Vấn đề được đặt ra ở đây là “Nếu như các quy định pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất hoàn thiện thì tình trạng khiếu nại, tố cáo còn xảy ra nhiều như v
Trang 1LÊ ĐỖ KIM CHI
BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT THEO PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY TỪ THỰC TIỄN HUYỆN VĨNH CỬU,
Trang 2LÊ ĐỖ KIM CHI
BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT THEO PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY TỪ THỰC TIỄN HUYỆN VĨNH CỬU,
Trang 4nghĩa Việt Nam có định hướng thích hợp đã giúp cho nước ta có sự phát triển mạnh mẽ, bứt phá trong hầu hết các lĩnh vực chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội,… Nhiều dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng được triển khai thực thi cùng với xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Nền kinh tế nước Việt Nam là nền kinh tế nông nghiệp, do đó, nông nghiệp là một ngành kinh tế vô cùng quan trọng ở hệ thống kinh tế nước ta, chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế Cơ sở để phục vụ cho sự phát triển nền kinh tế nông nghiệp gồm nông dân và đất đai, trong đó (i) nông dân là người trực tiếp tạo ra sản phẩm bằng cách tác động đến đất đai phục vụ cho cuộc sống hàng ngày, đáp ứng nhu cầu sử dụng trong xã hội; (ii) Đất đai là tư liệu sản xuất để tạo ra sản phẩm giúp nông dân làm việc Mỗi nước trên thế giới đều có quỹ đất riêng để phát triển nông nghiệp, phục vụ sản xuất và Việt Nam cũng không phải là nước ngoại lệ
Nền kinh tế phát triển dẫn đến tốc độ đô thị hóa tăng nhanh dẫn đến mục đích sử dụng đất thay đổi thường xuyên, nhu cầu thu hồi đất phục vụ cho các mục đích khác Song song với lợi ích của việc thu hồi đất là phát triển đất nước trở thành nền kinh tế công nghiệp hóa thì thách thức của việc thu hồi đất chính là diện tích đất bị thu hẹp, người dân sẽ sinh sống như thế nào, vấn đề lương thực, đảm bảo an ninh trật tự xã hội, người bị thu hồi đất có đồng tình hay không, việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được giải quyết ra sao
Việc thu hồi đất vì mục đích an ninh, quốc phòng hoặc vì kinh tế xã hội,… gây nhiều nguồn dư luận trong xã hội Tuy vấn đề này không còn xa lạ với bối cảnh hiện nay nhưng nó chưa bao giờ cũ, luôn là vấn đề “nóng bỏng”
và tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây rối loạn trật tự xã hội trong thời kỳ “đất chật
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 5người đông” như hiện nay Đây là sự việc có mối quan hệ chặt chẽ giữa quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, người bị thu hồi đất
Qua từng giai đoạn, Nhà nước luôn tìm mọi giải pháp để cải tiến, bổ sung, hoàn thiện các quy định pháp luật đất đai về bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư khi nhà nước thu hồi đất Tuy nhiên, các văn bản hướng dẫn thi hành quy định pháp luật vẫn tồn tại những hạn chế, các tranh chấp, khiếu nại, tố cáo vẫn xảy ra
Hiến pháp năm 2013 ban hành và Luật Đất đai năm 2013 được Quốc hội thông qua đã có những thay đổi theo hướng tích cực, hoàn thiện dần trong chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Tuy vậy, thực tế áp dụng các quy định về vấn đề này còn nhiều hạn chế, thiếu sót, điển hình như con số 70% các vụ kiện liên quan đến lĩnh vực đất đai do Thanh tra Chính Phủ đánh giá năm 2020
Vấn đề được đặt ra ở đây là “Nếu như các quy định pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất hoàn thiện thì tình trạng khiếu nại, tố cáo còn xảy ra nhiều như vậy hay không?”
Với mục đích đi sâu tìm hiểu các quy định của pháp luật đất đai Việt Nam hiện nay về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất, qua
đó tìm ra những hạn chế, giải pháp khắc phục những vướng mắc, khó khăn trong quá trình thực hiện Xuất phát từ mong muốn trên, tác giả lựa chọn đề
tài “Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất theo pháp luật
đất đai ở Việt Nam hiện nay từ thực tiễn huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai”
làm luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Luật kinh tế của mình Hy vọng qua đề tài này, tác giả có thể phần nào làm rõ được một số vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong tình hình hiện nay, với chủ đề nhạy cảm, nóng bỏng và đầy sự phức tạp của việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất đai,
ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này, điển hình như:
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 6Luận văn Thạc sĩ Luật học với đề tài “Pháp luật về bồi thường khi nhà
nước thu hồi đất nông nghiệp và thực tiễn thi hành tại quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng” của tác giả Nguyễn Duy Thơ, Khoa Luật kinh tế -
Viện Đại học Mở Hà Nội, năm 2017 Luận văn đã khái quát một cách tổng thể về những lý luận của pháp luật bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp và ảnh hưởng của nó đến người bị thu hồi đất Từ những lý luận đó, bài viết đã phân tích, dẫn chứng thực trạng pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp ở quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng Tại thành phố Hải Phòng nói chung và Quận Dương Kinh nói riêng, bài viết có nghiên cứu về tình trạng và có những giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý Bài viết có những nghiên cứu về kinh nghiệm của các nước trên thế giời
Luận văn Thạc sĩ Luật học với đề tài “Pháp luật bồi thường, tái định cư
cho người bị thu hồi đất từ thực tiễn huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định” của
tác giả Lưu Văn Dũng, Trường Đại học Mở Hà Nội, năm 2019 Luận văn đã
hệ thống quy định pháp luật, nêu lên những vấn đề thực tế tại địa phương huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định Từ đó, đưa ra các giải pháp, kiến nghị, đề xuất phù hợp với thực tiễn khu vực
Luận văn Thạc sĩ về "Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu
hồi đất nông nghiệp và thực tiễn áp dụng tại Hà Nam", tác giả Trần Thị
Huyền Lê, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2015 Bài viết làm sáng tỏ một lý luận cơ bản cho việc bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp Sau đó định hướng và đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao tính hiệu quả trong công tác thực thi pháp luật khi Nhà nước thu hồi đất Luận văn chỉ đề cập đến việc bồi thường và hỗ trợ mà chưa
đi sâu vào vấn đề tái định cư khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp
Luận văn Thạc sĩ về "Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh",
tác giả Nguyễn Văn Vững, Học viện Khoa học xã hội, năm 2016 Luận văn
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 7đã xác định và hệ thống hóa lý luận của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất theo pháp luật Việt Nam Tuy nhiên, Luận văn chưa so sánh quy định giữa các nước với nhau
Luận án Tiến sĩ Luật học về “Pháp luật về bồi thường khi thu hồi đất
nông nghiệp ở Việt Nam” của tác giả Phạm Thu Thủy, Đaị học Luật Hà Nội,
năm 2014 Luận án đã khái quát hóa giúp phần nào làm rõ thêm lý luận cơ sở
về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của người dân Luận án
đi sâu vào làm rõ các khái niệm, đặc điểm và giá trị bên trong của việc bồi thường Từ đó rút ra những bài họ kinh nghiệm cho nước ta trong thời kỳ hoàn thiện quy định pháp luật Bên cạnh đó, Luận án cũng đã phân tích các quy định của pháp luật đất đai về bồi thường đất nông nghiệp khi nhà nước thu hồi đất, đánh giá hạn chế còn tồn tại và chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế đó Trên nền tảng cơ sở, quy định pháp luật có thêm những yêu cầu, định hướng và các giải pháp nâng cao tính hiệu quả do tác giả đề xuất về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp
Luận văn Thạc sĩ Luật học kinh tế với đề tài “Bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp theo pháp luật Việt Nam và thực tiễn huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình” của tác giả Nguyễn Thị Phương,
Học viện Khoa học xã hội, năm 2019 Luận văn nêu rõ hơn về vấn đề lý luận
và tình hình thực tế tại huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất của người sử dụng đất Từ đó, phân tích những thành tựu đã đạt được, những hạn chế còn đang vướng mắc và đưa ra các giải pháp, định hướng, kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật, nâng cao hiệu quả thực thi khi áp dụng từ lý thuyết đến thực tế trong quá trình thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp Tuy nhiên, Luận văn nêu lên những vấn đề chủ yếu của đất nông nghiệp nói riêng mà chưa nêu lên vấn đề tổng thể của đất đai nói chung khi nhà nước thu hồi đất
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 8Ngoài ra còn một số luận văn, bài viết trên các tạp chí với nội dung liên quan đến vấn đề bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất như:
Tạp chí Luật học số 10 năm 2010 về “Chính sách hỗ trợ khi nhà nước thu hồi
đất” của tác giả Trần Quang Huy; Tạp chí Luật học số 01 năm 2009 về “Vấn
đề xung quanh khái niệm bồi thường, thu hồi đất” của tác giả Nguyễn Quang
Tuyến; Tạp chí Luật học số 5 năm 2011 về “Những tồn tại, vướng mắc phát
sinh trong quá trình áp dụng các phương thức bồi thường khi nhà nước thu hồi đất” của tác giả Nguyễn Thị Nga; Luận văn Thạc sĩ Quản lý đất đai
“Đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thực hiện một số dự án thu hồi đất để quản lý theo quy hoạch tại Thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái” của tác giả Phan Long, Đại học Thái Nguyên - Trường Đại học Nông Lâm, năm 2019;…
Kết quả nghiên cứu nêu trên kết hợp với việc triển khai điều tra và tổng hợp số liệu thứ cấp là tài liệu quan trọng cho tác giả trong việc kế thừa, đề nghị hoàn thiện quy định pháp luật có liên quan
Các công trình khoa học nói trên chủ yếu đi sâu vào việc nghiên cứu, phân tích các quy định pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất, về sự bất cập của giá đất Luật Đất đai năm 2003 Các tác giả còn bỏ ngỏ một số nội dung như sự hạn chế của việc áp dụng các phương pháp định giá đất trong thời điểm hiện nay; sự chia sẻ lợi ích giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người có đất bị thu hồi trên cơ sở tiếp cận từ việc đánh giá lợi ích được thụ hưởng trong giới hạn ở một địa phương riêng lẻ là huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai theo Luật Đất đai năm 2013 cũng như các quy định pháp luật có liên quan đến nội dung này
Việc kế thừa, tiếp tục phát triển các kết quả nghiên cứu về thu hồi đất dưới góc độ lý luận, đánh giá thực trạng áp dụng các quy định về nội dung này trên địa bàn huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai và đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất là hết sức cần thiết và chưa trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã thực hiện trước đây
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 93 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Thông qua tìm hiểu tại huyện Vĩnh Cửu, tình Đồng Nai, tác giả thực hiện nghiên cứu luận văn nhằm làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất theo pháp luật Việt Nam hiện nay Đồng thời, đánh giá những thành công, hạn chế và tìm ra nguyên nhân những hạn chế của việc thực hiện pháp luật đất đai về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất Từ những cơ sở trên, tác giả đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật đất đai và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật trong vấn đề này
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn cần giải quyết các vấn đề dưới đây để đạt được mục đích nghiên cứu trên:
− Hệ thống hoá các quy định pháp luật nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về pháp luật bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;
− Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật nói chung và thực tiễn thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đổng Nai nói riêng Trên cơ sở đó, chỉ ra những thành tựu đạt được cũng như những hạn chế, sai sót đang còn tồn tại của hoạt động này và nguyên nhân của chúng;
− Lấy kết quả của nghiên cứu lý luận pháp luật nêu trên để đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật bồi thường, tái định cư cho người bị thu hồi đất hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng là các văn bản quy phạm pháp luật đất đai và thực tiễn thực hiện pháp luật đất đai về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 104.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu hoạt động thực hiện pháp luật đất đai về bồi thường,
hỗ trợ tái định cư cho người có đất bị thu hồi trên địa bàn huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài “Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất theo pháp luật đất đai ở Việt Nam hiện nay từ thực tiễn huyện Vĩnh Cửu, tình Đồng Nai” được tìm hiểu, nghiên cứu trên nền tảng quan điểm của Đảng, cơ quan nhà nước và phương pháp luận nghiên cứu khoa học xã hội về các chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất theo pháp luật đất đai Việt Nam hiện nay
Luận văn được áp dụng các biện pháp nghiên cứu như sau:
− Phương pháp phân tích các thông tin, số liệu thứ cấp: Đây là phương pháp chủ yếu được áp dụng trong bài luận văn này
Một là, phân tích các tài liệu, số liệu, báo cáo chuyên ngành, các giấy tờ
liên quan đến việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, các văn vản nghị định, thông tư hướng dẫn của Chính phủ, các quyết định, văn bản đặc thù, chỉ đạo giải quyết những trường hợp vướng mắc riêng và kinh phí phải chi trả cho việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ở các dự án, định mức giá trị đất của Nhà nước và kinh phí phải chi trả cho việc bồi thường được áp dụng cho huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai
Hai là, số liệu về tình hình sử dụng đất, diện tích đất bị thu hồi, số hộ bị
thu hồi đất, kinh phí giải phóng mặt bằng trong các Báo cáo hàng năm, Báo cáo theo giai đoạn 2018-2020 của UBND huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai, Hội đồng giải phóng mặt bằng, phòng Tài nguyên và Môi trường; phòng Thống kê, các phòng, ban của huyện và UBND các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai
− Phương pháp phân tích các thông tin, số liệu sơ cấp: Bên cạnh việc sử
dụng nguồn dữ liệu thứ cấp, luận văn sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp nhằm
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 11đánh giá thực trạng pháp luật đất đai và thực hiện pháp luật đất đai về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện
− Phương pháp phân tích, tổng hợp: Từ nguồn thông tin nêu trên, bài viết
dùng phương pháp phân tích, tổng hợp dữ liệu để hệ thống hóa quy định pháp luật và nêu lên những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và đánh giá khách quan việc thực hiện quy định pháp luật đất đai về chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai Sau đó, tác giả đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện việc thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ tái định
cư khi nhà nước thu hồi đất tại huyện Vĩnh Cửu trong thời gian tới
− Phương pháp so sánh: Để nhìn thấy rõ sự khác nhau, giống nhau giữa các
dữ liệu, toàn bộ số liệu và chỉ tiêu sẽ được chia thành các nhóm để so sánh những ưu điểm và những hạn chế của kết quả thực hiện, ví như so sánh kết quả đạt được của chuỗi ngày dài thực hiện mục tiêu so với kết quả của mục tiêu đặt ra ban đầu
− Phương pháp thống kê mô tả: Phương pháp thống kê mô tả được áp dụng
