động của quá trình đô thị hóa đến sinh kế của người dân tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai” tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của quý thầy, cô trong Ban Giám hiệu Nhà trườn
Trang 1Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các kết quả, số liệu nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Đồng Văn Phi
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 2động của quá trình đô thị hóa đến sinh kế của người dân tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai” tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của quý thầy, cô trong
Ban Giám hiệu Nhà trường, Khoa Tài nguyên đất và Môi trường Nông nghiệp, đã truyền đạt cho tôi những kiến thức vô cùng quý báu trong suốt quá trình tôi học tập, rèn luyện tại trường và cũng như thời gian thực hiện đề tài luận văn Xin gửi tới quý thầy, cô lòng biết ơn chân thành và tình cảm quý mến nhất
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo - TS Nguyễn Hoàng Khánh Linh, là người hướng dẫn tôi thực hiện đề tài, đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn, chỉ dạy
và đóng góp những ý kiến quý báu, để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Tôi xin chân thành cảm ơn các cô, chú, anh, chị đang công tác tại Uỷ ban nhân dân huyện Trảng Bom, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Trảng Bom, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong quá trình thu thập số liệu phục vụ cho đề tài Chúc các
cô, chú, anh chị dồi dào sức khỏe và công tác tốt
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, những người thân và bạn bè đã góp ý, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 3điểm của tỉnh Đồng Nai, có sức thu hút vốn đầu tư để phát triển công nghiệp với tốc
độ cao Hiện nay trên địa bàn Huyện có 4 khu công nghiệp tập trung đã đi vào hoạt động và các khu công nghiệp đang trong giai đoạn triển khai; ngoài ra huyện còn quy hoạch 2 cụm công nghiệp địa phương, đang hoàn thành quy hoạch, xây dựng cơ sở hạ tầng để đa dạng hóa đầu tư, thu hút các dự án có nguồn vốn đầu tư của các thành phần kinh tế, nhằm phát huy có hiệu quả các tiềm năng kinh tế trên địa bàn
Theo số liệu thống kê đất đai của huyện Trảng Bom, tổng diện tích tự nhiên toàn huyện đến ngày 31/12/2016 là: 32.541,2 ha, được chia ra: đất nông nghiệp có 25.747,9
ha chiếm 79,12%, đất phi nông nghiệp 6.793,3 ha, chiếm 20,88% diện tích đất tự
nhiên toàn huyện Nhìn chung, biến động đất đai trên địa bàn huyện phù hợp với xu
thế sử dụng đất tại địa phương, trong đó: Đất nông nghiệp giảm chủ yếu là đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp và đất nuôi trồng thủy do chuyển sang đất ở và đất chuyên dùng; Đất phi nông nghiệp tăng chủ yếu là đất ở và đất chuyên dùng
Quá trình đô thị hóa tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đang diễn ra với tốc độ nhanh chóng thể hiện ở việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng công nghiệp, dịch vụ và giảm nông nghiệp Đất nông nghiệp chuyển sang đất đô thị và đất ở làm nhiều hộ dân không còn đất để canh tác Đô thị hoá làm thay đổi cơ sở hạ tầng của huyện theo chiều hướng tích cực, khả năng tiếp cận với điều kiện sống cơ bản hộ đã khá đảm bảo (chiếm tỷ lệ 70%).Tuy nhiên, khi mất đất các lao động có tuổi trung bình cao, trình độ thấp không có cơ hội tìm việc làm ổn định Ô nhiễm môi trường và tệ nạn
xã hội là vấn đề đáng lo ngại
Việc sử dụng tiền đền bù của người dân bị thu hồi đất trên địa bàn huyện Trảng Bom khá còn chưa hiệu quả có đến28,78% số tiền đền bù được sử dụng vào việc tiết kiệm; 29,17% được dùng để đầu tư kinh doanh; chỉ có 4,95% được sử dụng để mưa sắm các vật dụng gia đình và 28,19% được sử dụng để xây nhà ở Thu nhập bình quân của người dân sau thu hồi đất có sự dịch chuyển giữa nguồn thu từ sản xuất nông nghiệp sang nguồn thu từ sản xuất phi nông nghiệp, buôn bán, dịch vụ Trước thu hồi đất, tiền thu
từ sản xuất nông nghiệp chiếm 36,58%; sau thu hồi đất tiền thu được từ sản xuất nông nghiệp chỉ còn 10,78% Tiền thu từ sản xuất phi nông nghiệp, buôn bán, dịch vụ và các khoản khác tăng từ 63,42% lên 89,22% sau thu hồi đất
Để nâng cao thu nhập cho hộ dân và đảm bảo sinh kế cho người dân vùng thu hồi đất cần quan tâm đến chính sách đào tạo nghề, nâng cao trình độ của chủ hộ cũng như người lao động, sử dụng đất đai có hiệu quả hơn, phát huy lợi thế vị trí địa lý thuận lợi của vùng bằng cách phát triển thương mại dịch vụ, hoàn thiện hệ thống cơ sở
hạ tầng
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 4LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 2
2.1 MỤC TIÊU 2
2.1.1 Mục tiêu chung 2
2.1.2 Mục tiêu cụ thể 2
2.2 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1.1 Đô thị và những vấn đề liên quan 3
1.1.2 Đô thị hóa và những vấn đề liên quan 7
1.1.3 Sinh kế và khung sinh kế bền vững 17
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 23
1.2.1 Tình hình đô thị hoá ở thế giới 23
1.2.2 Tình hình đô thị hoá ở Việt nam 26
1.3 MỘT SỐ ĐỀ TÀI, CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 30
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 32
2.2 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 32
2.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 32
2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.4.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 32
2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu 33
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 5CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36
3.1 KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN HUYỆN TRẢNG BOM 36
3.1.1 Vị trí địa lý 36
3.1.2 Khí hậu 37
3.1.3 Thủy văn và sông ngòi 37
3.1.4 Tài nguyên thiên nhiên 38
3.2 ĐẶC ĐIỂM ĐÔ THỊ HÓA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TRẢNG BOM 44
3.2.1 Tác động phát triển kinh tế xã hội của Vùng và tỉnh Đồng Nai đến huyện Trảng Bom 44
3.2.2 Đánh giá mức độ đô thị hóa tại huyện Trảng Bom 46
3.2.3 Nhận xét chung về mức độ đô thị hóa trên địa bàn huyện Trảng Bom 65
3.3 ẢNH HƯỞNG CỦA ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TRẢNG BOM 65
3.3.1 Ảnh hưởng của đô thị hóa đến nguồn lực tự nhiên 65
3.3.2 Ảnh hưởng của đô thị hóa đến nguồn lực con người 69
3.3.3 Ảnh hưởng của đô thị hóa đến nguồn lực xã hội 73
3.3.4 Ảnh hưởng của đô thị hóa đến nguồn lực tài chính 76
3.3.5 Ảnh hưởng của đô thị hóa đến nguồn lực vật chất 79
3.4 ẢNH HƯỞNG CỦA ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TRẢNG BOM 84
3.5 ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO SINH KẾ CỦA NGƯỜI TRÊN ĐỊA BÀN HUYÊN TRẢNG BOM 87
3.5.1 Cơ sở đề xuất giải pháp 87
3.5.2 Các giải pháp nâng cao sinh kế của người dân trên địa bàn huyện Trảng Bom 89 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 92
1 KẾT LUẬN 92
2 KIẾN NGHỊ 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
PHỤ LỤC 97
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 6ĐTH Đô thị hóa GDP Tổng sản phẩm xã hội GTVT Giao thông vận tải KCN Khu Công nghiệp KCX Khu Chế xuất
KT – XH Kinh tế - xã hội
TW Trung Ương VLXD Vật liệu xây dựng
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 7Bảng 1.1 Tiêu chí đánh giá mức độ đô thị hóa ở Việt Nam 9
Bảng 1.2 Các yếu tố trong hoàn cảnh dễ bị tổn thương 20
Bảng 1.3 Dân số đô thị và tỷ lệ % dân số sống ở khu vực đô thị 25
Bảng 2.1 Nguồn thu thập số liệu thứ cấp 33
Bảng 3.1 Thống kê diện tích đất đai năm 2016 theo mục đích sử dụng 39
Bảng 3.2 Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu phát triển kinh tế trên địa bàn 47
Bảng 3.3 Mật độ dân số trên địa bàn Huyện 49
Bảng 3.4 Tình hình lao động làm việc trong các ngành kinh tế - xã hội trên địa bàn 51 Bảng 3.5 Hiện trạng dân số và nhà ở huyện Trảng Bom tính đến 31/12/2015 54
Bảng 3.6 Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu chủ yếu y tế trên địa bàn 56
Bảng 3.7 Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu chủ yếu giáo dục trên địa bàn 58
Bảng 3.8 Hiện trạng mạng lưới đường bộ trên địa bàn Huyện 60
Bảng 3.9 Chỉ tiêu đạt được của quy hoạch giai đoạn 2010-2015 63
Bảng 3.10 Biến động đất đai theo mục đích sử dụng đất 66
Bảng 3.11 Tình hình thu hồi đất của nhóm đối tượng điều tra 68
Bảng 3.12 Tình hình nhân hộ khẩu của nhóm hộ điều tra 70
Bảng 3.13 Tình hình lao động của nhóm hộ điều tra 70
Bảng 3.14 Số lượng lao động trung bình (có thu nhập) 71
Bảng 3.15 Đánh giá của các hộ gia đình về điều kiện sống sau khi thu hồi đất so với trước thu hồi đất 73
Bảng 3.16 Đánh giá của các hộ gia đình về mức độ của các tệ nạn xã hội xảy ra ở địa phương mình hiện nay so với trước khi thu hồi đất 75
Bảng 3.17 Tình hình chung kinh tế của các hộ trước và sau thu hồi đất 76
Bảng 3.18 Cơ cấu nguồn thu nhập của các hộ trước và sau thu hồi đất 78
Bảng 3.19 Tài sản sở hữu của các hộ điều tra trước và sau thu hồi đất 79
Bảng 3.20 Phương án chi tiêu, sử dụng số tiền từ thu hồi đất của các hộ dân 81
Bảng 3.21 Đánh giá của các hộ dân về các khoản bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất 82 Bảng 3.22 Đánh giá của các hộ gia đình về tình trạng môi trường tự nhiên hiện nay so với trước khi thu hồi đất 84
Bảng 3.23 Đánh giá những nguồn gây ô nhiễm ảnh hưởng nghiêm trọng nhất đến cuộc sống của các hộ gia đình trên địa bàn điều tra 85
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ
Hình 1.1 Khung sinh kế bền vững (DFID, 2001) 19
Hình 1.2 Ngũ giác về 5 nguồn vốn sinh kế 22
Hình 1.3 Số lượng đô thị Việt Nam từ năm 1990 và dự báo đến năm 2025 27
Hình 1.4 Dân số và tăng trưởng dân số đô thị tại Việt Nam 28
Hình 1.5 Tỷ lệ tăng trưởng trung bình của cả nước và thành phố lớn, giai đoạn 2011-2015 28
Hình 2.1 Khung phân tích sinh kế bền vững 35
Hình 3.1 Hình ảnh thu nhỏ Bản đồ hành chính huyện Trảng Bom 36
Hình 3.2 Tổng diện tích nhà ở huyện Trảng Bom theo cac năm 2013 và 2015 (m2) 52
Hình 3.3 Cơ cấu đất đai huyện Trảng Bom năm 2016 66
Hình 3.4 Bình quân diện tích đất nông nghiệp/hộ (m2/hộ)trước và sau thu hồi đất 69
Hình 3.5 Biểu đồ số lượng lao động theo độ tuổi 71
Hình 3.6 Biểu đồ sự thay đổi nguồn lao động trước và sau khi thu hồi đất 72
Hình 3.7 Sự thay đổi cơ cấu ngành nghề của người dân bị thu hồi đất NN 72
Hình 3.8 Tài sản sở hữu (chiếc) của các hộ điều tra 80
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 9MỞ ĐẦU
