hiện theo đúng giáo

lý được dạy từ Đấng tối cao thông qua kinh Koran thì mọi điều tốt đẹp sẽ trở thành hiện thực

Mỗi năm đồng bào Chăm An Giang có 3 lễ lớn, các nghi lễ đều liên quan đến tôn giáo Islam: Lễ Ramadam, hay còn gọi là lễ ăn chay kéo dài từ ngày 1 đến hết ngày 30/9 Hồi lịch; Lễ Roja vào ngày 10/12 Hồi lịch, Lễ sinh nhật của Giáo chủ Muhammed vào ngày 12/3 Hồi lịch (hiện ít được tổ chức)

Lễ Ramadan (tháng ăn chay hay tháng nhịn ăn) là một nghi lễ đặc biệt quan trọng của người Chăm theo đạo Islam Khi lễ được diễn ra, dù ngày thường bận bịu đến đâu thì lúc này mọi người cũng tranh thủ quay về quê nhà để thực hiện các nghi thức tôn giáo Tháng chay Ramadan, diễn ra vào tháng 9 lịch Hồi giáo, người Chăm luôn phải giữ mình trong sạch, phải chịu thử thách, phải nhịn mọi thứ vào ban ngày

và chỉ được phép ăn uống vào ban đêm Vào mồng 1 tháng 10 lịch Hồi giáo, nghi lễ

xả chay được người Chăm tổ chức trọng thể, ca hát và mở tiệc để mừng cho mình

và cộng đồng đã qua cuộc thử thách trong suốt tháng Ramadan

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 36

Thánh lễ quan trọng đối với người Chăm là Lễ Hành hương tại Thánh địa Mecca Người hành hương dự tính thời gian sao cho đúng vào ngày 9 tháng 12 Hồi lịch họ phải có mặt tại Thánh địa Mecca Nếu đi trễ qua ngày 10 tháng 12 thì coi như chỉ là đi du lịch, không được phong hàm Hadji Riêng những người ở tại xóm,

ấp, họ tiến hành ăn lễ vào ngày 10 tháng 12 Hồi lịch và thường chung nhau mổ bò,

dê chia đều cho mỗi gia đình trong phạm vi thánh đường

2.1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của dân tộc Chăm trên địa bàn tỉnh An Giang

- Đặc trưng của đối tượng thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy di sản

đề kinh phí, sự ủng hộ của dân chúng còn chưa cao,…

Chăm trên địa bàn tỉnh An Giang chính là UBND tỉnh, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng các sở ban ngành chuyên môn thuộc UBND tỉnh; ở cấp huyện là UBND cấp huyện, các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện, mà chủ lực tham mưu và

tổ chức thực hiện là Phòng Văn hóa và Thông tin cấp huyện; và ở cấp xã là UBND cấp xã, Ban Văn hóa xã hội cấp xã là chủ lực Bên ngoài hệ thống chính quyền là các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, các viện nghiên cứu, các trường đại học, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, các tổ chức phi chính phủ, hiệp hội nghề nghiệp và cả người dân An Giang

Đặc biệt đối tượng thực hiện quan trọng nhất cũng chính là đối tượng thụ hưởng thụ lợi ích từ chính sách này, đó là cộng đồng đồng bào dân tộc Chăm trên địa bàn tỉnh An Giang Đặc trưng cơ bản của đối tượng này là những ảnh hưởng từ quy định tôn giáo nghiêm ngặt, khiến cho hoạt động bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của họ khó có điều kiện tiếp cận hơn

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 37

- Năng lực thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của cán

bộ, công chức trong bộ máy quản lý nhà nước

Các di sản văn hóa có những đặc trưng, đặc thù riêng biệt; cần có những nhận thức nhất định trong bảo tồn và phát huy chúng Nếu nhận thức không đúng đắn, không có kiến thức về vấn đề này thì sẽ dẫn đến việc thực hiện chính sách sẽ không

có hiệu quả và trong một số trường hợp, có thể gây ra việc phá hủy/làm hỏng các di sản văn hóa Chẳng hạn như, trong thời gian vừa qua, một số di sản văn hóa vật thể, trong quá trình trùng tu, tôn tạo, đã bị làm mới, hiện đại hóa

Vấn đề này ở An Giang cũng là một hạn chế trong thực trạng thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa các dân tộc trên địa bàn tỉnh, trong đó đối với di sản văn hóa Chăm, năng lực thực hiện công tác này của đội ngũ cán bộ, công chức còn bộc lộ những hạn chế cần được nhìn nhận, đánh giá một cách thấu đáo, như vấn đề cơ cấu cán bộ người dân tộc Chăm trong hệ thống còn quá ít, số lượng cán bộ công chức lĩnh vực văn hóa còn quá mỏng ở cấp huyện, vấn đề về kiến thức,

kỹ năng của đội ngũ thực thi trong nhận diện di sản, hoạch định kế hoạch, triển khai hoạt động bảo tồn, phát huy di sản,… vẫn còn những yếu kém nhất định

