Nội dung cơ bản của chính sách phát triển gia đình văn hóa
Chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển gia đình văn hóa đã trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, phản ánh sự quan tâm đến giá trị văn hóa và vai trò của gia đình trong xã hội Qua các thời kỳ, chính sách này không ngừng được điều chỉnh và hoàn thiện nhằm nâng cao chất lượng đời sống văn hóa của các gia đình, góp phần xây dựng một xã hội văn minh và phát triển bền vững.
Nghiên cứu các giai đoạn phát triển của gia đình Việt Nam giúp chúng ta nhận thức rõ hơn về vị trí và vai trò của gia đình trong từng thời kỳ lịch sử Mỗi quốc gia và dân tộc đều có những đặc điểm phát triển riêng, điều này càng làm nổi bật tầm quan trọng của gia đình trong bối cảnh văn hóa và xã hội.
Sự biến đổi của gia đình phản ánh xu thế phát triển của từng giai đoạn lịch sử ở mỗi quốc gia, dân tộc Trình độ văn minh của mỗi thời đại có ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống và cấu trúc chức năng của quan hệ nội bộ trong gia đình, tạo ra những đặc điểm chung và sự biến đổi trong mô hình gia đình.
Trong nền văn minh nông nghiệp, gia đình đóng vai trò là đơn vị sản xuất tự chủ và là nền tảng của xã hội, thể hiện qua triết lý "tề gia - trị quốc - bình thiên hạ" Hôn nhân thường do cha mẹ quyết định, với lợi ích cá nhân phải phục tùng lợi ích của gia đình và gia tộc Người con trai, đặc biệt là con trai trưởng, được coi trọng với quyền hành và quyền lợi lớn Gia đình thường có nhiều thế hệ, với chế độ đa thê và việc ly dị gặp nhiều khó khăn Quy mô gia đình trong giai đoạn này thường lớn, chủ yếu là các gia đình tam đại đồng đường (gồm 3 thế hệ) và tứ đại đồng đường (gồm 4 thế hệ).
Trong nền văn minh công nghiệp, gia đình đã chuyển từ đơn vị sản xuất tự chủ sang một tập hợp những người làm thuê và các nhà quản lý Hôn nhân và gia đình giờ đây trở thành sự lựa chọn tự do của cá nhân, không còn bị áp đặt bởi cha mẹ hay họ hàng Do đó, lợi ích và hạnh phúc cá nhân ngày càng được chú trọng, dẫn đến sự phổ biến của cơ cấu gia đình hai thế hệ và quy mô gia đình ngày càng nhỏ.
Trong nền văn minh hậu công nghiệp, công việc gia đình đã trở nên nhẹ nhàng hơn, giúp con người, đặc biệt là phụ nữ, thoát khỏi những công việc nặng nhọc và năng suất thấp Điều này mang lại cho họ nhiều thời gian hơn để nghỉ ngơi, học tập, giải trí và tận hưởng những khoảnh khắc bên gia đình.
Gia đình Việt Nam hiện nay đang chịu ảnh hưởng từ ba nền văn minh lớn, cùng với văn hóa phương Đông và văn hóa Đông Nam Á Ngoài ra, nhiều tôn giáo lâu đời như Đạo Phật, Thiên Chúa giáo và Đạo Hồi cũng góp phần hình thành nên bản sắc văn hóa gia đình Việt.
Nghiên cứu về gia đình ở Việt Nam đã phân chia thành 5 giai đoạn phát triển: gia đình truyền thống trước thời kỳ Pháp xâm lược, gia đình thời Pháp thuộc, gia đình trong cách mạng dân tộc dân chủ chống Pháp và chống Mỹ, gia đình thời kỳ cải tạo XHCN, và gia đình hiện nay trong thời kỳ đổi mới Mỗi giai đoạn được xác định dựa trên các đặc điểm xã hội và ảnh hưởng đến cấu trúc gia đình trong từng thời kỳ lịch sử cụ thể.
