Việc áp dụng pháp luật trong cùng một cấp tòa vẫn còn thiếu thống nhất, việc đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội việc áp dụng tình tiết tăng nặng việc cùng một hành vi phạm tội có
Trang 1GIANG THỊ VƯỢNG
CĂN CỨ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TỪ THỰC TIỄN TÒA ÁN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
HÀ NỘI – 2021
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 3LUẬT HÌNH SỰ VỀ CĂN CỨ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT 8
1.1 Khái niệm hình phạt 8
1.2 Khái niệm, đặc điểm căn cứ quyết định hình phạt 9
1 3 Vai trò của căn cứ quyết định hình phạt 11
1.4 Quy định của Bộ luật hình sự 2015 về căn cứ quyết định hình phạt 11
Chương 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VỀ CĂN CỨ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN 39
2.1 Kết quả áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự về căn cứ quyết định hình phạt tại Tòa án nhân dân huyện Than Uyên và bài học kinh nghiệm 39
2.2 Đánh giá việc áp dụng quy định Bộ luật hình sự về căn cứ quyết định hình phạt tại Tòa án nhân dân huyện Than Uyên 42
Chương 3: YÊU CẦU VÀ CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VỀ CĂN CỨ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT 62 3.1 Tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật Hình sự 2015 … …60
3.2 Ban hành văn bản quy phạm hướng dẫn áp dụng pháp luật……… 64
3.3 Tăng cường tổng kết thực tiễn xét xử ……… 65
3.4 Nâng cao khả năng năng lực của người tiến hành tố tụng……… 66
KẾT LUẬN 68
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 4luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 5HĐXX Hội đồng xét xử QĐHP Quyết định hình phạt TAND Tòa án nhân dân XHCN Xã hội chủ nghĩa
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Tổng số người bị kết án tại Tòa án nhân dân cấp huyện Than Uyên
40
từ 2015 - 2020 40
Bảng2.2 Tổng hợp các hình phạt được áp dụng trên địa bàn huyện 41
Than Uyên từ 2015-2020 41
Bảng 2.3: Bảng tổng hợp nhân thân người phạm tội qua việc xét xử 43
của TAND huyện Than Uyên từ 2015- 2020 43 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quyết định hình phạt là hoạt động rất quan trọng trong hoạt động xét xử của Tòa án, việc quyết định hình phạt đúng tạo tiền đề quan trong cho việc đạt mục đích và nâng cao hiệu quả của hình phạt bảo đảm công lý có ý nghĩa chính trị xã hội quan trọng Khi quyết định hình phạt Tòa án phải tuân thủ những nguyên tắc cơ bản do Bộ luật hình sự quy định đó chính là căn cứ quyết định hình phạt
Thực tiễn xét xử các vụ án hình sự thời gian qua cho thấy còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong việc cân nhắc xem xét đánh giá các căn cứ quyết định hình phạt Để đảm bảo giải quyết đúng đắn một vụ án hình sự vừa bảo vệ các quyền tự do của công dân và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay Ý thức được tầm quan trọng đó, Tòa án nhân dân huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu đã nỗ lực phấn đấu nhằm nâng cao chất lượng giải quyết, xét xử các loại vụ án, phấn đấu không có án oan, không bỏ lọt tội phạm, tỷ lệ các bản án quyết định bị hủy, sửa do lỗi chủ quan cảu Thẩm phán hàng năm đều giảm đảm bảo các quyết định của Tòa án đúng pháp luật , đầy đủ, rõ ràng thuyết phục và tính có khả thi Tuy nhiên, do sự biến động và phát triển nhanh chóng của các loại tội phạm với tính chất, mức độ, thủ đoạn ngày càng đa dạng và tinh vi cùng với tính phức tạp của việc áp dụng chính xác các quy định của pháp luật hình sự đối với căn cứ quyết định hình phạt đã khiến cho Tòa án gặp nhiều khó khăn dẫn đến sai sót trong áp dụng căn cứ quyết định hình phạt Do đó việc nghiên cứu một cách thống nhất và toàn diện để làm sâu sắc các vấn đề lí luận về các căn cứ quyết định hình phạt gắn với thực tiễn hoạt động của Tòa án để làm cơ sở cho việc hoàn thiện cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự là hết sức cần thiết Tại TAND qua thực tiễn xét xử thấy rằng khi áp dụng quy định của BLHS về căn cứ QĐHP trong các vụ án hình sự vẫn còn một số trường hợp để xảy ra sai sót, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, người bị hại làm ảnh hưởng đến sự nghiêm minh của pháp luật, phải kể đến một số các nguyên nhân mà TAND huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu cần quan tâm như: luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 8Việc áp dụng pháp luật trong cùng một cấp tòa vẫn còn thiếu thống nhất, việc đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội việc áp dụng tình tiết tăng nặng việc cùng một hành vi phạm tội có tính chất mức độ như nhau nhưng quyết định hình phạt quá khác biệt chưa đánh giá chính toàn diện được khách thể bị xâm hại cụ thể như thế nào việc áp dụng không đúng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS, xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi thực hiện với hậu quả xảy
ra so với tính chất là một căn cứ QĐHP độc lập )
Từ lí do nêu trên tác giả chọn đề tài “Căn cứ quyết định hình phạt từ
thực tiễn huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu” là đề tài nghiên cứu luận văn thạc
sĩ tốt nghiệp ngành luật học của mình Đề tài luận văn nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống và làm rõ những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn áp dụng các quy định của BLHS 2015 về căn cứ QĐHP trong quá trình xét xử sơ thẩm tạiTAND huyện Than Uyên nhằm khắc phục những hạn chế, sai lầm trong việc áp dụng quy định của BLHS về căn cứ QĐHP của Tòa án, đưa ra các giải pháp bảo đảm QĐHP đúng đối với người phạm tội là hết sức cần thiết
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đã có nhiều tác giả, nhiều công trình nghiên cứu về căn cứ quyết định hình phạt bởi vì đây là một chế định hết sức quan trọng và không thể thiếu nhằm đánh giá hiệu quả của hoạt động quyết định hình phạt Trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam, căn cứ QĐHP được quy định tại BLHS năm 1985 (Điều 37), BLHS năm 1999 (Điều 45), BLHS năm 2015 (Điều 50) là cơ sở pháp lý bắt buộc Tòa án phải áp dụng đúng và đầy đủ khi thực hiện hoạt động QĐHP, trong thời gian gần đây có một số công trình nghiên cứu, bài viết liên quan đến đề căn cứ quyết định hình phạt từ thực tiễn một địa phương đơn vị nhất định nhưng chủ yếu dừng lại ở cấp tỉnh, nhưng ở cấp huyện thì có nhưng rất ít :
Vấn đề chủ yếu được đề cập đến bởi các nghiên cứu chung về quyết định hình phạt mà thôi, trong đó phải kể đến các công trình ở những cấp độ khác nhau dưới đây:
* Giáo trình, sách tham khảo và các đề tài đã nghiên cứu trong nước:
1) PGS TS Trịnh Quốc Toản - Quyết định hình phạt, Trong sách: Giáo
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 9trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung), Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà
Nội, 2005, GS.TSKH Lê Văn Cảm chủ biên; 3) PGS TS Lê Văn Đệ, Định tội danh và quyết định hình phạt trong luật hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2005; 4) PGS.TS Dương Tuyết Miên, Định tội danh và quyết định hình phạt, Nxb Lao động Xã hội, Hà Nội, 2007; 5) ThS Đinh Văn Quế, 6);Trường Đại học Luật Hà nội, Giáo trình Luật hình sự Việt nam (phần
chung), Nxb Công an nhân dân, Hà nội, 2016; 7) PGS.TS Nguyễn Duy Phương- TS Đinh Thế Hưng Bình luận khoa học Bộ luật hình sự(phần chung) Nhà xuất bản Tư pháp, Hà nội, 2020;
* Ở cấp độ luận án luận văn thạc sĩ luật học trong nước: 1) Dương Tuyết
Miên, Quyết định hình phạt trong luật hình sự Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2004; 2) Phan Thị Thu Lê Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong luật hình sự việt nam, Luận án tiến sỹ luật học, Học viện khoa học xã hội, 2019; 3) Hoàng Tiến Dũng (2016), Các căn cứ quyết định hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam, luận văn thạc sỹ luật học, học viện khoa học xã hội;
4) Tác giả Phạm Đình Dũng (2006), Căn cứ quyết định hình phạt, những vấn đề lý luận và thực tiễn, luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc
gia Hà Nội đã phân tích và làm rõ hơn các lý luận về căn cứ QĐHP kết hợp với những ví dụ thực tiễn điển hình để minh họa cho các lý luận được phân tích
5)Phan Thu Hoài (2019), Các căn cứ quyết định hình phạt theo pháp luật Hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Lai Châu, luận văn thạc sĩ luật học, Học viện
Khoa học - xã hội Việt Nam
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 103)PGS.TS Dương Tuyết Miên - Một số ý kiến về Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng theo điều 54 BLHS năm 2015 Tạp chí Tòa án, số 16/2020; Tác giả Hoàng Quảng Lực – Tính nặng,nhẹ của hệ
thống hình phạt chính đối với người phạm tội trong BLHS năm 2015 và những vướng mắc tháo gỡ, Tạp chí Tòa án số 8/2019;
