Để đạt được hiệu quả trong công tác phòng chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay và cũng để thể hiện sự tôn trọng tinh thần của các điều ước quốc tế đặc biệt là các điều ước quốc tế về
Trang 1NGUYỄN THỊ YẾN
CÁC HÌNH PHẠT CHÍNH NHẸ HƠN HÌNH PHẠT TÙ CÓ
THỜI HẠN TỪ THỰC TIỄN TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Trang 3thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Học viện Khoa học xã hội
Tôi viết lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật Học viện Khoa học xã hội xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 4HĐXX : Hội đồng xét xử
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 5Ninh từ năm 2016 đến năm 2020
Bảng 2.2 Thống kê áp dụng các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù tại Tòa
án hai cấp tỉnh Bắc Ninh từ năm 2016 đến năm 2020
Bảng 2.3 Thống kê áp dụng các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù theo nhóm tội tại Tòa án hai cấp tỉnh Bắc Ninh từ năm 2016 đến năm 2020
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 7
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 7
7 Kết cấu luận văn 7
PHẦN NỘI DUNG 9
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CÁC HÌNH PHẠT CHÍNH NHẸ HƠN HÌNH PHẠT TÙ CÓ THỜI HẠN 9
1.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn 9
1.1.1 Khái niệm các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn 9
1.1.2 Đặc điểm của các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn 11
1.1.3 Ý nghĩa của các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn 14
1.2 Khái quát lịch sử lập pháp hình sự về các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn 15
1.2.1 Khái quát về các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn trong pháp luật hình sự Việt Nam giai đoạn từ 1945 đến trước khi có BLHS năm 1985 15
1.2.2 Khái quát về các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn trong BLHS năm 1985 (sửa đổi, bổ sung vào năm 1989, 1991, 1992, và 1997- sau đây gọi tắt là BLHS năm 1985) 19
1.2.3 Khái quát về các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn trong BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009 - sau đây gọi tắt là BLHS năm 1999) 21
1.3 Các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn theo quy định của BLHS Việt Nam năm 2015 24
1.3.1 Hình phạt cảnh cáo 26
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 71.3.2 Hình phạt tiền 28
1.3.3 Hình phạt cải tạo không giam giữ 31
1.3.4 Hình phạt trục xuất 36
Tiểu kết chương 1 39
Chương 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC HÌNH PHẠT CHÍNH NHẸ HƠN HÌNH PHẠT TÙ CÓ THỜI HẠN TẠI TỈNH BẮC NINH VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG CÁC HÌNH PHẠT NÀY 41
2.1 Tình hình áp dụng các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn tại tỉnh Bắc Ninh giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2020 41
2.1.1 Khái quát một số đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội của tỉnh Bắc Ninh 41
2.1.2 Thực tiễn áp dụng các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn tại tỉnh Bắc Ninh giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2020 42
2.2 Những vướng mắc, bất cập tồn tại trong quá trình áp dụng các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn tại tỉnh Bắc Ninh 56
2.2.1 Những vướng mắc về pháp luật hình sự trong quá trình áp dụng các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn tại tỉnh Bắc Ninh 56
2.2.2 Những vướng mắc, tồn tại khác trong thực tiễn áp dụng các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn 60
2.3 Các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn 64
2.3.1 Các giải pháp hoàn thiện BLHS năm 2015 64
2.3.2 Các giải pháp khác 68
Tiểu kết chương 2 73
KẾT LUẬN 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
PHỤ LỤC LUẬN VĂN 79
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Toàn cầu hóa là một xu thế tất yếu, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, nước ta đã tham gia tích cực vào quá trình toàn cầu hóa và đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận, đặc biệt là sự phát triển về kinh tế Tại Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ IX, Đảng ta đã khẳng định “Toàn cầu hóa kinh tế là xu thế khách quan, lôi cuốn càng nhiều nước tham gia, vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác vừa có đấu tranh…Thế giới đứng trước nhiều vấn đề toàn cầu mà không thể một quốc gia riêng lẻ nào có thể tự giải quyết mà không có sự hợp tác đa phương” [12, tr.617] Tuy nhiên, kinh tế càng phát triển thì xã hội lại càng xảy ra
nhiều vấn đề nhức nhối, đặc biệt là sự diễn biến phức tạp của tình hình tội phạm Luật hình sự là một trong những công cụ sắc bén, hữu hiệu để đấu tranh phòng ngừa
và chống tội phạm, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của các tổ chức và của công dân, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Nếu nói Luật hình sự là công cụ để đấu tranh, phòng ngừa tội phạm thì hình phạt lại là công cụ để đảm bảo tính giáo dục, răn đe ở mức độ cao đối với người phạm tội và là một chế tài nghiêm khắc, một chế định cơ bản của luật hình sự Hình phạt là trách nhiệm pháp lý thể hiện sự lên án và sự trừng trị của Nhà nước mà người phạm tội phải gánh chịu đối với những hành vi phạm tội do mình gây ra Hệ thống hình phạt trong luật hình sự Việt Nam bao gồm các hình phạt chính và các hình phạt bổ sung Trong đó, các hình phạt chính là biện pháp cơ bản có tính chất quyết định của hình phạt, cùng với hình phạt bổ sung làm tăng thêm hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm Trong các hình phạt chính, các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn có vai trò đắc lực trong việc thể hiện và phát huy nguyên tắc cá thể hoá hình phạt, từ đó thực hiện một cách tốt nhất nguyên tắc công bằng trong xử lý tội phạm Các hành vi phạm tội có tính chất, mức độ nguy hiểm khác nhau thì mức xử lý cũng phải khác nhau
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 9Để đạt được hiệu quả trong công tác phòng chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay và cũng để thể hiện sự tôn trọng tinh thần của các điều ước quốc tế đặc biệt
là các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên, đồng thời phù hợp với xu hướng chung của thế giới, Bộ luật hình sự năm 2015 đã có một số thay đổi so với Bộ luật hình sự năm 1999, trong đó có các quy định về các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng, các Tòa
án mà cụ thể là Hội đồng xét xử khi quyết định áp dụng các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn cũng còn gặp nhiều vướng mắc cũng như vẫn còn tồn tại một số thiếu sót trong hoạt động, từ đó ảnh hưởng nhất định đến việc áp dụng có hiệu quả các hình phạt này
Vì vậy, nghiên cứu đánh giá một cách tổng thể các quy định của Bộ luật hình
sụ về các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn, tìm ra những điểm bất cập thông qua việc tìm hiểu thực tiễn từ địa phương nơi mình công tác là TAND tỉnh Bắc Ninh, từ đó đưa ra đề xuất nhằm hoàn thiện các quy định này là vấn đề cấp
thiết Vì lẽ đó, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù
có thời hạn từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh” làm luận văn thạc sỹ của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn có vai trò quan trọng trong luật hình sự Việt Nam, vì vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học ở những mức độ khác nhau nghiên cứu về hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn, điển hình một số công trình như sau:
* Về sách chuyên khảo, sách bình luận và giáo trình có các công trình sau:
1) GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa, “Trách nhiệm hình sự và hình phạt”, NXB Công an
nhân dân, Hà Nội, 2001;
2) Ths Đinh Văn Quế, “Tìm hiểu tội phạm và hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam”, NXB Phương Đông, 2010;
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 103) PGS.TS Trịnh Tiến Việt, “Hoàn thiện các quy định của phần chung Bộ luật hình sự trước yêu cầu mới của đất nước”, NXB Chính trị quốc gia, Hà
Nội,2012;
4) PGS.TS Trịnh Tiến Việt, “Tội phạm và trách nhiệm hình sự”, NXB Chính trị
Quốc gia, Hà Nội, 2013;
5) PGS.TS Trịnh Quốc Toản, “Nghiên cứu hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam dưới góc độ bảo vệ quyền con người”, NXB Chính trị quốc gia, 2015;
6) GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa, “Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 phần chung”, NXB Tư Pháp, 2017;
7) PGS.TS Nguyễn Thị Phương Hoa – TS Phan Anh Tuấn, “Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017”,
NXB Hồng Đức, 2017;
8) TS Lê Trung Kiên, “Hệ thống hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam và Trung Quốc”, NXB Tư Pháp, 2018
Ngoài các sách chuyên khảo, bình luận nói trên còn có Giáo trình Luật hình
sự Việt Nam của các cơ sở đào tạo về luật như Trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội, Học viện Tòa án… đều có đề cập đến các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn
*Về luận án Tiến sĩ và luận văn Thạc sĩ luật học có các công trình sau:
1) Lê Văn Hường, “Các hình phạt chính trong Luật hình sự Việt Nam”, luận văn
thạc sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội, 2000;
2) Nguyễn Sơn, “Các hình phạt chính trong Luật hình sự Việt Nam”, luận án tiến
sĩ luật học, Viện Nhà nước và Pháp luật, Hà Nội, 2003;
3) Phạm Thị Hiền, “Hình phạt cải tạo không giam giữ trong Luật hình sự Việt Nam”, luận văn thạc sĩ luật học, Khoa luật Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2007; 4) Lê Thị Trúc Quỳnh, “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hình phạt trục xuất theo Luật hình sự Việt Nam”, luận văn thạc sĩ luật học, Khoa luật Đại học Quốc