Hiện nay, Việt Nam có hai mô hình gia đình chính: Gia đình 2 thế hệ, hay còn gọi là gia đình kiểu hạt nhân, bao gồm cha mẹ và con cái; và Gia đình nhiều thế hệ, trong đó có từ 3 thế hệ trở lên cùng chung sống.
Dựa vào số lượng con trong gia đình, có thể phân loại gia đình thành hai loại: gia đình quy mô nhỏ với từ 1 đến 2 con và gia đình quy mô lớn với từ 3 đến 4 con trở lên.
Dựa vào sự hiện diện của cha hoặc mẹ, gia đình có thể được phân loại thành hai loại: gia đình đầy đủ với cả cha lẫn mẹ, và gia đình không đầy đủ chỉ còn một trong hai bậc phụ huynh do góa bụa hoặc ly hôn.
Gia đình Việt Nam hiện nay đang trải qua sự biến đổi do tác động của các chuyển biến xã hội, nhưng vẫn giữ lại những đặc trưng truyền thống Sự thay đổi này cho thấy khả năng thích nghi của gia đình Việt Nam với những điều kiện mới, đồng thời kế thừa các giá trị văn hóa cốt lõi.
1.2.1.2 Mục tiêu của chính sách
Chính sách gia đình bao gồm các yếu tố tâm lý, tình cảm xã hội và mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, được hình thành từ tình cảm và trách nhiệm của mỗi người Việc xây dựng gia đình theo tiêu chí "no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc" không chỉ mang lại sự phát triển toàn diện cho từng gia đình mà còn tạo ra nền tảng vững chắc cho xã hội.
Chiến lược mục tiêu chung hiện nay là xây dựng gia đình Việt Nam no ấm, tiến bộ và hạnh phúc, thực sự là tổ ấm của mỗi người, đồng thời là tế bào lành mạnh của xã hội Ba mục tiêu cụ thể của chiến lược này bao gồm:
Để xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, cần phát huy vai trò của mỗi gia đình và nâng cao nhận thức trách nhiệm của từng thành viên trong việc thực hiện các chính sách về hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, và phòng, chống bạo lực gia đình Đến năm 2020, mục tiêu đạt 95% hộ gia đình được tuyên truyền về pháp luật hôn nhân và gia đình, cam kết thực hiện các chủ trương, chính sách liên quan Đồng thời, cần trang bị kiến thức cơ bản về gia đình cho nam, nữ thanh niên trước khi kết hôn, đảm bảo không có thành viên nào trong gia đình mắc tệ nạn xã hội hay tham gia vào tảo hôn.
Quy trình thực hiện chính sách phát triển gia đình văn hóa
1.3.1 Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách phát triển gia đình văn hóa
Bộ VHTT&DL và Hội LHPN Việt Nam đã triển khai kế hoạch và chương trình phối hợp đa dạng, đặc biệt chú trọng đến các hoạt động liên quan đến văn hóa và gia đình.
Xây dựng kế hoạch tổ chức giao lưu văn hóa, văn nghệ với các cấp Hội, đặc biệt là cấp Hội cơ sở, nhằm tuyên truyền các chủ trương và chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước về văn hóa Các hoạt động này sẽ được thực hiện trong các lớp tập huấn và buổi sinh hoạt của các cấp Hội.
Tổ chức các hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của từng dân tộc và vùng miền trên toàn quốc Đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” và thực hiện nếp sống văn minh trong các nghi lễ như cưới, tang và lễ hội Phát triển văn hóa đọc và xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh nhằm nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho các cấp hội và hội viên Hội phụ nữ.
Hàng năm, chúng tôi tổ chức kỷ niệm các ngày lễ quan trọng như Ngày Quốc tế Hạnh phúc (20/3), Ngày Quốc tế Gia đình (15/5), Ngày Gia đình Việt Nam (28/6), và Ngày Thế giới xóa bỏ mọi hình thức bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em (25/11) Ngoài ra, Tháng Hành động Quốc gia phòng, chống bạo lực gia đình được triển khai với nhiều hình thức phong phú, đa dạng, phù hợp với chủ đề hoạt động từng năm.
