Đặc điểm của từ láy trong tiếng Việt
Hiện tượng láy trong tiếng Việt đang gây ra nhiều tranh cãi và ý kiến khác nhau giữa các nhà nghiên cứu Có sự không thống nhất trong khái niệm về từ láy, với nhiều tên gọi khác nhau như từ phản điệp, từ lắp láy, từ lấp láy, từ láy âm, và từ láy.
Theo các nhà nghiên cứu, từ láy âm là loại từ ghép mà các thành tố được kết hợp chủ yếu dựa trên quan hệ ngữ âm Nguyễn Tài Cẩn cho rằng các thành tố này phải tương ứng về mặt yếu tố siêu âm đoạn tính và âm đoạn tính Đỗ Hữu Châu định nghĩa từ láy là những từ được cấu tạo theo phương thức lặp lại toàn bộ hoặc một phần âm tiết, với thanh điệu có thể giữ nguyên hoặc biến đổi theo quy tắc.
Nguyễn Thiện Giáp định nghĩa ngữ láy âm là những cụm từ hình thành từ sự lặp lại hoàn toàn hoặc có biến đổi ngữ âm, với đặc trưng gợi tả mạnh mẽ Hoàng Văn Hành cho rằng từ láy được cấu tạo bằng cách nhân đôi tiếng gốc theo quy tắc nhất định, tạo ra mối quan hệ điệp và hài hòa về âm và nghĩa Hồ Lê nhận xét rằng từ đơn lắp láy có tính chất đặc biệt, vừa giống từ đơn nhưng không hoàn toàn, và mối quan hệ lắp láy về ngữ nghĩa không luôn rõ ràng Cuối cùng, Nguyễn Nguyên Trứ cho rằng từ láy đôi trong tiếng Việt hiện đại là loại từ đơn có sự lặp lại âm tiết hoặc phần âm trong cấu trúc âm tiết, với mối quan hệ thanh điệu theo quy luật nhất định.
Như vậy, về cơ bản các nhà nghiên cứu, có hai cách nhìn khác nhau về hiện tượng láy
Theo Lê Văn Lý (1972), từ láy được xem là một trong hai kiểu từ ghép trong tiếng Việt Trong khi đó, Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê (1963) đã kết hợp từ láy và từ ghép thành một khái niệm chung hơn, gọi là từ kép.
Từ ghép láy âm được định nghĩa là những từ ghép được cấu tạo từ một từ tố mà không bị biến âm Nguyễn Tài Cẩn mở rộng quan niệm về từ láy, cho rằng đây là loại từ ghép mà các thành tố kết hợp chủ yếu dựa trên quan hệ ngữ âm, thể hiện qua sự tương ứng về thanh điệu và âm đoạn tính Ông nhấn mạnh rằng nhiều tổ hợp trước đây thuộc kiểu ghép nghĩa hiện nay đã chuyển sang kiểu láy âm Tuy nhiên, theo quan niệm này, một số từ như tình cờ, vững chãi, hay các tổ hợp lặp lại như vâng vâng, không không không thuộc phạm vi của từ láy âm.
Cách nhìn thứ hai về từ láy coi đây là sự hòa phối ngữ âm mang giá trị biểu trưng hóa, với đại diện là Đỗ Hữu Châu, Hoàng Tuệ và Hoàng Văn Hành Quan điểm này nhấn mạnh rằng từ láy không chỉ cần được xem xét về cấu trúc mà còn về cơ trình cấu tạo Theo Hoàng Tuệ, láy là phương thức tạo ra những từ có tương quan âm-nghĩa nhất định, với những tương quan này có tính chất tự nhiên như "gâu gâu", "cu cu", nhưng cũng có thể tinh tế hơn trong các từ như "lác đác", "bâng khuâng", "long lanh".
Láy là sự hòa phối ngữ âm có giá trị biểu trưng hóa, được coi là một cơ chế trong quá trình cấu tạo từ Quá trình này phức tạp, bao gồm cả ngữ âm và ngữ nghĩa, và chịu sự chi phối của xu hướng hòa phối ngữ âm Quan điểm coi láy là sự hòa phối âm có tác dụng biểu trưng hóa có nhiều ưu điểm hơn so với việc xem từ láy là ghép, vì nó chú ý đến cả mặt âm và nghĩa Nếu chỉ xét từ láy về mặt cấu tạo, sẽ không giải thích được mục đích của hiện tượng láy và lý do tại sao cùng một tiếng gốc lại có thể tạo ra nhiều từ láy khác nhau.
