1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn) đánh giá hiện trạng chăn nuôi bò sinh sản và ảnh hưởng của bổ sung thức ăn tinh cho bò mẹ sau khi đẻ đến một số chỉ tiêu sinh sản của bò

78 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá Hiện Trạng Chăn Nuôi Bò Sinh Sản Và Ảnh Hưởng Của Bổ Sung Thức Ăn Tinh Cho Bò Mẹ Sau Khi Đẻ Đến Một Số Chỉ Tiêu Sinh Sản Của Bò
Tác giả Phạm Hồng Sơn
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Xuân Bả, Trưởng Khoa Chăn Nuôi Thú Y, Trường Đại học Nông Lâm Huế
Trường học Trường đại học Nông lâm Huế
Chuyên ngành Chăn nuôi Thú Y
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2015
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 1,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (10)
    • 1.1. Tổng quan địa bàn nghiên cứu (10)
      • 1.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ở tỉnh Bình Định (10)
      • 1.1.2. Tình hình chăn nuôi bò ở tỉnh Bình Định (14)
      • 1.1.3. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và tình hình chăn nuôi bò ở xã Tây Giang, tỉnh Bình Định (17)
    • 1.2. Tình hình chăn nuôi bò ở nước ta (20)
      • 1.2.1. Số lượng đàn bò và sản lượng thịt bò (20)
      • 1.2.2. Sự phân bố đàn bò (21)
      • 1.2.3. Quy mô chăn nuôi bò (22)
      • 1.2.4. Chất lượng đàn bò (23)
      • 1.2.5. Những khó khăn, thách thức và cơ hội phát triển trong chăn nuôi bò thịt ở Việt (23)
      • 1.2.6. Định hướng phát triển chăn nuôi bò thịt trong thời gian tới (25)
    • 1.3. Vai trò của chăn nuôi bò sinh sản trong hệ thống chăn nuôi của nông hộ (26)
    • 1.4. Đặc điểm sinh sản của bò cái (27)
      • 1.4.1. Các chỉ tiêu chính đánh giá sinh sản ở bò cái (27)
      • 1.4.2. Các nguyên nhân gây ra tỷ lệ sinh sản thấp (29)
      • 1.4.3. Vai trò của dinh dưỡng đối với bò cái sinh sản (31)
      • 1.4.4. Một số nghiên cứu về kỹ thuật tác động dinh dưỡng để nâng cao năng suất bò (35)
  • CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (39)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (39)
      • 2.3.1. Điều tra cơ bản hệ thống chăn nuôi bò sinh sản (39)
      • 2.3.2. Khảo sát khả năng sinh sản của đàn bò cái và sinh trưởng của bê từ 0- 6 tháng tuổi trong nông hộ ở xã Tây Giang, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định (40)
      • 2.3.3. Thử nghiệm bổ sung thức ăn tinh cho bò cái giai đoạn sau khi đẻ trong điều kiện nông hộ ở xã Tây Giang, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định (41)
    • 2.4. Xử lý số liệu (43)
  • CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (44)
    • 3.1. Hiện trạng chăn nuôi bò sinh sản trong nông hộ ở Tây Giang, tỉnh Bình Định (44)
      • 3.1.1. Đặc điểm nhân khẩu và diện tích đất ở các nông hộ khảo sát (44)
      • 3.1.2. Quy mô và cơ cấu tuổi, giống của đàn bò (45)
      • 3.1.3. Quản lý, chăm sóc, phương thức nuôi dưỡng và kinh nghiệm chăn nuôi bò cái (46)
      • 3.1.4. Loại và lượng thức ăn cho bò sinh sản trước và sau khi đẻ (48)
    • 3.2. Đặc điểm sinh sản của đàn bò cái nuôi trong điều kiện nông hộ (51)
      • 3.2.1. Thể trạng ở đàn bò cái sinh sản (51)
      • 3.2.2. Năng suất sinh sản của đàn bò cái (52)
    • 3.3. Diễn biến khối lượng của bê từ sơ sinh đến 6 tháng tuổi và tuổi bán bê (54)
    • 3.4. Kết quả thử nghiệm bổ sung thức ăn tinh cho bò cái sau đẻ (56)
      • 3.4.1. Ảnh hưởng của việc bổ sung thức ăn tinh cho mẹ sau khi đẻ đến lượng thức ăn ăn vào của bò mẹ (56)
      • 3.4.2. Ảnh hưởng của việc bổ sung thức ăn tinh cho mẹ sau khi đẻ đến khối lượng và điểm thể trạng của bò mẹ (57)
      • 3.4.3. Ảnh hưởng của việc bổ sung thức ăn tinh cho mẹ sau khi đẻ đến khối lượng và tăng khối lượng ở bê (58)
      • 3.4.4. Ảnh hưởng của việc bổ sung thức ăn tinh cho mẹ sau khi đẻ đến thời gian động dục lại sau đẻ của bò mẹ (60)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (64)
    • Hinh 3.5. Khoảng cách lứa đẻ của bò cái (0)
    • Hinh 3.7. Khối lượng bê (trung bình và độ lệch chuẩn) qua các ngày tuổi (0)