4) TS Nguyễn Mai Bộ- THS.NCS Hoàng Ngọc Anh-Chính sách hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định của BLHS 2015, Tạp chí Tòa án
số 19/2020; Tạp chí Tòa án nhân dân, số 3/2016; Một số điểm mới về quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định của BLHS năm 2015; 5)GS.TSKH Lê cảm(2021) Miễn trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình
sự Việt nam tạp chí dân Tòa án (Tập I), số 1(2021)
Nhìn chung các công trình nghiên cứu nói trên mới chỉ đề cập đến quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội cụ thể hoặc những vấn đề chung, mà chưa có công trình nghiên cứu nào mang tính chuyên sâu và có hệ thống nào về vấn đề lý luận cơ bản đồng thời đánh giá toàn diện quy định Bộ luật hình sự
2015 về căn cứ quyết định hình phạt và thực tiễn áp dụng quy định đó trên một địa bàn cụ thể là đặc biệt ở TAND cấp huyện để làm cơ sở cho việc đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả quyết định hình phạt Nói một cách khác, các vấn đề lý luận và thực tiễn xung quanh việc áp dụng căn cứ quyết định hình phạt đòi hỏi phải được tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện và chuyên sâu hơn góp phần nâng cao chất lượng hoạt động QĐHP, qua đó đáp ứng mục tiêu nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác xét xử các vụ án hình sự theo tinh thần của Nghị quyết số 49- NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 đã đề ra
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Dựa trên những kết quả nghiên cứu về lý luận quy định BLHS 1999, BLHS
2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) về căn cứ QĐHP và đánh giá thực tiễn việc quyết định hình phạt tại TAND huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu, tác giả đưa ra những ý luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 11kiến đề xuất hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự có liên quan đến Quyết định hình phạt
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài có những nhiệm vụ nghiên cứu sau:
Phân tích căn cứ quyết định hình phạt
và làm rõ thực tiễn áp dụng quy định của BLHS về căn cứ QĐHP trong quá trình xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của TAND huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu để tìm ra những tồn tại, hạn chế và xác định nguyên nhân sau đó đề xuất các giải pháp để việc quyết định hình phạt của Tòa án đảm bảo mục đích áp dụng quy định của BLHS về căn cứ QĐHP đúng trong xét xử các vụ án hình sự trên địa bàn huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn lấy các quan điểm khoa học của khoa học Luật hình sự các quy định của BLHS năm 2015 thực tiễn hoạt động quyết định hình phạt tại TAND huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu(2015- 2020) làm đối tượng nghiên cứu của đề tài
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về nội dung; Nghiên cứu lý luận, các quy định của BLHS hiện
hành về căn cứ QĐHP tại Điều 50 BLHS năm 2015 và so sánh với các BLHS trước đó; Quy định của PLHS Việt Nam hiện hành về căn cứ QĐHP và về thực tiễn áp dụng quy định của BLHS 2015 về căn cứ QĐHP đối với các loại tội phạm trên địa bàn huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu trong quá trình quyết định hình phạt
Phạm vi về thời gian: Chủ yếu nghiên cứu thực tiễn quyết định hình phạt
thông qua hoạt động xét xử các vụ án hình sự, Thông qua công thực tiễn công tác xét xử, các kết luận đã được chỉ ra những hạn chế, bất cập, sai lầm và nguyên nhân của những hạn chế trên, đề xuất ý kiến hoàn thiện quy định của BLHS
2015 về căn cứ QĐHP nhằm tạo cơ sở vững chắc cho hoạt động QĐHP của Toà luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 12án đảm bảo tính đúng đắn, hiệu quả, đáp ứng các yêu cầu của chiến lược cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay trên địa bàn huyện Than Uyên đến năm 2025
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Đề tài được nghiên cứu và phân tích dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - LêNin và Nhà nước pháp quyền; Quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phòng, chống tội phạm, xử lý các loại tội phạm; Chính sách hình
sự các nguyên tắc của pháp luật Hình sự Việt Nam hiện hành;
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng các phương pháp nghiên cứu: Phương pháp lịch sử, phương pháp, phương pháp thống kê mô tả, phương pháp tổng hợp, phân tích, phương pháp so sánh, đánh giá, phương pháp khảo sát thực tiễn các vụ án hình sự giai đoạn 2015-2020 tại TAND huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Từ hoạt động nghiên cứu quy định lý luận về căn cứ quyết định hình phạt
và hoạt động thực tiễn đã quyết định hình phạt giúp tác giả hoàn thiện và nhận thức đúng các quy định quyết định hình phạt
Luận văn là tài liệu tham khảo để khảo sát tổng hợp thực tiễn quyết định hình phạt tại TAND huyện miền núi góp phần hoàn thiện để xây dựng văn bản giải thích áp dụng đúng và thống nhất pháp luật chỉ ra những hạn chế, sai lầm trong việc áp dụng quy định của BLHS về căn cứ quyết định hình phạt cũng như chỉ ra nguyên nhân của việc áp dụng chưa đúng quy định của BLHS 2015 về căn
cứ QĐHP
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đây là nghiên cứu thực tiễn có ý nghĩa rất quan trọng với tác giả là người trực tiếp tham gia vào hoạt động quyết định hình phạt đòi hỏi phải có sự nhận thức đúng đắn thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, phục vụ cho hoạt động quyết định hình phạt đặc biệt luận văn có thể làm tài liệu tham khảo để tổng kết luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 13thực tiễn 05 thi hành BLHS 2015 (2015-2020) là tài liệu để cán bộ giữ chức danh Tư pháp tham khảo là tài liệu để giảng viên tham khảo khi nghiên cứu giảng dậy
7 Kết cấu của luận văn
Phần mở đầu sau khi nêu được tính cấp thiết của việc lựa chọn đề tài, tình hình nghiên cứu có liên quan, mục đích ý nghĩa … phầndanh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận được tác giả chia làm ba phần tương ứng với ba chương
Chương thứ nhất : Những vẫn đề lý luận và quy định của BLHS về căn cứ QĐHP
Chương thứ hai : Thực tiễn áp dụng quy định của BLHS về căn cứ QĐHP trên địa bàn huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu
Chương thứ ba :Giải pháp bảo đảm áp dụng đúng quy định của BLHS
2015 về căn cứ QĐHP luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 14Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ
VỀ CĂN CỨ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT
1.1 Khái niệm hình phạt
Hình phạt là một phạm trù pháp lý – xã hội rất phức tạp, mang tính khách quan, gắn liền với sự xuất hiện của Nhà nước và pháp luật vì thế nó được nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau như triết học, tâm lý học, thần học, tôi phạm học…
Việc làm sáng tỏ nắm bắt sâu sắc cũng như lập luận mang tính khoa học khái niệm hình phạt là một vấn đề quan trọng có nhiều nhà khoa học trên thế giới cũng như ở Viêt Nam đưa ra khái niệm khác nhau về hình phạt, nhìn chung các quan điểm đó có thể phân thành hai loại, loại thứ nhất coi hình phạt
là công cụ trừng trị, trả thù người phạm tội; còn lại coi hình phạt là công cụ pháp lý cần thiết để đấu tranh phòng , chống tội phạm, cải tạo, giáo dục người phạm tội [ 6, tr 18] Một số học giả luôn đi theo tư tưởng tiến bộ nhân đạo về hình phạt khi đưa ra các quan điểm về hình phạt thường theo hướng chung thể hiện mục đích nhân đạo của hình phạt, được thể hiện trong một số khái niệm
về hình phạt của các nhà khoa học
GS.TS Võ Khánh Vinh quan niệm: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất do luật quy định được Tòa án nhân dân nhân danh NHà nước quyết định trong bản án đối với người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm và được thể hiện ở việc tước đoạt hoặc hạn chế các quyền và lợi ích do pháp luật quy định đối với người bị kết án” [ 32, tr 211]
GS.TSKH Lê Cảm thì coi: Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quyết định trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án để tước bỏ hay hạn chế quyền, tự do của người bị kết án theo các quy định của pháp luật hình sự” [ 7 tr 3]
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 15Cơ sở pháp lý hình sự: Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc
nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền và lợi ích của người phạm tội Hình phạt có những đặc điểm cơ bản như sau:
+ Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước dành cho người phạm tội – đặc điểm này thể hiện sự khác biệt cơ bản so với các biện pháp cưỡng chế của các vi phạm pháp luật khác và là thước đo của tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội
+ Hình phạt được quy định trong BLHS- đặc điểm này là cơ sở pháp lý quan trọng đảm bảo tính thống nhất trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, thể hiện nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
+ Hình phạt do Tòa án áp dụng và quyết định đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội – đây là bước cuối cùng của quy trình tố tụng, việc quy định quyết định hình phạt do Tòa án quyết định là để đảm bảo sự thận trọng, khách quan, toàn diện tránh oan sai, tòa án quyết định hình phạt phải đảm bảo nguyên tắc pháp chế
Việc quy định hình phạt phải quy định trong BLHS và chỉ do Tòa án mới
có quyền quyết định hình phạt nhằm tránh trường hợp áp dụng tùy tiện không thống nhất và tránh xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người phạm tội
1.2 Khái niệm căn cứ quyết định hình phạt
1.2.1 Khái niệm căn cứ quyết định hình phạt
Theo PGS.TS Luật học Võ Khánh Vinh: “Các căn cứ quyết định hình phạt là những đòi hỏi cơ bản có tính nguyên tắc do luật hình sự quy định hoặc
do giải thích pháp luật mà có, buộc Toà án phải tuân theo khi Quyết định hình phạt đối với người thực hiện tội phạm” [32, tr.409]
Đó là những yêu cầu cơ bản có tính bắt buộc Tòa án phải tuân theo khi
quyết định hình phạt đối với tội phạm, thuật ngữ “căn cứ quyết định hình phạt ”
không được dùng trong các văn bản pháp luật hình sự mà nó chỉ được dùng trong các bài viết, các công trình khoa học của các tác giả hoặc các luật gia; các luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 16giáo trình trong các trường đại học, cao đẳng; các thông tư, chỉ thị… Bộ luật
hình sự năm 1985 dùng thuật ngữ “nguyên tắc quyết định hình phạt” để nêu các
nội dung mà các nội dung đó chính là căn cứ quyết định hình phạt nhận rõ tính
thiếu chính xác nên BLHS năm 1999 và BLHS 2015 đã dùng thuật ngữ “căn cứ quyết định hình phạt” (Điều 45 BLHS 1999) thay cho thuật ngữ “nguyên tắc quyết định hình phạt” (Điều 37 BLHS 1985).[ 27tr16]
Điều 50 BLHS 2015 quy định: “Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho
xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ
và tăng nặng trách hiệm hình sự; Khi quyết định hình phạt tiền ngoài căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này Tòa án căn cứ vào tình hình tài sản,khả năng thi hành án của người phạm tội” [27 tr.35]
Như vậy căn cứ Quyết định hình phạt chính là những biểu hiện cụ thể là tiền đề để đạt được mục đích của hình phạt
1.2.2 Đặc điểm của căn cứ quyết định hình phạt
Thứ nhất, căn cứ QĐHP được quy định một cách rõ ràng, đầy đủ bao quát
tất cả các loại tội phạm được quy định Bao gồm các quy định của Bộ luật hình
sự về hình phạt chính, hình phạt bổ sung; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; nhân thân người phạm tội; các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự [27 tr.18]
Căn cứ quyết định hình phạt là chuẩn mực chung cho việc quyết định hình phạt đối với mọi trường hợp phạm tội là yêu cầu quan trọng nhằm tránh tình trạng áp dụng một cách tuỳ tiện và nhằm giải quyết đúng đắn vấn đề trách nhiệm hình sự của người phạm tội
Thứ hai, căn cứ quyết định hình phạt mang tính bắt buộc đối với Tòa án,
Toà án phải dựa vào các đòi hỏi đó của pháp luật hình sự để lựa chọn loại và ấn định mức hình phạt cụ thể.[27 tr.19]
Thứ ba, các căn cứ quyết định hình phạt là những đòi hỏi có tính nguyên
tắc vì đó là những biểu hiện, đòi hỏi của các nguyên tắc quyết định hình phạt Tính có nguyên tắc của các căn cứ quyết định hình phạt thể hiện tính thống nhất, luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 17mối quan hệ chặt chẽ của các nguyên tắc quyết định hình phạt và các căn cứ quyết định hình phạt [32 tr.20]
Theo GS.TS Luật học Võ Khánh Vinh: Khi quyết định hình phạt, Tòa án một mặt phải tuân theo các tư tưởng chỉ đạo (nguyên tắc) nhất định và mặt khác, phải dựa vào những đòi hỏi (căn cứ) nhất định mới có đủ điều kiện để quyết định ở mức độ lớn nhất, một hình phạt có khả năng đạt được các mục đích của hình phạt [41 tr219]
Thứ tư, Khi thực thi pháp luật Tòa án phải tuân thủ nghiêm khắc căn cứ
quyết định hình phạt đây là điều kiện quan trọng không thể thiếu để quyết định hình phạt đúng đắn đạt được mục đích đề ra của hình phạt [27 tr.19] Điều đó cho thấy việc quyết định hình phạt không phải được thực hiện một cách ngẫu nhiên cũng có thể đạt được các mục đích của hình phạt mà nó phải được dựa trên các căn cứ quyết định hình phạt đã được Bộ luật hình sự quy định
1.3 Vai trò của căn cứ quyết định hình phạt
Một là, căn cứ QĐHP là cơ sở pháp lý quan trọng để Tòa án QĐHP tương
xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của các loại tội phạm [16 tr.20].Để hình phạt đạt được mục đích
Hai là, căn cứ quyết định hình phạt là điều kiện cần thiết và quan trọng để
khắc phục tình trạng chưa chuyên nghiệp, tùy tiện, thiếu thống nhất khi thực hiện quyết định hình phạt, đồng thời bảo đảm tính khách quan, hợp pháp và có căn cứ pháp lý của hoạt động quyết định hình phạt [27 tr.20]
Ba là, việc tuân thủ đúng căn cứ QĐHP là điều kiện tiên quyết để đạt mục đích của hình phạt Như vậy, để bảo đảm những yêu cầu và nguyên tắc pháp chế
XHCN, hoạt động quyết định hình phạt phải được thực hiện dựa trên căn cứ luật định của BLHS
1.4 Quy định của Bộ luật hình sự 2015 về căn cứ quyết định hình phạt
Toà án nhân danh Nhà nước, căn cứ vào quy định của BLHS tuyên bố quyết định hình phạt đối với người phạm tội mà hành vi phạm tội đó được quy định trong BLHS Khi quyết định hình phạt nếu hình phạt quá nặng sẽ tạo tâm lý không công bằng, không hợp lý ở người bị kết án dẫn đến thái độ oán hận, luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 18không tin tưởng pháp luật còn nếu hình phạt quá nhẹ sẽ không đủ sức giáo dục thuyết phục ý thức tuân theo pháp luật của người phạm tội sẽ không đạt được mục đích của hình phạt hướng tới Tại Điều 50- BLHS 2015 quy định về căn cứ quyết định hình phạt gồm:Căn cứ vào quy định BLHS; Căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; Căn cứ vào nhân thân người phạm tội; Căn cứ vào tình tiết giảm nhẹ tăng nặng trách nhiệm hình sự và khoản
2 quy định Khi quyết định hình phạt tiền ngoài căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này Tòa án còn phải căn cứ vào tình hình tài sản,khả năng thi hành án của người phạm tội để quyết định hình phạt cho phù hợp [1 tr.35]
Mỗi căn cứ quyết định hình phạt nêu trên đều là yếu tố khách quan, có nội dung yêu cầu cụ thể có tính độc lập tương đối để Tòa án dựa vào khi quyết định hình phạt, điều đó cũng không có nghĩa là khi quyết định hình phạt Tòa án dựa vào từng căn cứ hay đánh đồng chúng mà phải thấy được mối liên hệ tương quan bổ sung hỗ trợ cho nhau giữa các căn cứ đồng thời là cơ sở để vận dụng đúng các căn cứ quyết định hình phạt đảm bảo tính khách quan công bằng của hoạt động quyết định hình phạt
1.4.1 Căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự 2015
- Căn cứ vào quy định ở phần chung : Theo khoản 1, 2 Điều 2 BLHS
2015 thì cơ sở để buộc một người phải chịu TNHS là chỉ người nào phạm tội đã được BLHS quy định mới phải chịu TNHS Căn cứ vào quy định phần chung BLHS liên quan tới hình phạt và quyết định hình phạt, ví dụ như quy định tại Điều 38 là quy định về mức phạt tù tối thiểu là 3 tháng tối đa là 20 năm đối với
tù có thời hạn; quy định về án treo tại Điều 65 BLHS và quy định về đồng phạm Điều 58 BLHS; quy định về nguyên tắc xử lý; các quy định về quyết định hình
phạt tại chương VIII BLHS Cụ thể các quy định:
Hình phạt chính bao gồm: cảnh cáo phạt tiền; cải tạo không giam giữ; Trục xuất; Tù có thời hạn; Tù chung thân; Tử hình, hệ thống hình phạt được xắp xếp theo nguyên tắc từ hình phạt nhẹ đến hình phạt nặng và có sự cân đối giữa
02 loại hình phạt là các hình phạt tước tự do và các hình phạt không tước tự do của người bị kết án Hình phạt chính là hình phạt được áp dụng độc lập cho tất luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 19cả các các tội phạm được quy định trong BLHS, khi Tòa án tuyên hình phạt, bắt buộc phải tuyên hình phạt chính và chỉ được tuyên duy nhất một hình phạt chính [5, tr 216
Hình phạt bổ sung không được sắp xếp theo hệ thống như hình phạt chính; hình phạt bổ sung không được tuyên độc lập mà phải tuyên kèm với hình phạt chính và khi tuyên Tòa án phải tuyên kèm với hình phạt chính, và khi tuyên Tòa án có thể tuyên một hoặc một số hình phạt bổ sung đối với một tội phạm cụ thể Trong hệ thống hình phạt, hình phạt bổ sung không tước đi quyền tự do thân thể của người bị kết án Sự khác nhau khi áp dụng hình phạt chính và hình phạt