Ví dụ: xinh > xinh, xinh xẻo, xinh xắn xốp > xôm xốp, xốp xộp, xốp xồm xộp
Cách nhìn về láy trong ngôn ngữ không chỉ tập trung vào cấu trúc mà còn xem xét chức năng của nó như một tín hiệu đặc thù Quan điểm coi "láy là sự hòa phối ngữ âm có tác dụng biểu trưng hóa" khác biệt với quan điểm "láy là ghép" Trong khi quan điểm thứ nhất nhấn mạnh vào khái quát hóa khoa học về hình thức và cấu trúc, quan điểm thứ hai lại hướng tới việc hiểu rõ cả cấu trúc lẫn chức năng của từ láy.
1.2.1 Phân loại từ láy trong tiếng Việt 1.2.1.1 Phân loại từ láy về mặt cấu tạo
Từ láy được hình thành thông qua phương thức hòa phối ngữ âm, bao gồm quy tắc điệp và quy tắc đối Điệp thể hiện sự lặp lại và thống nhất về âm, nghĩa, trong khi đối thể hiện sự khác biệt về âm và nghĩa Sự đồng nhất và dị biệt này tuân theo quy tắc chứ không phải là ngẫu nhiên.
Khi xem xét từ láy, mặt ngữ âm là dấu hiệu cơ bản Từ láy tiếng Việt được phân loại dựa trên hai cơ sở cấu tạo.
- Số lượng âm tiết trong từ láy;
Sự đồng nhất và khác biệt trong thành phần cấu tạo của các thành tố trong từ láy phụ thuộc vào cách phối hợp ngữ âm Trong tiếng Việt, từ láy được phân loại theo số lượng tiếng, bao gồm từ láy hai tiếng, từ láy ba tiếng và từ láy bốn tiếng, thường được gọi là từ láy đôi, từ láy ba và từ láy tư trong truyền thống.
Theo nhà nghiên cứu Hà Quang Năng, từ láy đôi là loại từ láy chiếm ưu thế trong tiếng Việt, không chỉ vì số lượng lớn mà còn vì nó thể hiện đầy đủ các đặc trưng âm thanh và ngữ nghĩa của hiện tượng láy Ví dụ về từ láy đôi bao gồm: ào ào, phau phau, đo đỏ, hây hẩy, nhàn nhạt, phơn phớt, và róc rách.
Từ láy ba là những đơn vị gồm ba tiếng có sự hòa phối ngữ âm, ví dụ: dửng dừng dưng, cỏn còn con, tất tần tật
Từ láy tư là loại từ láy gồm bốn tiếng, nhưng quan niệm về nó giữa các nhà nghiên cứu có sự khác biệt Nguyễn Văn Tu định nghĩa từ láy tư là “những từ ghép láy âm phức tạp”, trong khi Nguyễn Tài Cẩn cho rằng nó là “loại từ láy xây dựng trên cơ sở từ láy đôi điệp âm” với ví dụ như lơ thơ lẩn thẩn, lồm nhồm loàm nhoàm, lăng xăng lít xít, hăm hăm hở hở Dựa vào sự đồng nhất hay khác biệt trong thành phần cấu tạo của các thành tố, từ láy được phân loại thành từ láy hoàn toàn và từ láy bộ phận.
Từ láy hoàn toàn là những từ có sự đồng nhất giữa các thành phần cấu tạo của hai thành tố, ví dụ như: đùng đùng, chằn chằn, bừng bừng Các thành tố trong từ láy hoàn toàn giống hệt nhau về cấu trúc, chỉ khác nhau về trọng âm, thể hiện qua độ nhấn mạnh và độ kéo dài trong phát âm Thông thường, trọng âm rơi vào tiếng thứ hai của từ láy.
Láy không chỉ đơn thuần là sự lặp lại âm thanh nguyên vẹn, mà còn là sự lặp lại âm thanh với những biến đổi theo quy tắc hòa phối ngữ âm chặt chẽ, tạo ra ý nghĩa Điều này được thể hiện rõ qua từ láy hoàn toàn.
ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO, ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP CỦA TỪ LÁY TRONG THƠ NGUYỄN DUY
Đặc điểm cấu tạo của từ láy trong thơ Nguyễn Duy
2.1.1 Phân loại từ láy theo số lượng âm tiết
Theo khảo sát, thơ Nguyễn Duy sử dụng cả ba loại láy lớn: láy đôi, láy ba và láy tư Trong tổng số 1156 từ, có đến 1129 từ láy đôi, chiếm 97,66%, cho thấy sự ưu thế vượt trội của từ láy đôi trong tác phẩm của ông.
Âm nhạc mang đến cảm xúc sâu lắng với hình ảnh "nhạc nhùng nhằng hư thực sương giăng" và "ngọn lửa bập bùng khung cửa sổ" trong bài thơ "Cô bé nhà bên" Những kỷ niệm về mẹ được khắc họa qua câu thơ "chân nhang lấm láp tro tàn" và "xăm xăm bóng mẹ trần gian thuở nào" trong "Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa", tạo nên một bức tranh đầy nỗi nhớ và sự trân trọng.
Cái lưng em sụm bất ngờ, tứ chi anh lõng thõng quơ rụng rời, thể hiện sự mệt mỏi và nỗi lo lắng trong cuộc sống Thượng giới rong chơi, trong khi trần gian choang choác sự đời tùy em, cho thấy sự đối lập giữa những điều cao đẹp và thực tại khắc nghiệt Nghìn tay nhìn việc không tên, nhưng chỉ mình em làm cõi bình yên nhẹ nhàng, nhấn mạnh vai trò quan trọng của em trong việc tạo dựng hạnh phúc Lòng người thênh thang ngổn ngang như ruộng, tình người chứa chan cơn gió chướng trên đồng, phản ánh sự phức tạp và đa dạng của tình cảm con người.
Ông già sông Hậu mang đến hình ảnh sống động với những sắc màu rực rỡ, thể hiện sự tươi vui và nhộn nhịp Câu thơ "Áo trắng là áo trắng ai" gợi nhớ về những kỷ niệm buồn man mác khi đến trường, hòa quyện với vẻ đẹp của thiên nhiên qua hình ảnh giọt sương long lanh trên cỏ và con đường xa xăm.
Trong tổng số 1156 từ, chỉ có 9 từ láy ba, chiếm 0,78%, cho thấy sự hiếm hoi của từ láy ba trong ngôn ngữ Ví dụ như trong câu thơ “Phàm trần bớt chút lung linh/ các em bớt xỉnh xình xinh mấy phần” (Kiêng) hay “Năm nay lại lụt trắng đồng/ quê ta lại tỏng tòng tong mùa màng” (Dân ơi) Các tác phẩm khác cũng thể hiện sự sáng tạo với từ láy ba, như “Ở đây có những người con/ mang theo cái nõn nòn non lên rừng” (Người con trai) và “khổ và khó có đáng gì sợ hãi/ chỉ sợ lòng trống trải dửng dừng dưng ” (Từng trải) Hình ảnh sống động được thể hiện qua “xanh xanh đỏ đỏ phừng phừng/ tứng từng tưng tửng từng tưng đã đời” (Cung văn) và “Bia lon thỗn thện người lon/ ễnh ềnh ệch hỏn hòn hon thùi lùi” (Boston, 21.6.1995).
Trong tổng số 1156 từ, chỉ có 18 từ láy ba, chiếm 1,56%, cho thấy từ láy bốn không phổ biến Ví dụ như trong bài thơ "Gặp ma" với câu "Ngấp nga ngấp ngoáng kêu ma/ hóa ra ta gặp bóng ta trên tường", hay "Áo trắng má hồng" với hình ảnh "Áo trắng là áo trắng bay/ thấp tha thấp thoáng tháng ngày mỏng manh" Bài thơ "Vợ ốm" thể hiện nỗi đau qua câu "thình lình em ngã bệnh ngang/ phang anh xất bất xang bang sao đành" Trong "Sao", hình ảnh "Chót va chót vót khoảng cao/ sao nào của bạn sao nào của tôi" tạo nên sự liên tưởng thú vị Cuối cùng, "Hoa hậu vườn nhà ta" khắc họa sự khác biệt qua câu "Nhà thơ lơ mơ nhìn cuốc hóa gà/ nhà nhiếp ảnh nhìn vằn vặn vèo vẹo" Những ví dụ này cho thấy sự phong phú và đa dạng trong việc sử dụng từ láy trong thơ ca.