Trang 116) Đinh Thị Hoài Phương, “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hình phạt cảnh cáo theo Luật hình sự Việt Nam”, luận văn thạc sĩ luật học, Khoa luật Đại học
Quốc gia Hà Nội 2010;
7) Lê Thanh Hùng, “Hình phạt cải tạo không giam giữ theo Luật hình sự Việt Nam
và thực tiễn áp dụng tại địa bàn tỉnh Thanh Hóa”, luận văn thạc sĩ luật học,
Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014;
8) Nguyễn Minh Khuê, “Các hình phạt chính không tước tự do trong luật hình sự Việt Nam”, luận án tiến sĩ Luật học, Viện khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội, 2014; 9) Phùng Thị Hải Ngọc, “Hình phạt tiền trong Luật hình sự Việt Nam” luận văn
thạc sĩ luật học, Khoa luật Đại học Quốc gia, Hà Nội 2015;
10) Nông Thế Chiến, “Các hình phạt chính không tước tự do theo Luật hình sự Việt Nam”, luận văn thạc sĩ luật học, Khoa luật Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2016; 11) Nguyễn Minh Tuấn,“Hình phạt trục xuất trong Luật hình sự Việt Nam”, luận
văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, Tp Hồ Chí Minh, 2017;
12) Phạm Ngọc Toàn, “Hình phạt cải tạo không giam giữ theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015”, luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà
Nội, 2019;
13) Nguyễn Việt Xô, “Hình phạt tiền theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015”, luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, 2019
*Về các bài viết đăng trên Tạp chí khoa học có các công trình sau:
1) Dương Tuyết Miên, “Hoàn thiện các quy định của pháp luật về hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù”, Tạp chí Tòa án nhân dân , số 19/2008;
2) Lê Văn Cảm, Trịnh Tiến Việt, “Thực trạng các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về hệ thống hình phạt và phương hướng hoàn thiện”, Tạp chí khoa học
ĐHQGHN, Kinh tế - Luật 24 (2008);
3) Đỗ Văn Chỉnh, “Hình phạt tiền và thực tiễn áp dụng”, Tạp chí Tòa án nhân dân
, số 05/2009;
4) Nguyễn Văn Trượng, “Một số vấn đề rút ra từ thực tiễn áp dụng hình phạt cải
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 125) Trịnh Quốc Toản, “Một số vấn đề lý luận về hình phạt trong Luật hình sự”, Tạp
chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Luật học 27 (2011);
6) Lý Văn Tầm, “Hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự về hình phạt cải tạo không giam giữ”, Tạp chí kiểm sát nhân dân, số 13/2013;
7) Nguyễn Minh Khuê, “Hiệu quả của các hình phạt chính trong hệ thống hình phạt của Việt Nam – đánh giá dưới góc độ chi phí xã hội”, Tạp chí Nhà nước và
12) Nguyễn Phương Thảo, “ Bất cập và hướng hoàn thiện các quy định pháp luật về hình thức xử phạt trục xuất”, Tạp chí Khoa học pháp lý, 2019;
tại phần chung của Bộ Luật Hình sự Việt Nam năm 2015”, Tạp chí Pháp luật và
2015 và thực tiễn áp dụng các hình phạt này tại tỉnh Bắc Ninh dưới cấp độ luận văn
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 13Thạc sĩ, chỉ ra các tồn tại, vướng mắc trong thực tế, từ đó đưa ra đề xuất hoàn thiện quy định về các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn Do vậy, việc nghiên cứu các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh là rất cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn là nghiên cứu các quy định của BLHS năm 2015 về các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn, tìm ra vướng mắc trong quá trình áp dụng từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh, từ đó luận văn đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn trong Bộ luật hình sự Việt Nam, cũng như đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả của các hình phạt này trong thực tiễn áp dụng
Trên cơ sở mục đích nghiên cứu, luận văn tập trung làm rõ những nội dung nghiên cứu sau:
- Làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn;
- Phân tích quy định của BLHS năm 2015 về các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn;
- Nghiên cứu về thực tiễn áp dụng các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù
có thời hạn tại tỉnh Bắc Ninh;
- Làm rõ những vướng mắc còn tồn tại trong quá trình áp dụng các hình phạt
đó từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh;
- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các hình phạt này trong thực tiễn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là quy định của BLHS năm 2015 về các hình phạt chính nhẹ hơn phạt tù có thời hạn, thực tiễn áp dụng các hình phạt này tại tỉnh Bắc Ninh
Luận văn nghiên cứu dưới góc độ Luật hình sự, chủ yếu nghiên cứu các quy
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 14hạn và nghiên cứu thực tiễn áp dụng các hình phạt đó tại tỉnh Bắc Ninh Do việc áp dụng các hình phạt chính chỉ được thực hiện trong giai đoạn xét xử khi quyết định hình phạt của Hội đồng xét xử nên phần thực tiễn áp dụng, tác giả cũng chỉ nghiên cứu thực tiễn áp dụng các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn trong quá trình xét xử tại hệ thống Tòa án hai cấp tỉnh Bắc Ninh
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Tác giả đã sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp quyền để nghiên
cứu đề tài
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong luận văn là phương pháp phân tích tổng hợp; phương pháp so sánh, phương pháp thống kê…để tổng hợp và làm sáng tỏ các tri thức khoa học hình sự và luận chứng các vấn đề nghiên
cứu trong luận văn
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Đây là công trình nghiên cứu khoa học đề cập tương đối hệ thống và toàn diện về các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn trong BLHS năm
2015 Luận văn phân tích các khái niệm, đặc điểm, mục đích, điều kiện áp dụng về các hình phạt này, bảo đảm tính chính xác, khoa học, đồng thời cũng chỉ ra các đặc điểm cơ bản của các hình phạt này
Kết quả nghiên cứu mà luận văn đạt được góp phần tăng cường việc áp dụng và nâng cao chất lượng trong việc áp dụng các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn trong thực tiễn xét xử Là tài liệu tham khảo cần thiết trong việc nghiên cứu, hoàn thiện các quy phạm pháp luật hình sự về các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù
có thời hạn cũng như làm tư liệu tham khảo cho sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật hình sự tại các cơ sở đào tạo luật trong cả nước
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm
2 chương:
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 15Chương 1: Một số vấn đề lý luận và quy định của pháp luật về các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn
1.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của các hình phạt chính nhẹ hơn hình
Chương 2: Thực tiễn áp dụng các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù
có thời hạn tại tỉnh Bắc Ninh và các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các hình phạt này
2.1 Tình hình áp dụng các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn
tại tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2020
2.2 Những vướng mắc, bất cập tồn tại trong quá trình áp dụng các hình phạt
chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn tại tỉnh Bắc Ninh
2.3 Các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các hình phạt chính nhẹ hơn
hình phạt tù có thời hạn
Tiểu kết chương 2
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 16PHẦN NỘI DUNG Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CÁC HÌNH PHẠT CHÍNH NHẸ HƠN HÌNH PHẠT TÙ CÓ THỜI HẠN
1.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn
1.1.1 Khái niệm các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn
Hiện nay, khái niệm các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn chưa được ghi nhận trong pháp luật hình sự Việt Nam Để hiểu được khái niệm này thì trước hết cần phải hiểu khái niệm hình phạt
Trong lĩnh vực khoa học luật hình sự, hình phạt là một trong những đối tượng nghiên cứu chủ yếu, trong đó việc làm sáng tỏ khái niệm hình phạt là một vấn
đề hết sức quan trọng Ở Việt Nam, trên cơ sở tiếp thu những thành tựu của khoa học luật hình sự trên thế giới và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm của nước
ta, các nhà nghiên cứu Luật hình sự đã đưa ra những quan niệm về hình phạt như sau:
“Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nhà nước nghiêm khắc nhất được quy định trong Luật hình sự, do Tòa án áp dụng cho chính người đã thực hiện tội phạm, nhằm trừng trị và giáo dục họ, góp phần vào việc đấu tranh phòng và chống tội phạm, bảo vệ chế độ và trật tự xã hội cũng như các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân”[14]
“Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất do luật quy định được Tòa án nhân dân nhân danh Nhà nước quyết định trong bản án đối với người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm và được thể hiện ở việc tước đoạt hoặc hạn chế các quyền và lợi ích do pháp luật quy định đối với người bị kết án”[45]
Có thể thấy, các khái niệm trên đều thống nhất với nhau ở nội hàm, hình phạt
là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của nhà nước do Tòa án áp dụng có nội dung tước bỏ hoặc hạn chế quyền và lợi ích của người phạm tội nhằm mục đích giáo dục, cải tạo và trừng trị người phạm tội và phòng ngừa chung Điều này là phù
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 17hợp với khái niệm pháp lý về hình phạt được quy định tại Điều 30 BLHS năm
2015:“Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật này, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó.”