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Với mục tiêu đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp nên quá trình công nghiệp hóa đang diễn ra ngày càng nhanh ở khắp các tỉnh thành Quá trình này đã làm thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội của từng địa phương với những mức
độ khác nhau đồng thời, nó thúc đẩy quá trình đô thị hóa phát triển
Đồng Nai là tỉnh có vị thế rất quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế chung của vùng vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và cả nước Tỉnh được xem là một tỉnh cửa ngõ đi vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ - vùng kinh tế phát triển và năng động nhất cả nước Đồng thời, Đồng Nai là nằm trong tam giác phát triển kinh tế của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, đó là tam giác thành phố Hồ Chí Minh - Bình Dương - Đồng Nai
Trảng Bom được xác định là một trong những huyện thuộc vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh Đồng Nai, có sức thu hút vốn đầu tư để phát triển công nghiệp với tốc
độ cao Hiện nay trên địa bàn Huyện có 4 khu công nghiệp tập trung đã đi vào hoạt động và các khu công nghiệp đang trong giai đoạn triển khai; ngoài ra huyện còn quy hoạch 2 cụm công nghiệp địa phương, đang hoàn thành quy hoạch, xây dựng cơ sở hạ tầng để đa dạng hóa đầu tư, thu hút các dự án có nguồn vốn đầu tư của các thành phần kinh tế, nhằm phát huy có hiệu quả các tiềm năng kinh tế trên địa bàn
Trảng Bom có nhiều tuyến giao thông huyết mạch của vùng kinh tế trọng điểm phía nam đi qua, là cửa ngõ vào Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Biên Hòa và huyện Long Thành phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Với vị trí địa lý rất thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội, tốc độ đô thị hóa diễn ra rất mạnh mẽ, tác động rất lớn đến việc sử dụng đất trên địa bàn Bên cạnh những mặt tích cực của đô thị hóa, huyện Trảng Bom cũng đang phải đối diện với rất nhiều vấn đề như: quy hoạch thiếu đồng bộ, chất lượng cơ sở hạ tầng chưa theo kịp tốc
độ phát triển, di cư tự do tình trạng phân lô bán nền tự phát diễn ra khá phổ biến và thiếu kiểm soát, vấn đề việc làm đang gia tăng sức ép tới chất lượng cuộc sống của cư dân đô thị, tình trạng ô nhiễm môi trường gây ra những tác động tiêu cực đến việc sử dụng đất, xuất hiện sự rối loạn trên thị trường bất động sản, chính quyền địa phương đang mất phương hướng, thiếu kiểm soát đối với thị trường bất động sản,làm phá vỡ quy hoạch sử dụng đất gây ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống người nhân dân và công tác quản lý của Nhà nước về đất đai trên địa bàn.Vấn đề cấp thiết đặt ra là đánh giá đúng những tác động của quá trình đô thị hóa, tìm ra được hướng đi đúng phù hợp giải quyết được những mâu thuẫn phát sinh trong quá trình sử dụng đất nhằm hạn chế những tác động tiêu cực, phát huy được những mặt tích cực của quá trình đô thị hóa, bảo vệ được môi trường sinh thái để thúc đẩy kinh tế - xã hội của địa phương phát triển theo hướng bền vững
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 10Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi chọn địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng
Nai để thực hiện đề tài: “Đánh giá tác động của quá trình đô thị hóa đến sinh kế người dân tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai”
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 2.1 MỤC TIÊU
2.1.1 Mục tiêu chung
Phân tích được những ảnh hưởng của đô thị hóa đến sinh kế của người dân bị mất đất sản xuất trên địa bàn huyện Trảng Bom, làm cơ sở đề đề ra các giải pháp sử dụng đất hiệu quả, và góp phầnnâng cao sinh kế cho người dân bị ảnh hưởng
2.1.2 Mục tiêu cụ thể
- Phân tích được sự thay đổi, những tác động tích cực và tiêu cực của quá trình đô thị hóađến sinh kế của người dân bị thu hồi đất sản xuất trên địa bàn huyện Trảng Bom
- Đề xuất giải pháp nhằm hạn chế được những tác động tiêu cực, phát huy được những tác động tích cực của đô thị hóa đối với việc sử dụng đất và nâng cao hiệu quả của việc đô thị hóa đến sử dụng đất và sinh kế của người dân
2.2 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
- Về mặt lý luận: Hệ thống hóa được các tác động của quá trình đô thị hóa, góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận về quá trình đô thị hóa
- Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu là cơ sở đề ra các giải pháp khắc phục
và phát huy những mặt tích cực của quá trình đô thị hóa đến sinh kế của người dân trên địa bàn huyện Trảng Bom
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.1 Đô thị và những vấn đề liên quan
1.1.1.1.Khái niệm đô thị
Đô thị là một khu vực cư trú của loài người Đối với mỗi quốc gia và vùng lãnh thổ, đô thị có thể có quy mô diện tích nhỏ so với toàn vùng nhưng trình độ phát triển của đô thị mạnh về nhiều mặt và có vai trò quan trọng đối với các vùng xung quanh [11]
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (1995), đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp [36]
Theo Luật Quy hoạch đô thị Việt Nam (2009), đô thị là khu vực tập trung dân
cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông 8 nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương bao gồm nội thành và ngoại thành của thành phố, nội thị và ngoại thị của thị
Thứ hai, quy mô dân số toàn đô thị tối thiểu phải đạt 4000 người trở lên
Thứ ba, mật độ dân số phải phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng loại đô thị và được tính trong phạm vi nội thành, nội thị và khu phố xây dựng tập trung của thị trấn, tối thiểu là 2000 người/km2
Thứ tư, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp được tính trong phạm vi ranh giới nội thành, nội thị và khu phố xây dựng tập trung phải đạt tối thiểu 65% so với tổng số lao động
Thứ năm, hệ thống công trình hạ tầng đô thị gồm hệ thống công trình hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật phải đạt các yêu cầu: Đối với khu vực nội thành, nội thị phải được đầu tư xây dựng đồng bộ và có mức độ hoàn chỉnh theo từng loại đô thị Đối với khu vực ngoại thành, ngoại thị phải được đầu tư xây dựng đồng bộ mạng lưới hạ tầng, đảm bảo yêu cầu bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đô thị
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 12Thứ sáu, việc xây dựng và phát triển đô thị phải theo quy chế quản lý kiến trúc đô thị đã được duyệt, có các đô thị kiểu mẫu, các tuyến phố văn minh đô thị,
có các không gian công cộng phục vụ đời sống tinh thần của cư dân đô thị; có tổ hợp kiến trúc hoặc công trình kiến trúc tiêu biểu và phù hợp với môi trường, cảnh quan thiên nhiên
Theo quy định của Chính phủ thì một khu vực muốn trở thành đô thị thì phải đáp ứng được 6 tiêu chuẩn trên Tuy nhiên, trong thực tế tại Việt Nam do nhiều vùng có điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khác nhau trong đó đặc biệt là các vùng ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo đang gặp rất nhiều khó khăn nên Chính phủ đã có quy định riêng đối với các đô thị ở những vùng này Cụ thể, những
đô thị ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo thì quy mô dân số và mật
độ dân số có thể thấp hơn nhưng tối thiểu phải đạt 50% tiêu chuẩn quy định, các tiêu chuẩn khác phải đảm bảo đạt tối thiểu 70% mức tiêu chuẩn quy định so với các loại đô thị tương đương
Như vậy, khái niệm đô thị có thể hiểu tổng quát như sau: Đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của cả nước, của một miền lãnh thổ, của một tỉnh, của một huyện hoặc một vùng trong tỉnh, trong huyện [11]
1.1.1.2 Các yếu tố tạo thành đô thị
Theo Nghị định số 42/2009/NĐ-CP của Chính phủ quy 10 định về việc phân loại đô thị của Việt Nam [7] và Thông tư số 34/2009/TT-BXD của Bộ Xây dựng về quy định chi tiết một số nội dung của nghị định 42/2009/NĐ-CP [5], các yếu tố tạo thành đô thị bao gồm chức năng của đô thị, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp, hệ thống
cơ sở hạ tầng đô thị, quy mô dân số đô thị và mật độ dân số
a Chức năng của đô thị Hầu hết các đô thị đều có chức năng quan trọng đối với quá trình phát triển kinh
tế, xã hội, an ninh, quốc phòng của vùng lãnh thổ mà đô thị phân bố và đối với cả nước Chức năng của đô thị được thể hiện qua chỉ tiêu về vị trí, vai trò của đô thị trong
hệ thống đô thị cả nước; tính chất của đô thị và các chỉ tiêu kinh tế - xã hội của đô thị
Trong đó, vị trí, vai trò của đô thị được xác định trên cơ sở quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị, quy hoạch xây dựng vùng liên tỉnh, vùng tỉnh, vùng liên huyện, vùng huyện Qua đó, mỗi đô thị có vị trí, vai trò có thể là đô thị chiến lược, đô thị hạt nhân hay vệ tinh của một hệ thống đô thị vùng miền hoặc cả nước Tính chất của đô thị xác định đô thị có thể là trung tâm tổng hợp của một tỉnh, vùng tỉnh hoặc trung tâm chuyên ngành của một vùng liên tỉnh hoặc của cả nước Trong khi đó, các chỉ tiêu kinh
tế của đô thị gồm tổng thu ngân sách, tổng chi ngân sách, cân đối thu, chi ngân sách,
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 13thu nhập bình quân đầu người so với cả nước và mức tăng trưởng kinh tế trung bình 3 năm gần nhất Các chỉ tiêu xã hội của đô thị gồm tỷ lệ hộ nghèo được xác định theo quy định hiện hành và tỷ lệ gia tăng dân số hàng năm bao gồm gia tăng dân số tự nhiên và gia tăng dân số cơ học không kể lượng dân số tăng do mở rộng địa giới hành chính khu vực nội thị Các chỉ tiêu kinh tế, xã hội của đô thị được xác định trong phạm
vi địa giới hành chính của đô thị
b Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp Lao động phi nông nghiệp của đô thị là lao động làm việc trong các ngành kinh
tế quốc dân như: công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, bưu điện, thương nghiệp, cung ứng vật tư, dịch vụ công cộng, du lịch, khoa học, giáo dục, văn hoá, nghệ thuật, y
tế, bảo hiểm, thể thao, tài chính, tín dụng, ngân hàng, quản lý nhà nước và lao động khác không thuộc ngành sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp của một đô thị thể hiện tỷ trọng của lực lượng lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động thuộc khu vực nội thị của đô thị
c Hệ thống cơ sở hạ tầng đô thị