Tổ chức các lớp tập huấn và truyền thông nhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng và hạnh phúc Thực hiện bình đẳng giới trong gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình là những mục tiêu quan trọng Đồng thời, lồng ghép giáo dục đời sống gia đình vào các buổi sinh hoạt chuyên đề cho cán bộ Hội, tạo dựng môi trường an toàn, tin cậy và yêu thương trong gia đình và cộng đồng.
Tiếp tục củng cố và nhân rộng các mô hình câu lạc bộ gia đình hạnh phúc, địa chỉ tin cậy ở cộng đồng
Phối hợp tổ chức triển khai hiệu quả Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam và các Đề án thành phần Triển khai thí điểm Bộ tiêu chí ứng xử trong gia đình qua các Câu lạc bộ của Hội liên hiệp Phụ nữ tại địa phương, đồng thời thực hiện Bộ tiêu chí này sau khi được ban hành chính thức.
Phối hợp thực hiện các hoạt động triển khai Nghị quyết số 137/NQ-CP ngày 31/12/2017 của Chính phủ nhằm thực hiện Chương trình hành động theo Nghị quyết số 21-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về công tác dân số trong bối cảnh mới.
1.3.2 Phổ biến, tuyên truyền thực hiện chính sách phát triển gia đình văn hóa
Thực hiện chính sách phát triển Gia đình văn hóa (GĐVH) là trách nhiệm chung của toàn bộ hệ thống chính trị, với sự lãnh đạo tập trung từ Đảng và sự tích cực của chính quyền Cần tuyên truyền Luật Phòng chống bạo lực gia đình (PCBLGĐ) và Luật Hôn nhân và Gia đình (HN&GĐ), đồng thời vận động nhân dân và các gia đình thực hiện đúng các chủ trương, chính sách, bảo đảm quyền lợi và thực hiện dân chủ cơ sở Các cấp, các ngành cần nâng cao tinh thần trách nhiệm, tạo điều kiện cho các gia đình đáp ứng các tiêu chí để được công nhận GĐVH và hoàn thành kế hoạch hàng năm của địa phương.
Việc tuyên truyền đã ảnh hưởng lớn đến nhận thức của người dân và các tổ chức trong việc thực hiện chính sách phát triển gia đình văn hóa (GĐVH) và khu dân cư văn hóa (KDCVH) Nhiệm vụ tuyên truyền và phổ biến giáo dục pháp luật (PBGDPL) đã giúp nâng cao đời sống nhân dân, góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội và ổn định sản xuất Qua đó, nhiều mô hình và cách làm hay đã được nhân rộng, đáp ứng các tiêu chí công nhận GĐVH, KDCVH, đảm bảo hiệu quả thực tiễn trong việc thực hiện chính sách phát triển GĐVH.
1.3.3 Triển khai thực hiện chính sách phát triển gia đình văn hóa
Trong việc tổ chức và thực hiện chính sách xây dựng gia đình văn hóa (GĐVH), sự phối hợp giữa các cơ quan, ngành và cấp là rất quan trọng để nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách Cần xác định rõ tổ chức và cá nhân chủ trì, cũng như trách nhiệm của các bên tham gia trong quá trình thực hiện chính sách.
Bộ VH, TT&DL đã phối hợp với các Bộ như Tư pháp, Tài chính, Giáo dục và Đào tạo, Thông tin và Truyền thông, cùng các cơ quan thuộc Chính phủ và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương để thực hiện các nhiệm vụ chung.
Thực hiện Chỉ thị số 49-CT/TW ngày 21/2/2005 của Ban Bí thư về xây dựng gia đình trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, cùng với Chỉ thị 16/2008/CT-TTg ngày 30/5/2008 của Thủ tướng Chính phủ về triển khai thi hành Luật PCBLGĐ, các cấp, các ngành và đoàn thể đã tích cực tuyên truyền về Luật này.