Trong luật hình sự Việt Nam, hệ thống hình phạt bao gồm hình phạt chính và hình phạt bổ sung trong đó các hình phạt chính đóng vai trò trụ cột trong việc trừng trị, cũng như cải tạo giáo dục người phạm tội, còn các hình phạt bổ sung đóng vai trò hỗ trợ cho hiệu lực của các hình phạt chính Việc BLHS quy định các hình phạt
có mức độ nghiêm khắc khác nhau nhằm tạo điều kiện cho Toà án tuỳ từng trường hợp phạm tội cụ thể để lựa chọn hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Hình phạt được quy định trong mỗi khung hình phạt chính là sự phản ánh tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm được quy định cũng như yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm đối với tội đó
“Một hệ thống hình phạt có nhiều hình phạt khác nhau thì việc xử lý càng chính xác
và do vậy càng tiến gần tới mục đích của hình phạt…” [20, tr.271]
Về bản chất, các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn trước hết cũng mang những đặc điểm của hình phạt nói chung nhưng nó cũng mang đặc điểm riêng của mình thể hiện ở chỗ các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn tuy là những biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc của nhà nước nhưng tính chất nghiêm khắc này nhẹ hơn so với hình phạt tù có thời hạn (cũng như tù chung thân,
tử hình), không tước tự do của người bị kết án và chỉ áp dụng đối với cá nhân người phạm tội Vai trò của các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn rất có ý nghĩa Nó không chỉ thể hiện chính sách nhân đạo của nhà nước ta mà còn góp phần
thể hiện tốt nguyên tắc cá thể hoá hình phạt “Bởi vậy, khi quyết định hình phạt đối với những trường hợp phạm tội cụ thể, trong một số trường hợp, nếu áp dụng hình phạt tù với họ thì quá nặng và không thể đạt được mục đích của hình phạt Trong những trường hợp này, nếu xét thấy không cần cách ly người phạm tội ra khỏi đời sống xã hội thì Tòa án có thể xem xét để họ được cải tạo, giáo dục trong môi trường
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 18Trên cơ sở phân tích nêu trên, có thể hiểu khái niệm các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn như sau:
Các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn là những biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc của Nhà nước được áp dụng đối với người phạm tội, có mức độ nghiêm khắc thấp hơn hình phạt tù có thời hạn, được BLHS quy định và do Tòa án quyết định áp dụng nhằm tước bỏ, hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội
1.1.2 Đặc điểm của các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời
+ Là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc của Nhà nước (tước bỏ hoặc hạn chế quyền và lợi ích của người phạm tội)
Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước, tức là không có một chế tài nào nghiêm khắc hơn hình phạt Tính nghiêm khắc nhất của hình phạt thể hiện ở nội dung tước bỏ, hạn chế quyền và lợi ích của người bị kết án như quyền sở hữu, quyền tự do và có thể cả quyền sống của con người…Các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn do là hình phạt, nên cũng mang tính cưỡng chế nghiêm khắc, thể hiện ở chỗ nó có thể gây tổn thất về tinh thần cho người bị kết án (cảnh cáo), hoặc tước bỏ hoặc hạn chế lợi ích kinh tế của họ (phạt tiền); hoặc buộc họ phải cải tạo tại cộng đồng dưới sự giám sát của cơ quan có thẩm quyền (cải tạo không giam giữ) hoặc buộc họ phải rời khỏi lãnh thổ Việt Nam trong thời hạn nhất định (trục xuất) Bên cạnh đó, người bị kết án hình phạt trên còn chịu
án tích
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 19Khi xem xét, so sánh riêng lẻ giữa một số hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt
tù có thời hạn với một số hình phạt bổ sung và với một số biện pháp cưỡng chế không phải cưỡng chế hình sự, chúng ta cũng không thể phủ nhận một thực tế rằng một số hình phạt bổ sung hoặc một số biện pháp cưỡng chế không phải cưỡng chế hình sự cho thấy mức độ nghiêm khắc có thể cao hơn một số hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn, ví dụ hình phạt cảnh cáo với tư cách là hình phạt chính
so với hình phạt tiền với tư cách là hình phạt bổ sung hoặc với tư cách là hình thức
xử lý hành chính Tuy nhiên, nhìn một cách tổng thể thì các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn vẫn là biện pháp cưỡng chế Nhà nước nghiêm khắc hơn so với các biện pháp cưỡng chế nhà nước không phải cưỡng chế hình sự và so với hình phạt bổ sung Sự nghiêm khắc hơn của hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt
tù có thời hạn thể hiện ở chỗ các hình phạt này, dù nặng hay nhẹ khi được áp dụng đều dẫn đến hậu quả pháp lý là người bị kết án phải chịu án tích trong một khoảng thời gian nhất định theo quy định pháp luật, hậu quả pháp lý của án tích nặng nề
hơn các chế tài khác
+ Được quy định trong BLHS và do Toà án quyết định áp dụng bằng bản án kết tội có hiệu lực pháp luật
Khoản 1 Điều 2 BLHS năm 2015 có quy định:“Chỉ người nào phạm một tội
đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự.” Như vậy,
tính được quy định trong BLHS là yếu tố bắt buộc khi xem xét việc một người có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không Ngoài BLHS ra, không có một đạo luật nào được quy định tội phạm và hình phạt mà chỉ người nào phạm một tội đã được BLHS quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự Tội phạm và hình phạt luôn đi liền với nhau Đã thực hiện tội phạm thì về mặt nguyên tắc phải chịu hình phạt và ngược lại hình phạt chỉ áp dụng đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị Luật hình sự coi là tội phạm
Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự bảo đảm xét xử đúng người, đúng tội, chính xác, khách quan, bảo đảm không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án Hình phạt
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 20là kết quả của một phiên tòa xét xử hình sự với đầy đủ trình tự, thủ tục do Luật tố tụng hình sự quy định
Các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn cũng là hình phạt, do vậy, các hình phạt này cũng được quy định trong BLHS (tại các Điều 34, 35, 36, 37) Các hình này do Toà án quyết định áp dụng bằng bản án kết tội có hiệu lực pháp luật
+ Được áp dụng độc lập và mỗi tội phạm chỉ được tuyên một hình phạt chính Khoản 3 Điều 32 BLHS năm 2015 có quy định: Đối với mỗi tội phạm, người phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính và có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung
Các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn cũng là hình phạt chính nên nó cũng có đặc điểm của các hình phạt chính Đó là hình phạt áp dụng đối với người phạm tội và được Tòa án tuyên độc lập phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm mà chủ thể phạm tội đã thực hiện, về nguyên tắc mỗi tội phạm chỉ có thể tuyên một hình phạt chính Trong phần các tội phạm của BLHS, ở mỗi tội phạm được quy định một hay nhiều loại hình phạt chính và Tòa án lựa chọn một trong các hình phạt chính mà điều luật quy định để áp dụng đối với người phạm tội nhưng phải đảm bảo hình phạt này là phù hợp, tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm mà chủ thể đó đã thực hiện