bổ sung đối với người phạm tội theo đó đối với mỗi tội phạm, người phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính và có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung Hình phạt chính là hình phạt bị cưỡng chế rất nghiêm khắc, do đó khi tuyên án Tòa án chỉ được lựa chọn tuyên một hình phạt chính duy nhất còn hình phạt bổ sung là hình phạt mang tính bồ trợ cho hình phạt chính tuyên kèm nhằm mục đich phát huy hiệu quả của hình phạt chính cũng như góp phần đấu tranh phòng ngừa tội phạm nên Tòa án có thể tuyên một hoặc một số hình phạt
bổ sung theo quy định của điều luật và xét thấy cần thiết áp dụng đối với người phạm tội [5, tr 216]
- Những quy định về các tội phạm cụ thể
Căn cứ vào các quy định Phần các Tội phạm của BLHS là tiền đề quan trọng
để Tòa án quyết định những hình phạt công bằng, hợp lý đối với những tội phạm đã thực hiện [32, tr 25]
Khi quyết định hình phạt Tòa án phải căn cứ vào tất cả các quy định của phần chung, trước hết là các quy định của Bộ luật hình sự, đây là căn cứ cơ bản nhất của việc quyết định hình phạt Áp dụng đúng đắn các căn cứ luật định là đảm bảo thực hiện nguyên tắc pháp chế của Luật hình sự việc xem xét khách quan chặt chẽ các quy định của BLHS sẽ tránh được sự tùy tiện khi quyết định hình phạt, hạn chế việc vi phạm quyền con người, quyền công dân đảm bảo bản án đã tuyên đúng pháp luật, được đông đảo dư luận đồng tình ủng hộ [5, tr 260]
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 20Ngoài căn cứ nêu trên đòi hỏi Tòa án phải dựa vào các căn cứ tiếp theo đó là
1.4.2 Căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội
Có thể nói , tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội cũng là căn cứ quan trọng khi quyết định hình phạt Bởi lẽ mặc dù các chế tài quy định đối với từng tội phạm cụ thể được xây dựng trong phần các tội phạm cụ thể đã dựa vào tính chất mức độ và mức độ nguy hiểm cho xã hội của loại tội phạm nhưng mỗi hành vi phạm tội trong từng trường hợp lại có những hoàn cảnh, đặc điểm riêng Ví dụ như A và B cùng thực hiện hành vi hiếp dâm theo quy định điều 141 BLHS 2015, nhưng B phạm tội có tính chất loạn luân, còn với A không có tình tiết này, nên tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do B thực hiện nguy hiểm hơn hành vi của A Do vậy căn
cứ này đòi hỏi Thẩm phán phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể đó để đánh giá tích chất và mức độ nguy hiểm của mỗi hành vi phạm tội để đưa ra được mức hình phạt tương xứng đối với người phạm tội, tránh tâm lý bất mãn hoặc coi thường pháp luật nếu áp dụng chế tài quá nghiêm khắc hoặc quá nhẹ Vì thế, khi đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội Tòa án cần xem xét các yếu tố như [5, tr 260]
Căn cứ quyết định hình phạt thứ hai này là căn cứ có ý nghĩa pháp lý- xã hội đặc biệt quan trọng vì nó giúp cho Hội đồng xét xử có đủ cơ sở vững chắc lựa chọn và quyết định hình phạt với mức độ cụ thể tương ứng với hành vi phạm tội đáp ứng được yêu cầu của nguyên tắc cá thể hóa hình phạt trong quyết định hình phạt Điều 50 Bộ luật hình sự 2015 buộc Tòa án khi quyết định hình phạt cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhưng tiêu chí nào để làm cơ sở cho việc cân nhắc thì Luật chưa quy định, vậy Tòa án dựa vào cái gì để cân nhắc đánh giá đúng tính chất mức độ của hành vi phạm tội, trong hoạt động xét xử thực tiễn thì việc cân nhắc tồn tại trong ý thức
và kinh nghiệm của những người trực tiếp làm công tác xét xử các vụ án hình
sự, luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 21Qua thực tiễn làm Thẩm phán làm công tác xét xử và qua nghiên cứu các quan điểm khá phổ biến thấy rằng việc cân nhắc tính chất,mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội trong thực tiễn được thực hiện dựa trên cơ sở những tiêu chí sau:
Tính chất, tầm quan trọng của khách thể bị tội phạm bị xâm hại, tính chất của hành vi phạm tội như thủ đoạn, công cụ, thời gian, địa điểm thực hiện tội phạm; hình thức thực hiện tội phạm riêng lẻ hay đồng phạm, mức độ thực hiện, hình thức lỗi, tính chất động cơ nguyên nhân và điều kiện phạm tội, những đặc điểm về nhân thân người phạm tội có ảnh hưởng đến mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội Những tiêu chí liệt kê trên có thể là những tiêu chí cơ bản để Thẩm phán, Hội đồng xét xử đánh giá tính chất mức độ của hành vi phạm tội vẫn là hạn chế lớn mà Bộ luật hình sự năm 2015 về quyết định hình phạt, hạn chế này đã làm cho việc đánh giá tính chất mức độ của hành vi phạm tội cả trong lý luận cũng như hoạt động thực tiễn xét xử gặp không ít khó khăn và không tránh khỏi tình trạng tùy tiện làm ảnh hưởng đến chất lượng quyết định hình phạt, do chưa có tiêu chí cụ thể để đánh giá tính chất mức độ của hành vi phạm tội nên nhiều trường hợp Tòa án đã tuyên những hình phạt không tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội,từ đó đòi hỏi Bộ luật hình sự cần quy định cụ thể, chi tiết các tiêu chí chuẩn có giá trị phản ánh đúng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội nhằm đảm bảo việc áp dụng pháp luật Mức độ nguy hiểm cho xã hội cũng được xác định bởi tổng thể các dấu hiệu của cấu thành tội phạm đó cũng là thuộc tính khách quan của tội phạm.[ 32] Do vậy khi quyết định hình phạt Tòa án phải cân nhắc cả tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm đã thực hiện, lựa chọn loại và mức hình phạt trong phạm vi khung chế tài cho phép Mức độ đó phụ thuộc vào những yếu tố sau:
- Tính chất của hành vi phạm tội Tội phạm trước hết đó là hành vi (hành động hay không hành động) được thể hiện ra bên ngoài của người phạm tội Để phân biệt tội phạm hay không phải là tội phạm trước hết phải dựa vào tính chất của hành vi Tức là hành vi đó có nguy hiểm cho xã hội hay không Nếu hành vi luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 22không được coi là nguy hiểm cho xã hội thì không phải là tội phạm, tội phạm phải được thể hiện bằng hành vi Nếu chưa được thể hiện bằng hành vi và mới ở suy nghĩ, tư tưởng, của con người thì vẫn chưa được coi là tội phạm vì hành vi luôn thể hiện dưới hai hình thức hành động và không hành động Hành vi đó phải là hành vi nguy hiểm cho xã hội, muốn xác định hành vi nào là hành vi nguy hiểm cho xã hội chúng ta phải dựa vào tính chất của quan hệ xã hội bị xâm hại Quan hệ xã hội đó càng quan trọng bao nhiêu thì mức độ nguy hiểm của hành vi càng cao bấy nhiêu Tính chất của hành vi phạm tội là phương pháp thực hiện hành vi phạm tội thường được thể hiện ở các biện pháp, phương pháp, thủ đoạn, phương tiện,
Công cụ phương tiện phạm tội là những đối được sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội như: vũ khí, gậy gộc, thuốc độc Còn phương pháp thủ đoạn phạm tội là cách thức thực hiện hành vi phạm tội, cách thức sử dụng công cụ, phương tiện trong một số tội phạm thì dấu hiệu này là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm cơ bản hoặc cấu thành tăng nặng
Nếu mức độ thực hiện tội phạm, chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt hay tội phạm đã hoàn thành
Để xác định chính xác mức độ thực hiện tội phạm để làm cơ sở cho việc xác định phạm vi và mức độ trách nhiệm hình sự và hình phạt Những hành vi này là nguy hiểm đáng kể cho xã hội được thực hiện bằng lỗi cố ý, nên người thực hiện các hành vi ấy phải chịu trách nhiệm hình sự Tuy nhiên, theo nguyên tắc hành vi thì mức độ thực hiện ý định phạm tội của mỗi người phạm tội trong từng giai đoạn cũng khác nhau và do tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi cũng khác nhau
Khi quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt hay tội phạm đã hoàn thành phải căn cứ vào mức độ thực hiện tội phạm tức là phải làm sáng tỏ tội phạm được thực hiện ở giai đoạn nào, thực tế khách thể đã bị tổn hại chưa, mức độ thiệt hại ra sao, hành vi chưa đạt ở dạng nào; phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành, hay phạm tội chưa đạt đã hoàn thành và xem xét tính chất của các hậu quả sắp xảy ra Người phạm tội tiến càng gần mục luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 23đích, đến kết quả phạm tội, mong muốn thì mức độ thực hiện ý định phạm tội càng cao Vì vậy, hình phạt tòa án áp dụng đối với người phạm tội càng nghiêm khắc
Tính chất và mức độ của hậu quả do hành vi phạm tội gây ra
Hậu quả do tội phạm gây ra ảnh hưởng lớn đến việc quyết định hình phạt [42 tr] Dấu hiệu hậu quả nằm trong mặt khách quan của tội phạm, nó không phải
là dấu hiệu bắt buộc cho tất cả các tội phạm trong cấu thành tội phạm cơ bản của luật hình sự, mà chỉ là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm khi có cấu thành tội phạm vật chất mà được quy định trong từng tội nhất định của luật hình sự Hậu quả do tội phạm gây ra bao gồm cả những thiệt hại về vật chất lẫn những thiệt hại về mặt khác Mức độ nghiêm trọng của hậu quả do tội phạm gây ra ảnh hưởng đến