nhằm phân tích và tổng hợp các mô tả tổng quan, mô tả chi tiết tư liệu để có góc nhìn đa chiều, đầy đủ, chính xác trong quản lý việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất theo pháp luật đất đai
ở Việt Nam hiện nay tại huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai Phương pháp này cho phép lượng hóa kết quả, đánh giá đúng hiệu quả của công tác giải phóng mặt bằng hiện nay
− Phương pháp quan sát thực địa: Quan sát thực địa giúp bài viết có cái
nhìn từ nhiều khía cạnh khác nhau, chân thực từ thực tế về quá trình thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ tái định cư trên địa bàn huyện
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về lý luận, luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận của chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và quy trình thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ tái định cư Dùng nền tảng là cơ sở sở lý luận sau khi được hệ thống, người bị thu hồi đất có cơ hội tiếp cận, phân tích, đánh giá thực tiễn thực hiện
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 12chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Từ đó, đưa ra những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân những hạn chế của việc thực hiện pháp luật đất đai về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật đất đai, nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật
Về mặt thực tiễn, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai có thể lấy kế quả nghiên cứu này làm tài liệu tham khảo sử dụng trong thực tiễn khi thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trên địa bàn huyện Ngoài ra, công trình nghiên cứu này cũng là một trong những nguồn tham khảo cho những ai quan tâm nghiên cứu pháp luật đất đai Việt Nam khi nhà nước thu hồi đất chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người bị thu hồi đất
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ,
tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Chương 2: Thực trạng pháp luật đất đai và thực tiễn thực hiện pháp
luật đất đai về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật đất đai và nâng cao hiệu quả
thực hiện pháp luật đất đai về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 13Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ
TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT
1.1 Các khái niệm “bồi thường”, “hỗ trợ”, “tái định cư” khi Nhà nước thu hồi đất
1.1.1 Khái niệm bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
Tất cả các thiệt hại được đền bù một cách tương xứng được gọi là sự bồi thường, những thiệt hại ấy có thể là thiệt hại về vật chất hoặc thiệt hại về tinh thần hoặc bao gồm cả thiệt hại về vật chất và tinh thần
Cá nhân, pháp nhân có quyền dân sự bị xâm phạm được bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác
Pháp luật dân sự quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh thần Trách nhiệm bù đắp tổn thất về vật chất thực tế, được tính thành tiền do bên vi phạm nghĩa vụ gây
ra gồm các thiệt hại về tài sản, chi phí để hạn chế tối đa thiệt hại thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút được gọi là trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất Người gây thiệt hại tình thần cho người khác ngoài việc chấm dứt hành
vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai thì còn phải bồi thường một khoảng tiền cho người bị thiệt hại
Trong quá trình hình thành và phát triển, đã có nhiều văn bản pháp luật quy định về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất như:
Theo Nghị định số 151/TTg ngày 14/04/1959 quy định tạm thời về trưng dụng ruộng đất và Luật cải cách ruộng đất năm 1954 là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên của nước ta quy định về bồi thường đất Là văn bản sơ khai nên các quy định này còn đơn giản sao cho đáp ứng đầy đủ yêu cầu hiện tại
và được sự chấp thuận của người dân
Sau thời gian đất nước thống nhất, việc quản lý đất đai được nhà nước hoàn thiện chế độ quản lý thể hiện tại Luật đất đai năm 1987 trên cơ sở Hiến
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 14pháp năm 1980 Luật đất đai năm 1987 quy định cụ thể, rõ ràng, chi tiết hơn việc thu hồi đất và trách nhiệm bồi thường của cơ quan nhà nước
Xã hội không ngừng phát triển, đời sống phức tạp dần dần Do đó, các quy định cũng theo đó phát triển, đổi mới theo từng thời kỳ Luật đất đai năm
1993 đã cụ thể hóa nguyên tắc việc bồi thường khi nhà nước thu hồi đất như quy định tại Điều 27 về các trường hợp được thu hồi đất, Điều 28 về cơ quan
có thẩm quyền quyết định việc thu hồi đất và quyền của người sử dụng đất là được bồi thường thiệt hại tại Điều 73
Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất là định nghĩa đầu tiên được nêu một cách rõ ràng về
bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, thể hiện tại Luật đất đai năm 2003 Tuy
nhiên, Điều 4 Luật đất đai 2003 chỉ quy định bồi thường về giá trị quyền sử dụng đất mà không tính đến các tài sản vô hình và giá trị tài sản ở trên đất khác khi nhà nước bồi thường cho việc thu hồi đất
Quy định chưa cụ thể và chặt chẽ trước đó buộc Luật đất đai năm 2013 ra
đời, định nghĩa về bồi thường đất được thể hiện như sau: “Bồi thường về đất là
việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất” Luật này không chỉ quy định bồi thường về giá trị quyền sử
dụng đất khi nhà nước bồi thường cho việc thu hồi đất mà còn quy định cụ thể về việc hỗ trợ, bồi thường những tài sản gắn liền với đất, chi phí đầu tư vào đất và các tài sản vô hình khác theo quy định của pháp luật Việt Nam
Nhìn chung, ta có thể hiểu bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là các khoản chi trả của nhà nước cho người sử dụng đất bị nhà nước thu hồi khi người sử dụng đất đáp ứng đủ các yêu cầu do luật định nhằm bù đắp những thiệt hại về đất, tài sản và chi phí đầu tư trên đất cho người bị thu hồi đất
1.1.2 Khái niệm hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
Từ ngàn xưa, ông cha ta đã sử dụng từ ngữ “hỗ trợ” nhằm diễn đạt tinh thần giúp đỡ, tương thân, tương ái giữa mọi người với nhau và đặc biệt là cùng nhau vượt qua gian lao, vất vả trong cuộc sống hàng ngày vẫn đang diễn
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 15ra Không chỉ được dùng trong cuộc sống hàng ngày mà thuật ngữ hỗ trợ còn được nhắc đến ở nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó lĩnh vực không thể thiếu trong hệ thống pháp luật chính là pháp luật về đất đai
Đất đai là nguồn lực cực kỳ quan trọng của mỗi người nông dân, do đó khi bị thu hồi quyền sử dụng đất, cuộc sống người sử dụng đất bị thu hồi ít nhiều có sự xáo trộn, mất việc, mất đi công cụ kiếm kế sinh nhai thường ngày
Thu hồi đất kéo theo nhiều hệ luỵ, do đó hạng mục hỗ trợ khi thu hồi đất
là điều không thể bỏ xót trong pháp luật về thu hồi và bồi thường đất
Nhà nước bày tỏ trách nhiệm đối với người sử dụng đất bị thu hồi thông qua sự bồi thường và hỗ trợ Nhà nước không những bù đắp những tổn thất về quyền và lợi ích của người bị thu hồi đất mà còn trợ giúp những mất mát của người có quyền sử dụng đất bị thu hồi Bên cạnh đó, chúng ta có thể hiểu biện pháp bù đắp nhiều hơn nữa cho bồi thường là hỗ trợ nhằm giúp các quy định pháp luật được hoàn thiện hơn, bảo vệ lợi ích hợp pháp của người có quyền
sử dụng đất bị thu hồi
Do vậy, trong Luật đất đai năm 2013, tại Điểu 3 đã nêu rõ định nghĩa về
việc hỗ trợ khi thu hồi đất như sau: Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc
Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển Từ đây, ta có thể hiểu: Nhà nước giúp đỡ người có đất bị thu hồi
vượt qua tình trạng khó khăn, khôi phục kinh tế thường ngày, phát triển đời sống và ổn định sản xuất như hỗ trợ tạo việc làm, tái định cư, di chuyển, thay đổi ngành nghề làm việc, ổn định đời sống