Nội dung

TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tổng quan địa bàn nghiên cứu

1.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ở tỉnh Bình Định

Tỉnh Bình Định có tọa độ địa lý từ 103° 36' 30" đến 109° 18' 15" kinh độ Đông và từ 13° 30' 45" đến 14° 42' 15" vĩ độ Bắc Tỉnh nằm ở phía Đông dãy Trường Sơn, giáp tỉnh Quảng Ngãi ở phía Bắc, tỉnh Phú Yên ở phía Nam, tỉnh Gia Lai ở phía Tây, và biển Đông ở phía Đông.

Hệ thống giao thông tại Bình Định, bao gồm đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường hàng không, đang phát triển mạnh mẽ Tỉnh Bình Định nằm trong quy hoạch phát triển vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, mang lại nhiều lợi thế cho sự phát triển kinh tế và xã hội, cũng như giao lưu trong nước và quốc tế Điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho sản phẩm chăn nuôi của tỉnh dễ dàng tiêu thụ tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ và các thành phố lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, nơi có nhu cầu tiêu thụ thực phẩm cao Địa hình của Bình Định chủ yếu là núi trung bình và núi thấp, với diện tích 254.124 ha, chiếm 42% tổng diện tích tự nhiên, phân bổ chủ yếu ở các huyện Vân Canh và Vĩnh Thạnh.

An Lão có diện tích 63.367ha, trong khi Tây Sơn và Hoài Ân có tổng diện tích 36.576ha Khu vực này có độ cao trên 500m so với mặt nước biển, với sườn núi dốc hơn 200 độ Địa hình đồi gò, bát úp ở trung du chiếm 26% diện tích tự nhiên, với tổng diện tích 157.315ha, phân bố chủ yếu ở các huyện Tây Sơn (39.500ha), Hoài Ân (35.900ha), Phù Cát (19.150ha), Phù Mỹ (16.200ha), Hoài Nhơn (15.089ha), An Lão (5.058ha) và Vân Canh (7.924ha) Đồi gò tại đây có độ dốc từ 10 đến 150 độ, chủ yếu được cấu tạo từ đá granít Địa hình đồng bằng ven biển kéo dài theo hướng song song với bờ biển, tạo thành vòng cung ôm lấy vùng trung du và vùng núi phía Tây tỉnh, với diện tích 193.619ha, chiếm 32% đất toàn tỉnh Khu vực cát ven biển có cồn cát và các hòn núi đảo sườn dốc, tiếp sau là những vũng trũng được bồi đắp bởi phù sa từ sông ngòi Dải đồng bằng Duyên hải bị cắt thành các đoạn riêng biệt bởi các nhánh núi đâm ngang ra biển, tạo thành những tam giác châu thổ nhỏ do các sông từ dãy núi phía trong chảy ra biển.

Trong tỉnh Bình Định, nhóm đất đỏ vàng chiếm tỷ lệ lớn nhất với 66,41% tổng diện tích đất, tiếp theo là nhóm đất xám và bạc màu, trong khi đó, đất phù sa cũng chiếm một diện tích đáng kể.

Bảng 1.1 Phân loại đất tỉnh Bình Định

Tên nhóm đất Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)

Nhóm bãi cát, cồn cát và đất cát biển 13.283 2,20

Nhóm đất xám và bạc màu 70.809 11,70

Nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi 3.461 0,57

Nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá 3.292 0,54

Tổng diện tích tự nhiên 605.058 100

Nguồn: Niêm giám thống kê Bình Định (2013)[14]

Bình Định có khí hậu nhiệt đới gió mùa với nhiệt độ trung bình cao, khoảng 26,7°C, và ổn định trong suốt năm Tháng 1 và 2 là thời điểm có nhiệt độ thấp nhất, dao động từ 23,1 đến 23,9°C Số giờ nắng hàng ngày từ 6,0 đến 9,3 giờ, với các tháng mùa khô đạt từ 211 đến 245 giờ nắng mỗi tháng Mặc dù không có mùa đông lạnh, Bình Định vẫn chịu ảnh hưởng từ 1 đến 2 đợt gió mùa Đông Bắc hàng năm.