Luật Hôn nhân và Gia đình cùng với Luật Bình đẳng giới đã được áp dụng để xây dựng các mô hình hoạt động lồng ghép nhằm ngăn chặn bạo lực gia đình (BLGĐ) Các địa phương chú trọng tuyên truyền chính sách pháp luật về phòng chống BLGĐ, tổ chức các cuộc thi và triển lãm nhân Ngày Gia đình Việt Nam (28-6) và Ngày Quốc tế xóa bỏ bạo lực đối với phụ nữ (25-11) Hình thành CLB “Xây dựng gia đình hạnh phúc” giúp nâng cao nhận thức về chính sách dân số và chia sẻ kinh nghiệm xây dựng gia đình theo 4 chuẩn mực: “No ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc” Các cơ quan địa phương cũng triển khai mô hình “Ngày pháp luật” để phổ biến các văn bản pháp luật liên quan Sở Tư pháp các tỉnh tổ chức tập huấn cho báo cáo viên pháp luật và phát hành tờ rơi về bảo vệ trẻ em Phong trào xây dựng gia đình văn hóa đã góp phần tích cực vào việc giảm nghèo và phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy xây dựng làng, thôn, khu phố văn hóa.
1.3.4 Thanh tra, kiểm tra, giám sát việc về thực hiện chính sách phát triển gia đình văn hóa
Thanh tra và kiểm tra nhằm phát hiện các địa phương điển hình và những cách làm hiệu quả trong việc thực hiện pháp luật HNGĐ và PCBLGĐ, cũng như phát triển GĐVH Đồng thời, cần nhận diện các địa phương chưa thực hiện chỉ đạo và giám sát chặt chẽ việc áp dụng pháp luật HNGĐ và chính sách GĐVH, từ đó xây dựng cơ chế chính sách phát triển GĐVH trong tương lai.
Thông qua việc triển khai chính sách và thực hiện thanh tra, kiểm tra, giám sát phát triển gia đình văn hóa (GĐVH), cần nâng cao trách nhiệm và quyền hạn của các cấp chính quyền theo quy định của Luật HNGĐ và Luật PCBLGĐ Điều này nhằm nâng cao năng lực và trách nhiệm của cán bộ, công chức, cũng như các cơ quan chức năng trong việc thực hiện và thi hành chính sách phát triển GĐVH.
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
Các nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách phát triển gia đình văn hóa trên địa bàn huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam
Hiệp Đức là huyện miền núi thuộc tỉnh Quảng Nam, giáp với các huyện Tiên Phước, Phước Sơn, Bắc Trà My, Quế Sơn và Thăng Bình Địa hình huyện có dạng chuyển tiếp giữa trung du và miền núi, với độ cao trung bình từ 200-300m và độ dốc bình quân 16-25 độ Hệ thống sông ngòi phong phú, bao gồm sông Tranh, sông Chang và sông Trường, tạo nên hệ phân thủy lớn hướng về phía sông Tranh Diện tích tự nhiên của huyện là 496,88 km², bao gồm 12 xã và thị trấn, trong đó có các xã như Bình Lâm, Quế Thọ, Quế Bình, và thị trấn Tân An Dân số huyện đạt 39.582 người, với mật độ 80 người/km².
2.1.2 Tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội
Kinh tế, văn hóa và xã hội đang phát triển ổn định với tốc độ tăng trưởng khả quan Cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch đúng hướng, tập trung vào sản xuất hàng hóa gắn liền với thị trường, từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế và tăng thu nhập cho người dân.
Năm 2018 tổng giá trị sản xuất 1.595,83 tỷ đồng, tăng 8,9% so với năm
Năm 2017, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực với tỷ trọng Nông - Lâm - Ngư nghiệp giảm còn 33,63%, trong khi tỷ trọng Công nghiệp - Xây dựng tăng lên 23,07% và Thương mại - Dịch vụ đạt 43,3% Đào tạo nghề cho 500 lao động và tỷ lệ hộ nghèo giảm 5-6% cho thấy sự phát triển bền vững Hạ tầng kinh tế và nông thôn được đầu tư mạnh mẽ, với tổng vốn đầu tư giai đoạn 2016 - 2018 đạt 621,303 tỷ đồng, trong đó 320,143 tỷ đồng cho hạ tầng kinh tế và 301,160 tỷ đồng cho hạ tầng văn hóa, xã hội Thu ngân sách nhà nước năm 2018 đạt 687,8 tỷ đồng, tăng 89,2% so với năm 2016.