(Xẩm ngọng); “ Phấp pha phấp phới nhiễu điều/ ái ân phần phật tình yêu không thành” (Đỏ)
2.1.2 Phân loại từ láy theo quy tắc điệp và đối
Dựa vào sự đồng nhất hoặc khác biệt trong thành phần cấu tạo của các yếu tố trong từ láy, do cách phối hợp ngữ âm (quy tắc điệp và đối), từ láy trong thơ Nguyễn Duy được phân loại thành các loại nhỏ, trong đó có từ láy hoàn toàn.
Theo kết quả thống kê có 223 từ láy hoàn toàn, chiếm 19,29% tổng số từ láy
Trong thơ Nguyễn Duy, các từ láy hoàn toàn thể hiện quy luật hòa phối ngữ âm, bao gồm việc lặp lại hoàn toàn hoặc lặp lại với sự biến đổi về thanh điệu và phụ âm cuối theo quy tắc nhất định Hình thức này được thể hiện rõ nét trong các tác phẩm của ông.
Từ láy có hình thức ngữ âm hoàn toàn giống nhau, với 110 từ, chiếm 49,33% tổng số từ láy hoàn toàn Loại từ láy này gần như chiếm một nửa tổng số từ láy hoàn toàn, ví dụ như: phơ phơ, cong cong, ào ào, ầm ầm, và nhiều từ khác Đặc trưng của loại từ láy này là điệp toàn bộ âm tiết, trong đó trọng âm thường rơi vào tiếng thứ hai, tạo nên sự nhấn mạnh và trường độ dài cho tiếng này, trong khi tiếng thứ nhất được đọc nhẹ và ngắn hơn.
Trong tiếng Việt, từ láy hoàn toàn giữa hai tiếng có sự biến đổi về thanh điệu chiếm 39,01% tổng số từ láy hoàn toàn, với 87 từ tiêu biểu như mong mỏng, he hé, nhờn nhợn, và lơ lớ Hiện tượng này xảy ra do phát âm lướt nhẹ ở tiếng đầu, dẫn đến biến thanh theo quy luật chặt chẽ Cụ thể, thanh bằng gồm thanh ngang và thanh huyền, trong khi thanh trắc bao gồm thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngã, và thanh nặng Âm vực cao thấp cũng tuân theo quy tắc, với âm vực cao có thanh không, thanh hỏi, và thanh sắc, còn âm vực thấp có thanh huyền, thanh ngã, và thanh nặng Sự phối hợp thanh điệu này đã hình thành quy tắc hài thanh trong các từ láy của thơ Nguyễn Duy, trong đó nếu cả hai tiếng đều là thanh trắc, một tiếng sẽ chuyển sang thanh bằng cùng âm vực.
Ví dụ về việc chuyển đổi âm thanh trong tiếng Việt bao gồm: "mỏng mỏng" thành "mong mỏng", "hé hé" thành "he hé", "nhợn nhợn" thành "nhờn nhợn", "lớ lớ" thành "lơ lớ", "lặng lặng" thành "lẳng lặng", "rợn rợn" thành "rờn rợn", "thoang thoảng" giữ nguyên, và "láy láy" thành "lay láy".
Sự biến đổi thanh điệu trong từ láy của thơ Nguyễn Duy làm cho tác phẩm trở nên dễ đọc, dễ nghe và dễ nhớ hơn, nhờ vào việc tăng cường sự hòa phối về ngữ âm, tạo ra hiệu ứng biểu trưng hóa mạnh mẽ.
Trong tiếng Việt, có 26 từ láy hoàn toàn giữa hai tiếng có sự khác nhau về âm cuối, chiếm 11,66% tổng số từ láy hoàn toàn Một số từ tiêu biểu bao gồm: thùng thình, hầm hập, tuồn tuột, thình thịch, ngùn ngụt, khành khạch, nơm nớp, ươn ướt, thiêm thiếp, đành đạch, thoi thóp, nườm nượp, biêng biếc, bàng bạc, và hun hút.