Cơ sở hạ tầng đô thị là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu trong quá trình hình thành và phát triển đô thị Cơ sở hạ tầng đô thị bao gồm cơ sở hạ tầng kỹ thuật và cơ sở hạ tầng xã hội Trong đó, cơ sở hạ hạ tầng kỹ thuật của đô thị là các công trình hạ tầng đáp ứng các nhu cầu của sản xuất, lưu thông và các hoạt động khác của con người Hệ thống công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật bao gồm: giao thông, cấp điện và chiếu sáng công cộng, hệ thống cấp nước, thoát nước, công viên cây xanh, hệ thống 11 xử lý chất thải, nghĩa trang, thông tin và bưu chính viễn thông Cơ sở hạ tầng
xã hội của đô thị là các công trình hạ tầng đáp ứng các nhu cầu về nơi ở, làm việc, chăm sóc sức khỏe, làm đẹp, học tập, mua sắm, tập luyện văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao Hệ thống cơ sở hạ tầng xã hội bao gồm nhà ở, trụ sở ngân hàng, bảo hiểm, khách sạn, nhà hàng, siêu thị, thẩm mĩ viện, bệnh viện, trường học, nhà hát, sân vận động và các công trình phục vụ lợi ích công cộng khác
Theo tiêu chuẩn Việt Nam về quy hoạch xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng tại các đô thị được đánh giá theo hai tiêu chuẩn là đồng bộ và hoàn chỉnh Cơ sở hạ tầng
đô thị được đánh giá là đồng bộ khi tất cả các loại công trình cơ sở hạ tầng xã hội và
kỹ thuật đô thị đều được xây dựng, nhưng mỗi loại phải đạt được tiêu chuẩn tối thiểu
từ 70% trở lên so với mức quy định của quy chuẩn thiết kế quy hoạch xây dựng đô thị
Cơ sở hạ tầng đô thị được đánh giá là hoàn chỉnh khi tất cả các công trình cơ sở hạ tầng xã hội và kỹ thuật đô thị đều được xây dựng, nhưng mỗi loại phải đạt được tiêu chuẩn tối thiểu từ 90% trở lên so với mức quy định của quy chuẩn thiết kế quy hoạch xây dựng đô thị [4]
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 14d Quy mô dân số đô thị Dân số đô thị là động lực chính thúc đẩy sự hình thành và phát triển của đô thị
Trong lĩnh vực quản lý đô thị, dân số là cơ sở để phân loại đô thị, xác định quy mô đất đai, khối lượng nhà ở, công trình công cộng, mạng lưới công trình kỹ thuật cũng như
đề xuất các chính sách phát triển Quy mô dân số đô thị được xác định bao gồm số dân thường trú và số dân tạm trú đã quy đổi ở khu vực nội thị và khu vực ngoại thị
e Mật độ dân số Mật độ dân số là chỉ tiêu phản ánh mức độ tập trung dân cư trên một đơn vị diện tích đất đai của khu vực nội thị Chỉ tiêu này được tính bằng dân số trong khu vực nội thị chia cho diện tích đất xây dựng đô thị trong khu vực nội thị không bao gồm các diện tích tự nhiên như núi cao, mặt nước, không gian xanh (vùng sinh thái, khu dự trữ thiên nhiên được xếp hạng về giá trị sinh học ) và các khu vực cấm không được xây dựng
1.1.1.3 Phân loại đô thị
Theo quy định tại Điều 4, Nghị định 42/2009 của Chính phủ ngày 07 tháng 05 năm 2009 [7], đô thị được phân thành 6 loại như sau: loại đặc biệt, loại I, loại II, loại III, loại IV và loại V được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định công nhận
- Đô thị loại đặc biệt là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội thành, huyện ngoại thành và các đô thị trực thuộc
- Đô thị loại I, loại II là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội thành, huyện ngoại thành và có thể có các đô thị trực thuộc; đô thị loại I, loại II là thành phố thuộc tỉnh có các phường nội thành và các xã ngoại thành
- Đô thị loại III là thành phố hoặc thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thành, nội thị và các xã ngoại thành, ngoại thị
- Đô thị loại IV là thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thị và các xã ngoại thị
- Đô thị loại IV, đô thị loại V là thị trấn thuộc huyện có các khu phố xây dựng tập trung và có thể có các điểm dân cư nông thôn
Ngoài ra, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 1210/2016/UBTVQH13 ngày 25/05/2016 về 5 tiêu chí cơ bản để đánh giá phân loại đô thị gồm: Vị trí, chức năng, vai trò, cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội; Cơ cấu
và trình độ phát triển kinh tế - xã hội; Quy mô dân số; Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp;
Trình độ phát triển cơ sở hạ tầng và kiến trúc, cảnh quan đô thị [35]
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 151.1.2 Đô thị hóa và những vấn đề liên quan
1.1.2.1 Khái niệm về đô thị hóa
ĐTH là một phạm trù KT - XH, là quá trình chuyển hóa và vận động phức tạp mang tính quy luật, là quá trình phổ biến diễn ra trên quy mô toàn cầu, mang tính chất đặc trưng nhất của sự phát triển KT - XH trong thời hiện đại Quá trình này bao gồm
sự thay đổi trong nhiều lĩnh vực như cơ cấu kinh tế, cơ sở hạ tầng, phân bố lực lượng sản xuất, phân bố dân cư, dân số, kết cấu nghề nghiệp, lối sống văn hóa,… ĐTH diễn
ra rất sớm từ thế kỉ thứ IV trước Công nguyên Nhưng thuật ngữ này chỉ mới phổ biến vào những năm đầu thế kỉ XX khi quá trình ĐTH phát triển trên quy mô toàn cầu Và cho đến nay đã có nhiều khái niệm khác nhau về ĐTH ĐTH là quá tình tập trung dân
số vào các đô thị, là sự hình thành nhanh chóng các điểm quần cư đô thị trên cơ sở phát triển sản xuất và đời sống [11]
Trong Từ điển Tiếng Việt cũng có khái niệm tương tự nhưng nhấn mạnh hơn vai trò của đô thị đối với phát triển xã hội: “Đô thị hóa là quá trình tập trung dân cư ngày càng đông vào các đô thị và làm nâng cao vai trò của thành thị đối với sự phát triển của xã hội” [ 36]
Dù không đi sâu vào bản chất và hiện tượng của chuyển động ĐTH, nhưng hai khái niệm trên cũng đã cũng đã nói lên hai tính chất chung của ĐTH là sự tập trung dân số và vai trò phát triển của thành phố
Theo các nhà địa lý, ĐTH đồng nghĩa với sự gia tăng không gian, mật độ dân
cư, thương mại, dịch vụ hoặc các hoạt động khác mang tính chất phi nông nghiệp trong một khu vực theo thời gian
Theo Đàm Trung Phường (2005), đô thị hóa là một quá trình diễn thế về kinh tế
- xã hội - văn hóa - không gian gắn liền với những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong đó diễn ra sự phát triển nghề nghiệp mới, sự chuyển dịch cơ cấu lao động, sự phát triển đời sống văn hóa, sự chuyển đổi lối sống và sự mở rộng phát triển không gian thành hệ thống đô thị song song với tổ chức bộ máy hành chính, quân sự [21]
Theo khái niệm này thì đô thị hóa là quá trình chuyển đổi trên tất cả các lĩnh vực,
từ kinh tế, xã hội, văn hóa đến khoa học kỹ thuật và cả không gian cư trú của con người
Từ góc độ nhân khẩu học và địa lý kinh tế, đô thị hóa được hiểu là sự di cư từ nông thôn tới đô thị, là sự tập trung ngày càng nhiều dân cư sống trong những vùng lãnh thổ đô thị Về mặt xã hội, đô thị hóa được hiểu là quá trình tổ chức lại môi trường
cư trú của con người [11]
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 16Đô thị hóa không chỉ thay đổi sự phân bố dân cư và những yếu tố vật chất, mà còn làm chuyển hóa những khuôn mẫu của đời sống kinh tế - xã hội, phổ biến lối sống
đô thị tới các vùng nông thôn và toàn bộ xã hội Như vậy, quá trình đô thị hóa không những diễn ra về mặt số lượng như tăng trưởng dân số, mở rộng lãnh thổ, tăng trưởng
về năng suất, mà còn thể hiện cả về mặt chất lượng, nâng cao mức sống, làm phong phú hơn các khuôn mẫu và nhu cầu văn hóa [20]
Mặc dù còn nhiều cách nhìn khác nhau về ĐTH nhưng nhìn chung các nhà nghiên cứu đều thống nhất với nhau rằng ĐTH là một vấn đề mang tính tất yếu khách quan và có tính phổ quát Đó là sự chuyển đổi mạnh mẽ, sâu sắc và toàn diện trên tất
cả các lĩnh vực từ kinh tế, xã hội đến văn hóa,…là sự chuyển đổi từ nông thôn sang thành thị, từ nền sản xuất nông nghiệp sang sản xuất phi nông nghiệp với sự tập trung dân cư ngày càng cao
1.1.2.2 Đặc điểm của quá trình đô thị hóa
Đô thị hóa được nhìn nhận dưới nhiều quan điểm khác nhau, nhưng dù đứng trên quan điểm nào thì đô thị hóa đều có những đặc điểm chính như sau:
Thứ nhất, quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa diễn ra song song và làm tiền
đề cho nhau Ở nơi nào có đô thị hóa thì ở đó có quá trình công nghiệp hóa và ngược lại Quá trình đô thị hóa làm gia tăng tỷ trọng các ngành kinh tế phi nông nghiệp, trong
đó có ngành công nghiệp nên kéo theo quá trình công nghiệp hóa Ngược lại, quá trình công nghiệp hóa dẫn đến tỷ trọng ngành công nghiệp tăng, việc xây dựng các khu công nghiệp và các cơ sở sản xuất công nghiệp khác sẽ dẫn đến việc phát triển cơ sở
hạ tầng, các hoạt động thương mại, dịch vụ, tập trung dân cư kéo theo quá trình đô thị hóa [18]
Thứ hai, đô thị hóa đưa đến nhiều thành tựu quan trọng nhưng cũng kéo theo nhiều mặt tiêu cực trong quá trình phát triển của các đô thị nói riêng và cả xã hội nói chung Quá trình đô thị hóa làm đa dạng các thành phần kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, phát triển kinh tế thị trường, nền kinh tế và các hoạt động sản xuất trở nên năng động hơn Đô thị hóa làm tăng tỷ lệ lao động phi nông nghiệp, giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp, đồng thời các phương tiện máy móc dần thay thế sức lao động của con người Đồng thời, đô thị hóa góp phần chuyển dịch các hình thái kiến trúc, xây dựng từ dạng nông thôn sang dạng thành thị nên tạo ra nhiều kiểu kiến trúc mới, đẹp và hiện đại hơn Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực thì nếu thiếu kiểm soát thì quá trình đô thị hóa cũng sẽ tạo nên những biến đổi theo hướng tiêu cực Cụ thể, quá trình đô thị hóa thiếu kiểm soát sẽ dẫn đến gia tăng các tình trạng như: thất nghiệp, tệ nạn xã hội, ô nhiễm môi trường, quy hoạch thiếu đồng bộ Những tồn tại này làm ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống và nền văn minh của đô thị và cả
xã hội [20]
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 171.1.2.3.Các tiêu chí xác định mức độ đô thị hóa
Hiện nay có khá nhiều tiêu chí đánh giá mức độ đô thị hóa Trong khi đó bản chất đô thị là một xã hội với những đặc trưng cơ bản như dân số tập trung với mật độ cao, lao động chủ yếu phi nông nghiệp, kinh tế phát triển, cơ sở hạ tầng tiên tiến, có vai trò là hạt nhân thúc đẩy phát triển kinh tế xã - hội trong khu vực Quá trình đô thị hóa là quá trình hình thành và phát triển các yếu tố đô thị [23] Trên cơ sở đó tác giả Nguyễn Hữu Đoàn [10], đã đề xuất các tiêu chí phản ánh mức độ đô thị hóa của một
đô thị cần bao gồm 16 tiêu chí thuộc về 4 nhóm tiêu chí được cụ thể hóa thành 32 chỉ tiêu ở Bảng 1
Bảng 1.1 Tiêu chí đánh giá mức độ đô thị hóa ở Việt Nam
Nhóm
1 Nhóm tiêu chí đánh giá mức độ phát triển kinh tế -
xã hội
Tiêu chí 1 Dân số đô thị
1 Quy mô dân số
2 Mật độ dân số
3 Tỷ lệ dân số đô thị
4 Tỷ lệ hộ nghèo Tiêu chí 2 Lao động đô thị
5 Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp
Ảnh hưởng của đô thị đến sự phát