Mùa mưa ở khu vực này diễn ra từ tháng 9 đến tháng 12, chiếm 80 - 85% tổng lượng mưa hàng năm, với lượng mưa lớn nhất thường rơi vào tháng 10 và 11 Mùa mưa ở các huyện miền núi bắt đầu sớm hơn, từ tháng 8, với lượng mưa và cường độ lớn hơn so với vùng đồng bằng ven biển Thời điểm này cũng thường xảy ra giông bão, với tần suất 2 - 3 năm có một trận lũ lớn và 0,6 trận bão mỗi năm Ngược lại, mùa khô kéo dài từ tháng 3 đến tháng 8, chỉ chiếm 15 - 20% lượng mưa hàng năm, với tháng 5 đến tháng 7 là thời điểm khô hạn nhất.

Hình 1.1 Yếu tố khí hậu tỉnh Bình Định [10]

Điều kiện đất đai và khí hậu thuận lợi cho ngành chăn nuôi phát triển, với khả năng trồng các loại cây thức ăn gia súc và giống cỏ cao sản So với điều kiện sinh lý của vật nuôi nhiệt đới, môi trường này rất phù hợp cho sự sinh trưởng Tuy nhiên, khí hậu nóng và độ ẩm cao (71 - 83%) tạo điều kiện cho mầm bệnh phát triển, dễ dẫn đến dịch bệnh Thời điểm chuyển giao giữa mùa mưa và mùa khô cũng là lúc gia súc, gia cầm dễ mắc bệnh nếu không được chăm sóc đúng quy trình kỹ thuật.

Bình Định là một tỉnh có thành phố loại I là TP Quy Nhơn, cùng với một thị xã An Nhơn Tỉnh này bao gồm 3 huyện miền núi: An Lão, Vân Canh và Vĩnh Thạnh; 2 huyện trung du: Hoài Ân và Tây Sơn; và 4 huyện đồng bằng: Hoài Nhơn, Phù Cát, Phù Mỹ và Tuy Phước.

Toàn tỉnh có 159 xã, phường và thị trấn Trung tâm hành chính của tỉnh là Thành phố Quy Nhơn

Dân số tỉnh đang có xu hướng giảm cơ học, theo kết quả điều tra chính thức năm

Năm 2014, tỉnh có tổng dân số là 1.506.600 người, trong đó dân số thành thị đạt 464.700 người, chiếm 30,8%, còn lại 1.041.900 người sống ở nông thôn, chiếm 69,2% tổng dân số.

Theo phân loại đồng cỏ Việt Nam, thảm cỏ tự nhiên tại tỉnh Bình Định, bao gồm cả thảm cỏ dưới tán rừng, thuộc loại đồng cỏ chân đồi và ven suối, phát triển theo mùa Đây là loại đồng cỏ hòa thảo, sinh trưởng trên đất xám phù sa cổ và đất đỏ vàng trên đá granit.

Cỏ tự nhiên thường mọc ở các khu vực như gò đồi, bờ ruộng, ven kênh mương và trong vườn nhà, bao gồm nhiều loại cỏ hòa thảo như cỏ gà, cỏ chỉ, cỏ ống, cỏ lá tre và cỏ mật, cùng với một lượng nhỏ cỏ họ đậu Chất lượng và thành phần dinh dưỡng của cỏ tự nhiên thay đổi đáng kể, phụ thuộc vào các yếu tố như mùa khô hay mùa mưa, độ tuổi của cỏ, sự đa dạng giống cỏ trong thảm cỏ, cũng như vị trí nơi cỏ phát triển, chẳng hạn như ở chân ruộng cao hay dưới đồng trũng.

Dọc theo các tuyến đường, cỏ sả dòng địa phương (Panicum maximum sp) và cỏ ống (Panicum repens) thường mọc ven các kênh mương tưới, tiêu thoát nước Những loại cỏ này có thể được sử dụng làm thức ăn cho bò thịt.

Thảm cỏ dưới tán rừng và các trảng đất dốc, nơi thường xuyên chăn thả bò, không còn thấy các dòng cỏ sả do bị chăn thả quá mức và gặm sát, dẫn đến việc cỏ không đủ thời gian tái sinh.

Natural grass species that grow close to the ground and are resilient to trampling and grazing in pastures include: Eleusine indica (Indian goosegrass), Cynodon dactylon (Bermudagrass), Melinus minutiflorus (foxtail millet), Cyperus rotundus (purple nutsedge), Paspalum conjugatum (knotgrass), Pennisetum polystachyon (American jointvetch), Setaria palmifolia (palm grass), and Setaria cephala (broadleaf signalgrass).