mức độ nghiêm khắc của hình phạt được quyết định [42 tr] Như vậy hậu quả
của tội phạm là thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra cho quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ Hậu quả nguy hiểm cho xã hội là những thiệt hại về vật chất, thể chất và tinh thần Dấu hiệu hậu quả giúp cho tòa án xác định hậu quả
và định tội trong cấu thành tội phạm vật chất, cấu thành tội phạm tăng nặng để được khung hình phạt, nhằm đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm
Tính chất và mức độ lỗi
Luật hình sự Việt Nam chỉ xem xét trách nhiệm hình sự của một người khi người đó thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhận thức rõ hành vi của mình có tính chất nguy hiểm cho xã hội, thấy trước được khả năng, hành vi đó
sẽ gây ra hậu quả và mong muốn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra, hoặc người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có thể không thấy trước được hậu quả sẽ xảy ra nhưng phải thấy trước hành vi của mình là hành vi nguy hiểm cho
xã hội
Vì thái độ tâm lý của một người được biểu hiện ở năng lực nhận thức khách quan và năng lực điều khiển hành vi ở từng hành vi từng loại lỗi nhất định Tức là, mỗi hình thức lỗi là sự phản ánh các yếu tố lý trí và yếu tố ý chí có những đặc điểm nhất định phù hợp với quy luật hoạt động khách quan hành vi và trạng thái tâm lý luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 24của một người Luật hình sự chỉ ra hai loại lỗi: lỗi cố ý và lỗi vô ý Lỗi cố ý được chia ra hai hình thức: lỗi cố ý trực tiếp và lỗi cố ý gián tiếp; lỗi vô ý cũng được chia
ra làm: lỗi vô ý do tự tin và lỗi vô ý do cẩu thả
Thời gian, địa điểm, hoàn cảnh phạm tội
Là thời gian, không gian nơi xảy ra tội phạm, đây cũng là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm cơ bản, có ý nghĩa quan trong đối với việc cá thể hóa hình phạt Thời gian thực hiện tội phạm có thể là ban ngày, ban đêm, buổi sáng hay buổi chiều; địa điểm phạm tội có thể là đường phố, khu tập thể, Khi quyết định hình phạt, tòa án cần cân nhắc các tình tiết này để quyết định hình phạt.Có nhiều loại tình tiết, dấu hiệu ảnh hưởng đến tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội đã thực hiện
1.4.3 Căn cứ vào nhân thân người phạm tội
Yếu tố thứ ba để quyết định hình phạt hình là Tòa án phải cân nhắc "Nhân
thân người phạm tội" Theo Các Mác: "Bản chất của con người không phải là một cái trìu tượng cỗ hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội" [3, tr.257] Xuất phát từ luận điểm
của C.Mác về bản chất con người, khái niệm nhân thân người phạm tội trong khoa học pháp lý hình sự có thể được hiểu là tổng hợp các đặc điểm mang tính chất xã hội của người phạm tội, mà những đặc điểm này có ảnh hưởng đối với việc cá thể hóa trách nhiệm hình sự và hình phạt, dưới góc độ luật hình sự nhân thân người
phạm tội được hiểu theo khái niệm như sau: ‚“Nhân thân người phạm tội là một phạm trù lịch sử, bao gồm tổng hợp các đặc điểm về xã hội, tâm lý, đạo đức sinh học nói lên tính cách con người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị quy định trong Bộ luật hình sự là tội phạm“ Đặc điểm này có ý nghĩa quan trọng để
giải quyết trách nhiệm hình sự của người phạm tội một cách công minh có căn cứ
và đúng quy định của pháp luật
Khi đánh giá xem xét về nhân thân người phạm tội là một căn cứ để quyết định hình phạt, người áp dụng pháp luật(Tòa án) luôn phải hiểu hình phạt do hành
vi phạm tội chứ không phải là do nhân thân của người phạm tội vì vậy khi xem xét nhân thân người phạm tội không có nghĩa là Tòa án xem xét nhân thân nói chung, luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 25mà chỉ xem xét những đặc điểm nhất định có liên quan đến mục đích của hình phạt Nhân thân có đặc điểm xấu, tốt những thuận lợi khó khăn trong quá trình hình thành nhân cách của người phạm tội để góp phần hoàn thành nhân cách qua đó đánh giá chính xác tính chất mức độ nguy hiểm cho hành vi phạm tội.Với vị trí là căn cứ có tính độc lập việc cân nhắc nhân thân người phạm tội khi quyết định hình phạt phải xác định các nguyên tắc sau:
Đối với những đặc điểm thuộc về nhân thân người phạm tội mà theo quy định của BLHS đã xác định là tình tiết định khung, định tội hoặc xác định là tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS thì không được sử dụng để đánh giá về nhân thân người phạm tội khi quyết định hình phạt; chỉ những đặc điểm có liên quan trực tiếp đến tội phạm, có thể thấy những đặc điểm thuộc về nhân thân người phạm tội sau đây sẽ được cân nhắc khi quyết định hình phạt:
Đặc điểm về nhân thân có ảnh hưởng đến mức độ nguy hiểm cho xã hội
Tính nguy hiểm cho xã hội của nhân thân người phạm, nhân thân người phạm tội càng xấu thì mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội thường là nguy hiểm hơn và khả năng giáo dục cải tạo khó hơn so với trường hợp bình thường, có thể chỉ ra những đặc điểm thuộc về nhân thân người phạm tội có ảnh hưởng đến mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội như người có án tích, phạm tội có tổ chức, có tích chất côn đồ, có tình thực hiện tội phạm đến cùng, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, dùng thủ đoạn xảo quyệt hoặc có khả năng gây hại cho nhiều người
Những đặc điểm nhân phản ánh khả năng giáo dục và cải tạo của họ
Bản chất của hình phạt là sự trừng trị không có nghĩa là Nhà nước lấy hình phạt để trả thù hoặc làm thước đo để đền bù ngang giá cho thiệt hại mà người phạm tội đã gây ra, mục đích chính của hình phạt là để giáo dục cải tạo “Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người, pháp nhân thương mại phạm tội mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm” [27;10]
Những đặc điểm về nhân thân người phạm tội phản ánh hoàn cảnh của họ luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 26đòi hỏi Tòa án phải xem xét khi quyết định hình phạt để đảm bảo hình phạt đã tuyên có tính thực tế, phù hợp với các nguyên tắc của luật hình sự cũng như đáp ứng mục đích trừng trị, giáo dục, cải tạo
Việc cân nhắc tính đúng đắn, hợp tình hợp lý và có sức thuyết phục các đặc điểm nhân thân người phạm tội sẽ đảm bảo cho Tòa án xét xử đúng người vì
nó là cơ sở để quyết định hình phạt công minh, tương xứng với tính chất mà mức độ nguy hiểm của nhân thân bị cáo góp phần đạt được mục đích cải tạo và giáo dục của hình phạt
1.4.4 Căn cứ vào tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Trong bất kỳ vụ án hình sự nào cũng bao gồm các tình tiết có giá trị và ý nghĩa pháp lý khác nhau, đó là tình tiết định tội, định khung, định khung tăng nặng, giảm nhẹ, tình tiết giảm nhẹ TNHS và các tình tiết tăng nặng TNHS Thực tiễn xét xử các vụ án hình sự cho thấy nếu không hiểu đúng bản chất pháp lý của tình tiết giảm nhẹ là một căn cứ độc lập của việc quyết định hình phạt việc quy định tại điều 50 BLHS 2015
Các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điều 51 BLHS 2015 được sắp xếp như sau:
* Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm
Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định cho người phạm tội đang trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội hoặc đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng người phạm tội đã ý thức được hành vi của mình gây hậu quả như thế nào và tự mình ngăn chặn không cho thiệt hại xảy ra hoặc là làm giảm bớt tác hại của tội phạm Như vậy ta có thể hiểu người tội phạm là sau khi đã được thực hiện nhưng thiệt hại, tác hại chưa xảy ra thì người phạm tội mong muốn hoặc do có
sự tác động khách quan nên đã tự mình thực hiện hành động ngăn chặn làm cho thiệt hại, tác hại của tội phạm không xảy ra trên thực tế
Thứ hai, là sau khi tội phạm đã được thực hiện và thiệt hại, tác hại của tội phạm đang xảy ra thì người phạm tội mong muốn hoặc có sự tác động khách quan nên đã tự mình thực hiện hành động hạn chế làm cho tác hại của tội phạm được giảm bớt trên thực tế Ở tình tiết này đã được sửa đổi dùng từ “hoặc” thay luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 27cho dấu phẩy so với quy định trong BLHS năm 1999 thể hiện việc quy định rõ ràng là một tình tiết giảm nhẹ tránh cho việc áp dụng trên thực tế hiểu là hai tình
tiết giảm nhẹ
* Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả điểm b khoản 1 Điều 51- BLHS 2015
Tình tiết này hiểu là người phạm tội đã gây ra thiệt hại, có thiệt hại thực tế
đã xảy ra đối với người bị hại nhưng đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường những thiệt hại do mình gây ra cho bên bị thiệt hại Người phạm tội bồi thường thiệt hại phải tự nguyện Việc tự nguyện bồi thường thiệt hại xảy ra trước khi xét xử