triển vùng và quốc gia
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 18Nhóm
Tiêu chí 8 Dịch vụ văn hóa, giải trí dành cho cộng đồng 16
Số điểm dịch vụ giải trí và dịch vụ
dành cho cộng đồng/100.000 dân
3 Nhóm tiêu chí đánh giá mức độ phát triển CSHT kỹ thuật
Tiêu chí 9 Giao thông đô thị
17 Tỷ lệ đất giao thông đô thị
18 Mật độ đường chính
Tiêu chí 10 Cấp nước đô thị
19 Tỷ lệ hộ dân được cấp nước sạch
20 Lượng nước cấp bình quân ngày /người
Tiêu chí 11 Thoát nước đô thị
21 Mật độ đường ống thoát nước chính
22 Tỷ lệ nước thải được thu gom và
Tiêu chí 13 Bưu điện thông tin liên lạc, 25 Số điện thoại cố định/100 dân
Tiêu chí 14 Vệ sinh môi trường
Tiêu chí 15 Trình độ quy hoạch
và quản lý quy hoạch
28 Quy hoạch đầy đủ và đồng bộ
29 Chấp hành quy hoạch
30 Bảo tồn và tôn tạo di sản văn hóa
lịch sử
Tiêu chí 16 Trình độ quản lý hành chính
31 Tỷ lệ cán bộ quản lý đô thị có trình
độ đại học trở lên
32 Trình độ áp dụng tin học trong quản lý
(Nguồn: [10])
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 191.1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình đô thị hóa
Theo tác giả Thạch Ngọc Tâm (2013), có 6 yếu tố ảnh hưởng đến quá trình đô thị, gồm [27]:
+ Vị trí địa lí
Hầu hết các đô thị lớn đều được phân bố ở những nơi có vị trí thuận lợi như gần biển, cửa sông, giao thông thuận tiện Do đó, vị trí địa lí của đô thị có vai trò rất quan trọng, đặc biệt là vị trí giao thông và vị trí kinh tế Giao thông trở thành phương tiện và môi giới cơ bản để đô thị trao đổi năng lượng với bên ngoài, cung cấp bổ sung năng lượng cần thiết cho đô thị Từ đó, đô thị sẽ ngày càng đổi mới, cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật ngày càng phát triển
+ Điều kiện tự nhiên
Những vùng có khí hậu, thời tiết tốt, địa hình, đất đai thuận lợi cho xây dựng, địa chất thủy văn tốt và những lợi thế khác sẽ thu hút dân cư mạnh hơn và do đó sẽ được đô thị hóa sớm hơn, quy mô lớn hơn Ngược lại, vùng khác sẽ đô thị hóa chậm hơn, quy mô nhỏ hơn Đất đai là một nhân tố quan trọng, không thể thiếu được trong quá trình đô thị hóa Đất đai có vai trò như chỗ dựa, địa điểm xây dựng cơ sở hạ tầng
Đất đai mỗi vùng có cấu tạo thổ nhưỡng khác nhau Vì vậy, đất đai có ảnh hưởng rất lớn đến xây dựng các công trình đô thị
+ Điều kiện kinh tế - xã hội
- Trình độ phá triển kinh tế
Trình độ phát triển kinh tế của một nước được thể hiện trên nhiều phương diện:
quy mô và tốc độ tăng trưởng GDP, cơ cấu ngành của nền kinh tế, sự phát triển các thành phần kinh tế, trình độ hoàn thiện của cơ sở hạ tầng, trình độ văn hóa, giáo dục của dân cư mức sống dân cư… Trong chừng mực nhất định, trình độ phát triển kinh tế thể hiện lợi thế về vị trí, điều kiện tự nhiên và các vấn đề xã hội của một quốc gia hay một vùng Tuy nhiên nếu không có chính sách phát triển đô thị đúng sẽ dẫn đến tình hình bế tắc trong tương lai
- Phương thức sản xuất xã hội
Phương thức sản xuất xã hội và tình hình chính trị của đất nước có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình đô thị hóa Mỗi phương thức sản xuất có một kiểu đô thị tương ứng và do đó quá trình đô thị hóa có những đặc trưng riêng của nó
- Chủ trương, chính sách và năng lực quản lí
Chủ trương, chính sách đô thị hóa, chính sách nhà ở, Luật Đất đai, Luật Đầu tư nước ngoài là những chính sách lớn của nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ đến quá trình đô thị hóa Đồng thời trở thành nhân tố tích cực và quyết định của quá
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 20trình đô thị hóa Trình độ, năng lực cán bộ quản lí đô thị hay bộ máy quản lí nhà nước
về đô thị là vấn đề then chốt trong việc tổ chức thực hiện các chính sách đô thị hóa
Mọi chủ trương, chính sách đúng cần có những cán bộ có trình độ tổ chức thực hiện tốt thì chủ trương, chính sách mới trở thành hiện thực
+ Văn hóa dân tộc
Truyền thống văn hóa dân tộc có ảnh hưởng quan trọng đến quá trình đô thị hóa, trước hết là công tác quản lí đất đai đô thị, quản lí xã hội, quản lí dân số, mỗi dân tộc có một nền văn hóa riêng của mình và nền văn hóa đó có ảnh hưởng đến tất cả các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội nói chung và kiểu đô thị nói riêng
+ Hội nhập quốc tế
Sự hội nhập toàn diện là yếu tố thúc đẩy quá trình đô thị hóa nhanh hơn Sự hội nhập kinh tế làm cho các thị trường phát triển đặc biệt là thị trường tài chính Sự du nhập các hình thái kiến trúc, thương mại hóa các quan hệ, phương pháp quản lí hiện đại, liên doanh trong xây dựng đô thị… Sự hội nhập nền kinh tế thế giới thông qua giao dịch quốc tế về vốn, hàng hóa, lao động tạo nên sự cạnh tranh và phụ thuộc lẫn nhau giữa các đô thị trong và ngoài nước Tự do hóa thương mại và hội nhập đang tạo
ra những cơ hội mới bên trong các đô thị
+ Cách mạng khoa học – kĩ thuật
Sự phát triển của khoa học – kĩ thuật, công nghệ có ảnh hưởng mạnh mẽ đến phát triển kinh tế nói chung và từng đô thị nói riêng Những đô thị nào thuận lợi về luật pháp, cơ chế, chính sách, tính năng động của lực lượng sản xuất và ổn định chính trị thì nhân tố khoa học – kĩ thuật sẽ thúc đẩy đô thị đó phát triển nhanh hơn và ngược lại Sự xuất hiện các ngành công nghiệp dịch vụ điện tử bao gồm dịch vụ tài chính, thương mại, thông tin và bưu điện, các phương tiện thông tin hiện đại đang mang lại lợi ích to lớn cho các đô thị lớn Đây là cơ hội để Việt Nam bắt kịp các thành tựu khoa học hiện đại, rút được kinh nghiệm phát triển kinh tế và quản lí đô thị từ các nước trên thế giới và khu vực để giải quyết tốt các vấn đề môi trường, dân số, giao thông, nhà ở, việc làm…[27]
1.1.2.5 Tác động của quá trình đô thị hóa đối với kinh tế - xã hội-môi trường
a Những mặt tích cực Theo tác giả Huỳnh Thị Thu Tâm (2009), ĐTH đã có những tác động tích cực đến mọi lĩnh vực hoạt động của cả thế giới nói chung và từng quốc gia nói riêng [26]:
Trang 21với sự phát triển GTVT, thương nghiệp, dịch vụ Vì thế, nó là yếu tố quan trọng làm thay đổi quá trình phát triển và phân bố lực lượng sản xuất, theo hướng giảm lao động trong ngành sản xuất nông nghiệp, tăng nhanh tỉ lệ lao động trong các ngành phi nông nghiệp, được thể hiện ở quá trình người nông dân xa rời đồng ruộng để trở thành người thành thị Qua đó cho thấy, ĐTH đã làm thay đổi cơ cấu kinh tế và tính chất lao động theo hướng tích cực
Ngoài ra, ĐTH cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất
Một khi, ĐTH phát triển cùng với sự phát triển công nghiệp, các KCN, KCX xuất hiện, các nhà máy xí nghiệp mọc lên,… thu hút lao động tập trung quanh vùng tạo thành các khu định cư mới Đồng thời, kéo theo sự phát triển của các ngành dịch vụ (GTVT, thương mại, giáo dục, y tế,…) Từ đó, làm tăng tỉ lệ thị dân, quy mô đô thị, làm thay đổi lối sống dân cư…Tất cả những yếu tố trên ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất Một diện tích đất sử dụng trong nông nghiệp - lâm - ngư nghiệp được chuyển sang xây dựng CSHT công nghiệp và đô thị Đất đô thị có xu hướng tăng lên mạnh mẽ, đặc biệt là đất dân dụng và đất công nghiệp Bên cạnh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu sử dụng đất, ĐTH với sự phát triển mạnh của ngành công nghiệp, dịch vụ cả về số lượng lẫn quy mô đã góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế và góp phần làm tăng tổng sản phẩm xã hội (GDP)
+ Xã hội
Ở các đô thị, sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp, dịch vụ đã tạo
ra nhiều việc làm mới Trên cơ sở đó, đô thị làm thay đổi cả sự phân bố dân cư và lao động cũng như cơ cấu dân số theo lao động, nghề nghiệp, trình độ, các quá trình sinh
tử, hôn nhân…Rõ ràng, đây là một quá trình KT - XH tạo nên sự chuyển biến sâu rộng trong cấu trúc kinh tế và đời sống
-Ảnh hưởng đến gia tăng dân số tự nhiên
Theo các tài liệu thống kê dân số ở các đô thị cho thấy: môi trường đô thị đã làm chậm lại việc gia tăng tự nhiên của dân số ĐTH đã giải phóng người phụ nữ, tạo điều kiện cho họ tham gia vào sản xuất phi nông nghiệp với cường độ làm việc cao, tận dụng triệt để quỹ thời gian Mặt khác, lối sống dân cư đô thị sẽ thu hút phụ nữ vào các hoạt động xã hội, trình độ văn hóa và sự hiểu biết của phụ nữ được nâng cao làm cho các quan niệm về hôn nhân, sinh đẻ: số con trai, con gái có tiến bộ hơn Số con trung bình trong các gia đình ở thành thị ít hơn ở nông thôn và ở mức trung bình là từ
1 đến 2 con Tuổi kết hôn của người dân thành thị thường muộn hơn từ 3 - 5 năm Vì thế, kế hoạch hóa gia đình ở thành thị thực hiện tốt hơn ở nông thôn, tỉ lệ sinh thấp hơn Ở đô thị, mức sống của người dân cao hơn ở nông thôn, có những cơ sở y tế rất tốt làm giảm tỉ lệ tử vong, tạo điều kiện cho dân cư đô thị tăng lên nhanh chóng
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 22-Ảnh hưởng đến gia tăng dân số cơ giới
ĐTH cùng với sự phát triển của công nghiệp đã làm xuất hiện những vùng dân
cư mới, đông đúc, ít phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp Nơi đó có nhiều nhà máy, xí nghiệp, có chất lượng cuộc sống cao hơn thôn quê,…đã làm làn sóng di cư từ nông thôn lên đô thị càng nhiều
-Ảnh hưởng đến kết cấu dân số
* Kết cấu dân số theo tuổi
Dân cư thành thị cũng có cũng có sự khác biệt về kết cấu lứa tuổi so với nông thôn Dân cư đô thị trong độ tuổi lao động, nhất là tuổi từ 20 - 40 nhiều hơn nông thôn nhưng dưới độ tuổi lao động ít hơn vùng nông thôn, do tỉ lệ sinh của thành phố thấp hơn vùng nông thôn và do hoạt động sản xuất phi nông nghiệp đã thu hút một lực lượng lao động nhập cư lớn
* Kết cấu dân số theogiới tính
ĐTH gắn liền với quá trình di chuyển dân cư từ các vùng nông thôn đến đô thị, trong đó lực lượng nam giới có tính cơ động cao hơn nữ giới, cho nên tỉ lệ tỉ lệ nam giới trong lao động nhập cư thường cao hơn nữ Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, ở các thành phố lớn, nhu cầu lao động trong các ngành dịch vụ nhiều lên, lại có khả năng lôi cuốn lao động nữ nhiều hơn nam Mặt khác, cuộc sống của các vùng đô thị cao hơn
và văn minh đô thị càng làm cho tuổi thọ nữ cao hơn nam Vì vậy, tỉ lệ nữ ở thành phố thường cao hơn nam
* Kết cấu dân số theo nghề nghiệp
Ở vùng nông thôn, đại bộ phận dân cư hoạt động trong khu vực nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và các ngành dịch vụ nông nghiệp, còn các ngành dịch vụ khác và công nghiệp ít phát triển Quá trình ĐTH diễn ra làm thay đổi mạnh mẽ cơ cấu nghề nghiệp dân cư theo hướng: lao động trong nông nghiệp chuyển sang sản xuất công nghiệp và hoạt động dịch vụ Ở thành thị, sự phân hóa nghề nghiệp rất sâu sắc, cơ cấu nghề nghiệp của dân cư rất đa dạng: từ lao động trí óc, nghệ thuật cho đến công nhân, những người nội trợ và làm nghề phục vụ,…Bởi dân cư thành thị có sự khác biệt lớn