Các giống cỏ như cỏ hôi, cỏ chổi và cỏ tranh (Imperata cylindrica) chiếm phần lớn diện tích bãi chăn thả, trong khi các giống cỏ ăn được chỉ chiếm khoảng 20 - 35% Diện tích bãi chăn thả ngày càng bị thu hẹp, dẫn đến sự gia tăng của các loại cỏ dại mà trâu bò không ăn được.

Tình hình chăn nuôi bò ở nước ta

1.2.1 Số lượng đàn bò và sản lượng thịt bò

Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi ở Việt Nam, đặc biệt là chăn nuôi bò thịt, đã trải qua nhiều biến động do thời tiết bất lợi, tình hình thị trường không ổn định, giá cả thức ăn chăn nuôi dao động và dịch bệnh thường xuyên xảy ra.

Ngành chăn nuôi bò thịt đang có những chuyển biến tích cực và phát triển mạnh mẽ ở nhiều địa phương, đạt được những kết quả nhất định Tuy nhiên, từ năm 2007 đến 2014, đàn bò của nước ta lại ghi nhận sự giảm sút về số lượng, giảm từ 6,72 triệu con xuống còn 5,23 triệu con, với tốc độ giảm bình quân 3,84% mỗi năm.

Bảng 1.3 Số lượng đàn bò và sản lượng thịt bò ở Việt Nam qua các năm

Số lượng (triệu con) 6,72 6,34 6,10 5,81 5,44 5,19 5,17 5,23 Tăng trưởng (%) -5,66 -3,79 -4,75 -6,37 -4,60 -0,39 +1,5

Thịt hơi xuất chuồng (ngàn tấn)

Nguồn: Niên giám thống kê (2014) [15]

Nguyên nhân chính dẫn đến sự giảm số lượng bò phục vụ cho cày kéo là do tăng cường cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp, với số bò cày kéo giảm 15,6% vào năm 2010 so với năm 2009 Bên cạnh đó, diện tích chăn thả bị thu hẹp và hiệu quả chăn nuôi thấp không khuyến khích người nuôi mở rộng quy mô đàn Thời gian tái đàn chậm và thói quen tiêu thụ bê thui của người Việt Nam cũng góp phần làm giảm số lượng bê trưởng thành Tuy nhiên, nhờ cải thiện giống, kỹ thuật nuôi dưỡng và tổ chức sản xuất, sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng hàng năm vẫn tăng liên tục, đạt 292,9 ngàn tấn vào năm 2014, tăng 4,27% so với năm 2007.

1.2.2 Sự phân bố đàn bò

Phân bố của đàn bò nước ta theo các vùng sinh thái được trình bày ở bảng 1.4

Sự phân bố tự nhiên đàn bò ở Việt Nam không đồng đều giữa các vùng sinh thái, với tổng đàn bò đạt 5,23 triệu con vào năm 2014 Tỉnh miền Trung chiếm 40,6% tổng đàn, nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi cho chăn nuôi bò thịt Khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên có tiềm năng lớn để phát triển chăn nuôi bò thịt chất lượng cao Đối với các hộ chăn nuôi nhỏ ở Duyên hải Nam Trung Bộ, sản xuất bò thịt là một phần quan trọng trong nông nghiệp, tạo cơ hội đa dạng nguồn thu nhập và cung cấp phân bón cho trồng trọt.

Bảng 1.4 Sự phân bố đàn bò theo vùng sinh thái năm 2014

Vùng sinh thái Số lượng (nghìn con) Tỷ lệ (%) Đồng bằng sông Hồng 496,3 9,6

Trung du và miền núi phía Bắc 896,6 17,4

Bắc Trung bộ và Duyên hải Miền Trung 2092,6 40,6

Tây Nguyên 662,6 12,8 Đông Nam Bộ 364,0 7 Đồng bằng sông Cửu Long 643,9 12,4

Nguồn: Bộ NN và PTNT (2015)[5]

Quy mô đàn bò trong nông hộ thường nhỏ, khoảng 3 đến 4 con mỗi hộ, bao gồm giống bò vàng chăn thả tự do và bò lai chăn thả bán tự do (Parsons và cộng sự, 2013).

Hệ thống sản xuất bò chủ yếu bao gồm chăn thả kết hợp với bổ sung thức ăn và nuôi nhốt hoàn toàn Khoảng 59,4% tổng đàn bò được phân bố trên 5 vùng, trong đó khu vực Trung du và miền núi phía Bắc có 896,6 nghìn con, chiếm 17,4% tổng đàn cả nước Tây Nguyên, với diện tích đất đai và đồng cỏ phong phú, tập trung 12,8% đàn bò Đồng bằng sông Cửu Long chiếm 12,4%, Đồng bằng sông Hồng 9,6% và Đông Nam Bộ 7%.