Thứ hai, đặc điểm riêng biệt của các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt
tù có thời hạn
So với hình phạt tù có thời hạn, các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có
thời hạn có mức độ nghiêm khắc thấp hơn, (cũng như thấp hơn cả hình phạt tù
chung thân, tử hình)
Theo tinh thần tại Điều 32 BLHS năm 2015, các hình phạt chính trong BLHS được sắp xếp theo trình tự tăng dần về mức độ nghiêm khắc Các hình phạt chính này tuy đều tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội, nhưng có mức
độ nghiêm khắc khác nhau trong đó, cảnh cáo là hình phạt nhẹ nhất và tử hình là hình phạt nặng nhất Các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn có mức
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 21độ nghiêm khắc thấp hơn tù có thời hạn (cũng như tù chung thân, tử hình) bởi vì người bị kết án các hình phạt này không bị tước tự do có thời hạn hay vĩnh viễn hoặc bị tước đoạt tính mạng Các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn
có thể gây ra những tổn thất nhất định về mặt tinh thần đối với người phạm tội thông qua việc khiển trách công khai của nhà nước (hình phạt cảnh cáo), hoặc cũng
có thể buộc họ phải chịu cải tạo tại cộng đồng dưới hoạt động giám sát, giáo dục của cơ quan tổ chức nơi người đó làm việc hoặc cư trú (hình phạt cải tạo không giam giữ), hoặc tước bỏ lợi ích của người phạm tội là một khoản tiền nhất định (hình phạt tiền, việc khấu trừ thu nhập ở hình phạt cải tạo không giam giữ); hoặc tước quyền cư trú trên lãnh thổ Việt Nam (trục xuất) Trong khi đó, hình phạt tù có thời hạn lại tước tự do trong một thời hạn nhất định của người phạm tội, hình phạt
tù chung thân thì tước tự do vĩnh viễn, hình phạt tử hình thì tước bỏ tính mạng của người phạm tội Do đó, các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn thể hiện tính cưỡng chế và nội dung trừng trị thấp hơn hình phạt tù có thời hạn (cũng như tù chung thân, tử hình)
1.1.3 Ý nghĩa của các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn
Trong hệ thống hình phạt chính áp dụng với cá nhân phạm tội trong luật hình
sự Việt Nam thì hệ thống hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn có vị trí rất quan trọng, cùng với các hình phạt chính khác như tù có thời hạn, tù chung thân,
tử hình thì loại hình phạt này góp phần làm cho hệ thống hình phạt cân đối, tương xứng và hoàn thiện hơn, đáp ứng tốt hơn yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm, phù hợp với xu hướng phát triển chung của hệ thống hình phạt hiện đại Việc quy định về các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn tạo điều kiện bảo đảm cho việc xét xử được công bằng bởi sự quy định đa dạng các loại hình phạt, bảo đảm cho Tòa án tuỳ từng trường hợp cụ thể lựa chọn được hình phạt phù hợp với tích chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS và nhân thân người phạm tội; đồng thời góp phần làm tăng hiệu quả của hình phạt, khắc phục được những hạn chế của hình phạt chính tước tự
do quá phụ thuộc vào các cơ sở giam giữ, nhân lực của Nhà nước và chi phí cho
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 22vậy, các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn là công cụ hữu hiệu trong phòng chống tội phạm để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của xã hội và lợi ích hợp pháp của công dân
Việc áp dụng các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn cũng góp phần thể hiện các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ta thể hiện trong các Nghị quyết của Đảng và Hiến pháp, đó là giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ đối với một số loại tội phạm Hạn chế áp dụng hình phạt tử hình theo hướng chỉ áp dụng đối với một số ít loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Điều này cũng phù hợp với xu hướng chung của thế giới và phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên Đồng thời, góp phần thể hiện tốt các nguyên tắc khác nhau của BLHS như nguyên tắc nhân đạo, nguyên tắc công bằng, nguyên tắc phân hóa TNHS và cá thể hoá hình phạt Tính nhân đạo trong pháp luật hình sự thể hiện ở việc áp dụng hình phạt đối với người phạm tội với mục đích chủ yếu nhằm: cải tạo, giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội và giúp cho công tác phòng ngừa tội phạm trong xã hội nói chung Tính công bằng và phân hóa TNHS thể hiện việc người phạm tội sẽ được tuyên hình phạt phù hợp với tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS tương ứng
1.2 Khái quát lịch sử lập pháp hình sự về các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn
1.2.1 Khái quát về các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn trong pháp luật hình sự Việt Nam giai đoạn từ 1945 đến trước khi có BLHS năm 1985
Cách mạng tháng tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời,
mở ra trang sử mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam Để bảo vệ chính quyền nhà nước còn non trẻ, cần phải xây dựng hệ thống pháp luật và sử dụng pháp luật, trong
đó pháp luật hình sự có vai trò đặc biệt quan trọng như một công cụ sắc bén, hữu hiệu để trấn áp sự phản kháng của bọn phản động, bảo vệ thành quả cách mạng Trong giai đoạn đó, Nhà nước ta đã ban hành hàng loạt các sắc lệnh như sắc lệnh số
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 2327 ngày 28/02/1946 quy định trừng trị những hành vi bắt cóc, tống tiền và ám sát; sắc lệnh số 202 – SL ngày 15/10/1946 quy định việc buôn bán vàng bạc…
Bên cạnh những văn bản mới ban hành, Nhà nước ta còn cho phép sử dụng những văn bản pháp luật hình sự cũ, đó là các điều luật của Bộ luật hình sự Bắc Kỳ,
Bộ luật hình sự Trung Kỳ và Bộ luật hình sự áp dụng ở Nam Kỳ mà không trái nội dung nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (theo sắc lệnh số 47 ngày 10/10/1945)
Qua các văn bản pháp luật hình sự nói trên thì chúng ta chưa có văn bản pháp luật hình sự nào trong thời kỳ này quy định về hệ thống hình phạt Tuy nhiên, qua các sắc lệnh, sắc luật, pháp lệnh và một số văn bản pháp luật khác thì các hình phạt chính được áp dụng trong giai đoạn này gồm: Tử hình, tù chung thân, tù có thời hạn, cảnh cáo, quản chế, phạt tiền Trong đó, các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn gồm có: cảnh cáo, phạt tiền, quản chế
Đối với hình phạt cảnh cáo: Theo các văn bản pháp luật thời kỳ này thì
cảnh cáo vừa là biện pháp xử lý hành chính, vừa là hình phạt Về khía cạnh hình phạt thì cảnh cáo là hình phạt nhẹ nhất được áp dụng đối với người phạm tội như
“Tội vi phạm quyền bầu cử và ứng cử của công dân” Điều 61 pháp lệnh số 1/LCT
ngày 18/01/1961 pháp lệnh về việc bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp quy định:
“Người nào dùng thủ đoạn lừa gạt, mua chuộc hoặc cưỡng ép làm trở ngại đến quyền tự do bầu cử và ứng cử của công dân, thì tuỳ mức độ nặng nhẹ mà có thể bị
cảnh cáo hoặc bị phạt tù, nặng nhất là 2 năm.”