Các từ láy trong tiếng Việt có đặc trưng chuyển âm cuối theo quy tắc nhất định, trong đó các phụ âm tắc vô thanh -p, -t, -k sẽ chuyển thành các phụ âm mũi tương ứng -m, -n, -ŋ Sự chuyển đổi này diễn ra ở ba cặp: m-p, n-t, và ŋ-k Ví dụ minh họa cho quy tắc này có thể thấy trong câu thơ: “Lau già râu tóc lơ phơ/ khói sương biêng biếc mấy bờ sông xa/ chiều xanh như nỗi nhớ nhà/ mây bàng bạc sóng bao la bốn bề.”
Xa hun hút một con đường, bạn bè lận đận tận phương trời nào Tìm kiếm luận văn tốt nghiệp và luận văn thạc sĩ mới nhất qua email luanvanfull@gmail.com.
Đặc điểm ngữ pháp của từ láy trong thơ Nguyễn Duy
2.2.1 Đặc điểm về từ loại của từ láy trong thơ Nguyễn Duy
Tiếng Việt không có sự đối lập về hình thái giữa các từ loại, điều này tạo điều kiện cho việc chuyển loại từ dễ dàng Trong thơ của Nguyễn Duy, chúng ta thấy nhiều từ láy có hình thức chung cho cả tính từ và động từ như thình lình, lênh đênh, phảng phất, rập rình Để xác định đúng từ loại, cần dựa vào khả năng kết hợp, chức năng ngữ pháp và ngữ cảnh cụ thể.
2.2.1.1 Từ láy là danh từ
Theo thống kê, Nguyễn Duy sử dụng 53 từ láy thuộc loại danh từ chỉ đối tượng trong thơ của mình, chiếm 0,45% tổng số từ láy Những từ này bao gồm: ngày ngày, xương xẩu, đêm đêm, lớp lớp, chiều chiều, hàng hàng, đời đời, tầng tầng, lau lách, chim chóc, xó xỉnh, nõn nòn non, và mặc dù chúng có hình thức giống từ láy, nhưng nội dung không mang đặc trưng cho lớp từ này Do đó, chúng được xếp vào nhóm từ láy đặc biệt Tuy nhiên, trong thơ Nguyễn Duy, những từ này đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện nội dung chủ đề và mang sắc thái nghĩa biểu trưng, như trong các câu thơ: “buổi nhá nhem len lén mò cơm nguội/ bảy sắc cầu vồng trong xó xỉnh lọ lem” và “Đưa tay híp mắt lặng thinh/ nghe Hồng Hà nước vật mình àm trôi/ chắt chiu vui bé bỏng ơi/ hoàng hôn mận Hậu tuyệt vời không em.”
Các từ láy như "xương xẩu" và "chim chóc" trong thơ Nguyễn Duy không chỉ định danh sự vật mà còn mang chức năng miêu tả và nhận xét Câu thơ "Nhập nhòa xương xẩu bao la" gợi tả không gian ảm đạm của cây cối mùa đông, thể hiện nỗi buồn và sự chờ mong khắc khoải Tác giả sử dụng từ "chim chóc" để thể hiện sự mỉa mai, chỉ trích những người chỉ biết nói lời hay mà không hành động, phản ánh sự suy tư về thế sự trong bài thơ.
Trong câu thơ “Ở đây có những người con/ mang theo cái nõn nòn non lên rừng” (Người con trai), danh từ láy ba “nõn nòn non” được sử dụng độc đáo, với gốc từ “non” chỉ giai đoạn mới mọc, chưa phát triển Từ này không chỉ miêu tả cảnh vật mà còn được danh từ hóa, thể hiện sức sống tươi trẻ và nhiệt huyết của tuổi thanh xuân Qua đó, từ láy trong thơ Nguyễn Duy không chỉ mang ý nghĩa về số lượng hay thời gian, mà còn có chức năng miêu tả, đánh giá, góp phần thể hiện chủ đề và tư tưởng của tác phẩm.