1.1.3 Khái niệm tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Tại Việt Nam, pháp luật đất đai quy định rằng các cơ quan của bộ máy nhà nước có thẩm quyền chuẩn bị nơi ở mới đáp ứng đầy đủ các điều kiện do luật quy định khi nhà nước thu hồi đất ở của người bị thu hồi để giúp họ nhanh chóng ổn định cuộc sống là tái định cư
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 16Sau khi bị nhà nước thu hồi đất, cá nhân, hộ gia đình, người sử dụng đất
bị thu hồi phải di chuyển đi nơi khác, di chuyển chỗ ở vì đất ở bị thu hồi hay phần diện tích còn lại sau thu hồi ít hơn hạn mức giao đất ở mới tại địa phương, ngoại trừ người sử dụng đất bị thu hồi, hộ gia đình, cá nhân không
có nhu cầu tái định cư sau khi bị thu hồi
1.2 Sự cần thiết và các yêu cầu của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
1.2.1 Sự cần thiết của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Việc thu hồi đất luôn đi liền với yêu cầu bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất Có thể kể đến các trường hợp: Bồi thường kinh phí đầu tư vào đất còn lại khi nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của cá nhân, hộ gia đình, nhà nước khi thu hồi đất bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại; Bồi thường về đất, kinh phí dành cho đầu tư vào đất còn lại khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của tổ chức kinh tế, cộng đồng dân cư, tổ chức sự nghiệp công lập tự chủ tài chính,
cơ sở tôn giáo; Nhà nước khi thu hồi đất nhà ở buộc bồi thường cho người bị thu hồi đất; Đất nông nghiệp không phải là đất ở của hộ gia đình, cá nhân khi
bị nhà nước thu hồi; Nhà nước thu hồi đất phi nông nghiệp của tổ chức không phải là tổ chức kinh tế, sự nghiệp công lập tự chủ tài chính, tổ chức tôn giáo, tín ngưỡng, cộng đồng dân cư
Bản chất các quy định của những văn bản quy phạm pháp luật có nét đặc thù, bao gồm cả sự tự do thực hiện xen lẫn sự bắt buộc nhất định, có tính cưỡng chế thực hiện và thích nghi phù hợp trong đời sống Nhờ vào đặc trưng
ấy, xã hội được nhà nước quản lý hiệu quả thông qua áp dụng pháp luật, tạo luật chơi cho xã hội Khi nhà nước thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người bị thu hồi đất là vấn đề nhạy cảm, chạm đến lợi ích cá nhân của mỗi người, ấn dấu các rủi ro có thể xảy ra như khiếu nại, tranh chấp, …
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 17Để bảo đảm cho việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất diễn ra trong trật tự, ổn định, bảo đảm quyền và lợi ích của người có đất bị thu hồi thì các quan hệ phát sinh trong quá trình này phải được được điều chỉnh bằng pháp luật
Việc điều chỉnh bằng pháp luật các quan hệ, hành vi trong chu trình thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất nhằm:
- Xác định được quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia vào quan hệ thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất;
- Xác định được các nguyên tắc của bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất;
- Xác định được các trường hợp, các điều kiện mà người có đất bị thu hồi được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất;
- Xác định được trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất; bảo đảm tính công khai, minh bạch của trình tự, thủ tục này;
- Xác định được cách tính giá tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất;
- Xác định việc giải quyết các tranh chấp và xử lý vi phạm về bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất
1.2.2 Các yêu cầu của pháp luật bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Là nguồn tài nguyên quý giá của quốc gia, quản lý đất đai hiệu quả là điều
vô cùng quan trọng và phải tuân theo các yêu cầu nhất định nhằm bảo đảm quyền và lợi ích của các chủ thể, hạn chế các trường hợp khiếu kiện, tố cáo về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất Các yêu cầu gồm:
Một là: yêu cầu toàn diện, đồng bộ: Pháp luật bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư khi nhà nước thu hồi đất đảm bảo nguyên tắc toàn diện, đồng bộ Nó được thể hiện qua sự thống nhất, có sự phối hợp đồng nhất, không mâu thuẫn hay trùng lặp, chồng chéo giữa các văn bản hướng dẫn áp dụng thực hiện việc
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 18bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với người bị thu hồi đất khi nhà nước thu hồi đất
Hai là: yêu cầu về tính thống nhất: Sự phù hợp, nhất trí, không mâu
thuẫn của pháp luật ở nhiều góc độ không giống nhau, giữa tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội gần gũi, cùng tính chất pháp luật, các quy phạm pháp luật trong một chế định pháp luật cũng phải thống nhất Quy định pháp luật đất đai khi được ban hành không được trùng lặp, chồng chéo chức năng, không chỉ đảm bảo sự thống nhất mà còn đảm bảo tính thứ tự
Ba là: yêu cầu các quy định pháp luật phải được ban hành phù hợp:
Các quy định của pháp luật phải gắn liền với tình hình thực tiễn thì khi đó các văn bản quy phạm pháp luật được ra đời mới giải quyết được các vấn đề thực tại Sự phù hợp là yếu tố cực kì quan trọng nhằm đảm bảo tính thực thi, hiệu quả của quy định pháp luật thông qua các văn bản luật với các quy luật khách quan của sự phát triển kinh tế - xã hội Pháp luật sẽ dễ dàng thực hiện, áp dụng vào đời sống thực tiễn khi nó đáp ứng được các yêu cầu thực tế và phù hợp với quy luật phát triển và điều kiện kinh tế - xã hội sẽ làm cho pháp luật
dễ dàng được thực hiện và ngược lại
Bốn là: yêu cầu các quy định của pháp luật phải có khả năng thực hiện
được Không một văn bản nào ban hành ra mà chủ thể ban hành mong muốn
văn bản ấy không thực hiện được, do đó, nhà ban hành các quy định pháp luật phải xác định thời điểm sao cho ban hành đúng lúc và kịp thời đáp ứng những nhu cầu mà cuộc sống đang đặt ra Không những vậy mà nó còn phải phù hợp với cơ chế thực hiện và áp dụng pháp luật hiện hành
Năm là: yêu cầu về cơ chế quản lý Pháp luật về đất đai sẽ có những ảnh
hưởng đáng kể đến nền kinh tế thị trường Do đó, thuộc phạm vi, cơ chế quản
lý phải chặt chẽ, có tầm nhìn xa và lường trước được một số rủi ro khi tình hình kinh tế nước Việt Nam chuyển snag nền kinh tế thị trường, phát triển đa
dạng thành phần kinh tế
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 191.3 Cơ cấu về nội dung pháp luật đất đai về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho khi Nhà nước thu hồi đất
Pháp luật được hiệu chỉnh và thay đổi theo thời gian nhằm đáp ứng được yêu cầu, chuyển biến của xã hội Qua từng giai đoạn, mục tiêu hướng đến giải quyết vấn đề của pháp luật khác nhau, căn cứ dựa trên mục tiêu kinh tế toàn quốc gia Mỗi thời kỳ sẽ có sự thay đổi nhất định, tuy nhiên vẫn tồn tại điểm chung cần giải quyết
Pháp luật đất đai về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho khi Nhà nước thu hồi
đất cần có các nhóm quy phạm sau đây:
Một là: nguyên tắc và điều kiện bồi thường thu hồi đất của nhà nước
Nó là nền tảng, mang tính định hướng và là cơ sở cho việc thực thi các quy định pháp luật đất đai về bồi thường sau khi nhà nước thu hồi đất Các điều kiện bồi thường là căn cứ để nhà nước xác định chủ thể bị thu hồi đất đó có được hưởng các chế độ về bồi thường sau khi bị nhà nước thu hồi đất hay không Nguyên tắc và điều kiện bồi thường này được xây dựng trên phương hướng lợi ích hợp pháp cho người sử dụng rất, rõ ràng, minh bạch, cụ thể với từng địa phương khác nhau
Hai là: trình tự và thủ tục bồi thường Nó là phương thức, quy trình mà
theo đó nhà nước và người dân bị thu hồi đất buộc thực hiện để tìm ra phương