Chính quyền địa phương đang nỗ lực giảm nghèo bền vững cho người dân tại 3 xã vùng cao, với mục tiêu đến năm 2025 tỷ lệ hộ nghèo sẽ giảm xuống dưới 5%.
Đến năm 2030, huyện sẽ không còn hộ nghèo và nhà tạm bợ, với công tác giáo dục đào tạo đáp ứng yêu cầu, trong đó có 12/25 trường đạt chuẩn quốc gia và 13/17 thư viện đạt chuẩn Cơ sở vật chất và trang thiết bị trường học được đầu tư chú trọng, với 90,14% thôn, khối phố đạt chuẩn văn hóa Công tác y tế cũng được cải thiện với 01 Trung tâm y tế, 02 phòng khám đa khoa và 10 trạm y tế tại 12 xã, thị trấn, nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ y tế cho mọi tầng lớp nhân dân.
Năm 2020, huyện Hiệp Đức đã vượt qua nhiều khó khăn do dịch bệnh Covid-19 và thiên tai, nhờ vào tinh thần quyết tâm của hệ thống chính trị Tình hình kinh tế - xã hội cơ bản ổn định, với tổng sản lượng lương thực đạt 13.587,7 tấn, tương đương 97,58% kế hoạch tỉnh giao và tăng 102,53% so với năm 2019 Giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng ước đạt 558,5 tỷ đồng, đạt 88%.
Huyện KH đã ghi nhận mức tăng trưởng 9,1% so với cùng kỳ năm 2019, với chất lượng các xã nông thôn mới được duy trì và nâng cao, trung bình đạt 14,1 tiêu chí/xã và không có xã nào dưới 8 tiêu chí Tổng thu ngân sách nhà nước đạt 575.673 triệu đồng, tương đương 135,3% so với dự toán tỉnh giao, trong đó thu phát sinh kinh tế đạt 112,9% so với dự toán UBND huyện Hiệp Đức đã triển khai hiệu quả các chương trình đầu tư và hỗ trợ từ Trung ương và tỉnh, như Chương trình 135 và Nghị quyết 13 về khuyến khích thoát nghèo bền vững, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và cải thiện đời sống của người dân.
Trong 6 tháng đầu năm 2021, kinh tế phát triển ổn định, khắc phục kịp thời hậu quả thiên tai năm 2020; thu phát sinh kinh tế đạt 30% dự toán tỉnh giao Văn hóa, xã hội được chăm lo và có nhiều khởi sắc Tình hình an ninh chính trị trên địa bàn huyện được giữ vững; công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo được thực hiện đúng quy định Thực hiện cải cách thủ tục hành chính, tinh giãn biên chế và sắp sếp, dự nguồn, quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý nhiệm kỳ 2020 - 2025 và
Từ năm 2021 đến 2026, chúng tôi cam kết thực hiện đúng quy trình và theo chỉ đạo của cấp trên Chúng tôi sẽ tổ chức các hoạt động ý nghĩa nhân kỷ niệm 35 năm Ngày thành lập huyện, đồng thời thảo luận chuyên đề về “xây dựng và phát triển đô thị trên địa bàn huyện đến năm 2030, định hướng đến năm 2035”.
Huyện Hiệp Đức đặt mục tiêu thúc đẩy chính sách phát triển gia đình văn hóa (GĐVH) để đáp ứng các tiêu chí yêu cầu Trong thời gian tới, địa phương sẽ hình thành nhiều khu dân cư kiểu mẫu và triển khai các chính sách về gia đình, văn hóa, dân số, an sinh xã hội, đồng thời xây dựng thành công nông thôn mới Điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội thuận lợi đã tạo động lực cho việc thực hiện chính sách GĐVH, nhưng cũng ảnh hưởng đến quá trình triển khai Do đó, cần có sự quyết tâm cao từ các cấp chính quyền và cơ quan chuyên môn để thực thi hiệu quả nhiệm vụ được giao.