Đối với hình phạt tiền: Trong giai đoạn này có nhiều văn bản quy định hình
phạt tiền là hình phạt chính, được áp dụng trong trường hợp phạm tội không thật nguy hiểm, đáng được chiếu cố, khoan hồng, với những tội có tính chất vụ lợi Ví dụ như: tại Điều 5 và Điều 8 Sắc luật số 202/SL ngày 15/10/1946 quy định về việc buôn bán vàng bạc cho phép phạt tiền gấp ba hoặc năm lần số vàng gian lận; tại khoản 1 Điều 3 sắc lệnh số 61/SL ngày 05/7/1947, về ấn định thể thức xuất cảng, nhập nội các
tư bản, quy định phạt tiền gấp ba số tư bản định xuất cảng hay nhập nội
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 24Đối với hình phạt quản chế: “Quản chế là dùng quyền lực của chính quyền
và của nhân dân để xử trí những phần tử đã phạm tội với cách mạng, với nhân dân những tội chưa đáng phạt tù, hoặc đã mãn hạn tù nhưng chưa thực sự hối cải”
(Điều 1 Sắc lệnh số 175 ngày 18/8/1953) Phương châm của quản chế là: Kết hợp kiểm soát của chính quyền với kiểm soát của nhân dân và kết hợp giáo dục với bắt buộc lao động để sinh sống Hạng người sẽ bị quản chế bao gồm: Địa chủ, cường hào có tội nhẹ; Bọn đã làm gián điệp, bọn đã tham gia đảng phái phản động, nói chung bọn đã làm tay sai cho địch nhưng tội nhẹ mà nay chưa thực sự hối cải; Bọn lưu manh trước kia đã chuyên sinh sống bằng trộm cắp; Kẻ đã mãn hạn tù nhưng
chưa thực sự hối cải
Ngày 30/4/1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta toàn thắng, miền Nam hoàn toàn giải phóng Từ đây, cách mạng Việt Nam chuyển sang một giai đoạn mới, giai đoạn cả nước độc lập thống nhất, cùng thực hiện một nhiệm
vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước Ngày 25/4/1976, trên 23 triệu cử tri của nước Việt Nam thống nhất đã nô nức làm nghĩa vụ công dân của mình, bầu những đại biểu xứng đáng vào cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Việt Nam Ngày 02/7/1976, Quốc hội khóa VI, kỳ họp thứ nhất, đã ra Nghị quyết giao cho Hội đồng Chính phủ chịu trách nhiệm hướng dẫn áp dụng pháp luật thống nhất trong cả nước Căn cứ vào hướng dẫn của Hội đồng Chính phủ thì các văn bản pháp luật hiện hành ở cả hai miền đều được áp dụng trong cả nước Những văn bản quy phạm pháp luật trước đây đã ban hành ở miền Bắc tiếp tục được
áp dụng Những năm đầu của thập kỷ 80, cùng với việc ban hành Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có ban hành nhiều luật Hội đồng nhà nước có ban hành các sắc lệnh trong đó có sắc lệnh về tội phạm và hình phạt như pháp lệnh ngày 20/5/1981 trừng trị tội hối lộ, pháp lệnh ngày 30/6/1982 trừng trị các tội buôn lậu, làm giả, kinh doanh trái phép
Điểm đáng chú ý trong giai đoạn này là hình phạt “Cải tạo không giam giữ” bắt đầu xuất hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật hình sự và trong phần quy định trách nhiệm của người trốn tránh nghĩa vụ quân sự Khoản 1 Điều 6 của pháp
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 25lệnh ngày 30/6/1982 có quy định: “Người nào kinh doanh không có giấy phép hoặc không đúng với nội dung được phép…thì bị phạt cải tạo không giam giữ từ 03 tháng đến 02 năm…”Điều 69 của Luật nghĩa vụ quân sự được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 30/12/1981, quy định: “Người nào đang ở lứa tuổi làm nghĩa vụ quân sự mà không chấp hành những quy định…thì tùy theo mức độ nặng nhẹ mà bị xử lý bằng biện pháp hành chính, bị cải tạo không giam giữ từ ba tháng đến hai năm”
Qua nghiên cứu các văn bản pháp luật hình sự từ năm 1975 đến năm 1985 thì thấy, các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn được quy định và áp
dụng trong giai đoạn này gồm có: Cảnh cáo; phạt tiền; cải tạo không giam giữ
Nhận xét: Từ những phân tích ở trên có thể rút ra những đặc điểm của các
hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn trong pháp luật hình sự Việt Nam trước khi pháp điển hóa luật hình sự như sau: Các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn được quy định theo chiều hướng phát triển nhưng chưa được rõ ràng, thiếu nội dung và điều kiện áp dụng, chưa phân biệt rõ biện pháp xử lý hành chính và hình phạt Do chưa có hệ thống hình phạt hoàn chỉnh, các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn không thể sắp xếp vào trật tự được do chúng không
có mối quan hệ chuyển tiếp với hình phạt tù, cho nên giữa các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn và hình phạt tù có một khoảng cách lớn về tính cưỡng chế và hậu quả pháp lý khi áp dụng Trong thời kỳ đầu, khi quản chế còn được coi
là hình phạt chính thì giữa hình phạt tù và hình phạt quản chế còn có bước chuyển tiếp nhất định (tước tự do của hình phạt tù và hạn chế tự do của hình phạt quản chế) cho đến khi quản chế chỉ được áp dụng là hình phạt bổ sung thì tính cưỡng chế và hậu quả pháp lý giữa các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn và hình phạt tù có thời hạn càng được mở rộng Thực tế, trong giai đoạn này, các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn rất ít được áp dụng Đối với những trường hợp mà có thể cải tạo giáo dục tại địa phương mà không cần cách ly ra khỏi xã hội, Tòa án thường áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 261.2.2 Khái quát về các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn trong BLHS năm 1985 (sửa đổi, bổ sung vào năm 1989, 1991, 1992, và 1997- sau đây gọi tắt là BLHS năm 1985)
Năm 1985, BLHS đầu tiên của nước ta ra đời trên cơ sở nền kinh tế bao cấp
và thực tiễn của tình hình tội phạm thời kỳ đó BLHS năm 1985 với ý nghĩa là nguồn duy nhất trong đó quy định tội phạm và hình phạt Để đáp ứng và phục vụ cho công cuộc đổi mới của đất nước, luật hình sự buộc phải có những thay đổi mang tính phát triển, điều đó được thể hiện qua những sửa đổi, bổ sung của BLHS
cụ thể: BLHS năm 1985 có hiệu lực từ ngày 01/01/1986, đã trải qua 04 lần sửa đổi,
bổ sung vào các năm 1989, 1991, 1992 và 1997, chính thức hết hiệu lực vào ngày
01/7/2000
Tại khoản 1 Điều 21 BLHS năm 1985 quy định về các hình phạt chính, trong
đó các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn bao gồm: Cảnh cáo; phạt
tiền; cải tạo không giam giữ; cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội
Hình phạt cảnh cáo: hình phạt cảnh cáo được quy định tại Điều 22 với nội
dung: "Cảnh cáo được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng chưa đến mức miễn hình phạt"
Cảnh cáo là hình phạt nhẹ nhất trong hệ thống hình phạt và được áp dụng đối
với các điều kiện:
Thứ nhất, người phạm tội ít nghiêm trọng: Trong đó, theo BLHS năm 1985 thì tội ít nghiêm trọng được xác định là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến năm năm tù
Thứ hai, có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS
Thứ ba, người phạm tội chưa đến mức miễn hình phạt theo quy định tại
khoản 2 Điều 48 BLHS: "Người phạm tội có thể được miễn hình phạt trong trường hợp phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ nói ở Điều 38, đáng được khoan hồng đặc biệt, nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự"
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 27Trong phần các tội phạm của BLHS năm 1985 thì có 40 tội danh quy định về hình phạt cảnh cáo Trong các lần sửa đổi sau đó của BLHS năm 1985 thì quy định
này vẫn giữ nguyên
Hình phạt tiền: Điều 23 BLHS năm 1985 có quy định: "Phạt tiền được áp
dụng đối với người phạm các tội có tính chất vụ lợi, các tội có dùng tiền làm phương tiện hoạt động trong những trường hợp khác do luật này quy định Chỉ trong trường hợp có Điều luật quy định thì phạt tiền mới được áp dụng là hình phạt chính Mức phạt tiền được quyết định theo mức độ nghiêm trọng của tội đã phạm, đồng thời có xét đến tình hình tài sản của người phạm tội" Có thể thấy, quy định
này chưa thể hiện hình phạt tiền được áp dụng đối với loại tội phạm nào cũng như mức tối thiểu và mức tối đa của số tiền phạt được áp dụng BLHS năm 1985 quy định không áp dụng hình phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội và không
quy định cách thức nộp tiền
Trong phần các tội phạm của BLHS năm 1985 thì có 9/209 tội có quy định hình phạt tiền là hình phạt chính, chiếm tỉ lệ 4,3% trên tổng số điều luật
Hình phạt cải tạo không giam giữ: BLHS năm 1985 quy định có hai loại là:
cải tạo không giam giữ (Điều 24 BLHS năm 1985) và cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội (Điều 70 BLHS năm 1985)
Về điều kiện áp dụng: Cải tạo không giam giữ được áp dụng từ sáu tháng đến hai năm đối với người phạm tội ít nghiêm trọng
Nếu người bị kết án đã bị tạm giam thì thời gian tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cứ một ngày tạm giam bằng ba ngày cải tạo không giam giữ
Nghĩa vụ của người bị kết án: Người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa
vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và có thể bị khấu trừ một phần thu nhập từ 5% đến 20% để sung quỹ Nhà nước