1.2.3 Quy mô chăn nuôi bò

Hơn 90% bò thịt tại Việt Nam vẫn được chăn nuôi theo hình thức nhỏ lẻ, phân tán trong các nông hộ và chủ yếu dựa vào chăn thả tự nhiên Chăn nuôi bò quy mô 1 - 2 con phổ biến ở đồng bằng, phục vụ cho việc sử dụng sức kéo trong sản xuất nông nghiệp và tận dụng phế phụ phẩm nông nghiệp Chỉ một số ít hộ gia đình có quy mô từ 10 - 20 con Trong khi đó, chăn nuôi bò quy mô vừa chủ yếu tập trung ở miền núi và trung du, đặc biệt là tại các tỉnh Duyên hải miền Trung và Tây Nguyên.

Chăn nuôi trang trại tại Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ, với 2.774 trang trại bò sinh sản vào năm 2010, chiếm 43,3% tổng số trang trại chăn nuôi bò, và 1.620 trang trại chăn nuôi bò thịt, chiếm 25,3% (Bộ NN và PTNT, 2010) Các trang trại chăn nuôi bò thịt chủ yếu tập trung ở Đông Nam Bộ với 811 trang trại (50,1%), tiếp theo là Tây Nguyên với 351 trang trại (21,7%) và Tây Bắc với 153 trang trại (9,4%).

Khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ có 108 trang trại bò thịt, chiếm 6,7% tổng số trang trại, trong khi Bắc Trung Bộ có 105 trang trại, chiếm 6,5% Các tỉnh có số lượng trang trại bò thịt nhiều nhất bao gồm Bình Thuận với 528 trang trại, Gia Lai với 155 trang trại và Đắk Lắk với 134 trang trại (Bộ NN và PTNT, 2010).

Các trang trại chăn nuôi bò sinh sản phân bố khá đều ở các vùng, Bắc Trung Bộ: 684, chiếm 24,7%; Đồng bằng sông Cửu Long: 591, chiếm 21,7%; Tây Nguyên:

557, chiếm 20,1%; Duyên hải Nam Trung Bộ: 446, chiếm 16,1%; Đồng bằng sông Hồng: 214, chiếm 7,7%; Đông Nam Bộ: 174, chiếm 6,3%; Đông Bắc: 108, chiếm 3,9%

Quy mô chăn nuôi bò thịt ở Việt Nam chủ yếu dao động từ 50 - 100 con/trang trại, với 1.269 trang trại, chiếm 78,3% tổng số Các quy mô khác bao gồm 100 - 150 con (230 trang trại, 14,2%), 150 - 200 con (93 trang trại, 5,7%), 200 - 500 con (23 trang trại, 1,4%) và trên 500 con (5 trang trại, 0,3%) Tây Nguyên là khu vực có quy mô chăn nuôi lớn nhất, với 11 trang trại từ 200 - 500 con và 1 trang trại trên 500 con Đông Nam Bộ cũng có 5 trang trại từ 200 - 500 con và 3 trang trại trên 500 con Đối với chăn nuôi bò sinh sản, quy mô phổ biến là từ 10 - 20 con/trang trại với 2.459 trang trại, chiếm 88,6%, tiếp theo là từ 20 - 50 con (283 trang trại, 10,2%), từ 50 - 100 con (28 trang trại, 1,0%) và trên 100 con (4 trang trại, 0,2%).

Các tiến bộ trong giống, thức ăn, chuồng trại và quy trình kỹ thuật chăm sóc đã nâng cao năng suất và chất lượng trong chăn nuôi bò thịt Tuy nhiên, việc tổ chức ngành hàng và quản lý giống bò thịt tại Việt Nam vẫn còn thiếu hệ thống và chưa được quy củ.

Đến năm 2008, khoảng 70% tổng đàn bò là các giống địa phương Đàn bò nội có năng suất thịt thấp, với tốc độ tăng trưởng chậm và khối lượng trưởng thành không cao; bò đực trung bình nặng từ 180 - 200 kg, trong khi bò cái nặng từ 150 - 160 kg, dẫn đến tỷ lệ thịt xẻ cũng thấp.