Tình hình thực hiện chính sách phát triển gia đình văn hóa trên địa bàn huyện Hiệp Đức
2.2.1 Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách phát triển gia đình văn hóa luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Các cấp, các ngành và chính quyền địa phương đã xây dựng kế hoạch cụ thể để triển khai thực hiện chính sách phát triển GĐVH, đảm bảo tính thiết thực và hiệu quả.
Triển khai thực hiện Chỉ thị 49-CT/TW của Ban Bí thư
Ngay sau khi Ban Bí thư ban hành Chỉ thị 49-CT/TW, Huyện uỷ đã tổ chức Hội nghị quán triệt cho cán bộ chủ chốt và các TCCS đảng, chỉ đạo việc truyền đạt nội dung Chỉ thị đến CB, đảng viên, CC, VC, lao động và nhân dân về công tác gia đình và xây dựng GĐVH trong bối cảnh hội nhập quốc tế Huyện uỷ cũng đã ban hành Chương trình hành động số 25-CT/HU, ngày 07/7/2005, nhằm thực hiện Nghị quyết 47 của Bộ Chính trị về việc đẩy mạnh chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình Kết quả, 100% Đảng bộ xã, thị trấn đã có Chương trình hành động, và 38 chi, đảng bộ cơ quan đã thông qua Nghị quyết thực hiện chính sách DS/KHHGĐ và xây dựng GĐVH.
UBND huyện đã xây dựng Kế hoạch số 76/KH-UBND nhằm thực hiện Nghị quyết 81/NQ-CP của Chính phủ về xây dựng gia đình trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cùng với Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 Kế hoạch này tuân thủ Nghị định số 02/2013/NĐ-CP quy định về công tác gia đình, cũng như Chương trình hành động số 22-CTr/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về thực hiện Nghị quyết 47-NQ/TW liên quan đến chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình Ngoài ra, Kết luận số 287-KL/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy cũng nhấn mạnh việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị 49-CT/TW về xây dựng gia đình trong thời kỳ CNH, HĐH Huyện ủy đã ban hành Công văn số 578 để thực hiện Chỉ thị 39-CT/TU, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác gia đình trên địa bàn tỉnh.
UBND huyện đang tích cực phổ biến và quán triệt Chỉ thị nhằm nâng cao nhận thức và năng lực tổ chức thực hiện công tác gia đình, xây dựng gia đình văn hóa (GĐVH) và khu dân cư văn hóa Các cơ quan, ban, ngành, Mặt trận, hội, đoàn thể được khuyến khích thực hiện Luật Bình đẳng giới, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Phòng chống bạo lực gia đình, Luật trẻ em, Pháp lệnh Dân số, cùng các nghị quyết và quyết định của Trung ương liên quan đến công tác gia đình Huyện cũng tổ chức nhiều hoạt động như hội thảo, hội thi, hội diễn và liên hoan thôn, khối phố GĐVH để thực hiện chính sách phát triển GĐVH.
Triển khai Nghị quyết Trung ương V (khóa VIII) nhằm xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, mang đậm bản sắc dân tộc là một nhiệm vụ quan trọng Nghị quyết này nhấn mạnh việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, đồng thời khuyến khích sự sáng tạo trong văn hóa hiện đại Việc thực hiện các mục tiêu này sẽ góp phần nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc.