và thuộc ở cấp nào thì cấp đó coi là tình tiết giảm nhẹ Điều luật không quy định mức độ sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại là bao nhiêu, toàn bộ hay một phần Mức độ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của tình tiết này hoàn toàn phụ thuộc vào mức bồi thường tự nguyện của người phạm tội đối với thiệt hại mà họ gây ra trong từng vụ việc
* Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng – điểm c khoản 1 Điều 51- BLHS 2015
Là người phạm tội đã chống trả lại người đang có hành vi xâm phạm đến các lợi ích của nhà nước, của tập thể, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác một cách rõ ràng là quá đáng Nếu hành vi chống trả là tương xứng với hành vi xâm phạm Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm
* Tình tiết phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người khác gây ra điểm e khoản 1 Điều 51 – BLHS 2015
Trong trường hợp phạm tội trong tình trạng tinh thần bị kích động do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người phạm tội hoặc đối với người thân thích của người đó, người phạm tội trong trường hợp này chỉ cần xác định là họ bị kích động Mức độ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phụ thuộc vào sự kích động vào hành vi trái pháp luật của nạn nhân
* Tình tiết phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không do mình gây ra quy định tại điểm g khoản 1 Điều 51- BLHS 2015
Hoàn cảnh khó khăn ở đây có thể hiểu là thiên tai, địch họa, do dịch bệnh luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 28hoặc do nguyên nhân khác gây ra Mức độ khó khăn phải là đặc biệt và những khó khăn đó phải rơi vào hoàn cảnh của người phạm tội chứ không ở địa phương của họ Mức độ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của tình tiết này phụ thuộc vào mức độ khó khăn và khả năng khắc phục của người phạm tội
* Tình tiết phạm tội chưa gây thiệt hại hoặc thiệt hại không lớn điểm h khoản 1 Điều 51 BLHS 2015
"Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn" được hiểu là: "Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại" là trường hợp người phạm tội đã
được thực hiện, đã hoàn thành, nhưng thiệt hại đã không xảy ra do yếu tố khách quan tác động mà nếu không có sự xuất hiện của các yếu tố này thì thiệt hại chắc chắn sẽ xảy ra Chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại nhưng không lớn nằm ngoài ý thức chủ quan của người phạm tội Nếu thiệt hại không xảy ra do ý thức
chủ quan của người phạm tội thì áp dụng tình tiết "Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm" mà không áp dụng tình tiết này vì vậy mức độ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với tình tiết “Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm" cao hơn so với mức độ giảm nhẹ TNHS đối với tình tiết "Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn"
* Tình tiết phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức quy định điểm k khoản 1 Điều 51 – BLHS 2015
Tình tiết này được hiểu là: Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức là trường hợp phạm tội do bị chi phối bởi ý chí của người khác thông qua việc đe dọa hoặc bị cưỡng bức Cả hai hành vi này đều làm cho người khác sợ hãi mà phạm tội Cưỡng bức gồm hai dạng là cưỡng bức về thân thể và cưỡng
bức về tinh thần Mức độ đe dọa, cưỡng bức càng nghiêm trọng dẫn đến mức độ
sợ hãi càng cao thì mức giảm nhẹ hình phạt cho người phạm tội được hưởng tình
tiết này càng nhiều và ngược lại
* Tình tiết người phạm tội là phụ nữ có thai quy định tại điểm n khoản 1 Điều 51 BLHS 2015
Bộ luật hình sự coi người phụ nữ lúc phạm tội đang có thai là một trường luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 29hợp giảm nhẹ vì người có thai bao giờ cũng có những biểu hiện khác thường về tâm sinh lý nhất là về hoạt động tinh thần Nếu khi phạm tội người phụ nữ không
có thai, mà khi bị xét xử bị cáo có thai thì không áp dụng tình tiết này, mà tuỳ từng trường hợp cụ thể chỉ có thể áp dụng đối với phụ nữ có thai khi xét xử Trong trường hợp đặc biệt cũng có thể áp dụng tình tiết giảm nhẹ đối với phụ nữ có thai khi xét xử, nhưng phải ghi rõ trong bản án và áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 Mức độ giảm nhẹ phụ thuộc vào thời kỳ mang thai, ảnh hưởng của tình trạng thai nhi đến việc thực hiện tội phạm của bị cáo
* Tình tiết người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên điểm o khoản 1 Điều 51 BLHS 2015
Đây là tình tiết thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước đối với người già, tuy nhiên để đẩm bảo việc nhận thức và áp dụng thống nhất thay cho quy định“ Người phạm tội là người già“ của BLHS năm 1999, BLHS năm 2015 quy định cụ thể độ tuổi là người phạm tội là người từ đủ 70 tuổi trở lên“ (tiểu mục 2.4 mục 2 Nghị quyết số 01/2006/NQ- HĐTP)
*Tình tiết Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng điểm p khoản 1 Điều 51 BLHS 2015
Đây là tình tiết giảm nhẹ mới được quy định trong BLHS năm 2015, xuất phát từ đặc điểm cơ thể do bị khiếm khuyết bộ phận cơ thể hoặc chức năng nào
đó nên cuộc sống của họ có những khó khăn hoặc thiệt thòi quy định tình tiết giảm nhẹ này xuất phát từ chính sách nhân đạo của Nhà nước ta đối với người
*Tình tiết người phạm tội tự thú điểm r khoản 1 Điều 51 BLHS 2015
"Tự thú" là tự mình nhận tội và khai ra hành vi phạm tội của mình tự đến luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 30cơ quan có thẩm quyền khai báo về hành vi phạm tội của mình trong khi chưa ai biết mình là thủ phạm Khi áp dụng cần có sự phân biết đầu thú và tự thú bởi hai tình tiết này về bản chất hoàn toàn khác nhau nên giá trị giảm nhẹ cũng khác nhau
* Tình tiết người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS 2015
Đây là tình tiết được sử dụng nhiều nhất bởi tình tiết này quy định là để khoan hồng đối với người phạm tội có thái độ ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội của mình, ý thức chấp hành pháp luật, nhận thức đúng đắn để cải tạo thành công
dân có ích thì sẽ được Tòa án xem xét áp dụng Tình tiết " người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải" được hiểu là người phạm tội trong quá trình điều
tra, truy tố, xét xử đã thành khẩn khai với cơ quan có thẩm quyền đầy đủ và đúng sự thật về hành vi phạm tội của mình, không quanh co thể hiện thái độ hợp trong quá trình giải quyết vụ án đồng thời người phạm tội đã thể hiện thái độ ăn năn hối cải là sau khi thực hiện tội như biết cắn rứt lương tâm về lỗi lầm việc đánh giá tình tiết này không chỉ thể hiện qua lời nói mà phải xem xét thái độ, mức độ thành khẩn đến kết quả đấu tranh phòng chống tội phạm
* Người phạm tội tích cực giúp đỡ cơ quan có trách nhiệm phát hiện và điều tra tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án
Tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện và điều tra tội phạm là có thái độ chủ động, giúp đỡ nhằm tạo ra những sự biến đổi, thay đổi nhanh hơn trong việc phát hiện và điều tra tội phạm Tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện và điều tra tội phạm thường được thể hiện bằng việc cung cấp những thông tin, tài liệu, bằng chứng có ý nghĩa thiết thực cho việc phát hiện và điều tra tội phạm; chỉ nơi cất giấu tang vật, nơi người phạm tội khác đang trốn tránh; cung cấp thông tin về tội phạm khác, người phạm tội khác không liên quan đến mình… Mức độ giảm nhẹ phụ thuộc vào tính chủ động, mức độ tích cực giúp đỡ; giá trị của những thông tin, tài liệu, bằng chứng mà người phạm tội đã cung cấp; hiệu quả của những hành vi giúp đỡ của người phạm tội
*Tình tiết người phạm tội đã lập công chuộc tội điểm u khoản 1 Điều 51-
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 31BLHS 2015
Mức độ giảm nhẹ phụ thuộc vào công trạng của người phạm tội và việc lập công chuộc tội đó ở giai đoạn tố tụng nào Hành vi lập công chuộc tội đó đã được cơ quan có thẩm quyền khen thưởng hoặc chứng nhận, mức độ giảm nhẹ phụ thuộc vào công trạng của người phạm tội và việc lập công chuộc tội đó ở giai đoạn tố tụng nào
* Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác điểm v khoản 1 Điều 51 – BLHS 2015
Thành tích này phải có trước khi phạm tội Việc cân nhắc giảm nhẹ phụ thuộc vào thành tích; hình thức khen thưởng; giá trị của sáng chế, phát minh; danh hiệu thi đua được công nhận; số lần được khen thưởng
* Người phạm tội là người có công với cánh mạng hoặc là cha mẹ, vợ chồng con của liệt sĩ điểm x khoản 1 Điều 51 – BLHS 2015
Đây là tình tiết giảm nhẹ mới được ghi trong khoản 1 điều 51 BLHS, thể hiện sự ghi nhận của Nhà nước đối với người có công với cách mạng và nhân thân của người có công với cánh mạng trong các cuộc kháng chiến bảo vệ tổ quốc