Đối với người chưa thành niên phạm tội khi áp dụng hình phạt cải tạo không
giam giữ thì không khấu trừ thu nhập của người đó
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 281.2.3 Khái quát về các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn trong BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009 - sau đây gọi tắt là BLHS năm 1999)
BLHS năm 1999 có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2000, được xây dựng trên cơ sở kế thừa những nội dung hợp lý, tích cực của BLHS năm 1985 So với BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 có những thay đổi cơ bản mang tính tương đối toàn diện thể hiện sự phát triển mới của Luật hình sự Việt Nam BLHS năm
1999 quy định các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn gồm có: Cảnh cáo; phạt tiền; cải tạo không giam giữ; trục xuất
Hình phạt cảnh cáo
Điều 29 BLHS năm 1999 có quy định: "Cảnh cáo được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng chưa đến mức miễn hình phạt" Có thể thấy điều kiện áp dụng hình phạt cảnh cáo trong BLHS
năm 1999 được quy định tương tự như trong BLHS năm 1985 Tuy nhiên, về nội hàm có những điểm khác biệt như: tội ít nghiêm trọng được xác định là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội
ấy là đến ba năm tù Và điều kiện, chưa đến mức miễn hình phạt được quy định chặt chẽ hơn (điều kiện miễn hình phạt được quy định trong BLHS năm 1999 chỉ bao gồm các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 (do luật ấn định) thay vì có thể do Tòa án xác định như trong BLHS năm 1985)
Trong phần các tội phạm của BLHS năm 1999 thì hình phạt cảnh cáo được
quy định tại Điều 37 của BLHS năm 1999
Hình phạt tiền
Điều 30 BLHS năm 1999 có quy định: "1 Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với người phạm tội ít nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, trật tự công cộng, trật tự quản lý hành chính và một số tội phạm khác do Bộ luật này quy định 2 Phạt tiền được áp dụng là hình phạt bổ sung đối với người phạm các tội về tham nhũng, ma tuý hoặc những tội phạm khác do Bộ luật này quy định
3 Mức phạt tiền được quyết định tuỳ theo tính chất và mức độ nghiêm trọng của tội
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 29phạm được thực hiện, đồng thời có xét đến tình hình tài sản của người phạm tội, sự biến động giá cả, nhưng không được thấp hơn một triệu đồng 4 Tiền phạt có thể được nộp một lần hoặc nhiều lần trong thời hạn do Toà án quyết định trong bản án" Như vậy, BLHS năm 1999 đã mở rộng phạm vi áp dụng và quy định rõ hơn
điều kiện áp dụng hình phạt tiền: Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với người phạm tội ít nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, trật tự công cộng, trật tự quản lý hành chính và một số tội phạm khác do Bộ luật này quy định Đồng thời, quy định cụ thể mức phạt tiền được quyết định theo tính chất và mức độ nghiêm trọng của tội phạm được thực hiện, có xét đến tình hình tài sản của người phạm tội, sự biến động giá cả, nhưng không được thấp hơn một triệu đồng và cách thức thực hiện là có thể được nộp một lần hoặc nhiều lần trong thời hạn do Toà án
quyết định trong bản án
Trong phần các tội phạm của BLHS năm 1999 có 68 tội quy định hình phạt tiền là hình phạt chính, tăng hơn 8 lần so với BLHS năm 1985 Thể hiện xu thế mở rộng việc áp dụng hình phạt tiền
Đồng thời, BLHS năm 1999 cũng quy định phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với người chưa thành niên phạm tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, nếu người đó có thu nhập hoặc có tài sản riêng Mức phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội không quá một phần hai mức tiền phạt mà điều luật quy định (Điều 72)
Hình phạt cải tạo không giam giữ
Trong BLHS năm 1999 thì hình phạt cải tạo không giam giữ được quy định
tại Điều 31:"Cải tạo không giam giữ được áp dụng từ sáu tháng đến ba năm đối với người phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng do Bộ luật này quy định mà đang có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú rõ ràng, nếu xét thấy không cần thiết phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội Nếu người bị kết án đã bị tạm giữ, tạm giam thì thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cứ một ngày tạm giữ, tạm giam bằng ba ngày cải tạo không giam giữ” (Khoản 1 Điều 31 BLHS năm 1999)
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 30Như vậy, so với BLHS năm 1985 thì hình phạt cải tạo không giam giữ được
áp dụng không chỉ với người phạm tội ít nghiêm trọng (mức cao nhất của khung hình phạt đến 3 năm) mà còn được áp dụng đối với cả những người phạm tội nghiêm trọng (mức cao nhất của khung hình phạt đến 7 năm) BLHS năm 1999 đã
bổ sung thêm 02 điều kiện áp dụng để tạo thuận lợi cho việc thi hành là: người phạm tội đang có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú rõ ràng và Tòa án xét thấy không cần thiết phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội Đồng thời BLHS năm
1999 quy định về trách nhiệm của gia đình người bị kết án và trong trường hợp đặc biệt Tòa án có thể miễn việc khấu trừ thu nhập nhưng phải ghi rõ trong bản án, thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước ta
Trong phần các tội phạm của BLHS năm 1999 thì hình phạt cải tạo không giam giữ được áp dụng đối với 143 điều luật trên tổng số 283 điều luật quy định về các tội danh, chiếm tỷ lệ 50,53%
Đối với người dưới 18 tuổi (người chưa thành niên): Khi áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với người chưa thành niên phạm tội, thì không khấu trừ thu nhập của người đó, điểm này giống với BLHS năm 1985
Hình phạt trục xuất
BLHS năm 1999 lần đầu tiên ghi nhận hình phạt trục xuất:"Trục xuất là buộc người nước ngoài bị kết án phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trục xuất được Toà án áp dụng là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung trong từng trường hợp cụ thể" ( Điều 32 BLHS năm 1999)
Trong BLHS năm 1999 không thể hiện rõ phạm vi, điều kiện áp dụng hình phạt trục xuất là như thế nào Trong phần các tội phạm cũng không có điều luật nào quy định về hình phạt trục xuất trong CTTP
Nhận xét: Các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn được quy
định ngày càng hoàn thiện hơn trong pháp luật hình sự Việt Nam, đặc biệt là trong BLHS năm 1985 và BLHS năm 1999 Các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn ngày càng được mở rộng phạm vi áp dụng phù hợp với xu hướng chung của thế giới là tăng cường việc áp dụng các hình phạt không tước tự do trên cơ sở
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 31“thuyết ngăn ngừa” thay vì “thuyết trừng phạt” trước đây Đặc biệt, xã hội ngày càng phát triển, thì sẽ xuất hiện một số loại tội phạm liên quan đến người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam Do vậy, BLHS ngày càng hoàn thiện các quy định về hình phạt trong đó có các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn
và phù hợp với xu hướng chung của thế giới, trong đó có việc xuất hiện hình phạt trục xuất
1.3 Các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn theo quy định của BLHS Việt Nam năm 2015
Theo quy định tại Điều 32 BLHS Việt Nam năm 2015, các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn đối với người phạm tội bao gồm: 1) Cảnh cáo, 2)
Phạt tiền, 3) Cải tạo không giam giữ, 4) Trục xuất
Về cơ cấu trong tổng số 314 điều luật quy định các tội phạm cụ thể, trong đó
có 298 điều luật có quy định hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù chiếm tỷ lệ 65,92%, trong đó có 25/314 (tỷ lệ 7,96%) điều luật quy định hình phạt cảnh cáo, 95/314 (tỷ lệ 30,25%) điều luật quy định hình phạt tiền, 178/314 (tỷ lệ 56,68%) điều luật có quy định hình phạt cải tạo không giam giữ, còn về hình phạt trục xuất không
có điều luật nào quy định trực tiếp
Bảng 1.1 Thống kê các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù trong Phần các tội phạm của BLHS 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017
Tổng
số điều luật
Cảnh cáo
Phạt tiền
Cải tạo không giam giữ
Trục xuất
XIII Các tội xâm phạm an ninh quốc
XIV Các tội xâm phạm tính mạng,
sức khỏe, nhân phẩm, danh dự
con người
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 32XV Các tội xâm phạm quyền tự do,
XVII Các tội xâm phạm chế độ hôn
XXV Các tội xâm phạm nghĩa vụ
trách nhiệm của quân nhân và trách nhiệm của người phối thuộc với quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu
XXVI Các tội phá hoại hòa bình,
chống loài người và tội phạm
Trang 33thất về tinh thần đối với họ Như vậy, có thể hiểu: “Cảnh cáo là sự khiển trách công khai của Nhà nước đối với người phạm tội về tội phạm mà họ đã thực hiện, do Tòa
án quyết định áp dụng đối với người phạm tội, trong những trường hợp do BLHS quy định.”