về trình độ văn hóa, nguồn gốc, xã hội, quốc tịch Ngoài ra, thành thị có môi trường thuận lợi cho sự phân công lao động xã hội sâu sắc, hình thành nhiều ngành nghề mới, đặc biệt là các ngành dịch vụ, làm cho tỉ lệ lao động trong các ngành dịch vụ tăng lên nhanh chóng
* Ảnh hưởng đến mật độ dân số và phân bố dân cư
Ở nông thôn, đại bộ phận dân cư sản xuất nông nghiệp Do đó, dân cư phân tán trong không gian, mật độ dân cư thưa thớt Sự phát triển của công nghiệp và đi cùng
nó là quá trình đô thị hóa đã dẫn đến sự tập trung đông đúc dân cư vào các đô thị, làm cho mật độ dân cư ở thành thị cao, nguồn lao động dồi dào
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 23+ Môi trường
ĐTH gắn liền với việc mở rộng và phát triển của không gian đô thị Trên cơ sở
đó hình thành môi trường đô thị Môi trường sinh thái đô thị là môi trường nhân tạo
Môi trường nhân tạo này lại nằm trong mối tương tác liên tục với môi trường tự nhiên xung quanh Đặc biệt thông qua hoạt động sản xuất, sinh hoạt, nghỉ ngơi, giải trí của con người, môi trường đô thị được mở rộng và vận động, chuyển hóa không ngừng
Môi trường sinh thái đô thị bao gồm những bộ phận chính: Môi trường ở và sinh hoạt
Môi trường làm việc Môi trường nghỉ ngơi, giải trí Các môi trường này của đô thị được biểu hiện bằng các khu chức năng của đô thị như: các khu ở, các khu công nghiệp, các trung tâm dịch vụ, thương mại, các công viên, các khu thể thao, nhà hát,…Sự tương tác giữa môi trường sinh thái đô thị và môi trường tự thiên nhiên luôn luôn vận động phức tạp, nhất là vùng nông thôn ven đô, ngoại thành Nơi mà một phần
đã chuyển hóa đô thị, còn một phần vẫn mang đặc trưng nông thôn Sự chuyển hóa nông thôn thành đô thị ở đây diễn ra theo thời gian và không gian
b Tiêu cực
Về khách quan, ĐTH đã phần nào giúp giải quyết nạn thất nghiệp ĐTH đòi hỏi biến đổi nhanh chóng các hoạt động nghề nghiệp của tầng lớp dân cư đô thị Các hoạt động sản xuất công nghiệp và dịch vụ, thương mại ngày càng đòi hỏi người lao động phải có trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghề nghiệp,…nếu họ muốn nâng cao thu nhập, trình độ học vấn, năng lực chuyên môn của đội ngũ lao động tăng lên, nguồn chất xám phong phú đã góp phần đẩy nhanh tăng trưởng của thành phố Nhưng nếu lượng nhập cư đổ về thành phố quá lớn trong khi sức tải thành phố có hạn thì thành phố phải đối đầu với nạn thất nghiệp, những vấn đề giải quyết việc làm, nhà ở, GTVT , môi trường,…Đó là những vấn đề của đô thi hiện nay cần được quan tâm giải quyết, nhất là ở những nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam của chúng ta ĐTH có mối liên hệ mật thiết với quá trình công nghiệp hóa Việc phát triển ĐTH không bắt nguồn
và cân đối với quá trình công nghiệp hóa sẽ gây ra những vấn đề tiêu cực về KT - XH cũng như sự suy thoái môi trường sống [26]
+Vấn đề việc làm
Việc làm là một trong những vấn đề nan giải ở các đô thị Với việc phát triển của quá trình ĐTH, dân cư tập trung ngày càng nhiều trong các thành phố Vì vậy, việc làm không thể đáp ứng cho mọi lao động Hơn nữa, không phải người lao động nào cũng được đào tạo và có trình đô chuyên môn, tay nghề, nghiệp vụ để phục vụ cho các ngành kinh tế Nạn thất nghiệp trở nên trầm trọng và để lại những ảnh hưởng xấu đến
KT - XH của các đô thị, đặc biệt là các thành phố triệu dân
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 24+ Nhà ở
Nhà ở cũng là nỗi lo của các đô thị Dân cư ngày càng đông đúc trên một lãnh thổ có hạn đã làm cho vấn đề nhà ở trở nên cấp thiết Ở các thành phố lớn, bên cạnh khu vực hành chính, buôn bán, dịch vụ và các dãy phố, chung cư khang trang còn tồn tại các khu ổ chuột - nơi tá túc của người lao động nghèo, thu nhập thấp Ngay cả ở các nước phát triển cũng không hiếm những người vô gia cư gắn liền với tình trạng thất nghiệp Chính các khu ổ chuột làm xuống cấp môi trường đô thị
+ Kết cấu hạ tầng đôthị
Kết cấu hạ tầng đô thị nhất là ở các nước đang phát triển trở nên quá tải trước sức ép rất lớn về dân số và các hoạt động KT - XH Kết cấu hạ tầng đô thị bao gồm trước hết là giao thông đô thị (mạng lưới đường và phương tiện vận tải công cộng), cung cấp năng lượng (điện, xăng, dầu, ga,…), cấp thoát nước, thu gom rác thải, công viên - cây xanh…Chỉ tính riêng về GTVT, trong các thành phố ở các nước đang phát triển còn nhiều bất cập Quy mô của thành phố được mở rộng, nhu cầu đi lại, vận chuyển không ngừng tăng lên Vì thế, áp lực càng gia tăng đối với giao thông đô thị,
mà một trong những biểu hiện rõ nét nhất là nạn tắc đường, kẹt xe Điều này còn ảnh hưởng đến cả môi trường đô thị
Vấn đề cung cấp điện, nước và thoát nước trong các đô thị lớn cũng thường bị quá tải ở các nước đang phát triển Bởi ĐTH quá mức so với sự phát triển kinh tế là đặc trưng của quá trình ĐTH ở các nước đang phát triển nên hệ thống điện, nước và đường dẫn điện đã trở nên quá tải, không đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất và sinh hoạt
Tình trạng thiếu điện, nước luôn là vấn đề bức xúc của các nước này Nước sinh hoạt trong đô thị thường không đáp ứng đủ nhu cầu của dân cư và nhu cầu phát triển sản xuất Trong khi đô thị thiếu nước sạch thì nước thải luôn trở nên quá tải, thải trực tiếp
ra kênh rạch dẫn đến ô nhiễm môi trường trầm trọng
+ Môi trường
Ngày nay quá trình ĐTH diễn ra trong bối cảnh của ba mối lo về sinh thái: Sự bùng nổ dân số; Sự cạn kiệt tài nguyên; Sự ô nhiễm môi trường Ba tác nhân này gây sức ép mạnh mẽ lên quá trình ĐTH, làm cho quá trình ĐTH hiện nay, đặc biệt ở các nước đang phát triển bị biến dạng ghê gớm Quá trình ĐTH ở những nước này gây ra hàng loạt hiện tượng quá tải, làm môi trường sinh thái phải chịu hậu quả nặng nề và phá vỡ môi trường tự nhiên - kinh tế - xã hội Chất lượng môi trường đô thị đang đứng trước nguy cơ suy thoái nghiêm trọng Tình trạng ô nhiễm môi trường và suy thoái môi trường đô thị là thách thức quá lớn đối với quá trình ĐTH Ở các nước đang phát triển, quá trình ĐTH diễn ra dưới sự tác động của sự bùng nổ dân số, cạn kiệt tài nguyên là không thể kiểm soát được
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 25- Môi trường không khí : Đô thị là vùng tập trung dân cư đông Sản xuất công
nghiệp, dịch vụ phát triển, đồng thời cũng kéo theo ô nhiễm không khí và tiếng ồn, nhưng nguồn ô nhiễm này không dừng lại ở phạm vi môi trường thành phố mà lan tỏa khắp nơi Những chất thải này một mặt làm tăng hiệu ứng nhà kính Mặt khác, lỗ thủng tầng ozone trong tầng bình lưu tăng lên Các nhà khoa học chứng minh rằng 80 - 85% nguyên nhân gây lỗ thủng ozone bắt nguồn từ khí thải không khí Ô nhiễm không khí của một số đô thị không những làm nguy hại cho môi trường ở đô thị nào đó, mà còn gây ô nhiễm cho những vùng lân cận Bầu không khí của thành phố nhiễm đầy
CO2 và NO2 cùng với những bụi bẩn khác khi gặp đám mây tụ lại tạo thành những đám mưa acid gây tác hại cho làng mạc ruộng vườn, cây cối
-Môi trường nước: Sự phát triển đô thị đồng thời với sự gia tăng dân số và tăng
cường sản xuất công nghiệp khiến cho yêu cầu nước sinh hoạt và sản xuất ngày càng tăng Nguồn nước từ sông hồ ngày càng ô nhiễm nặng đòi hỏi phải khai thác nước ngầm để sử dụng Điều đó đồng nghĩa với làm cạn tài nguyên nước và ô nhiễm nước ngầm Mặt khác, sản xuất và sinh hoạt đô thị thải ra một lượng nước thải lớn vào hệ thống cống rãnh sông rạch với đủ các loại ô nhiễm hữu cơ, vô cơ, vi sinh độc hại và nguy hiểm Hầu hết các thành phố đều có sông chảy qua và hầu hết hạ lưu của các con sông này đều bị ô nhiễm Nguồn nước bị ô nhiễm mang mầm bệnh, vi khuẩn, làm ảnh hưởng đến thủy sinh và dân cư sống ở vùng hạ lưu
Ô nhiễm đô thị kéo theo sự ô nhiễm môi trường đất đô thị Bởi một khi không khí và nước đều bị ô nhiễm thì nó sẽ thấm vào môi trường đất làm cho đất ô nhiễm, hay cũng có thể ô nhiễm trực tiếp vì nguồn thải vào đất, trong đó chứa nhiều rác độc hại, xác súc vật, phân người, chất thải công nghiệp, dầu, phân bón, thuốc trừ sâu làm môi trường đất bị ô nhiễm [26]
1.1.3 Sinh kế và khung sinh kế bền vững
1.1.3.1 Khái niệm sinh kế
Theo Bộ Phát triển Quốc tế Anh (Department for International Development – DFID) sinh kế bao gồm 3 thành tố chính: nguồn lực và khả năng con người có được, chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế Có quan niệm cho rằng sinh kế không đơn thuần chỉ là vấn đề kiếm sống, kiếm miếng ăn và nơi ở mà nó còn đề cập đến vấn đề tiếp cận các quyền sở hữu, thông tin, kỹ năng, các mối quan hệ Sinh kế cũng được xem như
là “ sự tập hợp các nguồn lực và khả năng mà con người có được kết hợp với những quyết định và hoạt động mà họ thực thi nhằm để sống cũng như để đạt được các mục tiêu và ước nguyện của họ” [9]
Về cơ bản các hoạt động sinh kế là do mỗi cá nhân hay hộ gia đình tự quyết định dựa vào năng lực và khả năng của họ và đồng thời chịu tác động của các thể chế chính sách và các mối quan hệ xã hội và mỗi cá nhân, hộ gia đình tự thiết lập trong cộng đồng [32]
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 261.1.3.2 Sinh kế bền vững
Theo tác giả Phan Thị Thắng [30]: Khái niệm sinh kế bền vững lần đầu tiên được giới thiệu bởi Brundtland Commission, Ủy ban thế giới về môi trường và phát triển, thuộc đại học Oxford, năm 1987, nó đã liên kết các khía cạnh về kinh tế xã hội và môi trường sống một cách cụ thể [38] Năm 1992, Robert Chambers và Gordon Conway đã đề xuất một khái niệm về sinh kế bền vững được áp dụng ở cấp độ hộ gia đình: “Sinh kế bao gồm các năng lực, tài sản (cửa hàng, tài nguyên, khả năng tiếp cận) và các hoạt động cần thiết cho một phương tiện sinh sống: sinh kế bền vững là nó
có thể đương đầu và phục hồi trước tác động của những áp lực và những cú sốc gặp phải, không những thế nó còn duy trì và tăng cường được các khả năng và tài sản của mình và cung cấp cơ hội sinh kế bền vững cho thế hệ sau; có thể đóng góp những lợi ích ròng thu được từ các hoạt động của mình cho sinh kế khác ở địa phương hay trên thế giới trong ngắn hạn cũng như dài hạn” [37]