- Điều kiện vật chất cần cho quá trình thực hiện chính sách bảo tồn và phát

huy di sản văn hóa

Việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa cần có các nguồn lực vật chất để thực hiện, ví dụ như với các di sản văn hóa vật thể, chúng ta cần kinh phí để trùng tu, bảo quản, chống xuống cấp; với di sản văn hóa phi vật thể, cần tổ chức các lớp học để trao truyền các giá trị tinh thần; cần tuyên truyền đến người dân,…

địa bàn tỉnh An Giang, điều kiện về nguồn lực vẫn luôn là bài toán khó Kinh phí

ở các cấp để thực hiện chính sách này còn hạn hẹp so với nhu cầu hoạt động

- Sự ủng hộ của nhân dân trong tham gia thực thi chính sách bảo tồn và phát

huy các giá trị di sản văn hóa được khẳng định là một nhân tố quan trọng đem lại kết quả thành công của chính sách này Ở lĩnh vực di sản văn hóa, việc thực hiện bảo tồn và phát huy tốt giá trị di sản thì nhân dân không chỉ là đối tượng hưởng lợi

mà chính họ còn có vai trò quan trọng trong thực hiện chính sách Bởi nhân dân vừa

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 38

là chủ thể sáng tạo, nhưng cũng đồng thời là chủ thể chủ yếu thụ hưởng, sử dụng các di sản văn hóa Nếu họ không hợp tác, không có nhận thức về chính sách, về thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa thì có thể các di sản văn hóa không được sử dụng đúng mục đích, không được bảo tồn, phát huy, gây ra hư hỏng, xuống cấp, mai một, mà hiện tượng đã xảy ra ở Việt Nam trong thời gian qua Đối với đồng bào Chăm ở An Giang thì yếu tố này rất quan trọng trong thực thi chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của họ Có nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan, nhưng chung quy lại, thực trạng cho thấy còn rất nhiều tiềm năng để khai thác sự ủng hộ của cộng đồng dân tộc Chăm trong thực hiện công tác này, nhưng cho đến nay, sự tham gia của người dân tộc Chăm trong các hoạt động bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Chăm của các cấp chính quyền tỉnh An Giang thì còn ít so với tiềm năng trong cộng đồng

Ngoài ra, việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa còn phụ thuộc vào môi trường thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa; mối quan hệ giữa các đối tượng thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa; tiềm lực của các nhóm đối tượng thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa… Những yếu tố này cũng đã và đang tác động đến việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của dân tộc Chăm trên địa bàn tỉnh An Giang, sẽ được phân tích rõ hơn trong đánh giá

về thực trạng ở những phần sau

2.2 Thành tựu trong việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của dân tộc Chăm trên địa bàn tỉnh An Giang

Việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy văn hóa của các tộc người thiểu

số nói chung luôn được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước Điều đó thể hiện qua Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” Một trong những tộc người thiểu số có những nét văn hóa dân gian đặc sắc là tộc người Chăm Tộc người Chăm hiện có hơn 160 ngàn người, sống tập trung chủ yếu ở các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Phú Yên, An Giang, TP.HCM và một số tỉnh thành khác, trong đó, người Chăm ở các tỉnh miền Trung chiếm khoảng 80% số người Chăm ở Việt Nam Theo thống kê về

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 39

công tác tôn giáo ở An Giang, toàn tỉnh hiện có 15.327 người Chăm theo Islam giáo, chiếm tỷ lệ 0,67% trong tổng số 2,164 triệu người dân An Giang [4, tr 3] Dù sinh sống xen cư với đồng bào Kinh, người Chăm vẫn giữ được những nét văn hóa đặc trưng của mình

2.2.1 Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách

Đối với các vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa Chăm An Giang, UBND tỉnh An Giang đã có nhiều đề án, dự án thiết thực như Đề án phát triển sản xuất tiểu thủ công nghiệp cho người dân tộc Khmer và Chăm, giai đoạn 2008-2012 (Ban hành kèm theo Quyết định số 1921/QĐ-UBND, ngày 24/9/2008) với mục tiêu Khôi phục và phát triển nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống cho người dân tộc Khmer và Chăm có hướng phát triển; nâng cao chất lượng hàng thủ công, hàng truyền thống; xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu hàng hoá, chú trọng đến việc cải tiến mẫu mã phù hợp thị trường, sản xuất các mặt hàng phục vụ du lịch và có khả năng xuất khẩu; giới thiệu nét đặc trưng bản sắc văn hoá, dân tộc đối với các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp; duy trì bản sắc văn hoá dân tộc truyền thống tại làng nghề và cộng đồng dân tộc Bên cạnh đó, hình thành tuyến du lịch tham quan làng nghề dệt thổ cẩm Chăm (Châu Phong); thêu máy Chăm (Phú Hiệp), đan móc Chăm (Đa Phước, Nhơn Hội); đồng thời, xây dựng cửa hàng giao dịch giới thiệu và trưng bày

và bán sản phẩm tại các làng nghề và ký gởi sản phẩm ở các khu du lịch, nhà hàng, khách sạn trong tỉnh nhằm giới thiệu khách du lịch tiếp cận được với sản phẩm