TW 9 (khóa XI) về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”
Ban chỉ đạo phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa huyện (BCĐ) được củng cố thường xuyên và tham mưu cho Huyện ủy hợp nhất các cuộc vận động liên quan đến xây dựng đời sống văn hóa BCĐ đề ra các mục tiêu, chỉ tiêu cơ bản và nhiệm vụ giải pháp cụ thể để thực hiện BCĐ cũng tham mưu Kế hoạch triển khai Chương trình hành động số 11 của Huyện ủy về thực hiện Nghị quyết Trung ương V (khóa VIII) nhằm xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Ngoài ra, BCĐ tham mưu HĐND huyện ban hành Nghị quyết số 14 về tiếp tục thực hiện cuộc vận động TDĐKXDĐSVH và Nghị quyết số 32/2013/NQ-HĐND về nâng cao chất lượng phong trào giai đoạn 2013-2016 Cuối cùng, Nghị quyết số 03-NQ/HU của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Hiệp Đức đã định hướng xây dựng và phát triển đô thị đến năm 2030, hướng tới năm 2035.
Tham mưu UBND huyện triển khai các văn bản chỉ đạo lồng ghép với phong trào thi đua yêu nước, phân công các thành viên BCĐ theo dõi địa phương và giao nhiệm vụ cho các ngành, đơn vị liên quan Tổ chức Hội thảo chuyên đề nhằm nâng cao chất lượng phong trào "TDĐKXDĐSVH" và tổng kết các giai đoạn 5 năm, 10 năm thực hiện phong trào Kế hoạch xây dựng thôn văn hóa điểm được ban hành vào năm 2006, với việc tổ chức Liên hoan Thôn, Khối phố văn hóa, Gia đình, Tộc họ văn hóa định kỳ 2 năm một lần Dựa trên Nghị quyết 40/NQ-HĐND ngày 01/8/2017, huyện Hiệp Đức đã khôi phục, bảo tồn và phát huy một số loại hình văn hóa truyền thống trong giai đoạn 2018.
Năm 2021, nhiều tập thể và cá nhân tiêu biểu đã được khen thưởng kịp thời và nhân rộng Ban Chỉ đạo hàng năm xây dựng hướng dẫn, kế hoạch hoạt động và bảng chấm điểm thi đua phù hợp với chỉ đạo cấp trên và tình hình địa phương Đồng thời, Ban Chỉ đạo cũng hướng dẫn các xã, thị trấn xây dựng Quy ước thôn, khối phố văn hóa và chỉ đạo củng cố, kiện toàn Ban Chỉ đạo xã, Ban Vận động xây dựng thôn, khối phố văn hóa.
Các cấp chính quyền địa phương đã xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách phát triển gia đình văn hóa thông qua nhiều văn bản, bao gồm 13 Chương trình hành động của Huyện ủy, Đảng bộ xã, thị trấn; 03 Nghị quyết của HĐND huyện; và 01 Nghị quyết cùng 01 Kế hoạch của UBND huyện.
Trong huyện, đã có 38 nghị quyết của chi, đảng bộ cơ quan liên quan đến việc thực hiện chính sách dân số/kế hoạch hóa gia đình và xây dựng gia đình văn hóa Ngoài ra, còn nhiều văn bản hướng dẫn triển khai thực hiện các chính sách phát triển gia đình văn hóa khác nhau tại các địa phương.
2.2.2 Phổ biến, tuyên truyền thực hiện chính sách phát triển gia đình văn hóa
Từ năm 2005-2020, công tác tuyên truyền và giáo dục về đời sống gia đình đã được triển khai rộng rãi với sự tham gia của nhiều cấp, ngành và đội ngũ tuyên truyền viên Ban Tuyên giáo Huyện ủy đã theo dõi và hướng dẫn việc thực hiện công tác gia đình thông qua các bản tin nội bộ định kỳ Dựa trên đó, các định hướng chỉ đạo được thực hiện, đồng thời theo dõi và phản ánh những vấn đề nổi cộm để kịp thời tham mưu cho cấp ủy UBND huyện đã chỉ đạo các cơ quan chức năng tập trung nâng cao nhận thức về công tác gia đình cho cán bộ và nhân dân.