Khái niệm trên đã liên kết ba khái niệm hiện có là năng lực, sự công bằng giữa các thế hệ và sự bền vững Trong các thành phần khác nhau của một sinh kế thì thành phần phức tạp nhất là danh mục các tài sản mất đi khi mà người dân xây dựng lại cuộc sống của họ Danh mục tài sản này nó bao gồm tài sản hữu hình như cửa hàng và tài nguyên, tài sản vô hình như quyền lợi và khả năng tiếp cận [38]
Cho đến gần đây Viện nghiên cứu phát triển (IDS) và Bộ phát triển quốc tế Vương quốc Anh (DFID) đã nghiên cứu khái niệm và cách tiếp cận mới về sinh kế bền vững Ian Scoones, một nhà nghiên cứu của Viện nghiên cứu phát triển, Vương quốc Anh, đã đề xuất một định nghĩa về sinh kế bền vững như sau: Sinh kế bao gồm những khả năng, tài sản (cả tài nguyên vật chất và xã hội) và các hoạt động cần thiết cho một phương tiện sinh sống Sinh kế bền vững là khi mà nó có thể đương đầu và phục hồi khi trải qua những tổn thất và những cú sốc gặp phải Không những thế nó còn duy trì và nâng cao những khả năng và tài sản của mình, trong khi không làm suy thoái tài nguyên thiên nhiên [39]
Điểm khác biệt chính giữa định nghĩa mới này và định nghĩa trước đó của Chambers và Conway là ở chỗ nó không bao gồm những yêu cầu để một sinh kế được xem là bền vững như đóng góp lợi nhuận ròng từ các hoạt động của mình cho sinh kế của người khác
1.1.3.3 Khung sinh kế bền vững
Phân tích sinh kế bền vững đơn giản là tìm hiểu về sinh kế của người dân và từ
đó tìm cách để làm cho chúng trở nên bền vững Để thực hiện điều này chúng ta sử dụng công cụ mang tên “Khung sinh kế bền vững” (SLF) Khung sinh kế bền vững được Cơ quan phát triển quốc tế Vương quốc Anh (DFID, 2001) phát triển, đã nêu lên những yếu tố chính ảnh hưởng đến sinh kế người dân Các mối quan hệ tiêu biểu trong
đó bao gồm [22]:
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 27
Nguồn: DFID, 2001[9]
Hình 1.1 Khung sinh kế bền vững (DFID, 2001)
Khung sinh kế bền vững bao gồm những nhân tố chính ảnh hưởng đến sinh kế của con người và những mối quan hệ cơ bản giữa chúng Nó có thể được sử dụng để lên kế hoạch cho những hoạt động phát triển mới và đánh giá sự đóng góp vào sự bền vững của những hoạt động hiện tại [22]
-Luật tục, thể chế, cộng đồng
- Các chính sách của nhà nước và pháp luật
Bối cảnh tổn thương
-Xu hướng kinh tế, xã hội và môi trường -Dao động theo thời vụ
-Sốc, khủng hoảng
Kết quả sinh kế
-Mức thu nhập cao hơn -An ninh lương thực -Chất lượng
Hoạt động thủy điện Biến phụ thuộc
Con người
Biến độc lập
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 281.1.3.4 Các yếu tố tạo thành khung sinh kế bền vững
Thay đổi tự nhiên
Thay đổi về kinh tế
b Tài sản sinh kế
Theo nhóm các tác giả Nguyễn Văn Toàn, Trương Tấn Quân,Trần văn Quảng thì nguồn vốn hay tài sản sinh kế được chia làm 5 loại sau [29]:
Nguồn vốn tự nhiên
Là các nguồn tài nguyên thiên nhiên như đất, nước mà con người có được hay
có thể tiếp cận được nhằm phục vụ cho các hoạt động và mục tiêu sinh kế của họ
Nguồn vốn tự nhiên thể hiện khả năng sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên để tạo ra thu nhập phục vụ cho các mục tiêu sinh kế của họ Đây có thể là khả năng ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến chất lượng cuộc sống của con người từ các nguồn tài nguyên thiên nhiên Nguồn vốn tự nhiên thể hiện quy mô và chất lượng đất đai, quy
mô và chất lượng nguồn nước, nguồn tài nguyên khoáng sản, tài nguyên thủy sản và nguồn không khí Đây là yếu tố tự nhiên mà con người có thể sử dụng để tiến hành các hoạt động sinh kế như đất, nước, khoáng sản và thủy sản hay những yếu tố tự nhiên có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến cuộc sống của con người như không khí hay sự
đa dạng sinh học
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 29 Nguồn vốn con người (hay Nguồn nhân lực)
Là khả năng, kỹ năng, kiến thức làm việc và sức khỏe để giúp con người theo đuổi những chiến lược sinh kế khác nhau nhằm đạt được kết quả sinh kế hay mục tiêu sinh kế của họ Với mỗi hộ gia đình vốn nhân lực biểu hiện ở khía cạnh lượng và chất
về lực lượng lao động ở trong gia đình đó Vốn nhân lực là điều kiện cần để có thể sử dụng và phát huy hiệu quả bốn loại vốn khác
Nguồn vốn tài chính Đây là yếu tố trung gian cho sự trao đổi có ý nghĩa quan trọng đối với việc sử dụng thành công các tài sản khác Nguồn vốn tài chính nghĩa là các nguồn tài chính (chủ yếu là tiền mặt và các khoản tài chính tương đương) mà con người sử dụng để đạt được mục tiêu sinh kế của mình Các nguồn đó bao gồm nguồn dự trữ hiện tại, dòng tiền theo định kỳ và khả năng tiếp cận các nguồn vốn tín dụng từ bên ngoài như từ người thân hay từ các tổ chức tín dụng khác nhau
Nguồn vốn vật chất Bao gồm cơ sở hạ tầng cơ bản và hàng hóa vật chất nhằm hỗ trợ việc thực hiện các hoạt động sinh kế Nguồn vốn vật chất thể hiện ở cả cấp cơ sở cộng đồng hay cấp
hộ gia đình Trên góc độ cộng đồng, đó chính là cơ sở hạ tầng nhằm hỗ trợ cho sinh kế của cộng đồng hay cá nhân gồm hệ thống điện, đường, trường trạm, hệ thống cấp nước
và vệ sinh môi trường, hệ thống tưới tiêu và hệ thống chợ Đây là phần vốn vật chất hỗ trợ cho hoạt động sinh kế phát huy hiệu quả Ở góc độ hộ gia đình, vốn vật chất là trang thiết bị sản xuất như máy móc, dụng cụ sản xuất, nhà xưởng hay các tài sản nhằm phục vụ nhu cầu cuộc sống hàng ngày như nhà cửa và thiết bị sinh hoạt gia đình
Nguồn vốn xã hội
Là một loại tài sản sinh kế Nó nằm trong mối quan hệ xã hội (hoặc các nguồn lực xã hội) chính thể và phi chính thể mà qua đó người dân có thể tạo ra cơ hội và thu được lợi ích trong quá trình thực thi sinh kế
Nguồn vốn sinh kế không chỉ thể hiện ở trạng thái hiện tại mà còn thể hiện khả năng thay đổi trong tương lai Chính vì thế khi xem xét vốn, con người không chỉ xem xét hiện trạng các nguồn vốn sinh kế mà cần có sự xem xét khả năng hay cơ hội thay đổi của nguồn vốn đó như thế nào ở trong tương lai
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 30Con người
Vật chất Tài chính
Hình 1.2 Ngũ giác về 5 nguồn vốn sinh kế
- Hình dạng của ngũ giác diễn tả khả năng tiếp cận của người dân với các loại nguồn vốn Tâm điểm là nơi không tiếp cận được với loại nguồn vốn nào Các điểm nằm trên chu vi là tiếp cận tối đa với các loại nguồn vốn
- Những ngũ giác có hình dạng khác nhau có thể được vẽ cho những cộng đồng khác nhau hoặc cho những nhóm xã hội khác nhau trong cộng đồng đó
- Mọi tài sản riêng lẻ có thể tạo ra nhiều lợi ích Nếu một người có thể tiếp cận chắc chắn với đất đai (nguồn vốn tự nhiên) thì họ cũng có thể có được nguồn tài chính
vì họ có thể sử dụng đất đai không chỉ cho những hoạt động sản xuất trực tiếp mà còn cho thuê
- Phẩm chất của nguồn vốn thay đổi thường xuyên vì vậy ngũ giác cũng liên tục thay đổi theo thời gian
- Sơ đồ ngũ giác rất hữu ích cho việc tìm ra điểm nào thích hợp, những nguồn vốn nào sẽ phục vụ cho nhu cầu của nhóm xã hội khác nhau và cân bằng giữa những nguồn vốn đó như thế nào
c Các chiến lược sinh kế và kết quả
Chiến lược sinh kế là các kế hoạch làm việc dài hạn của cộng đồng để kiếm sống Nó thể hiện sự đa dạng và kết hợp nhiều hoạt động và lựa chọn mà con người tiến hành nhằm đạt được mục tiêu sinh kế của mình
Kết quả sinh kế là những thay đổi có lợi cho sinh kế của cộng đồng, nhờ có chiến lược sinh kế mang lại, cụ thể là thu nhập cao hơn, cuộc sống ổn định hơn, giảm rủi ro, đảm bảo tốt hơn an toàn thực phẩm, và sử dụng bền vững hơn nguồn tài nguyên thiên nhiên
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 311.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.2.1 Tình hình đô thị hoá ở thế giới
1.2.2.1 Khái quát chung về đô thị hóa một số nước trên thế giới
Seoul
Hình thành từ 600 năm trước đây, gần đây Seoul đã thành một trong những siêu
đô thị tầm cỡ thế giới với tốc độ chóng mặt Từ chỗ chỉ có trên 10 triệu dân năm 1990 (chiếm 25% dân số cả nước), đến năm 1995 đã có trên 45% dân số cả nước sống và làm việc tại vùng thủ đô, gồm Seoul và tỉnh Kyonggi Đô thị hoá đi liền với công nghiệp hoá đã trở thành động lực phát triển đô thị tập trung gần 24,4 triệu người [24]
Tuy nhiên, quá trình đô thị hoá đã để lại nhiều hậu quả như sự chênh lệch việc làm, sự quá tải về đất đai và hạ tầng, sự bất lợi về an ninh của một đô thị đầu não
và phục vụ công cộng (27 thành phố, 3 thị trấn và 7 làng) và 2 đảo Lzu và Ogasawara
Vùng siêu đô thị Tokyo gồm 3 tỉnh liền kề trong bán kính 50 km có tổng dân số 32,58 triệu người, mật độ dân số là 10.440 người/km2 Tuy có ranh giới hành chính riêng nhưng thực chất hàng ngày có 3,16 triệu người ở 3 tỉnh đến làm việc trong bán kính lên đến 70 km [24]
Tokyo và 7 tỉnh xung quanh (Saitama, Kanagawa, Chiba, Gumma, Tochigi, Ibaraki và Yamanashi) được quy hoạch thành thủ đô quốc gia nhằm giảm bớt áp lực dân số và chức năng tập trung theo hướng đa cực, lập vành đai xanh hạn chế phát triển Tokyo Ngoài ưu việt tập hung cao, giao thông phát triển triển (ít phương tiện cá nhân giảm ô nhiễm), Tokyo tập trung cao dẫn đến mất cân đối các vùng, nhà đất khan hiếm
và chất lượng thấp, tiện nghi thời gian sống thiếu, sự lệ thuộc cơ giới, sự thiếu quy hoạch đầu tư và gánh nặng hạ tầng cao ốc
Bangkok
Do vị trí địa lý cửa ngõ thuận lợi cho kinh tế và thương mại nên thành phố này
đã nhanh chóng được Hoàng gia Thái Lan chọn đóng đô hơn hai thế kỷ trước Sự phát triển ồ ạt nhanh chóng của nó phải kể đến khi Thái Lan tiến hành công nghiệp hoá trong những năm 70-80 Thập niên cuối thế kỷ XX chứng kiến sự phát triển vượt bậc
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 32của nó trở thành đô thị cực lớn duy nhất của nước này Vùng đô thành Bangkok có dân
số lên đến gần 7 triệu người (hơn một nửa dân số đô thị cả nước), với ranh giới trên 2.400 km2, đã trở thành trung tâm lan toả theo các trục giao thông đi các tỉnh xung quanh [24] Vùng đô thành Bangkok đi đầu và chi phối toàn bộ hoạt động kinh tế-xã hội của một nước vốn 30 năm trước đây chỉ dựa vào nông nghiệp Đồng thời với đô thị hoá tập trung cao độ, các vấn đề thiếu đất phát triển, ô nhiễm môi trường, tắc nghẽn giao thông, nhà ổ chuột cũng đã trở thành vấn đề vô cùng nan giải
Sau năm 1978 với chính sách mở cửa, cải cách và công nghiệp hoá, kinh tế Trung Quốc bước vào thời kỳ cao trào, quá trình đô thị hoá cũng tiến vào giai đoạn mới Tỷ trọng dân số đô thị nhanh chóng tăng cao, năm 1977 là 17,6% đến năm 1995 tăng lên 29,04% [24]