Theo Đỗ Kim Tuyên (2009), tỷ lệ thịt tinh của bò nội chỉ đạt 32 - 33%, với tăng trọng bình quân từ sơ sinh đến 24 tháng tuổi chỉ đạt 190 - 220 gam/ngày Do đó, sản lượng thịt tinh chỉ đạt từ 50 - 60 kg/con (Đinh Văn Cải, 2007a) Trong khi đó, đàn bò lai chiếm trên 30% tổng số bò cả nước, chủ yếu là lai Zêbu, với tốc độ tăng trọng và sinh trưởng nhanh, khối lượng trưởng thành từ 230 - 270 kg và tỷ lệ thịt xẻ đạt 49 - 50% Bò lai đã thích nghi tốt với điều kiện sinh thái Việt Nam, góp phần làm phong phú nguồn gen bò thịt trong nước (Đỗ Kim Tuyên, 2009).

Một số địa phương như Sơn La, Tuyên Quang, Bình Định, Bình Phước, Bình Dương, Lâm Đồng và Gia Lai đã củng cố và xây dựng mới các cơ sở giống bò thịt nhằm đáp ứng nhu cầu về con giống và chăn nuôi bò thịt chất lượng cao.

Hồ Chí Minh, Lâm Đồng và Bình Định là những địa phương tiêu biểu trong việc phát triển mô hình chăn nuôi giống bò thịt Brahman, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả trong ngành chăn nuôi bò thịt.

1.2.5 Những khó khăn, thách thức và cơ hội phát triển trong chăn nuôi bò thịt ở Việt Nam

Vai trò của chăn nuôi bò sinh sản trong hệ thống chăn nuôi của nông hộ

Chăn nuôi bò sinh sản là khâu quan trọng trong hệ thống chăn nuôi bò, tập trung vào việc tăng cường số lượng, năng suất và chất lượng đàn bò Phát triển chăn nuôi bò cần hướng đến sự biến đổi cơ cấu đàn và giá trị sản phẩm để đạt hiệu quả và bền vững Do đó, việc phát triển chăn nuôi bò phải bao gồm nhiều nội dung khác nhau, trong đó chăn nuôi bò cái và bê là chủ thể chính.

Tăng quy mô tổng đàn bò trong vùng thông qua nhân giống, mua thêm con giống và mở rộng diện tích chăn thả là cách thể hiện tốc độ tăng trưởng trong chăn nuôi bò Áp dụng các hình thức tổ chức chăn nuôi phù hợp với điều kiện của hộ và vùng là rất quan trọng Trong số các biện pháp, chăn nuôi bò sinh sản được xem là giải pháp bền vững nhất.

Tăng cường năng suất và chất lượng đàn bò bằng cách cải tạo đàn bò vàng thông qua việc áp dụng giống mới có kích thước lớn, trọng lượng nặng và tỷ lệ thịt xẻ cao Giống bò này có khả năng chống chịu bệnh tật tốt và thích nghi với điều kiện chăn thả của từng vùng Đảm bảo chăn nuôi bò cái nền và bê có chất lượng, phù hợp với cơ cấu đàn bò để tái sản xuất hiệu quả.

Trong chăn nuôi bò thịt, sự phát triển về số lượng và chất lượng có mối quan hệ chặt chẽ, trong đó chất lượng cao là yếu tố thúc đẩy sự gia tăng số lượng đàn bò Những giống bò thịt có năng suất cao và khả năng chống chịu tốt, cùng với tổ chức chăn nuôi hợp lý, là nền tảng cho việc mở rộng quy mô đàn bò và gia tăng sản phẩm Việc tăng quy mô đàn bò thịt và sản lượng sản phẩm là điều kiện quan trọng để đạt hiệu quả cao trong chăn nuôi.

Từ năm 2001 đến năm 2014, tổng đàn bò đã tăng từ 3,9 triệu con lên 5,23 triệu con, với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 2,36% mỗi năm, trong đó đàn cái nền đóng góp một phần quan trọng.

Từ năm 2001 đến 2014, tổng sản lượng thịt bò hơi đã tăng từ 97,7 ngàn tấn lên 292,9 ngàn tấn, với mức tăng trưởng bình quân 9,34% mỗi năm Sự gia tăng này là kết quả của các chương trình cải tạo đàn bò theo hướng Zebu, nhằm nâng cao năng suất và chất lượng thịt bò Việc áp dụng giống mới có kích thước lớn, trọng lượng nặng và tỷ lệ thịt xẻ cao, cùng khả năng chống chịu bệnh tật tốt, đã giúp bò thích nghi với điều kiện chăn thả ở từng vùng.