Năm 1997, sau khi tìm hiểu nguyện vọng của bà con, Sở Công nghiệp tỉnh An Giang quyết định hỗ trợ để khôi phục nghề dệt ở Phũm Soài Hợp tác xã dệt Châu Giang được thành lập Các nghệ nhân, thợ dệt trong làng được tập trung lại để khôi phục làng nghề dệt thổ cẩm và đạt được kết quả khởi sắc, đáng kể Đặc biệt, từ năm

2007, Cục Sở hữu trí tuệ đã cấp Giấy Chứng nhận nhãn hiệu tập thể “Thổ cẩm Chăm An Giang”, tạo điều kiện cho sản phẩm của hợp tác xã phát triển, mở rộng thị trường trong nước và quốc tế Việc xây dựng nhãn hiệu tập thể “Thổ cẩm Chăm An Giang” là bước đột phá để vực dậy làng nghề, giúp cộng đồng dân tộc Chăm vừa lưu giữ được ngành tiểu thủ công nghiệp truyền thống cho thế hệ mai sau vừa tạo việc làm ổn định cho lao động tại địa phương Đồng thời, tỉnh An Giang còn triển

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 40

khai Đề án “Phát triển sản xuất tiểu thủ công nghiệp ”, trong đó phối hợp với Trường Đại học Cần Thơ cải tiến kỹ thuật cho các khung dệt để đảm bảo thao tác nhanh, tăng năng suất lên gấp 3 lần so với trước đây mà vẫn giữ được bản sắc độc đáo nghề truyền thống của thổ cẩm Chăm Islam ở An Giang Đề án đã đầu tư được

100 máy thêu và khung dệt, góp phần làm phong phú thêm sản phẩm như: áo thêu,

đồ cúng Bakana, khăn rua Mat’ra, khăn thuôl có họa tiết, hoa văn độc đáo, được khách hàng ưa chuộng, đưa sản phẩm sang vùng Trung Đông, Pháp, Mỹ Điểm nổi bật của các dòng sản phẩm làm ra là rất sắc sảo, bóng, màu sắc đẹp tự nhiên, bởi vì,

nó đều được nhuộm từ màu của mủ cây, vỏ cây, trái cây khiến du khách nước ngoài rất ngạc nhiên và ưa thích.[44, tr.51]

Năm 2008, Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang phê duyệt Đề án “Phát triển sản xuất tiểu thủ công nghiệp cho người dân tộc Khmer và Chăm, giai đoạn 2008-2012" Đề án đã nêu sự cần thiết phải phát triển nghề tiểu thủ công nghiệp ở người Khmer và Chăm, đề ra cách thức hoạt động thiết thực cho làng nghề dệt truyền thống của người Chăm ở thị xã Tân Châu, huyện An Phú và Phú Tân, An Giang [44, tr.51]

Ngày 17 tháng 2 năm 2007, UBND tỉnh ký ban hành Chương trình số UBND về việc “Bảo tồn và phát triển làng nghề tiểu thủ công nghiệp tỉnh An Giang giai đoạn 2008 - 2010 và tầm nhìn đến năm 2020” Chương trình đã khẳng định vai trò làng nghề truyền thống, trong sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh An Giang, giải quyết việc làm, tạo thu nhập cho nhiều lao động không chỉ mùa vụ mà cả lao động ổn định lâu dài, sản xuất ra nhiều sản phẩm có giá trị cho xã hội, góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc và tăng trưởng kinh tế nông thôn Từ đó, Chương trình

03/CTr-đề xuất một số giải pháp cơ bản để bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh An Giang.[44, tr.51]

Ngành VHTTDL với vai trò chủ lực trong thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của dân tộc Chăm trên địa bàn tỉnh An Giang đã tích cực chủ động có hiệu quả trong công tác triển khai, tổ chức thực hiện công tác bảo tồn

và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc nhằm cụ thể hóa việc thực hiện Nghị quyết Trung ương V (khóa VIII) về giữ gìn và phát huy nền văn hóa Việt Nam tiên tiến

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Ngày đăng: 22/07/2023, 15:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w