Bảng 2.1 Kết quả công tác PBGD chính sách phát triển GĐVH trên địa bàn huyện Hiệp Đức giai đoạn năm 2017 đến tháng 6/2021
BCV Đội ngũ TTV Nội dung phổ biến, tuyên truyền
Số lượt người tham dự
Luật PCBLGĐ 2007; Luật HN&GĐ 2014; QĐ số 629/QĐ-TTg ngày 29/5/2012 của TTCP Phê duyệt Chiến lược phát triển GĐ VN đến năm 2020, tầm nhìn 2030; NĐ 02/2013/NĐ-
CP ngày 03/01/2013 của CP quy định về công tác GĐ; NQ số 21-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ 6 BCH
TW Đảng khóa XII về công tác dân số trong tình hình mới
Luật PCBLGĐ 2007; Luật HN&GĐ 2014; Quyết định số 629/QĐ-TTg ngày 29/5/2012 của TTCP phê duyệt chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030;
Luật PCBLGĐ 2007; Luật HN&GĐ 2014; Quyết định số 629/QĐ-TTg ngày 29/5/2012 của TTCP phê duyệt chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030;
Luật PCBLGĐ 2007; Luật HN&GĐ 2014; Quyết định số 629/QĐ-TTg ngày 29/5/2012 của TTCP phê duyệt chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030;
5 6/2021 25 20 Luật PCBLGĐ 2007; Luật HN&GĐ 2.763 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
2014; QĐ số 629/QĐ-TTg ngày 29/5/2012 của TTg CP Phê duyệt Chiến lược phát triển gia đình VN đến năm
Năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã được xác định qua Quyết định số 496/QĐ-TTg, ngày 30/03/2021 của Thủ tướng Chính phủ Quyết định này phê duyệt Đề án Nghiên cứu nhằm xây dựng mô hình tổ chức bộ máy, mạng lưới và cơ chế phối hợp liên ngành trong công tác dân số và phát triển ở các cấp.
Nguồn: Hội đồng phối hợp công tác PBGDPL huyện Hiệp Đức
Huyện đã tổ chức nhiều đợt tập huấn và chiến dịch truyền thông về phòng chống bạo lực gia đình (PCBLGĐ), bình đẳng giới, và dân số - kế hoạch hóa gia đình, thu hút gần 1000 cán bộ, đảng viên và nhân dân tham gia Các cuộc thi tìm hiểu về truyền thống và các văn bản luật mới, bao gồm Luật PCBLGĐ, đã góp phần giáo dục và tuyên truyền pháp luật đến từng cá nhân và gia đình, mang lại hiệu quả thiết thực Ngoài ra, việc hướng dẫn và triển khai các chỉ số về gia đình và PCBLGĐ được thực hiện thường xuyên tại các xã, thị trấn (02 đợt/năm), giúp nắm bắt kịp thời tình hình gia đình và tình trạng bạo lực gia đình ở cơ sở để đề ra giải pháp khắc phục.
UBND các cấp và ngành VH&TT, cùng với Hội Liên hiệp Phụ nữ các xã, thị trấn, thường xuyên tổ chức các buổi họp mặt để biểu dương và khen thưởng những gia đình điển hình trong việc xây dựng gia đình ít con, no ấm, bình đẳng và tiến bộ Họ cũng thực hiện nếp sống văn hóa, thăm hỏi và giúp đỡ các gia đình khó khăn, đồng thời vận động từng cá nhân và cộng đồng tham gia phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" Các quy ước thôn, khối phố và tộc họ văn hóa được phát huy hiệu quả trong việc điều chỉnh mối quan hệ gia đình và giữ gìn các giá trị truyền thống Ngoài ra, các hội thảo và tọa đàm về HNGĐ được tổ chức để trao đổi kinh nghiệm nuôi dạy con cái và chăm sóc người già, củng cố gia đình theo tiêu chí "Mỗi cặp vợ chồng chỉ có một hoặc hai con: no ấm, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc" Các hoạt động văn hóa, văn nghệ và thể thao cũng được tổ chức nhân ngày Quốc tế Hạnh phúc (20/3) và Gia đình Việt Nam (28/6).