2.2.1.2 Từ láy là tính từ
Tính từ là một trong những từ loại chiếm ưu thế trong vốn từ láy của tiếng Việt, với 820 từ láy được xác định là tính từ, chiếm 70,93% tổng số từ láy trong các tập thơ của Nguyễn Duy Những từ này bao gồm: dửng dừng, xỉnh xình, lung linh, ngoằn ngoèo, long lanh, dịu dàng, chói chang, móm mém, phăng phắc, vuông vắn, nõn nà, tênh hênh, nhằng nhịt, nhờn nhợn, mềm mại, mênh mông, lôi thôi, lóc nhóc, lom khom, đỏ đỏ, thăm thẳm, vành vạnh, cong cong, nghiêng nghiêng, là lạ,
Tính từ chiếm tỷ lệ lớn trong thơ Nguyễn Duy, đóng vai trò quan trọng trong việc biểu hiện tính chất, tình cảm và cảm xúc Chúng giúp miêu tả sự vật, hiện tượng và xây dựng hình ảnh con người, thiên nhiên trong tác phẩm của ông.
Phèo yêu Thị Nở/ phản hàng thịt tênh hênh nhằng nhịt vết dao/ nhờn nhợn mỡ”
Trong bài thơ "Liền anh đi chợ", Nguyễn Duy đã khéo léo sử dụng hàng loạt từ láy như “tênh hênh, nhằng nhịt, nhờn nhợn” để tạo nên những hình ảnh sống động và ám ảnh Những từ này không chỉ mô tả một hàng thịt chằng chịt, rờn rợn mà còn gợi nhớ đến nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm của Nam Cao Khuôn mặt của Chí Phèo, với những vết dao rạch chồng chéo, hiện lên đầy ghê rợn, phản ánh cuộc đời đầy đau thương của nhân vật Sự thành công của Nguyễn Duy nằm ở việc sử dụng hiệu quả các từ láy, mang đến ấn tượng thị giác mạnh mẽ và khó quên cho người đọc.
Khung cảnh làng quê trong thời gian khó được thể hiện qua hình ảnh người mẹ nhễ nhại mồ hôi, chăm sóc đàn con lóc nhóc khóc cười Từ "nhễ nhại" không chỉ mô tả sự chảy mồ hôi mà còn gợi lên nỗi vất vả, lam lũ của người mẹ trong xó bếp Hình ảnh đàn con thơ đông đúc, láu nháu được thể hiện qua tính từ "lóc nhóc", tạo nên một bức tranh sinh động về tuổi thơ gian khổ Những từ láy giàu chất tạo hình đã khắc họa rõ nét khung cảnh khó khăn, để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.
Trong bài thơ “Ánh trăng”, Nguyễn Duy sử dụng hai tính từ “vành vạnh” và “phăng phắc” để miêu tả ánh trăng, từ đó gợi ra những liên tưởng thú vị cho người đọc.
Ánh trăng trong bài thơ “Ánh trăng” được miêu tả với hình ảnh tròn đầy, viên mãn, thể hiện vẻ đẹp thủy chung không thay đổi Dù con người có thể quên lãng, ánh trăng vẫn tồn tại như một biểu tượng của sự bền vững Nhà thơ nhân hóa ánh trăng trong trạng thái im lặng, gửi gắm nhiều thông điệp sâu sắc Sự im lặng của trăng không chỉ là sự tĩnh lặng mà còn là lời nhắc nhở nghiêm khắc về thái độ sống của con người, buộc họ phải giật mình sám hối Những tính từ láy trong bài thơ làm nổi bật triết lý rằng thiên nhiên và quá khứ nghĩa tình luôn tồn tại, bất diệt, dù con người có vô tình quên lãng.