án giải quyết cho việc bồi thường sau khi nhà nước thu hồi đất Dựa trên nền tảng các văn bản quy định chi tiết về cách lập hồ sơ, bổ sung hồ sơ, thẩm định nội dung, thực hiện kế hoạch bồi thường và trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền trong bồi thường thiệt hại cho người bị thu hồi đất Những trình tự và thủ tục hành chính này được đảm bảo công bằng, rõ ràng, dễ áp dụng và thực hiện nhanh chóng Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển, giá trị đất tăng cao, nhà nước không tránh khỏi những bất bình, thắc mắc, khiếu nại, khiếu kiện của người dân bị nhà nước thu hồi đất
Ba là: nội dung về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với người bị nhà
nước thu hồi đất Nội dung là các quy định pháp luật để nhà nước làm căn cứ
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 20xác định chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất gồm có các cơ chế quy định về phạm vi bồi thường thiệt hại Đó là bồi thường
về đất, các khoản đầu tư vào đất và bồi thường thiệt hại về tài sản có trên đất, trong những trường hợp nhất định Nhà nước có thể hỗ trợ nhằm ổn định đời sống sản xuất; Về giá đất, nhà nước tính theo giá đất được định giá vào khoảng thời gian thu hồi đất để chi trả phần bồi thường cho người bị thu hồi đất; nhà nước có thể bồi thường bằng cách bồi thường tiền mặt tương đương với tổng giá trị quyền sử dụng đất nhà nước thu hồi hoặc bồi thường bằng đất
có cùng mục đích sử dụng tương ứng với đất bị thu hồi
Bốn là: các quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo Khiếu nại, tố cáo là
cách mà người bị thu hồi đất yêu cầu nhằm đòi hỏi quyền lợi của mình Giải quyết khiếu nại, tố cáo là việc nhà nước giải đáp thắc mắc, kiểm tra, giám sát kịp thời để tránh các hành vi sai sót, vi phạm pháp luật trong bồi thường khi nhà nước thu hồi đất Luật Khiếu nại năm 2011; Luật Tố tụng Hành chính năm 2015; Khoản 2, Điều 204 và Khoản 2, Điều 205 trong Luật Đất đai năm 2013; Luật Tố cáo số 25/2018/QH14 năm 2018, là một số quy định pháp luật quy định về vấn đề giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc bồi thường khi nhà nước thu hồi đất Dựa trên tình hình thực tế, việc bồi thường được áp dụng thực thi qua các cán bộ, công chức, viên chức nhà nước Người
sử dụng đất bị nhà nước thu hồi được quyền khiếu nại, tố cáo khi họ nhận thấy quyền lợi hợp pháp của mình bị xâm phạm, điều này được pháp luật cho phép thực hiện thông qua các quy định pháp luật Từ những khiếu nại, tố cáo của người dân, nhà nước có căn cứ để đánh giá năng lực, trình độ, các thức làm việc, ý thức tuân thủ của cơ quan nhà nước khi được giao nhiệm vụ Thực tiễn cho thấy, công tác bồi thường có nhiều khó khăn, bất cập xảy ra trong quá trình giải quyết và công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo cũng không phải
là ngoại lệ Bên cạnh khó khăn về sự chồng chéo, chưa rõ ràng của các quy định còn có sự khó khăn trong việc tìm ra ý chí chung của hai bên (chính quyền và người dân) trong việc xác định mức bồi thường khi nhà nước thu hồi đất
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 21TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Nước ta đang trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, điều này gây ảnh hưởng đến đất đai rất nhiều Khi nhà nước thu hồi đất, vấn đề về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư luôn là tiêu điểm đáng chú ý, có vị trí cực kì quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam Các quy định về bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư cũng thay đổi liên tục
Vì vậy, người bị thu hồi đất trong dự án thực hiện thu hồi ở thời gian dài, năm này sang năm khác, hoặc qua dự án có thời gian nhất định có tình trạng so bì, khiếu kiện
Bên cạnh đó, quy định yêu cầu để bảo đảm khi tái định cư trước khi thu hồi đất có nguồn vốn xây dựng và có quỹ đất ở Luật đất đai năm 2013 là chưa
có Một số dự án còn chưa rõ ràng, thiếu công khai, minh bạch trong việc lên phương án bồi thường thiệt hại Do đó, khi nhà nước thu hồi đất, cơ chế về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trở thành yếu tố mang tính tất yếu trong pháp luật đất đai Việt Nam hiện nay
Nội dung chương 1 đã khái quát hoá hệ thống pháp luật qua việc tổng hợp, phân tích nội dung của luật, sự cần thiết và các yêu cầu đề ra
Song song việc làm sáng tỏ các định nghĩa về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi đất của người dân bị nhà nước thu hồi, tác giả còn đi sâu vào phân tích và luận giải rõ hơn các quy định pháp luật Cùng với đó là sự chỉ ra nguyên tắc, cơ cấu nội dung của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Đây là tiền đề giúp tác giả có cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực thiện tực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trong chương 2
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 22Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TẠI HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH
ĐỒNG NAI
2.1 Thực trạng pháp luật đất đai về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
2.1.1 Các quy định về nguyên tắc của pháp luật đất đai bồi thường,
hỗ trợ, tái đinh cư khi Nhà nước thu hồi đất
Đất đai là nguồn tài nguyên vô giá của mỗi quốc gia, do đó, quản lý đất đai là việc mang tầm quan trọng rất lớn có những nguyên tắc nhất định cần phải tuân theo Đối với vấn đề nhạy cảm và thường xảy ra việc khiếu nại khiếu kiện như về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất thì càng cần phải tuân theo những nguyên tắc cơ bản khi áp dụng các quy định pháp luật vào thực tiễn
Trước khi Luật Đất đai năm 2013 được ban hành, các quy định về nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất nằm rải rác ở nhiều văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2003 như trong Điều 14 Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009, Điều 18 Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004… Kể từ năm 2013, các nguyên tắc này đã được Luật hóa thành các điều luật cụ thể như Điều 74, Điều 83 và Điều 88 Luật Đất đai năm 2013, VBHN số 07/VBHN-BTNMT đã hợp nhất các thông
tư quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất của Bộ TN&MT ký ban hành ngày 12/9/2019; Nghị định 06/2020/NĐ-CP sửa đổi Điều 17 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất để các cơ quan Nhà nước, tổ chức, cá nhân khi tham gia vào quan hệ bồi thường, hỗ trợ về đất đai phải thống nhất và nghiêm túc thực hiện Các nguyên tắc này gồm:
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 23Một là: phải đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật thì
người bị thu hồi đất mới được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Theo quy định của Luật Đất đai năm 2013, chỉ khi Nhà nước thu hồi đất
để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng thì mới phát sinh việc bồi thường cho người bị thu hồi đất Tuy nhiên, người bị thu hồi đất phải thỏa mãn những điều kiện do pháp luật quy định tại Điều 75 Luật Đất đai năm 2013 thì mới được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Nguyên tắc này được khẳng định tại Điều 74 Bên cạnh đó, tại Điều 76 cũng quy định đối với các trường hợp được bồi thường
về chi phí đầu tư vào đất nhưng không được bồi thường về đất Nhà nước quy định về việc bồi thường về tài sản gắn liền với đất và tài sản sản xuất, kinh doanh khi người bị thu hồi đáp ứng đủ các điều kiện pháp luật quy định tại Điều 88 của Luật này
Ngoài việc Nhà nước bồi thường, nghĩa là trả lại những thiệt hại trực tiếp cho người sử dụng đất do việc thu hồi đất gây ra, thì người sử dụng đất khi bị thu hồi đất còn được “Nhà nước xem xét hỗ trợ” theo quy định tại Điều
83 Luật Đất đai năm 2013 Đơn cử đối với trường hợp thu hồi đất nông nghiệp: ngoài việc bồi thường, Nhà nước còn phải hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề, bố trí việc làm mới để người bị thu hồi đất nhanh chóng ổn định cuộc sống Đây là việc làm không chỉ mang tính chất hoàn thành nghĩa vụ pháp lý, mà còn cách Nhà nước ta thể hiện tính nhân đạo, bởi đất nông nghiệp không chỉ là tư liệu sản xuất đặc biệt mà còn là sinh kế sống còn của người nông dân