Phải ghi rõ trong bản án tình tiết được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Chỉ được áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (mức độ giảm nhẹ thấp hơn các tình tiết quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015)
1.4.5 Căn cứ vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Khoản 1
Điều 52 BLHS năm 2015
Một trong những nguyên tắc của luật hình sự là không áp dụng hai lần đối với người phạm tội, khoản 2 điều 52 và khoản 2 điều 85 BLHS 2015 quy định “ Các tình tiết đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng” Quy định này nhằm mục đích không làm nặng hơn tình trạng vi phạm của người phạm tội, đảm bảo luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 32nguyên tắc công bằng, nhân đạo và cá thể hóa hình phạt một cách chính xác, cụ thể:
- Phạm tội có tổ chức: điểm a khoản 1 điều 52 BLHS 2015 được hiểu là
có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm, nhiều người
cố ý cùng bàn bạc, cấu kết chặt chẽ với nhau, cùng vạch ra kế hoạch để thực hiện một tội phạm, dưới sự điều khiển của người đứng đầu Trách nhiệm hình sự tăng nặng đến đâu phụ thuộc vào vai trò của từng người tham gia vào tội phạm
và quy mô của vụ án do vậy, khi quyết định hình phạt thì mức hình phạt của người tổ chức sẽ khác với những đồng phạm khác nếu các tình tiết khác của vụ
án như nhau Tình tiết này thường là yếu tố định khung hình phạt nhất là các tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng ví dụ như tội buôn lậu, tội sản xuất buôn bán hàng giả, tội đầu cơ
* Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp điểm b khoản 1 Điều 52 – BLHS
2015
Chỉ áp dụng tình tiết này khi có đầy đủ các điều kiện sau: Cố ý phạm tội
từ năm lần trở lên về cùng một tội phạm không phân biệt đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa được xoá án tích; Người phạm tội đều lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm
nguồn sống chính
- Lợi dụng chức vụ quyền hạn để phạm tội( điểm c khoản 1 điều 52 –
BLHS 2015): Áp dụng với tội phạm xảy ra do người có chức vụ quyền hạn thực hiện và hành vi phạm tội đó có liên quan trực tiếp đến chức vụ, quyền hạn của
họ Bởi lẽ, chức vụ và quyền hạn chính là điều kiện thuận lợi để người phạm tội thực hiện tội phạm một cách dễ dàng Tuy nhiên, cần phải phân biệt chỉ khi người phạm tội dùng chức vụ, quyền hạn để phạm tội thì mới bị coi là tình tiết tăng nặng Ví dụ: A là lãnh đạo một đơn vị sự nghiệp, A đã có hành vi đánh bạc
ăn tiền do bị thua nhiều nên A đã thuê người giết B (B người đã rủ A đánh bạc) thì không
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 33- Phạm tội có tính chất côn đồ ( điểm d khoản 1 điều 52 – BLHS 2015): (áp dụng đối với các tội có tính chất bạo lực) là trường hợp người phạm tội thể
hiện sự coi thường pháp luật, coi thường những qui tắc trong cuộc sống, coi thường tính mạng sức khỏe của người khác chỉ vì những nguyên cớ nhỏ nhặt nhưng vẫn cố tình gây sự để phạm tội, phạm tội không cần lý do hoặc lý do rất đơn giản Ví dụ:
va chạm, mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống mà tước bỏ tính mạng người khác Cũng có ý kiến cho rằng đối với những bị cáo từng có tiền án, tiền sự khi phạm tội thể hiện tính hung hăng, càn quấy thì cần xem đây là phạm tội có tính chất côn đồ Bên cạnh đó cũng có ý kiến cho rằng hành vi phạm tội mang tính quyết liệt, liều lĩnh thì được coi là côn đồ Do vậy, trong quá trình xem xét, cân nhắc trường hợp phạm tội có tính chất côn đồ cần phải đánh giá một cách toàn diện, không nên xem xét một cách phiến diện coi trọng yếu tố này mà đánh giá mờ nhạt yếu tố khác Qua đây, có thể thấy phạm tội có tính chất côn đồ về cơ bản nội dung tương đối khó xác định Điều này dẫn đến thực tế là mỗi nơi lại có cách hiểu khác nhau, và tất yếu dẫn đến việc áp dụng mỗi nơi mỗi khác
- Phạm tội vì động cơ đê hèn ( điểm đ khoản 1 điều 52): Đây là trường
hợp người phạm tội thực hiện tội phạm với động cơ thấp hèn, xấu xa, không màng đến danh dự, đáng khinh bỉ Động cơ của kẻ phạm tội mang tính chất ích
kỷ, hèn nhác, bội bạc, phản trác…Mức độ tăng nặng TNHS của tình tiết này phụ thuộc vào mức độ xấu xa, bội bạc, phản trác, ích kỷ đã thúc đẩy bị cáo thực hiện tội phạm
Thứ sáu, cố tình thực hiện tội phạm đến cùng( điểm e khoản 1 điều 52):
là việc người phạm tội gặp khó khăn, trở ngại nhưng vẫn khắc phục, bất chấp trở ngại để phạm tội, thể hiện sự quyết tâm đến cùng Điều này không phụ thuộc vào việc người phạm tội có đạt được mục đích phạm tội hay không bởi trên thực
tế đã có những trường hợp người phạm tội không đạt được mục đích vẫn có thể
bị coi là cố tình thực hiện tội phạm đến cùng
- Phạm tội từ 2 lần trở lên ( điểm g khoản 1 điều 52): Theo đó phạm tội từ
2 lần trở lên được hiểu là phạm một tội (được quy định trong cùng một điều hay cùng một khung hình phạt) từ hai lần trở lên mỗi lần phạm tội đó đủ yếu tố cấu luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 34thành một tội phạm và mỗi lần phạm tội đó chưa bị đưa ra xét xử và chưa có bản
án kết tội Cũng cần lưu ý đối với tình tiết “phạm tội từ 2 lần trở lên”nhưng bị cáo A phạm tội 6 lần, trong khi đó bị cáo B chỉ phạm tội 2 lần thì mức độ tăng nặng đối với A nhiều hơn đối với B Nếu 02 lần trở lên phạm tội và mỗi lần đó lại cấu thành các tội phạm khác nhau thì không phải là phạm tội 02 lần trở lên
mà là phạm nhiều tội Tình tiết này đang mâu thuẫn với tình tiết phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng(Ví dụ Do không có tiền chơi gam A đã thực 3 lần thực hiện hành vi trộm cắp điện thoại, mỗi lần đều trên 2.000 đồng, A chưa có tiền án tiền sự, việc áp dụng tình tiết phạm tội nhiều lần là thỏa mãn nhưng A có được áp dụng tình tiết phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng không)
* Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai, người đủ 70 tuổi trở lên (trước đây là tình tiết phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già) ( điểm
i khoản 1 điều 52): Đối tượng mà tội phạm tác động đến là con người có dấu hiệu đặc biệt như dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai, người đủ 70 tuổi trở lên
*Phạm tội đối với người ở trong tình trạng không thể tự vệ được, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, người bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc người lệ thuộc mình về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác, quy định điểm k khoản 1 điều 52 – BLHS 2015
Theo đó, tình tiết này được hiểu là trường hợp người phạm tội xâm phạm trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm và các quyền khác của người đang trong tình trạng không thể tự vệ được
Người khuyết tật nặng là người bị mất các chức năng của bộ phận cơ thể
và là đối tượng cần được xã hội giúp đỡ và bảo vệ đặc biệt Người bị hạn chế khả năng nhận thức tức là họ vẫn còn nhận thức được chứ không phải mất hoàn toàn khả năng nhận thức Nếu người bị hại mất hoàn toàn khả năng nhận thức thì người phạm tội bị áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội đối với người trong tình trạng không tự vệ được”
Người lệ thuộc về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác là những người có mối quan hệ lệ thuộc về vật chất với người phạm tội như chủ nợ luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 35với con nợ, lệ thuộc vào tinh thần như thầy giáo với học sinh, chức sắc tôn giáo với các tín đồ, lệ thuộc về công tác như thủ trưởng với nhân viên Người phạm tội đã lợi dụng mối quan hệ này để phạm tội
* Dùng thủ đoạn hoặc phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người để phạm tội ( điểm n khoản 1 điều 52): Là trường hợp người phạm tội sử
dụng cách thức phạm tội, công cụ phương tiện có tính nguy hiểm cao có thể gây nguy hại lớn cho nhiều người như dùng chất độc thả vào nguồn nước, thuốc chuột để bỏ nồi nước phở, dùng chất độc, chất cháy, chất nổ
* Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội (trước đây là tình tiết xúi giục người chưa thành niên phạm tội) ( điểm o khoản 1 điều 52- BLHS 2015): Có thể
hiểu là hành vi của một người đã kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người chưa 18 tuổi thực hiện tội phạm Đối tượng này chưa nhận thức được hoặc nhận thức chưa đầy đủ về hành vi của mình, thể hiện sự nham hiểm của người phạm tội Người xúi giục có thể tham gia với tư cách là đồng phạm, hoặc chỉ phạm tội riêng lẻ
* Có hành động xảo quyệt hoặc hung hãn nhằm trốn tránh hoặc che giấu tội phạm (điểm p khoản 1 điều 52): Người phạm tội sau khi thực hiện hành vi
phạm tội có hành động khiến người khác không nghĩ đến để che giấu tội phạm của mình