2.2.1.3 Từ láy là động từ Động từ là một trong những từ loại cơ bản để xây dựng hình tượng, tính cách nhân vật, bởi thông qua các hành động được miêu tả cử chỉ, điệu bộ, lời nói… tác giả để cho nhân vật tự bộc lộ mình Theo kết quả thống kê trong toàn bộ sáng tác thơ của Nguyễn Duy có 283 từ láy thuộc từ loại động từ, chiếm 24,48% số từ láy trong thơ Nguyễn Duy Đó là những từ như: ngọ nguậy, xâu xé, đú đởn, ngo ngoe, lêu lổng, đong đưa, mơ màng, rong ruổi, xoa xít, hít hà, gồng gánh, làm lụng, thậm luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si thịch, nghêu ngao, dấm dúi, nhặt nhạnh, vùng vằng, bàng hoàng, băn khoăn, loay hoay, càu nhàu, léng phéng, bồn chồn, tưng hừng, bay bay, rơi rơi, thình thình, vỗ vỗ, bán bán, buôn buôn,
Nhà thơ Nguyễn Duy đã thể hiện sâu sắc cảm xúc về chiến tranh qua câu thơ: “Những câu thơ ngoằn ngoèo dòng thương phế binh/ những con chữ cụt đầu cụt tay cụt chân ngọ nguậy/ kiến lửa/ bao giờ lành vết thương chiến tranh” (Bắn) Động từ “ngọ nguậy” mang ý nghĩa cựa quậy không ngừng, kết hợp với các cụm từ “cụt đầu, cụt tay, cụt chân” tạo nên hình ảnh mạnh mẽ về nỗi đau và sự trăn trở của tác giả Qua đó, “ngọ nguậy” không chỉ diễn tả sự sống động mà còn khắc họa nỗi khắc khoải, ám ảnh của chiến tranh, những vết thương vẫn chưa lành lặn.
Động từ “thậm thịch” trong câu thơ gợi tả chân thực không gian ngày mùa ở làng quê Việt Nam Hình ảnh “Mẹ ta vo gạo thổi cơm” và “ba ông táo sứt lửa rơm khói mù” tạo nên bức tranh sống động về cuộc sống nông thôn Âm thanh “xay lúa ù ù” và “chày cối thậm thịch” như đưa ta trở về với những kỷ niệm xưa cũ, thể hiện sự gắn bó với truyền thống và văn hóa làng quê.
Âm thanh "thậm thịch" gợi nhớ tiếng bước chân nện trên mặt đất, mang đến cảm giác quen thuộc của làng quê Khi trở về, nhà thơ cảm nhận được âm thanh này vẫn vẹn nguyên, gần gũi và giản dị, đầy dư ba và sâu lắng trong ký ức.
Thơ viết cho những người thân yêu là một phần quan trọng trong sáng tác của Nguyễn Duy, thể hiện sâu sắc nỗi nhớ quê hương Những câu thơ như “Vợ ta càu nhàu con ta nhác học/ nước mắm gắt góc bếp ám khói/ chó vàng ngoáy đuôi chào mừng ta về nhà” (Nhớ nhà) gợi nhớ về những kỷ niệm giản dị nhưng đầy ý nghĩa Động từ “càu nhàu” không mang tính trách móc mà thể hiện sự trân trọng những khoảnh khắc đời thường của người vợ, phản ánh nỗi lo toan và tình cảm gắn bó với quê hương.
Những từ láy được Nguyễn Duy sử dụng sáng tạo
Ngôn ngữ luôn vận động và phát triển theo tiến trình lịch sử của loài người Trong quá trình này, vốn từ tiếng Việt cũng biến đổi không ngừng Qua khảo sát từ láy trong thơ Nguyễn Duy, chúng tôi nhận thấy sự sáng tạo độc đáo của ông thông qua một số từ láy được sử dụng, mặc dù không nhiều.
Chúng tôi phát hiện ra rằng một số từ láy như thập thững, lếch nhếch, phập phèo có âm thanh tương tự như các từ láy trong “Từ điển từ láy tiếng Việt” (do Hoàng Văn Hành chủ biên), nhưng ý nghĩa của chúng đã có sự biến đổi nhất định.
Bà đi gánh chè xanh Ba Trại Quán Cháo, Đồng Giao thập thững đêm hàn (đò Lèn)
Trong Từ điển tiếng Việt, từ “thập thõm” miêu tả dáng đi loạng choạng, không vững, như trong ví dụ “Bàng hoàng, thập thõm bước đi như người mất hồn.” Nguyễn Duy đã sáng tạo từ “thập thững” để thể hiện hình ảnh những bước đi gập ghềnh, nhọc nhằn của bà, phản ánh cuộc đời lam lũ vất vả để nuôi cháu Dù cuộc sống khó khăn, bà vẫn kiên trì “thập thững” từng bước đi trong những ngày gió rét, thậm chí mò cua bắt cá để nuôi nấng cháu Hình ảnh người bà tần tảo đã giúp tác giả có cái nhìn sâu sắc hơn về cuộc đời của bà mình.