Trong cơ cấu đàn bò nuôi ở các nông hộ, tỷ lệ bò cái sinh sản chiếm từ 20-50%, cho thấy vai trò quan trọng của nuôi bò sinh sản trong hệ thống chăn nuôi Nhiều hộ cho rằng nuôi bò sinh sản là “1 vốn bốn lời”, giúp họ thoát nghèo nhanh chóng Tại xã Phổ Hòa, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, với tổng đàn bò 1.900 con, trong đó bò lai sinh sản chiếm khoảng 70%, hơn 75% hộ dân có chăn nuôi bò, nhiều hộ nuôi bò cái sinh sản Nhờ giá bán bò ổn định cao, người chăn nuôi có lãi, với thu nhập bình quân 30-40 triệu đồng/hộ/năm, nhiều hộ thu nhập trên 100 triệu đồng/năm và đã thoát nghèo nhờ nuôi bò cái sinh sản.

Chăn nuôi bò sinh sản là một hướng đi hiệu quả, được thể hiện qua việc thành lập Tổ hợp tác chăn nuôi bò tại xã Phổ Hòa vào năm 2014 với sự tham gia của 30 nông dân Mô hình này giúp nông dân trao đổi kinh nghiệm và nâng cao hiệu quả trong việc mua bán bò Trong tương lai, xã Phổ Hòa sẽ tiếp tục khuyến khích người dân mở rộng quy mô chăn nuôi và phối hợp với các ngành chức năng để tổ chức các lớp tập huấn, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả chăn nuôi.

Đặc điểm sinh sản của bò cái

1.4.1 Các chỉ tiêu chính đánh giá sinh sản ở bò cái 1.4.1.1 Tuổi đẻ lứa đầu

Tuổi đẻ lứa đầu của bò tơ chịu ảnh hưởng từ giống, chế độ nuôi dưỡng và quản lý Giống bò Brahman có tuổi thành thục sinh dục muộn hơn so với bò Vàng Việc nuôi dưỡng tốt giúp bê đạt khối lượng lớn hơn và thành thục sinh dục sớm hơn Quản lý hiệu quả giúp không bỏ lỡ chu kỳ động dục đầu tiên, với bò tơ có thể phối giống ở tuổi 16 - 17 tháng Kết quả là bò có thể đẻ lứa đầu sớm nhất từ 25 - 27 tháng tuổi Tuy nhiên, ở vùng nóng, bò tơ nuôi dưỡng kém thường phối giống muộn hơn.

Tuổi phối giống lần đầu cho bò cái chủ yếu dựa vào khối lượng cơ thể thay vì tháng tuổi Bò tơ nên được phối giống lần đầu khi đạt từ 65% đến 70% khối lượng trưởng thành.

Thí dụ bò lai Sind khối lượng trưởng thành 250kg thì phối giống lần đầu cho bò cái tơ lai Sind khi đạt khối lượng 180kg

Trong nghiên cứu, chỉ tiêu tuổi và khối lượng bò tơ khi lên giống lần đầu được sử dụng Tuy nhiên, trong thực tế sản xuất, dữ liệu thường không chính xác do phụ thuộc vào khả năng phát hiện và ghi nhận thời điểm lên giống lần đầu của gia súc.

Khoảng cách lứa đẻ là thời gian giữa hai lần đẻ thành công, được chia thành hai giai đoạn Giai đoạn đầu là từ khi sinh bê đến khi đậu thai lại, gọi là giai đoạn "mở" hay giai đoạn chờ phối đậu Giai đoạn thứ hai là giai đoạn mang thai, kéo dài từ 278 đến 285 ngày hoặc hơn, tùy thuộc vào giống Nếu khoảng cách lứa đẻ kéo dài, thường là do vấn đề ở giai đoạn mở.

Một bò cái sinh sản tốt thì khoảng cách lứa đẻ nhỏ hơn hoặc bằng 12 tháng

Khoảng cách lứa đẻ trung bình của đàn được xác định từ khoảng cách lứa đẻ của từng cá thể Một đàn sinh sản hiệu quả thường có khoảng cách lứa đẻ trung bình dưới 13 tháng.

Một đàn sinh sản tốt là yếu tố then chốt để tối ưu hóa hiệu quả kinh tế, với mục tiêu là sinh ra nhiều bê hơn Điều này tạo ra cơ hội chọn lọc để giữ lại những con tốt, thay thế cho những con kém chất lượng Tuy nhiên, việc đạt được khả năng sinh sản cao và duy trì chỉ tiêu này là thách thức lớn tại các trại Nhiều vấn đề sinh sản dẫn đến tỷ lệ đậu thai thấp, kéo dài khoảng cách lứa đẻ Do đó, quản lý hiệu quả để phát hiện kịp thời bò cái chậm lên giống, nhận diện bò cái động dục và phối giống đúng thời điểm là rất quan trọng để rút ngắn khoảng cách lứa đẻ.