Hai là: Khi thu hồi đất của người bị thu hồi, Nhà nước phải bồi thường
các thiệt hại mà người sử dụng đất phải chịu
Một nguyên tắc quan trọng để bảo vệ lợi ích chính đáng của người dân
có đất bị thu hồi mà Nhà nước ta đặt ra chính là bồi thường các thiệt hại mà người sử dụng đất phải chịu khi bị thu hồi đất Nguyên tắc này được quy định
rõ tại Khoản 2 Điều 74 Luật Đất đai năm 2013 Xuất phát từ việc khi Nhà nước thu hồi đất thì người sử dụng đất không chỉ mất đất mà còn thiệt hại tài
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 24sản trên đất Vì thế khi thu hồi đất, Nhà nước vừa phải bồi thường về đất, vừa phải bồi thường về tài sản trên đất và tài sản sản xuất, kinh doanh thì mới có thể được xem là bồi thường đầy đủ các thiệt hại cho người dân
Như vậy, khi bị thu hồi đất người sử dụng đất sẽ được Nhà nước đảm bảo bồi thường đầy đủ các thiệt hại nếu các thiệt hại đó xảy ra Nghĩa là Nhà nước sẽ chỉ bồi thường tài sản nếu chủ sở hữu tài sản đó hợp pháp và bồi thường sản xuất, kinh doanh nếu việc thu hồi đất làm ngừng lại hoạt động sản xuất, kinh doanh
Bên cạnh đó, Nhà nước cũng có thể lựa chọn phương án bồi thường cho người bị thu hồi đất bằng tiền theo giá đất tại thời điểm thu hồi hoặc bằng đất cùng mục đích sử dụng Điều đó thể hiện được tính linh hoạt của Nhà nước, tạo điều kiện cho cơ quan có thẩm quyền và người bị thu hồi có thể lựa chọn phương thức bồi thường phù hợp với từng trường hợp Khi quỹ đất nông nghiệp của địa phương còn, Nhà nước có thể áp dụng phương án bồi thường đất cùng mục đích sử dụng Phương án này sẽ tránh cho việc kiện tụng, lợi
dụng, tranh chấp trong việc bồi thường đất Ví dụ: trường hợp người sử dụng
đất nông nghiệp tự ý sử dụng, chuyển đổi sang đất phi nông nghiệp, khi bị thu hồi thì yêu cầu được bồi thường tiền theo giá đất phi nông nghiệp Đây là
phương án đảm bảo được sự công bằng giữa những người dân bị thu hồi đất Đối với các địa phương không còn quỹ đất thì việc bồi thường bằng tiền là điều không thể tránh khỏi Từ thực tiễn nêu trên, nhằm hạn chế trường hợp tranh chấp, khiếu kiện kéo dài về vấn đề bồi thường khi thu hồi đất thì Nhà nước đã ban hành những quy định pháp luật nêu rõ đối với trường hợp nêu tại
ví dụ trên đây thì chỉ được bồi thường theo giá đất nông nghiệp
Ba là: Người sử dụng đất khi bị thu hồi đất được bồi thường mức giá
hợp lý so với mức giá trên thị trường do nhà nước chi trả
Nhằm đảm bảo và củng cố lợi ích cho người bị thu hồi đất, việc bồi thường ở mức kỳ vọng, thoả đáng của nhà nước giúp người có quyền sử dụng đất sẵn sàng giao trả lại đất đã được giao
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 25Người bị thu hồi đất được bồi thường bằng tiền dựa trên giá đất đã được xác định của từng loại đất do UBND cấp tỉnh quy định vào thời khắc thu hồi đất theo điều 74 Luật Đất đai năm 2013
Chi phí đầu tư vào đất được bồi thường phù hợp với giá cả trên thị trường tại thời gian có quyết định thu hồi đất thể hiện qua Điều 3 Nghị định
số 47/2014/NĐ-CP Như vậy, về mặt lý thuyết thì giá bồi thường đất theo giá thực tế bị thiệt hại như tại các quy định nêu trên Nhưng trong thực tế, giá bồi thường đất thường thấp hơn rất nhiều so với giá thị trường, ngoài ra giá bồi thường đất nông nghiệp cũng thấp hơn nhiều so với giá bồi thường đất phi nông nghiệp Bên cạnh đó thì việc người bị thu hồi đất cũng không nhận được tiền bồi thường ngay tại thời điểm có quyết định thu hồi đất mà phải chờ một thời gian rất dài sau đó bởi việc thực hiện đầy đủ những trình tự thủ tục của các cơ quan Nhà nước còn nhiều vướng mắc Đây là một trong những nguyên nhân chính gây bức xúc dẫn đến tình trạng khiếu kiện kéo dài của người bị thu hồi đất
Bốn là: việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phải được công khai, minh
bạch, dân chủ, kịp thời đúng quy định của pháp luật
Một trong những nguyên tắc quan trọng nhất giúp cho việc nâng cao hiệu quả áp dụng và thực thi pháp luật chính là việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phải được công khai, minh bạch, dân chủ, kịp thời đúng quy định của pháp luật Do đó, Điều 75 và Điều 83 Luật Đất đai năm 2013 đã nhấn mạnh nguyên tắc này
Có thể xem việc bồi thường và hỗ trợ về đất mang bản chất như là một giao dịch, một sự trao đổi giữa người bị thu hồi đất và Nhà nước Khi đó bên
bị thu hồi đất là người sử dụng đất chỉ chấm dứt quyền sử dụng của mình khi được bên thu hồi đất là Nhà nước bồi thường, hỗ trợ một cách thỏa đáng, kịp thời theo đúng quy định của pháp luật Như vậy, việc công khai, minh bạch, dân chủ các trình tự, thủ tục liên quan đến bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất
sẽ giúp cho người dân vừa có thể ý kiến trực tiếp về quyền và lợi ích của
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 26mình đối với phần diện tích sử dụng đất bị thu hồi, vừa có thể giám sát quá trình thực hiện qua đó phản ánh những hành vi tiêu cực vi phạm quy định pháp luật của các tổ chức, các nhân có thẩm quyền khi thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất Nhà nước có thể nắm bắt kịp thời các nguyện vọng của nhân dân thông qua việc thực hiện đúng và đủ nguyên tắc này, giúp cho các cơ quan để xem xét giải quyết nhanh chóng, chính xác các vấn đề phát sinh trong quá trình thu hồi đất, đồng thời cũng là căn cứ, cơ sở để hoàn thiện các quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất hơn
2.1.2 Các quy định về phạm vi, điều kiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Điều 75 Luật Đất đai năm 2013 và các Nghị định hướng dẫn thi hành quy định việc thực hiện bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất quy định việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư chỉ được thực hiện trong trường hợp người bị Nhà nước thu hồi có quyền sử dụng đất hợp pháp Như vậy, các căn
cứ pháp lý để xác định quyền sử dụng đất hợp pháp của người bị Nhà nước thu hồi đất bao gồm các giấy tờ sau:
Một là: GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất (tên gọi trước đây là GCNQSDĐ) - gọi chung là GCNQSDĐ
GCNQSDĐ là loại giấy tờ có giá trị pháp lý cao nhất để khẳng định quyền sử dụng đất hợp pháp của người sử dụng đất Đây là cơ sở để người sử dụng đất thực hiện các quyền năng do pháp luật quy định Trong thu hồi đất, khi người bị thu hồi đất có căn cứ pháp lý là GCNQSDĐ thì đây chính là cơ
sở xác định được người bị thu hồi đất là chủ sử dụng đất hợp pháp, được đền
bù những thiệt hại do việc thu hồi đất gây ra theo quy định của pháp luật
Hai là: Năm 2013, quy định pháp luật về đất đai tại Điều 100
Diện tích đất bị thu hồi chưa được cấp GCNQSDĐ nhưng đủ điều kiện được cấp GCNQSDĐ được hiểu là người sử dụng diện tích đất bị thu hồi có một trong những giấy tờ:
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 27- Quyền sử dụng đất được thể hiện qua những giấy tờ trước ngày 15/10/1993 thuộc cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp trong thời gian áp dụng những chính sách đất đai của nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
- Trước ngày 15/10/1993, Cơ quan có thẩm quyền của bộ máy nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời hoặc Sổ đăng ký ruộng đất,
Sổ địa chính có thông tin tên;
- Tài sản gắn liền với đất, các loại chứng từ hợp lệ về tặng cho, thừa kế;
- Chứng từ chứng minh nhà tình thương, ngôi nhà tình nghĩa gắn liền với đấtt;
- Trước ngày 15/10/1993, được UBND xã xác thực những chứng từ chứng minh việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất;
- Chứng từ thể hiện hoá giá, thanh lý ngôi nhà ở đi kèm với đất ở;
- Chứng từ hợp lệ theo luật định thể hiện mua nhà ở thuộc sở Nhà nước;
- Cơ quan nhà nước của chế độ xưa cũ cấp chứng từ đi kèm về quyền sử dụng đất;