Việc nhận thức về các tình tiết tăng nặng TNHS cho thấy các cách đánh giá khác nhau về bản chất và đề ra những vai trò, mục đích cụ thể của các tình tiết tăng nặng TNHS Những sự thay đổi về các tình tiết tăng nặng TNHS đều xuất phát từ việc nhận thức lại các vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn của các tình tiết tăng nặng TNHS.Sự hình thành, phát triển và hoàn thiện pháp luật hình sự vì vậy cũng luôn mang tính kế thừa có phát triển những quy định đã được ban hành
1.4.6 Căn cứ quyết định hình phạt trong một số trường hợp đặc biệt
* Căn cứ quyết định áp dụng hình phạt tiền quy định tại khoản 2 Điều 50 –BLHS 2015
Có thể nói đây là quy định mới được bổ sung so với BLHS 1999 Theo quy định tại khoản 2 Điều 50- BLHS 2015, đối với hình phạt tiền, ngoài dựa vào luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 36căn cứ quy định tại khoản 1, Tòa án phải căn cứ vào các tình tiết sau đây để quyết định:
- Căn cứ vào tình hình tài sản của người phạm tội
- Căn cứ vào khả năng thi hành án của người phạm tội Tòa sẽ quyết định có áp dụng hình phạt tiền đối với người phạm tội hay không
và trong trường hợp áp dụng thì quyết định mức hình phạt tiền như thế nào cho phù hợp Đây là cơ sở để đảm bảo cho việc thi hành án hình phạt tiền nhằm đạt được mục đích của việc áp dụng hình phạt trên thực tế
Khi quyết định hình phạt, Tòa án xem xét, đánh giá một cách đầy đủ , toàn diện các căn cứ quyết định hình phạt được quy định: không có quá coi trọng hoặc xem nhẹ căn cứ nào để quyết định hình phạt phù hợp đảm bảo các nguyên tắc pháp chế, nhân đạo, công bằng và cá thể hình phạt[5 tr262]
* Quyết định hình nhẹ hơn quy định BLHS : Điều 54 BLHS 2015 như sau: Thứ nhất, khoản 1 điều 54 BLHS 2015 quy định “Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất
02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 điều 51 Bộ luật này” [1; tr 39]:
Thứ hai, bổ sung mới khoản 2 Tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức
thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong
khung liền kề, theo đó “ Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung
hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể” ” [1; tr 39]:
Đây là một quy định rất mới đã tháo gỡ những vướng mắc trong thực tiễn xét xử của Tòa án đối với những trường hợp người phạm tội lần đầu là người giúp sức, có vai trò không đáng kể trong vụ án đồng phạm nhưng bị truy tố và xét xử ở khung hình phạt nặng cùng với các đồng phạm khác
Thứ ba, khoản 3 của điều 54 BLHS 2015 Tòa án quyết định hình phạt
dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang loại hình phạt khác luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 37thuộc loại nhẹ hơn nhưng cụ thể và rõ ràng hơn “Trong trường hợp có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này nhưng điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất thì Tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn Lý do của việc giảm nhẹ phải ghi rõ trong bản án” [ 1, tr 39]
Như vậy về cơ bản đây là quy định mang tính kế thừa và khắc phục những tồn tại hạn chế qua thực tiễn xét xử, các vụ án hình sự có từ hai tình tiết giảm nhẹ trở lên và không có tình tiết tăng nặng, trong đó có ít nhất là một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015
Theo điều 54 BLHS 2015 thì quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của BLHS có 3 trường hợp: quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn; quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn và quyết định hình phạt nhẹ hơn trong trường hợp chỉ có một khung hình phạt hoặc hình phạt đó là hình phạt nhẹ nhất, xảy ra các trường hợp đó là:
+ Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung
hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất 2 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, 2 điều 51 BLHS, áp dụng cho trường hợp điều luật có từ 2 khung hình phạt trở lên và người phạm tội bị truy cứu TNHS không phải theo khung hình phạt nhẹ nhất; điều kiện để áp dụng là người phạm tội phải có từ 02 tình tiết giảm nhẹ TNHS trở lên thì mới nghĩ đến việc quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật hình sự, bị cáo càng có nhiều tình tiết giảm nhẹ thì càng có khả năng quyết định áp dụng mức hình phạt dưới khung liền kề nhẹ hơn; các tình tiết giảm nhẹ TNHS là các tình tiết được quy định tại khoản 1 điều 51 BLHS Ví dụ nếu khung sắp xếp theo thứ tự 1,2,3 ; nếu người phạm tội bị xét xử ở khoản 2 thì Tòa án có thể quyết định hình phạt trong khung của khoản 1
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 38+ Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung
hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền
kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong
vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể đây là quy định mới của BLHS 2015 Bởi lẽ, trong một số trường hợp nếu quết định hình phạt nhẹ hơn quy định của BLHS nhưng phải trong giới hạn khung hình phạt liền kề nhẹ hơn thì vẫn quá nghiêm khắc từ đó thấy rằng quy định này cho phép Tòa án có thể
bỏ qua giới hạn khung liền kề nhẹ hơn để quyết dịnh hình phạt trong giới hạn của các khung nhẹ hơn không phải khung liền kề của khung hình phạt được áp dụng ví dụ bị cáo bị áp dụng khoản 3 nhưng nếu đủ để quyết định hình phạt nhẹ hơn theo quy định tại khoản tại khoản 2 điều 51 BLHS thì Tòa án có thể quyết định hình phạt trong giới hạn khoản 1 điều luật(nếu các khung hình phạt của điều luật được sắp xếp theo thứ tự 1,2,3 và từ nhẹ nhất đến nặng nhất Nếu giải thích điều luật này theo hướng có lợi thì có thể hiểu một người bị áp dụng khoản 4 của điều luật thì Tòa án có thể quyết dịnh hình phạt nhẹ hơn theo khoản
1 của điều luật Tuy nhiên quyết định hình phạt theo khoản 2 Điều 51 còn phải
thuộc trường hợp “Người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể”
+: Trong trường hợp có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 hoặc
khoản 2 Điều 54 nhưng điều kiện chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất,thì Tòa có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn.Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án.Đây là trường hợp khung hình phạt mà người phạm tội bị áp dụng
là khung nhẹ nhất hoặc điều luật chỉ có một khung hình phạt-không có khung liền kề nhẹ hơn ( ví dụ :Điều 181.Tội cưỡng ép kết hôn,ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện,tiến bộ,cản trở ly hôn tự nguyện;Điều 181.Tội loạn luân)
- Về quy định “chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn” còn có
nhiều ý kiến:
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 39+, Tòa án chỉ quyết định chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn
được áp dụng trong trường hợp không thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung cho bị cáo ( vì sẽ vi phạm quy định của BLHS về mức tối thiếu của hình phạt khác nhẹ hơn
Theo tinh thần của khoản 3 Điều 54 BLHS năm 2015, thì trường hợp điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật thì việc Tòa án quyết định dưới mức thấp nhất của khung hay chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn đều là khả năng lựa chọn của Tòa án khi quyết định hình phạt.Trên cơ sở từng vụ án cụ thể, nếu thấy biện nào áp dụng cho bị cáo có thể đạt được mục đích tối đa của hình phạt thì khi đó, Tòa án sẽ quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hay chuyển sang loại hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn Ví dụ : Nguyễn Văn N bị xét xử về tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạng theo khoản
1 Điều 125 BLHS năm 2015 có khung hình phạt từ 06 tháng đến 03 năm tù, Nguyễn Văn N có 3 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS nên Tòa án cs thể áp dụng hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn như phạt tiền, cải tạo không giam giữ… đối với Nguyễn Văn N mà không nhất thiết phải quyết định mức hình phạt tù từ 03 tháng đến dưới 06 tháng
+ Ý kiến khác lại cho rằng, khi quyết định chuyển sang hình phạt khác
thuộc loại nhẹ hơn , Tòa án có thể chọn hình phạt bất kỳ miễn là hình phạt đó phải nhẹ hơn.Theo tinh thần của khoản 3 Điều 54 BLHS năm 2015 thì Tòa án có thể chọn hình phạt bất kỳ miễn là hình phạt đó nhẹ hơn bởi trong trường hợp này , bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 Điều 51 nên tính chất , mức
độ nguy hiểm cho xã hội của hành phi phạm tội giảm xuống một cách đáng kể
so với trường hợp phạm tội thông thường Do vậy, khi quyết định chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn, nếu cảm thấy việc áp dụng hình phạt nhẹ hơn nào đó mới thật sự tương xứng với hành vi của bị cáo đã phạm và áp dụng hình phạt đó cho bị cáo mới có thể đạt đươc mục đích của hình phạt thì Tòa án quyết định chọn hình phạt nhẹ hơn hình phạt đó mà không nhất thiết phải là hình phạt nhẹ liền kề.Hơn nữa, bản thân khoản 3 Điều 54 cũng không quy định bắt buộc luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si