1.4.1.3 Phối giống lần đầu sau khi đẻ

Bò cái khỏe mạnh thường sẽ động dục trở lại sau 40 ngày sinh, ngay cả khi đang cho con bú Tuy nhiên, lần động dục đầu tiên có thể xảy ra sớm hơn, khoảng 24 ngày sau khi đẻ, nhưng thường khó phát hiện do dấu hiệu động dục yếu.

Sau 40 ngày sau khi đẻ, chu kỳ động dục của bò cái sẽ xuất hiện rõ ràng sau mỗi 21 ngày Để đạt khoảng cách lứa đẻ 365 ngày, cần chủ động phát hiện bò cái lên giống và tiến hành phối giống lại sau khi đẻ Thông thường, bò khỏe mạnh có thể phối giống lại sau 40 ngày, nhưng nếu phối giống quá sớm, tỷ lệ đậu thai sẽ thấp.

Phối giống cho bò sau khi đẻ 50 ngày sẽ có tỷ lệ đậu thai cao hơn Theo kinh nghiệm thực tế, bò trong trạng thái bình thường và đang nuôi con nên được phối giống sau khoảng 50-60 ngày sau khi sinh.

Phối giống trực tiếp cũng áp dụng tương tự.`

1.4.1.4 Khoảng cách giữa hai lần động dục

Khoảng cách giữa hai lần động dục bình thường của bò là 21 ngày, dao động từ 18 đến 24 ngày Nếu bò không đậu thai sau khi phối giống, nó sẽ động dục lại sau 21 ngày Khi khoảng cách giữa hai lần động dục kéo dài đến 6 hoặc 9 tuần, có thể đã bỏ lỡ 1 hoặc 2 chu kỳ động dục Những trường hợp này thường bị hiểu nhầm là bò không động dục, nhưng thực tế là do dấu hiệu động dục ngắn và yếu Nếu khoảng cách động dục kéo dài và không theo quy luật (30, 50, 90 ngày), có thể là dấu hiệu của việc chết phôi.

1.4.2 Các nguyên nhân gây ra tỷ lệ sinh sản thấp 1.4.2.1 Phát hiện động dục kém

Trong các đàn gia súc, việc phát hiện bò cái lên giống và thời điểm phối giống là rất quan trọng Đối với những đàn phối giống tự nhiên không kiểm soát, bò đực sẽ tự thực hiện công việc này Ngược lại, trong các đàn sử dụng phương pháp gieo tinh nhân tạo hoặc phối giống tự nhiên có kiểm soát, người quản lý và kỹ thuật viên sẽ đảm nhận nhiệm vụ phát hiện động dục và xác định thời điểm phối giống Đây là bước đầu tiên quyết định thành tích sinh sản của gia súc.

Phát hiện bò động dục cần thực hiện ít nhất ba lần mỗi ngày: vào buổi sáng trước khi thả bò, buổi chiều khi bò về chuồng, và buổi tối khoảng 10 giờ Ở các nước nhiệt đới như Việt Nam, do khí hậu nóng và thời gian động dục ngắn hơn, dấu hiệu động dục thường không rõ ràng, nên cần tăng số lần và thời gian phát hiện động dục.

Hầu hết bò động dục vào thời điểm mát hơn trong ngày, trong khi buổi trưa, khi nhiệt độ cao nhất, dấu hiệu động dục thường yếu hơn.

Trong phối giống có kiểm soát, việc phát hiện động dục không tốt có thể dẫn đến việc bỏ lỡ nhiều lần động dục, kéo dài khoảng cách giữa các lứa đẻ Khoảng cách 42 hoặc 63 ngày giữa hai lần phối giống cho thấy có thể đã bỏ lỡ 1 hoặc 2 chu kỳ động dục Để tránh tình trạng này, cần nắm rõ các biểu hiện của bò cái khi động dục.

1.4.2.2 Phối giống cho bò không đúng thời điểm

Thời điểm lý tưởng để phối giống hoặc gieo tinh là từ nửa sau của chu kỳ động dục cho đến khoảng 8 giờ sau khi bò cái chịu đực Việc kiểm tra thường xuyên là cần thiết để xác định thời điểm bò bắt đầu động dục Nếu bò động dục vào sáng sớm, có thể tiến hành phối giống vào buổi chiều cùng ngày Bò nên được phối giống trong khoảng cuối chu kỳ động dục hoặc trong khoảng 6 - 8 giờ sau khi kết thúc giai đoạn động dục.

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Ngày đăng: 22/07/2023, 15:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w