- Trước ngày 15/10/1993 theo Chính Phủ quy định, các chứng từ được lập khác
Những quy định nêu trên cho thấy pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất đã khá đầy đủ và chặt chẽ Việc quy định những điều kiện bồi thường đối với người sử dụng đất rõ ràng nhưng vẫn có tính linh hoạt để phù hợp với thực tiễn sử dụng đất tùy từng trường hợp khi xem xét điều kiện được bồi thường nhằm đảm bảo quyền lợi cho người có đất
bị thu hồi
2.1.3 Các quy định về cách tính giá đất bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
Luật Đất đai năm 2013 quy định hai loại giá đất bao gồm giá đất theo
“bảng giá đất” và “giá đất cụ thể” Định kỳ cứ 05 năm, ngày 01/01 của năm
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 28đầu được xây dựng bảng giá đất Do bảng giá đất mang tính chất ổn định nên được sử dụng làm căn cứ để tính các nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất đối với Nhà nước Giá đất cụ thể thường được xác định tại một thời điểm nhất định, được đưa ra dựa trên cơ sở điều tra, thu thập thông tin về thửa đất, giá đất thị trường tại thời điểm xác định giá đất cụ thể kết hợp với thông tin về giá đất trong cơ sở dữ liệu đất đai Giá đất cụ thể thường cao hơn giá đất trong bảng giá đất nên được dùng làm căn cứ tính tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nhằm đảm bảo lợi ích của người bị thu hồi đất
Nguyên tắc cần được đảm bảo khi bồi thường, định giá đất đai:
- Thời điểm định giá bằng cách áp dụng mục đích sử dụng đất đai hợp pháp;
- Theo thời hạn sử dụng đất;
- Phù hợp với giá đất phổ biến trên thị trường của loại đất có cùng mục đích sử dụng đã chuyển nhượng, giá trúng đấu giá quyền sử dụng đất đối với những nơi có đấu giá quyền sử dụng đất hoặc thu nhập từ việc sử dụng đất;
- Cùng một thời điểm, các thửa đất liền kề nhau có cùng mục đích sử dụng, khả năng sinh lợi, thu nhập từ việc sử dụng đất tương tự như nhau thì
có mức giá như nhau
Theo quy định tại Điều 113 Luật Đất đai năm 2013, Chính phủ ban hành khung giá đất định kì 05 năm một lần đối với từng loại đất và theo từng vùng Trường hợp giá đất phổ biến trên thị trường tăng từ 20% trở lên so với giá đất tối đa hoặc giảm từ 20% trở lên so với giá đất tối thiểu trong khung giá đất trong thời gian từ thực hiện khung giá đất thì Chính phủ điều chỉnh khung giá đất UBND cấp tỉnh căn cứ vào khung giá đất này để quy định bảng giá đất tại địa phương định kì 05 năm một lần UBND tỉnh dựa trên cơ sở các nguyên tắc định giá đất và căn cứ vào tình hình thực tế của địa phương, giá đất phổ biến trên thị trường, bảng giá đất để quyết định giá đất cụ thể
Dựa trên cơ sở là bảng giá đất, giá đất cụ thể được UBND xác định theo trình tự như sau:
Bước 1: Xác định mục đích định giá đất cụ thể;
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 29Bước 2: Điều tra, tổng hợp, phân tích thông tin về thửa đất, giá đất thị trường;
Bước 3: Áp dụng phương pháp định giá đất để xây dựng phương án giá đất trình UBND cấp tỉnh;
Bước 4: Thẩm định phương án giá đất và hoàn thiện dự thảo phương án giá đất trình UBND cấp tỉnh quyết định;
Bước 5: UBND cấp tỉnh quyết định giá đất
Cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh được phép thuê tổ chức có chức năng
tư vấn xác định giá đất để tư vấn xác định giá đất cụ thể trong quá trình thực hiện Giá đất cụ thể phải được áp dụng phương pháp định giá đất phù hợp; được xác định dựa trên cơ sở điều tra, thu thập thông tin về thửa đất, giá đất thị trường và thông tin về giá đất trong cơ sở dữ liệu đất đai
Việc áp dụng các phương pháp định giá theo quy định của pháp luật về đất đai để xác định giá đất cụ thể trong một số trường hợp còn nhiều phức tạp, chưa thực sự phù hợp với điều kiện thực tiễn của từng địa phương thông tin giá đất thị trường còn thiếu, trình độ của đội ngũ tư vấn định giá đất còn chưa
đủ để đáp ứng yêu cầu khắt khe của công tác định giá dẫn đến việc giá đất cụ thể được xác định không chính xác
2.1.4 Các quy định về trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư khi Nhà nước thu hồi đất
Luật Đất đai năm 2013 quy định về trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất được thực hiện như sau:
Bước 1: Xây dựng phương án bồi thường
Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng bao gồm tổ chức dịch vụ công về đất đai, Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Sau khi dự án đầu tư được xét duyệt hoặc chấp thuận, tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm lập và trình phương án về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Các cơ quan có thẩm quyền căn cứ vào kế hoạch và việc thực hiện các dự án đầu tư để phê duyệt
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 30dự án đầu tư và ra quyết định về nội dung bồi thường Nghị định 06/2020/NĐ-CP sửa đổi Điều 17 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất Quốc hội quyết định
và Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư thì có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với UBND cấp tỉnh nơi có đất thu hồi để xây dựng khung chính sách về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trình Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định Việc xây dựng khung chính sách về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư này phải bảo đảm kinh phí cho việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định Nội dung phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phải quy định đầy
đủ từ diện tích đất thu hồi, số hộ gia đình bị ảnh hưởng dự kiến tiền bồi thường và dự kiến địa điểm, diện tích đất bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Người bị thu hồi đất có trách nhiệm phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thực hiện việc khảo sát, đo đạc và xác định diện tích đất, tài sản gắn liền với đất để lập phương án bồi thường Khi người bị thu hồi đất không hợp tác với cơ quan thực thi nhiệm vụ trong khoảng thười gian 10 ngày từ thời điểm vận động thì Chủ tịch UNBD cấp huyện ban hành quyết định kiểm đếm bắt buộc
Bước 2: Lấy ý kiến và hoàn chỉnh phương án bồi thường phương án bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư
Có 2 hình thức lấy ý kiến về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Một là tổ chức họp trực tiếp Hai là niêm yết công khai tại trụ sở UBND cấp
xã, thị trấn địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Việc tổ chức lấy ý kiến về phương
án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phải được lập thành biên bản Nội dung biên bản phải có xác nhận của đại diện UBND cấp xã và đại diện những người bị thu hồi đất
Trên cơ sở ý kiến góp ý của những người bị thu hồi đất, tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng tiếp thu, hoàn chỉnh phương án chi
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 31tiết về việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để trình cơ quan chuyên môn thẩm định trước khi trình cấp có thẩm quyền phê duyệt
Bước 3: Phê duyệt phương án bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
Điều 13 Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 quy định: Sở Tài nguyên và Môi trường, Phòng Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan thực hiện thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trước khi UBND cùng cấp phê duyệt Điều 66 của Luật đất đai năm 2013 quy định UBND cấp có thẩm quyền ra quyết định thu hồi đất, quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Bước 4: Công khai phương án và thực hiện Quyết định thu hồi đất;
Quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm phối hợp với UBND cấp xã phổ biến và niêm yết công khai quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại trụ sở UBND cấp xã và địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi, đồng thời gửi quyết định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đến từng người có đất bị thu hồi Trong nội dung quyết định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phải ghi rõ về mức bồi thường, thời gian, địa điểm chi trả tiền bồi thường và thời gian bàn giao đất đã thu hồi cho tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường và giải phóng mặt bằng
Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng căn cứ theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được phê duyệt để thực hiện việc bồi thường Trong trường hợp người có đất bị thu hồi có thái độ chống đối, không bàn giao đất hoặc gây khó khăn cho tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thì tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng kết hợp cùng UBND cấp xã, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã nơi có đất bị thu hồi tiến hành việc vận động, thuyết phục để người có đất bị thu hồi thực hiện việc bàn giao đất Nếu người có đất bị thu hồi vẫn tiếp tục chống đối việc bàn giao đất thì áp dụng quy định tại Điều 71 của Luật Đất đai năm 2013 để tiến hành các thủ tục cưỡng chế Điều 93 Luật Đất đai năm 2013
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 32quy định cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường phải chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ cho người có đất thu hồi trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày quyết định thu hồi đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có hiệu lực thi hành Người có đất bị thu hồi ngoài tiền bồi thường, hỗ trợ theo phương án bồi thường được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì còn có thể được thanh toán thêm một khoản tiền bằng mức tiền chậm nộp theo quy định của Luật Quản lý thuế năm 2012 tính trên số tiền chậm trả và thời gian chậm trả trong trường hợp cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường chậm chi trả thì khi thanh toán tiền bồi thường, hỗ trợ cho người có đất thu hồi Trường hợp người có đất bị thu hồi chống đối và không nhận tiền bồi thường, hỗ trợ theo phương
án bồi thường được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì tiền bồi thường, hỗ trợ được gửi vào tài khoản tạm giữ của Kho bạc Nhà nước Ngoài ra, khi Nhà nước thu hồi đất mà người sử dụng đất được bồi thường chưa thực hiện nghĩa
vụ tài chính về đất đai đối với Nhà nước theo quy định của pháp luật thì thì sẽ
bị cấn trừ khoản tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính vào số tiền được bồi thường để hoàn trả ngân sách Nhà nước
Bước 5: Tiếp nhận mặt bằng được giải phóng
Sau khi thực hiện hoàn tất các bước trên Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường sẽ tiếp nhận và bàn giao mặt bằng cho Chủ đầu tư để triển khai dự án theo quy định
2.1.5 Các quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Một trong những quyền cơ bản của công dân là khiếu nại, tố cáo được ghi nhận tại Khoản 1, Điều 30, Hiến pháp năm 2013 Khiếu nại, tố cáo về thu hồi, bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là một trong những nội dung mà công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo của mình Đơn thư khiếu nại, tố cáo về thu hồi đất nông nghiệp, bồi thường và hỗ trợ, tái định cư chiếm số lượng lớn trong các khiếu nại, tố cáo của người dân bị thu hồi đất gửi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 33Qua các thời kỳ, pháp luật về quản lý đất đai nói chung đều có sự ghi nhận về quyền khiếu nại tố cáo của người dân Tuy nhiên trước đây, những quy định trong Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành, đã thể hiện nhiều sự mâu thuẫn với Luật Khiếu nại năm 2011, Luật Tố tụng Hành chính năm 2010 Đơn cử như theo nội dung Khoản 1, Điều 64 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 thì thời hiệu khiếu nại về đất đai đã
bị rút xuống chỉ còn 1/3 so với nội quy định tại Điều 9 Luật Khiếu nại năm 2011; đồng thời thời hiệu khiếu nại lại được tính kể từ ngày UBND tỉnh “ban hành quyết định hành chính” chứ không phải kể từ ngày đương sự “nhận được quyết định hành chính” hoặc “biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính” như quy định của Luật Khiếu nại năm 2011, điều này thể hiện sự không đồng nhất, lệch pha nhau giữa văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai với Luật Khiếu nại năm 2011 Những quy định nêu trên dẫn đến việc người dân gặp bất lợi khi thực hiện khiếu nại, tố cáo để bảo vệ quyền lợi của mình Nhằm khắc phục tình trạng này, Luật Đất đai năm 2013 khi được ban hành đã quy định áp dụng việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai được thực hiện theo nội dung của pháp luật chuyên ngành Trong đó pháp luật về khiếu nại quy định trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai phải thực hiện Giải quyết khiếu kiện và hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định tại Khoản 2, Điều 204 Bộ luật Tố tụng hành chính Tuy nhiên, các quy định trong vấn đề giải quyết khiếu nại, tố cáo của người dân về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp vẫn chưa thực sự thỏa đáng
Theo Khoản 6 Điều 17 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định thì người có đất bị thu hồi và tổ chức, cá nhân có liên quan có quyền khiếu nại về việc thu hồi đất theo quy định của pháp luật về khiếu nại Điểm thiếu sót ở đây chính là khi các cơ quan có thẩm quyền còn chưa giải quyết khiếu nại thì việc thực hiện quyết định thu hồi đất và cưỡng chế thu hồi đất vẫn được tiếp tục Chỉ khi có kết luận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 34giải quyết khiếu nại rằng việc thu hồi đất là trái pháp luật thì việc cưỡng chế mới bị buộc phải dừng lại nếu việc cưỡng chế chưa hoàn thành, phải hủy bỏ quyết định thu hồi đất đã ban hành và bồi thường những thiệt hại do quyết định thu hồi đất trái pháp luật gây ra Quy định này lặp lại nội dung Khoản 2, Điều 40 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 quy định về giải quyết khiếu nại về giá đất bồi thường, quyết định bồi thường và cưỡng chế thu hồi đất Quyền khiếu nại của người dân bị thu hồi đất đã không được tôn trọng và giải quyết một cách công bằng so với việc chấp hành quyết định thu hồi đất Quy định trên có thể giúp Nhà nước đẩy nhanh tiến độ thu hồi đất và giải phóng mặt bằng nhưng vấp phải những phản ứng trái chiều khi áp dụng vào thực tiễn Những khiếu nại của người dân khi bị thu hồi đất khi họ không đồng ý với quyết định thu hồi đất hoặc phương án bồi thường mà vẫn bị Nhà nước thu hồi đất thì mới được thực hiện quyền khiếu nại hay tố cáo Điều này
sẽ gây nên tâm lý bức xúc cho người dân bị thu hồi đất, dẫn đến những phản ứng mạnh mẽ người dân bị thu hồi đất như kích động, lôi kéo và tụ tập đông người để chống lại quyết định thu hồi đất của Nhà nước
Nhà nước có trách nhiệm phải tìm cách giải quyết thỏa đáng những mâu thuẫn phát sinh giữa Nhà nước với người dân có đất bị thu hồi và các chủ đầu
tư, để đảm bảo sự công bằng xã hội và sự ổn định về chính trị - kinh tế cũng như đảm bảo đời sống của người dân có đất bị thu hồi xuyên suốt trong quá trình thu hồi đất Từ những nguyên do trên, các quy định về thu hồi, bồi thường đất đã trở thành một nội dung quan trọng trong pháp luật đất đai Trách nhiệm của Nhà nước đối với người dân có đất bị thu hồi thể hiện tại các quy định cụ thể bồi thường về đất, về tài sản cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất, nhằm bảo đảm bù đắp các thiệt hại do việc thu hồi đất gây
ra với người dân có đất bị thu hồi Trong quá trình giải quyết bồi thường cho người dân, cơ quan có thẩm quyền cần phải xem xét, căn cứ tình hình thực tế,
từ đó các quy định pháp luật để đánh giá chính xác thiệt hại của những người dân có đất bị thu hồi, đưa ra phương án bồi thường hợp lý, không được quá
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si