Vùng đô thị Bắc Kinh có diện tích khoảng 17.000 km2, bao gồm thành phố trung tâm (7 triệu người) được bao bọc bởi vành đai xanh và 12 thành phố vệ tinh cách đều 40 km và các thị trấn xóm Kiến trúc phát triển ồ ạt từ khi đổi mới, song trật tự hình phễu cao dần ra ngoài, dễ thấy so với khuynh hướng tự do phương tây ở Thượng Hải và Thâm Quyến Tuy đã đạt ở mức trung bình của các nước đang phát triển, các khu đô thị nhỏ chất lượng thấp những năm 60-70 đã dần được bổ sung bởi các nhà mới xây theo thị trường Các thành phố vệ tinh có hạ tầng tốt đang trở nên sống động với 10-50 vạn người [24] Tuy nhiên, truyền thống Bắc Kinh cũng đang phải đối mặt với sức ép dân số, cây xanh, đất nông nghiệp, cấu trúc khu phố dọc theo vành đai mới
Thành phố vệ tinh, khu ven đô trở thành nơi dày đặc các hoạt động đường cao tốc, xây dựng khu công nghiệp xen lẫn làng xóm, cây cối
Nhìn chung, quá trình đô thị hoá ở châu Á diễn ra khá mạnh mẽ Trong những thập kỷ qua, tốc độ đô thị hoá ở khu vực này nhanh hơn nhiều so với các khu vực khác trên thế giới, đặc biệt là ở vùng ngoại vi Quá trình đô thị hoá ở khu vực ngoại vi sẽ làm tăng số lượng dân cư đô thị và đóng góp vào quá trình đô thị hoá chung của khu vực trung tâm [23]
Dự báo trong vòng 20 năm tới các khu vực ngoại vi của Đông Á sẽ làm tăng thêm 200 triệu dân cư đô thị, đóng góp vào 40% mức tăng dân cư đô thị của khu vực trung tâm [20]
1.2.1.2 Xu hướng phát triển đô thị của một số nước trên thế giới
Đô thị hóa phát triển mạnh trên quy mô toàn cầu làm tăng số lượng các đô thị lớn, tăng nhanh dân số đô thị và tiử lệ thị dân Hiện nay, xu hướng phát triển của thế giới là biến trái đất thành một hành tinh chủ yếu bao gồm các đô thị (hành tinh bê tông) Đến thế kỉ 21, khi dân số đạt mức ổn định, thì số dân cư nông thôn thật là nông dân sẽ chỉ là một thiểu số ít ỏi Dân số đô thị thế giới 2005 đạt tới 47% tổng dân số, ước tính đến 2025 là 61% Sự gia tăng dân số đô thi thế giới hiện nay chủ yếu tập
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 33chung ở các nước đang phát triển Vào giữa thế kỉ 20 các nước kinh tế phát triển dân
số đô thị đã đạt trên 50%, trong khi để đạt tỉ lệ này các nước đang phát triển phải mất
75 năm nữa, tức là vào năm 2025 Các nước chậm phát triển tỉ lệ dân số đô thị thấp đặc biệt là các nước châu phi và châu Á với tỉ lệ dân cư đô thị dưới 30% dân số trong khi đó tỉ lệ dân cư đô thị ở Mỹ La Tinh cao hơn đạt khoảng 70% [1]
Bảng 1.3 Dân số đô thị và tỷ lệ % dân số sống ở khu vực đô thị
Sự bùng nổ dâm cư đô thị trong thế kỉ tới chủ yếu tập trung ở các nước đang phát triển Trong khi vào những năm 60 hơn một nữa dân số đô thị thế giới tập trung ở các nước kinh tế phát triển tuy nhiên đến năm 1970 thì dân số đô thị ở các nước phát triển chỉ nhiều hơn ở các nước đang phát triển cỏ 44 triệu người.Nhưng trong thời gian gần đây, sự chênh lệch dân số đô thị ở các nước phát triển và các nước đang phát triển tăng lên nhanh chóng, từ 1975 các cân dân số đô thị giữua hai khu vực đã có sự thay đổi, tỉ lệ dân số đô thị của thế giới sinh sống ở các nước đang phát triển tăng nhanh
Năm 1990 quá nữa dân số đô thị thế giới (61%) tập trung ở các nước đang phát triển
Theo dự đoán dân số đô thị của lien hợp quốc, dân số đô thị thế giới năm 2025 sẽ tập rung ở các nước đang phát triển gấp 4 lần ở các nước phát triển Tốc độ gia tăng dân số
đô thị các nước đang phát triển tăng lên nhanh chóng trong thời gian ngắn có thể đạt tới con số hơn 4 tỉ người vào năm 2025 trong khi đó dân số đo thị ở các nước kinh tế phát triển tăng lên chậm, chỉ tăng từ 881 triệu 1990 lên 1177 triệu năm 2025 Tốc độ
đô thị hóa ở các nước đang phát triển trong những năm gần đây và trong thời gian tới
tỉ lệ thị dân sẽ đạt tới 50% vào năm 2015 và có thể đạt 57% vào năm 2025 Tuy nhiên, trong số đó còn có 47 quốc gia kém phát triển nhất là những nước ở trong tình trạng kinh tế nghèo nàn, lạc hậu có tốc độ đô thị hóa thấp, năm 1970 tỉ lệ thị dân đạt
có 13%, đến năm 1990 là 20% với 103 triệu dân đô thị, tốc độ gia tăng trung bình là 4,95%/ năm [1]
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 341.2.2 Tình hình đô thị hoá ở Việt nam
1.2.2.1 Khái quát chung về thực trạng đô thị hóa ở Việt Nam
Theo Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia: môi trường đô thị của Bộ Tài nguyên Môi trường năm 2016, Việt Nam đã có lịch sử phát triển đô thị từ rất lâu đời
Đến thập kỷ 90, số lượng đô thị đã lên đến khoảng 500 đô thị Kể từ đó đến nay, số lượng đô thị tiếp tục tăng lên nhanh chóng Tính đến tháng 12 năm 2016, cả nước đã
có 795 đô thị, với tỷ lệ đô thị hoá đạt 35,2%1, gồm: 02 đô thị đặc biệt (Hà Nội và Tp
Hồ Chí Minh), 17 đô thị loại I trong đó có 03 đô thị loại I trực thuộc TW (Hải Phòng,
Đà Nẵng và Cần Thơ), 25 đô thị loại II, 41 đô thị loại III, 84 đô thị loại IV và 626 đô thị loại V Theo đánh giá của Ngân hàng Thế Giới, Việt Nam đang đô thị hóa nhanh chóng, từ đó dẫn tới không gian và dân số tại các đô thị tăng nhanh Hai thành phố lớn
Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh đang phát triển nhanh hơn nhiều so với tất cả các thành phố khác Trên thực tế, hai thành phố này chi phối phát triển đô thị của cả quốc gia [1]
Theo quy luật khách quan, đô thị hóa phải bắt nguồn từ phát triển nền kinh tế phi nông nghiệp (công nghiệp, thương mại, dịch vụ…) dần dần thay thế cho nền kinh
tế nông nghiệp Tuy nhiên, khác với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới, đô thị hóa ở Việt Nam có đặc điểm là quá trình đô thị hóa nông thôn thành thành thị, biến đổi các làng, xã nông nghiệp thành các quận, phường của đô thị Phát triển và tăng trưởng
đô thị ở nước ta nhìn chung là muộn và chậm hơn so với một số nước trong khu vực
Sự phát triển đô thị không đồng đều giữa các vùng và chênh lệch nhiều giữa các khu vực khác nhau về đặc điểm địa lý, cụ thể như các khu vực đồng bằng, duyên hải phát triển nhanh hơn vùng núi, vùng cao Hơn nữa, việc quản lý hạ tầng kỹ thuật giữa các
bộ ngành không nhất quán, đồng bộ dẫn đến những tác động không nhỏ đến môi trường, đặc biệt ở các đô thị lớn Thực trạng chung hiện nay là các đô thị đều bị quá tải, tăng sức ép ở tất cả các mặt hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội
Hệ thống đô thị nước ta đang phát triển nhanh về số lượng nhưng chất lượng đô thị còn thấp Hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông đô thị trong những năm qua tuy đã được cải thiện và nâng cấp, thể hiện qua các mặt, như: nhiều tuyến đường, cây cầu được xây dựng; chất lượng đường đô thị dần được cải thiện; các đô thị loại III trở 2
Quyết định số 445/QĐ-TTg ngày 07 tháng 04 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh định hướng quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050 lên hầu hết đã có các tuyến đường chính được nhựa hoá và xây dựng đồng bộ với hệ thống thoát nước, vỉa hè, chiếu sáng và cây xanh, nhưng hệ thống hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội chưa đồng bộ; trình độ và năng lực quản lý và phát triển đô thị còn thấp so với yêu cầu Kết cấu hạ tầng đô thị yếu kém, quá tải không những không tạo điều kiện cho sự phát triển KT - XH đô thị,
mà còn làm nảy sinh nhiều áp lực đối với môi trường Để phát triển đô thị hóa bền
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 35vững, chúng ta cần tiến hành xây dựng các hệ thống hạ tầng đô thị, đặc biệt là hạ tầng
kỹ thuật phải đi trước một bước Trên thực tế, đô thị hóa ở nước ta nhiều nơi, nhiều lúc còn mang tính chủ quan; muốn nhanh chóng tăng dân số đô thị để được nâng cấp đô thị (như nâng cấp đô thị loại V thành loại IV, loại IV thành loại III…) nên đã mở rộng
đô thị bằng cách ghép các làng xã có 100% sản xuất nông nghiệp vào đô thị để tạo thành các phường mới Việc này đã tạo ra tình trạng có nhiều làng xã nông nghiệp tồn tại lâu dài trong đô thị và phát sinh các vấn đề rất nan giải đối với xây dựng và phát triển đô thị
Hình 1.3 Số lượng đô thị Việt Nam từ năm 1990 và dự báo đến năm 2025 [1]
Cùng với sự có mặt của các điểm đô thị trên khắp lãnh thổ đất nước, quy mô dân số đô thị ở nước ta liên tục tăng, đặc biệt là từ sau năm 2000 Tính đến năm 2016, dân số đô thị tại Việt Nam là trên 32 triệu người, chiếm 35,2% dân số cả nước (Biểu
đồ 1.3) Cùng với quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa, quá trình di cư mạnh mẽ vào các vùng đô thị vẫn đang diễn ra không ngừng Nguyên nhân chính là do hầu hết các nguồn đầu tư trong nước và nước ngoài vào nước ta đều tập trung ở các trung tâm
đô thị hoặc các KCN lớn đã làm tăng thêm lực hút, lôi cuốn lao động nông thôn ra các thành phố Dòng di cư từ nông thôn ra thành thị tăng tạo nên sức ép về mọi mặt đối với các đô thị Với sự gia tăng dân số nhanh chóng, đô thị là nơi tiêu thụ một khối lượng lớn về tài nguyên thiên nhiên như nước, năng lượng và các nguyên liệu khác để đáp ứng cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng Việc phát triển sản xuất, phát triển các trung tâm công nghiệp đã gây ra ô nhiễm môi trường nước, không khí và đất; hệ thống giao thông không đáp ứng được nhu cầu đi lại của dân cư… Bên cạnh đó, dân số đô thị tăng nhanh dẫn đến việc thiếu nhà ở, thiếu nước sinh hoạt, thiếu điều kiện vệ sinh, điều kiện y tế… Đây là một trong những nguy cơ đối với cuộc sống của dân cư đô thị
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 36Hình 1.4 Dân số và tăng trưởng dân số đô thị tại Việt Nam [1]
Đô thị hóa thúc đẩy phát triển kinh tế, đóng vai trò trọng tâm trong tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo ở nước ta Các thành phố đã trở thành trung tâm phát triển kinh tế mạnh mẽ Trong những năm gần đây, tỷ lệ trung bình tăng trưởng kinh tế hằng năm tại các khu vực đô thị luôn gấp từ 1,5 - 2 lần tỷ lệ trung bình của cả nước Các ngành công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch tại các thành phố lớn chiếm tỷ lệ khá cao trong cơ cấu GDP cả nước, khẳng định vai trò đầu tàu trong kinh tế của nước ta Tỷ
lệ tổng sản phẩm trên địa bàn của 5 thành phố trực thuộc trung ương chiếm trên 50%
GDP của cả nước (trong khi dân số đô thị chỉ chiếm khoảng 40% dân số cả nước) Tổng thu ngân sách khu vực đô thị chiếm trên 70% tổng thu ngân sách toàn quốc
Hình 1.5 Tỷ lệ tăng trưởng trung bình của cả nước và thành phố lớn,
giai đoạn 2011-2015 [1]
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 371.2.2.2 Định hướng phát triển đô thị tại Việt Nam
Những định hướng phát triển đô thị hiện đại tại Việt Nam Thành phố phát triển