Mặc dù, hình phạt cảnh cáo chỉ gây ra tổn thất về tinh thần cho người phạm tội nhưng nó vẫn nặng hơn các chế tài hành chính vì nó là hình phạt, nó để hậu quả pháp lý cho người phạm tội là án tích
Điều 34 BLHS năm 2015 quy định như sau: “Cảnh cáo được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng chưa đến
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 34mức miễn hình phạt” Theo quy định tại Điều 34 BLHS 2015 thì hình phạt cảnh cáo
chỉ được áp dụng khi có đầy đủ các điều kiện sau:
Thứ nhất: Tội phạm thực hiện phải là tội ít nghiêm trọng
Theo quy định tại khoản 1 Điều 9 BLHS năm 2015 thì: “Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm” Việc xác định là tội phạm ít
nghiêm trọng cần căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn, tuy nhiên, đây là một khái niệm khó đánh giá Trong thực tiễn, cơ quan có thẩm quyền phải căn cứ vào mức cao nhất của khung hình phạt để xác định, cần chú ý việc xác định tội phạm ít nghiêm trọng không phải căn cứ vào hình phạt cao nhất của điều luật quy định đối với tội đó mà phải căn cứ vào mức cao nhất của khung hình phạt
Cảnh cáo là hình phạt có tính cưỡng chế thấp nhất trong các hình phạt chính nên đối tượng bị áp dụng hình phạt này trước hết phải là những trường hợp phạm tội
ít nghiêm trọng, đó là những tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn, hậu quả của hành vi gây lên chưa ảnh hưởng nặng nề đến đời sống xã hội, nền kinh tế và chế độ chính trị của đất nước Việc quy định như vậy cũng đảm bảo hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội
Thứ hai: Người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ
Có nhiều tình tiết giảm nhẹ tức là phải có từ hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 51 BLHS năm 2015 Từ quy định này, về lý thuyết, người phạm tội có thể được áp dụng hình phạt chính là cảnh cáo nếu có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ, dù các tình tiết này có thể là tình tiết giảm nhẹ được quy định ở khoản 1 hay khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015 Tuy nhiên, nếu là tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 BLHS 2015 thì Toà án phải ghi rõ trong bản án
Thứ ba: Tội phạm mà người đó thực hiện chưa đến mức miễn hình phạt
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 35Điều 59 BLHS năm 2015 có quy định: “Người phạm tội có thể được miễn hình phạt nếu thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 54 của Bộ luật này mà đáng được khoan hồng đặc biệt nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự”, như vậy, người phạm tội được miễn hình phạt khi họ có nhiều tình
tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 và họ “đáng được khoan hồng đặc biệt”, còn người bị áp dụng hình phạt cảnh cáo thì không được khoan hồng đặc biệt, vì vậy họ không được miễn hình phạt Như vậy, ranh giới giữa miễn hình phạt và áp dụng hình phạt cảnh cáo là rất nhỏ, đòi hỏi Tòa án phải rất thận trọng khi quyết định hình phạt
Nhận xét: Điều kiện áp dụng hình phạt cảnh cáo trong BLHS năm 2015 về
cơ bản giữ nguyên quy định trong BLHS năm 1999 Việc áp dụng hình phạt cảnh cáo có xu hướng thu hẹp phạm vi từ BLHS năm 1985 (37 tội danh) đến BLHS năm
Cũng như hình phạt cảnh cáo, trong BLHS năm 2015 không đưa ra khái
niệm hình phạt tiền.Trong Từ điển luật hình sự, hình phạt tiền được hiểu là “Buộc người bị kết án phải nộp sung quỹ nhà nước khoản tiền nhất định”[16; Tr.195]
Khái niệm hình phạt tiền cũng được một số nhà nghiên cứu đề cập trong một số giáo trình, sách báo pháp lý chuyên ngành như sau:
“Phạt tiền là hình phạt buộc người phạm tội phải nộp một khoản tiền nhất định vào ngân sách nhà nước”[31, tr.296]
“Phạt tiền được hiểu là một trong những biện pháp cưỡng chế của Nhà nước được Tòa án quyết định trong bản án kết tội đối với người bị kết án về những tội phạm do luật hình sự quy định với nội dung là tước một khoản tiền nhất định của họ sung vào công quỹ của Nhà nước, thông qua đó giáo dục, cải tạo họ trở
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 36thành người có ích cho xã hội, ngăn ngừa họ phạm tội mới, đồng thời thực hiện phòng ngừa, giáo dục chung”[42, tr.84]
“Phạt tiền là một loại hình phạt được áp dụng là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung, khi hình phạt chính là loại hình phạt khác Phạt tiền do Tòa án quyết định trong những trường hợp do luật định mà theo đó người bị kết án bị tước một
số tiền tùy theo mức độ nghiêm trọng của tội phạm, đồng thời xem xét đến tình hình tài sản của người bị kết án và sự biến động của giá cả”[28, tr.11]
Về cơ bản, các quan điểm nêu trên là thống nhất, nội dung của hình phạt tiền
là sự tước bỏ một khoản tiền nhất định của người bị kết án để sung công quỹ Nhà nước, qua đó nhằm đạt được mục đích phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung và Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối
với người phạm tội Với nội dung này thì có thể hiểu “hình phạt tiền là hình phạt có mục đích trừng trị về kinh tế được áp dụng đối với người bị kết án phạm một số tội
do Bộ luật hình sự quy định, nhằm tước đoạt các khoản tiền nhất định, qua đó giáo dục, cải tạo họ trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời thực hiện giáo dục, phòng ngừa chung”[43, tr.326 – 327]
Theo quy định tại Điều 35 BLHS năm 2015 quy định phạm vi áp dụng hình phạt tiền căn cứ theo nhóm tội nhất định, đó là: Nhóm tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng; nhóm tội rất nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, môi trường, trật tự công cộng, an toàn công cộng và một số tội phạm khác do Bộ luật này quy định Theo đó, hình phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với
95 tội danh Như vậy, so với quy định về hình phạt tiền tại Điều 30 của BLHS năm
1999, quy định hiện hành đã mở rộng phạm vi áp dụng hình phạt tiền đối với cả tội nghiêm trọng và thậm chí là rất nghiêm trọng (bên cạnh quy định BLHS năm 1999 chỉ áp dụng với tội ít nghiêm trọng) Đối với trường hợp người phạm tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng việc quy định và áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính không bị giới hạn về nhóm tội phạm Đối với trường hợp người phạm tội rất nghiêm
trọng thì bị giới hạn về nhóm tội phạm Tuy nhiên thuật ngữ “và một số tội phạm khác do Bộ luật này quy định” dẫn đến phạm vi áp dụng hình phạt tiền cho các tội
phạm rất nghiêm trọng không bị giới hạn một cách rõ ràng về nhóm tội phạm
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 37Trong phần các tội phạm trong BLHS năm 2015, hình phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với 112/314 tội phạm cụ thể, chiếm tỉ lệ hơn 35%, tập trung vào các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân; các tội xâm phạm
sở hữu; các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế; các tội phạm về môi trường; các tội xâm phạm an toàn cộng cộng, trật tự công cộng và các tội xâm phạm trật tự quản
lý hành chính Như vậy, có thể thấy hình phạt tiền có xu hướng được mở rộng phạm
vi các tội danh được áp dụng từ BLHS năm 1985 với 09 tội danh lên con số 76 tội danh trong BLHS năm 1999 (sửa đổi năm 2009), thì đến BLHS năm 2015 là 112 tội danh được áp dụng
Mặc dù Điều 35 BLHS năm 2015 chỉ quy định phạm vi áp dụng hình phạt tiền căn cứ theo nhóm tội nhất định mà không quy định kèm các điều kiện áp dụng khác Tuy nhiên, theo tinh thần của Điều 32 BLHS năm 2015, các hình phạt chính được sắp xếp từ điểm a đến điểm g tại khoản 1 Điều 32 BLHS năm 2015 theo thứ tự
từ nhẹ tới nặng, thì hình phạt tiền chỉ nặng hơn hình phạt cảnh cáo và nhẹ hơn các hình phạt còn lại Do vậy, trong thực tiễn áp dụng, để người phạm tội được áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền thì người phạm tội phải có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Điều 51 BLHS năm 2015 Tuy nhiên, việc chưa có văn bản nào hướng dẫn về điều kiện áp dụng hình phạt tiền dẫn đến việc áp dụng hình phạt tiền chưa được thống nhất và đôi khi chưa đạt được mục đích của hình phạt