2 Lếch nhếch Lếch nhếch xâu tàu há mồm lóc nhóc nuôi báo cô ấm ớ thơ tình tang (nợ nhuận bút)
Theo từ điển, từ láy “lếch thếch” có nghĩa là “lôi thôi, trông bệ rạc, khổ sở” Tuy nhiên, trong thơ Nguyễn Duy, nhà thơ đã sử dụng từ “lếch nhếch” để thể hiện một sắc thái khác.
“lếch nhếch” dường như đã được nhà thơ dùng ghép từ hai từ “lếch thếch” và
Cụm từ “nhếch nhác” được sử dụng một cách độc đáo và sáng tạo, mang lại sức gợi mạnh mẽ và tạo ra một trường liên tưởng phong phú Nó không chỉ diễn tả sự “lôi thôi, bệ rạc, khổ sở” mà còn gợi lên hình ảnh “bẩn thỉu, không ra sao cả” trong lời tự thán của nhà thơ về hoàn cảnh khó khăn của mình Nhà thơ phải làm báo với đồng nhuận bút ít ỏi, còn bị nợ, trong khi phải gánh vác cả gia đình với những đứa con nhỏ và người vợ tảo tần lam lũ.
3 Phập phèo đồng nhuận bút phập phèo bong bóng nước mẹ Đốp đi làm bì bọp lội mà thương (nợ nhuận bút)
Trong từ điển, "phập phều, phập phồng" có nghĩa là phồng lên rồi lại xẹp xuống liên tục Nguyễn Duy đã khéo léo sử dụng từ "phập phèo" trong câu thơ, không chỉ gợi lên sự phồng xẹp liên tục mà còn thể hiện sinh động sự bấp bênh, eo sèo và thiếu ổn định của đồng nhuận bút.
Cuộc sống của gia đình nhà thơ đầy gian khó và chật vật, được thể hiện qua hình ảnh chập chờn, dễ rơi rụng và dễ vỡ như bong bóng nước Từ “phập phèo” trong câu thơ trên kết hợp với từ láy “bì bọp” ở câu thơ dưới, tạo nên một bức tranh sống động về hoàn cảnh đáng thương của họ.
Việc so sánh ý nghĩa của một số từ láy trong sáng tác của Nguyễn Duy với các từ láy trong tiếng Việt hiện đại cho thấy sự biến đổi và gia công trong cách dùng của ông, tạo ra hiệu quả nghệ thuật độc đáo và sáng tạo.
Trong chương 2, khảo sát cho thấy thơ Nguyễn Duy có tổng cộng 1156 từ láy, trong đó từ láy đôi (2 âm tiết) chiếm ưu thế với 1129 từ, tương đương 97,66% tổng số từ láy Trong số 1129 từ láy đôi, có 223 từ láy hoàn toàn, chiếm 19,75%.
Trong thơ Nguyễn Duy, từ láy được sử dụng linh hoạt và đa dạng, bao gồm danh từ, tính từ, động từ và phụ từ Sự phong phú về từ loại cho phép tác giả miêu tả nhiều sự vật, hiện tượng và diễn biến tâm trạng của nhân vật Cụ thể, có 53 danh từ (0,45%), 820 tính từ (70,93%) và 283 động từ (24,93%) Về chức năng cú pháp, có 3 từ láy giữ chức năng chủ ngữ (0,03%), 781 từ làm vị ngữ (67,56%), 216 từ làm bổ ngữ (18,69%) và các từ láy khác đóng vai trò định ngữ.
Trong thơ Nguyễn Duy, từ láy chiếm 11,94% với 138 từ, cho thấy sự sáng tạo độc đáo trong cách sử dụng ngôn ngữ Mặc dù tỉ lệ không cao, nhưng từ láy giúp làm phong phú thêm giá trị biểu đạt và cách dùng từ trong câu thơ Điều này chứng tỏ vốn từ láy trong tiếng Việt rất phong phú và giàu sức gợi tả Hệ thống từ láy này đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển ngôn ngữ thơ ca, tư duy hình tượng, và miêu tả thiên nhiên, con người, cũng như thể hiện tâm lý, tình cảm của nhân vật trữ tình Đây là nội dung được phân tích trong Chương 3, chương cuối của luận văn.