và lối sống đô thị lan rộng với nhịp điệu nhanh, tác động mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực của con người Việt Nam đang trong quá trình cải tạo và xây dựng các thành phố, thị
xã thành những đô thị hiện đại theo các định hướng sau [33]:
Thứ nhất, đặc điểm quan trọng của giai đoạn đô thị hóa hiện nay là mối quan hệ chặt chẽ của nó với cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật Sự phát triển của sản xuất, giao thông vận tải, khoa học kỹ thuật, tạo nên biến đổi cơ bản trong cơ cấu của lực lượng sản xuất, nâng cao vai trò đặc biệt của khoa học và thông tin xã hội
Thứ hai, xu hướng tăng nhanh dân số thành thị, sự dịch chuyển dân cư từ nông thôn lên thành thị với số lượng tăng đáng kể Các nghiên cứu đều cho thấy: tiền lương, thu nhập, việc làm, mức độ thất nghiệp…của thành thị đều ảnh hưởng đến việc đưa ra quyết định di cư của người dân Bên cạnh đó còn có nguyên nhân phi kinh tế, như: vấn đề chất lượng cuộc sống, những người di dân muốn có cuộc sống tốt hơn thông qua cuộc sống ở thành thị, nơi có ánh đèn rực rỡ của thành phố, nơi đó có các phương tiện giao thông, phương tiện thông tin đại chúng… được hiện đại hóa, nơi có
hệ thống giáo dục, y tế, dịch vụ phát triển; vấn đề về phong tục tập quán và các nhân tố
xã hội khác cũng tác động sâu sắc tới quá trình di dân từ nông thôn ra thành thị
Thứ ba, lao động phi nông nghiệp ở đô thị hết sức đa dạng và phong phú về nghề nghiệp Phân công lao động đạt đến trình độ cao Đặc biệt nó là tiền đề làm tách rời giữa sản xuất và tiêu dùng, thúc đẩy một nghề mới xuất hiện và ngày càng đóng vai trò cốt tử trong đời sống đô thị, đó là nghề dịch vụ Thị trường đô thị là một hệ thống hoặc địa điểm, mà ở đó diễn ra việc mua bán , trao đổi hàng hóa và dịch vụ Những thị trường chủ yếu của đô thị bao gồm: thị trường lao động, thị trường bất động sản, thị trường dịch vụ, thị trường tài chính… Kinh tế thị trường làm thay đổi thái độ đối với lao động: phải vươn ra thị trường, phải kiếm được việc làm, phải có thu nhập, không trông chờ, ỷ lại vào sự bao cấp của nhà nước, cứu trợ của xã hội
Thứ tư, do phân công lao động cao, cuộc sống ở đô thị không thể tự cung tự cấp Lối sống đô thị, nhất là các đô thị hiện đại là lối sống phụ thuộc vào các dịch vụ công, từ nhà ở đến đi lại, học tập chữa bệnh, thông tin, giải trí…thậm chí đến cả chăm sóc người già, tâm tình với người cô đơn, tìm bạn, tìm người yêu… Không chỉ phụ thuộc vào hệ thống dịch vụ, dần dà con người đô thị cũng điều chỉnh lối sống của họ theo nếp đó Thực ra, đó chính là sự chuyên môn hoá, nguyên nhân và cũng là hậu quả của hệ thống dịch vụ công cộng ở đô thị Môi trường đô thị là môi trường nhân tạo, có nhiều tiện ích hơn, thuận lợi hơn cho con người trong cuộc sống, học tập và làm việc
Nhưng, cũng chật chội và tù túng hơn Đặc biệt môi trường nhân tạo đòi hỏi con người phải có ý thức, kiến thức và kỹ năng sống cao hơn
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 38Thứ năm, ở đô thị có sự phân tầng xã hội, sự phân hoá về xuất thân, về địa vị kinh tế - xã hội, trình độ học vấn, chuyên môn, sự phân hoá về lối sống Sự phân hoá này bộc lộ rõ nét qua thời trang, nhà ở, phương tiện đi lại, phương tiện nghe nhìn, phạm vi giao tiếp, cả cách giao tiếp, ngôn ngữ ứng xử…Đặc biệt sự phân hoá này thể hịên rõ và cao nhất ở hiện tượng cư trú tách biệt theo các mô hình sinh thái đô thị
Thứ sáu, văn hoá đô thị là một phức hợp văn hoá bác học, văn hoá dân gian và văn hoá đại chúng Đô thị là nơi nhiều dòng người về đây tụ cư, mỗi dòng người như vậy mang theo những đặc sắc riêng về văn hoá dân gian của mình nên không thể nói loại hình nào đóng vai trò chủ đạo, hoặc đặc trưng cho văn hoá đô thị Bên cạnh đó nền dân trí ở đô thị nhìn chung cũng cao hơn ở nông thôn, đô thị lại là nơi tập trung với mật độ cao các tổ chức văn hoá, khoa học, giáo dục, đội ngũ tri thức, văn nghệ sỹ
Môi trường và thị trường cho sáng tạo văn hoá bác học đều rất thuận lợi cho loại hình văn hoá này phát triển
Thứ bảy, trong tổ chức đời sống văn hóa người dân đô thị đã dần hình thành được ý thức chấp hành pháp luật, ý thức công dân và ý thức cá nhân Những khái niệm như họ hàng, láng giềng, phường…không nhiều ý nghĩa, như những khái niệm tương
tự ở nông thôn Con người sống trong đô thị thường không biết, hoặc không cần biết nhau, đúng hơn họ chỉ biết nhau với tư cách là những công dân, hoặc những vai trò bổn phận xã hội mà họ đang mang vác từ đó yếu tố tình cảm không còn chi phối chính
mà yếu tố lý trí, pháp luật, thị trường mới là quyết định
1.3 MỘT SỐ ĐỀ TÀI, CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
Vấn đề đô thị hóa từ lâu đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới, nhưng ở Việt Nam quá trình nghiên cứu vấn đề này gần đây mới được chú
ý đến Theo GS Đàm Trung Phường - nhà đô thị lão thành thuộc lớp kiến trúc sư đầu tiên tham gia quy hoạch xây dựng lại các đô thị miền Bắc bị tàn phá trong kháng chiến chống Pháp (1945 -1954) và nhiều thành phố công nghiệp mới của Việt Nam, cho rằng:
“cho đến giữa thập niên 90 vẫn chưa có ai viết sách và tiếp cận có hệ thống”
Năm 1995 cuốn “Đô thị Việt Nam tập I, tập II ” của GS Đàm Trung Phường ra đời và đã được tái bản lần thứ nhất vào năm 2005 [21], tác giả tập trung giải quyết 2 vấn đề cơ bản là:
+ Đánh giá thực trạng mạng lưới đô thị Việt Nam và nghiên cứu những định hướng phát triển trong bối cảnh đô thị hóa thế giới và tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của thời kỳ đổi mới nước ta
+ Mở rộng những khái niệm về đô thị học có quan hệ với những tiến bộ của thế giới, cập nhật những thông tin liên quan đến đô thị trong nước để tham khảo cho giáo trình giảng dạy sinh viên đại học và chủ yếu là sau đại học
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 39Chính vì vậy cuốn sách “Đô thị Việt Nam tập I, tập II ” của GS Đàm Trung Phường là một trong những công trình quan trọng để tiếp cận các vấn đề lý luận về đô thị nói chung cũng như đại cương về đô thị hóa ở Việt Nam nói riêng Tuy nhiên, như chính tác giả của công trình thừa nhận “quyển đô thị Việt Nam chưa có điều kiện đi sâu vào từng đô thị mà chỉ mới dừng lại ở cấp vĩ mô (macro) và trung mô (mezo)”
Bên cạnh đó còn hàng loạt công trình đề cập đến đô thị hóa và những vấn đề liên quan đến nó như: “Dự án quy hoạch tổng thể vùng phát triển kinh tế trọng điểm phía Nam” của Trung tâm nghiên cứu kinh tế miền Nam (1996) [31]; “Đô thị hóa và chính sách phát triển đô thị trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam” của Trần Văn Chữ, Trần Ngọc Hiên (Đồng chủ biên) (Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội 1998) [8]; “Định hướng quy hoạch tổng thể phát triển đô thị Việt Nam đến năm 2020”
của Bộ Xây dựng (1999) [2]; “Dân số học đô thị” của Trần Hùng (Nxb Xây dựng Hà Nội, 2001) [17]; “Quản lý đô thị thời kỳ chuyển đổi” của TS Võ Kim Cương (Nxb Xây dựng Hà Nội, 2004) [6]; “Dự thảo nhiệm vụ quy hoạch xây dựng vùng Thành phố Hồ Chí Minh” của Bộ Xây Dựng (2004) [3]; “Vùng đô thị Châu Á và TPHCM”
của Nguyễn Minh Hòa (Nxb Tổng hợp TPHCM 2005) [13]; “Kinh tế đô thị và vùng”
của Trần Văn Tấn (Nxb Xây dựng Hà Nội, 2006) [28]; “Ngập lụt tại các đô thị Châu
Á - kinh nghiệm cho Thành phố Hồ Chí Minh ” của Nguyễn Minh Hòa, Lê Thị Hồng Diệp, Trương Nguyễn Khải Huyền (Nxb Tổng hợp TPHCM 2006) [15]; Văn hóa ngoại thành TPHCM (từ góc nhìn thiết chế) của Nguyễn Minh Hòa (Nxb Tổng hợp TPHCM 2007) [14]; “Công tác thực hiện quy hoạch xây dựng đô thị” của Trần Trọng Hanh (Nxb Xây dựng 2008) [12]; “Địa lý đô thị”của Phạm Thị Xuân Thọ (Nxb Giáo dục 2008) [31]; vv… Ngoài các công trình kể trên còn có bài viết của một số tác giả được đăng trên các tạp chí hoặc báo cáo tại các hội thảo khoa học
Quá trình đô thị hóa làm gia tăng sức ép về việc làm cho lao động nông nghiệp tại các khu vực quy hoạch, chỉnh trang đô thị Lao động tại các vùng dự án sẽ phải thất nghiệp trong ngắn hạn cũng như dài hạn và nếu không có giải pháp đào tạo, chuyển đổi và giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp tại các vùng dự án thì sẽ nảy sinh nhiều vấn đề phức về kinh tế và xã hội khác đó là: Lao động nông nghiệp không có việc làm, thất nghiệp gia tăng, đời sống thấp, mâu thuẫn xã hội sẽ phát sinh ngày càng phức tạp, gay gắt Giải quyết vấn đề này là một đòi hỏi cấp bách đối với huyện Trảng Bom hiện nay và làm thế nào để giải quyết một cách căn bản, lâu dài Chính vì vậy, tôi
đã tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá tác động của quá trình đô thị hóa đến sinh
kế người dân tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai”
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 40CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Đất sản xuất nông nghiệp bị thu hồi phục vụ phát triển kinh tế xã hội trong
quá trình đô thị hóa tại huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai
- Các hộ gia đình, cá nhân có đất sản xuất nông nghiệp bị thu hồi bởi quá trình
đô thị hóa
2.2 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Phạm vi không gian: đề tài nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai;
- Phạm vi thời gian thực hiện: Từ tháng 7/2017 đến tháng 2/2018;
- Phạm vi số liệu thu thập: số liệu được thu thập cho đề tài nghiên cứu trong khoảng thời gian từ năm 2012 đến năm 2017
2.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Khái quát đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai
- Phân tích đặc điểm quá trình đô thị hóa tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai
- Ảnh hưởng của đô thị hóa đến sinh kế của người dân trên địa huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai
- Ảnh hưởng của đô thị hóa đến môi trường trên địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai
- Đề xuất các giải pháp nâng cao sinh kế của người dân trên địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai
2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.4.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Tại huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai có tất cả17 xã, thị trấn Tuy nhiên với thời gian nghiên cứu khá ngắn nên để đảm bảo tính đại diện cho vùng nghiên cứu, chúng tôi quyết định lựa chọn 3 xã có mức độ đô thị hóa cao làm điểm đại diện nghiên cứu, bao gồm: xã Hố Nai 3, xã Bắc Sơn, và Thị Trấn Trảng Bom để thu thập số liệu sơ cấp
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si