Về mức phạt: Khoản 3 Điều 35 BLHS năm 2015 chỉ quy định mức thấp nhất của hình phạt tiền là một triệu đồng, mức tối đa tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể quy định trong phần các tội phạm của BLHS Đây là một quy định cần thiết, thể hiện tính nghiêm khắc của chế tài hình sự so với các chế tài khác như chế tài hành chính, chế tài dân sự Đồng thời quy định về mức tiền phạt phải được căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm thực hiện đồng thời có xét đến tình hình tài sản của người phạm tội và sự biến động của giá cả Quy định này làm cho hình phạt tiền khi áp dụng có khả năng thực hiện được trên thực tế, giúp phát huy
được hiệu quả của loại hình phạt này
Mặc dù trong hệ thống các hình phạt theo BLHS hiện hành, không chỉ có
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 38còn có các hình phạt khác như: Cải tạo không giam giữ hay tịch thu tài sản Tuy nhiên, khác với hình phạt cải tạo không giam giữ và hình phạt tịch thu tài sản, sự tác động về mặt kinh tế của hình phạt tiền là sự tác động chính, trực tiếp chứ không phải là những nội dung hạn chế các quyền và lợi ích áp dụng kèm theo Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường và xu thế hội nhập quốc tế, việc tồn tại hình phạt tiền với tính chất là hình phạt chính có ý nghĩa rất quan trọng vì đối với các tội phạm có tính chất kinh tế với mục đích mà người phạm tội hướng tới là lợi nhuận Biện pháp trừng phạt có tính chất kinh tế đối với hành vi phạm tội của họ sẽ tước bỏ khả năng,
cơ hội tái phạm tội của họ; tạo điều kiện để bản thân người phạm tội có khả năng tiếp tục lao động khắc phục hậu quả của tội phạm
Phạt tiền với tính chất là một hình phạt chính khác với phạt tiền với tính chất
là một biện pháp xử lý vi phạm hành chính ở chỗ: Là một biện pháp xử lý vi phạm hành chính, phạt tiền có thể áp dụng đối với người vi phạm các quy định về an toàn giao thông, vi phạm các quy định về an toàn lao động, vi phạm các quy định về phòng cháy… Người có thẩm quyền áp dụng phạt tiền hành chính là các Cơ quan quản lý hành chính nhà nước Còn với tính chất là một hình phạt (hình phạt chính), phạt tiền không thể do các Cơ quan quản lý hành chính nhà nước áp dụng, mà phải do Tòa án nhân danh Nhà nước tuyên phạt trên cơ sở các quy định của BLHS hiện hành Ngoài ra, người bị kết án hình phạt tiền còn phải chịu hậu quả pháp lý là án tích, đây cũng là điểm khác nhau quan trọng nhất giữa hình phạt với các chế tài khác
1.3.3 Hình phạt cải tạo không giam giữ
Hình phạt cải tạo không giam giữ được ghi nhận trong pháp luật hình sự Việt Nam trước năm 1985, tức là trước khi có BLHS đầu tiền của nước ta ra đời, sau đó hình phạt này được ghi nhận trong tất cả các BLHS của nước ta từ trước đến nay Việc ghi nhận hình phạt cải tạo không giam giữ trong BLHS thể hiện quan điểm nhân đạo và chính sách hình sự của nhà nước ta đối với người phạm tội và hành vi
do họ thực hiện, đồng thời chứng tỏ khả năng tự giáo dục, cải tạo trở thành người có ích cho xã hội của họ
Hiện nay, trong khoa học luật hình sự ở nước ta, khái niệm hình phạt cải tạo không giam giữ còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau, cụ thể là:
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 39“Cải tạo không giam giữ là hình phạt chính, buộc người phạm tội phải cải tạo, giáo dục tại nơi làm việc, học tập, cư trú dưới sự giám sát của cơ quan, tổ chức nơi họ làm việc, học tập hoặc của chính quyền địa phương, nơi họ cư trú”[31, tr.297]
“Buộc người phạm tội phải tự cải tạo dưới sự giám sát của cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội nơi họ làm việc hoặc cư trú qua việc phải thực hiện những nghĩa vụ nhất định”[16, tr.29]
“Cải tạo không giam giữ là không buộc người phạm tội phải cách ly khỏi xã hội mà họ được chung sống với gia đình như những người khác dưới sự giám sát của cơ quan, tổ chức hoặc chính quyền địa phương nơi người đó làm việc hoặc thường trú”[23, tr.178]
Như vậy, các quan điểm trên đều khẳng định cải tạo không giam giữ là hình phạt buộc người bị kết án phải cải tạo tại cộng đồng dưới sự giám sát của cơ quan
có thẩm quyền, họ không bị tước tự do Những trường hợp bị áp dụng hình phạt này phải có nơi cư trú rõ ràng Trên cơ sở phân tích các quan điểm khoa học trên kết hợp với việc phân tích các quy định pháp luật có liên quan, dưới góc độ khoa học
luật hình sự có thể hiểu khái niệm hình phạt cải tạo không giam giữ như sau: Hình phạt cải tạo không giam giữ là một trong những biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước, được quy định trong BLHS, người bị kết án không bị cách ly ra khỏi xã hội mà được giao cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú để giám sát, giáo dục, khi họ phạm một tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng có nơi cư trú rõ ràng và Tòa án xét thấy không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội
Về điều kiện áp dụng: Theo quy định tại khoản 1 Điều 36 BLHS năm 2015,
hình phạt cải tạo không giam giữ chỉ được áp dụng đối với người phạm tội khi có
đủ các yếu tố sau đây:
Phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng theo quy định tại khoản 1 Điều 9 BLHS năm 2015: BLHS năm 2015 đã mở rộng phạm vi áp dụng loại hình
phạt này đến loại tội phạm rất nghiêm trọng nếu người phạm tội là người dưới 18
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 40tuổi theo quy định tại Điều 100 BLHS 2015 Theo quy định này thì hình phạt cải tạo không giam giữ được áp dụng cho người dưới 18 tuổi như sau: 1) người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do vô ý hoặc phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng 2) Người tử đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng Đây là một điểm mới của BLHS 2015 so với BLHS 1999, cụ thể có
sự phân định rõ phạm vi áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với các nhóm độ tuổi khác nhau
Người phạm tội phải có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi cư trú rõ ràng:
Khi áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, Tòa án giao người bị phạt cải tạo không giam giữ cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú để giám sát, giáo dục Do đó, việc BLHS quy định người phạm tội phải có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi cư trú rõ ràng là hợp
lý, vừa tạo điều kiện thuận lợi giúp người bị kết án có thể lao động cải tạo tốt, vừa
là điều kiện áp dụng hình phạt hiệu quả Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc giám sát, giáo dục người đó Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình là tạo điều kiện quan tâm, giúp đỡ người bị kết án có thể cải tạo trở thành công dân tốt cho xã hội, thông qua sự chia sẻ này người bị kết án sẽ dần xóa bỏ những mặc cảm trong quá khứ và
từ đó có quyết tâm lao động, cải tạo tốt Bản chất của cải tạo không giam giữ là không tước tự do của người bị kết án nhưng mục đích trừng trị và giáo dục cải tạo người phạm tội vẫn đạt được khi người bị kết án chịu sự giám sát của cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội, gia đình nơi người đó làm việc hoặc cư trú
Về thời hạn áp dụng: Cải tạo không giam giữ được áp dụng từ 06 tháng đến
03 năm Nếu người bị kết án đã bị tạm giữ, tạm giam thì thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cứ 01 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ Việc BLHS quy định cách quy đổi thời gian tạm giữ, tạm giam sang thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ là hợp lí, đảm bảo quyền lợi cho người bị kết án cũng như đảm bảo việc áp dụng pháp luật một cách công bằng Hơn nữa, việc quy đổi này cũng tạo
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si