Khái niệm NHTM
NHTM là một định chế tài chính trung gian đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường và hệ thống ngân hàng Khái niệm NHTM có thể được diễn đạt theo nhiều cách khác nhau.
Tại Pháp, ngân hàng thương mại (NHTM) là các doanh nghiệp và cơ sở nhận tiền từ công chúng thông qua hình thức ký thác hoặc các hình thức khác Số tiền này được sử dụng cho các hoạt động tín dụng, chứng khoán và dịch vụ tài chính.
- Ở Mỹ: NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính
- Ở Ấn Độ:NHTM là cơ sở chuyên nhận các khoản ký thác để cho vay hay tài trợ đầu tư
Ngân hàng thương mại (NHTM) tại Việt Nam là tổ chức kinh doanh tiền tệ chủ yếu nhận tiền gửi từ khách hàng và có trách nhiệm hoàn trả NHTM sử dụng số tiền này để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán Do đó, NHTM được coi là tổ chức tín dụng chuyên về kinh doanh tiền tệ và các hoạt động ngân hàng nhằm mục tiêu lợi nhuận, đồng thời là loại hình ngân hàng quan trọng nhất trong hệ thống ngân hàng trung gian.
Phân loại NHTM
* Dựa vào hình thức sở hữu, có thể phân loại NHTM như sau:
Ngân hàng thương mại Nhà nước (NHTM Nhà nước) là tổ chức tài chính được thành lập và đầu tư vốn bởi Nhà nước, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế của quốc gia.
Ngân hàng thương mại cổ phần (NHTM cổ phần) là loại hình ngân hàng được thành lập dưới dạng công ty cổ phần, trong đó bao gồm các doanh nghiệp Nhà nước, tổ chức tín dụng, các tổ chức khác và cá nhân cùng nhau góp vốn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
- NH liên doanh: Là ngân hàng được thành lập bằng vốn góp của bên Việt Nam và bên nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh
- Chi nhánh NH nước ngoài: Là đơn vị phụ thuộc của NH nước ngoài, được
NH nước ngoài bảo đảm chịu trách nhiệm đối với mọi nghĩa vụ và cam kết của chi nhánh tại Việt Nam
* Dựa vào chiến lược kinh doanh, có thể phân loại như sau:
Ngân hàng bán buôn chuyên cung cấp dịch vụ và giao dịch cho các doanh nghiệp lớn, định chế tài chính và các dịch vụ ngân hàng với khối lượng lớn Khách hàng chính của ngân hàng bán buôn bao gồm các tập đoàn kinh tế, tổng công ty và xí nghiệp quy mô lớn.
- NH bán lẻ (Retail banking): Là ngân hàng được thực hiện với các khách hàng là công chúng, thường có qui mô nhỏ và thông qua các chi nhánh, nhằm đối lập với ngân hàng bán buôn (Wholesale banking) là ngân hàng dành cho các định chế tài chính và những dịch vụ ngân hàng được cung ứng với số lượng lớn) (theo từ điển giải nghĩa Tài chính-Đầu tư Ngân hàng-kế toán Anh-Việt NXB KH&KT 1999 tr.460)
* Dựa vào quan hệ tổ chức, có thể chia NHTM thành: NH hội sở, NH chi nhánh (cấp 1) và phòng giao dịch.
Các hoạt động cơ bản của NHTM
1.1.3.1 Hoạt động huy động vốn:
Ngoài nguồn vốn tự có, hoạt động huy động vốn có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng thương mại trong việc tạo lập nguồn vốn để hoạt động kinh doanh Trong hoạt động này ngân hàng thương mại được sử dụng các công cụ và biện pháp mà pháp luật cho phép để huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội làm nguồn vốn tín dụng cho vay đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế Hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại bao gồm: luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
- Nhận tiền gửi và phát hành giấy tờ có giá
Hoạt động tín dụng là hoạt động cấu thành nên tài sản có và có ý nghĩa quan trọng đối với khả năng tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng Ngân hàng thương mại được cấp tín dụng cho tổ chức và cá nhân dưới hình thức cho vay, chiết khấu, tái chiết khấu, cầm cố giấy tờ có giá, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của pháp luật Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại bao gồm:
Cho vay (ngắn, trung và dài hạn)
Chiết khấu, tái chiết khấu, cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá
1.1.3.3 Hoạt động kinh doanh khác:
Ngân hàng thương mại không chỉ thực hiện các hoạt động cho vay và đầu tư mà còn đóng vai trò trung gian trong việc cung cấp nhiều dịch vụ ngân hàng khác như kinh doanh ngoại hối, thanh toán, thu hộ, chi hộ, ủy thác, bảo quản tài sản, bảo lãnh và tư vấn tài chính Những hoạt động này có độ rủi ro thấp hơn so với cho vay và đầu tư, nhưng vẫn mang lại nguồn thu lớn cho ngân hàng Tại một số ngân hàng lớn như Citibank và HSBC, tỷ trọng lợi nhuận từ dịch vụ có thể lên đến 20% Hiện nay, lợi nhuận từ các hoạt động dịch vụ này ngày càng gia tăng và trở thành yếu tố quan trọng trong hoạt động ngân hàng.
TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ
Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), dịch vụ ngân hàng bán lẻ (DVNHBL) là loại hình dịch vụ chủ yếu của ngân hàng, cho phép khách hàng cá nhân thực hiện giao dịch tại các chi nhánh DVNHBL bao gồm các dịch vụ như gửi tiền tiết kiệm, kiểm tra tài khoản, vay vốn thế chấp, và các dịch vụ thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ Điều này cho thấy DVNHBL không chỉ là dịch vụ phổ biến mà còn là một phần quan trọng trong sản phẩm dịch vụ của ngân hàng thương mại, từ ngân hàng đơn giản đến ngân hàng đa năng.
Theo các chuyên gia kinh tế của Học viện Công nghệ Châu Á – AIT, DVNHBL là việc cung ứng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng tới từng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, bao gồm bán lẻ tín dụng và bán lẻ dịch vụ ngân hàng phi tín dụng thông qua mạng lưới chi nhánh, khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với sản phẩm và dịch vụ ngân hàng thông qua các phương tiện điện tử viễn thông và công nghệ thông tin
1.2.2 Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng bán lẻ:
- Số lượng khách hàng lớn
DVNHBL là những dịch vụ cung ứng tiện ích và sản phẩm đến tận tay người tiêu dùng (tiêu dùng cho sản xuất và tiêu dùng cho sinh hoạt), do đó đối tượng của DVNHBL là vô cùng lớn gồm các cá nhân, hộ gia đình, các doanh nghiệp vừa và nhỏ
- Giá trị của các khoản giao dịch nhỏ
Sản phẩm dịch vụ ngân hàng bán lẻ cung cấp cho khách hàng không phải là những khoản giao dịch tiền gửi lớn đến hàng trăm ngàn USD hay những khoản cho vay lên tới hàng triệu USD, mà là những dịch vụ thoả mãn nhu cầu tiêu dùng cuối cùng của khách hàng, là tất cả những nhu cầu của công chúng liên quan đến sự vận động của tiền Vì thế, nó tuân theo yêu cầu của các hàng hoá nói chung, yêu cầu mà do chính người tiêu dùng đặt ra Đó là công dụng thực tế, thỏa mãn nhu cầu của con người, chẳng hạn chuyển tiền ra nước ngoài cho người thân, thanh toán chi tiêu hàng ngày, vay tiền cho con du học…Mặc dù các nhu cầu này là rất đa dạng và không ngừng phong phú nhưng chúng đều có chung những yêu cầu là nhanh, tiện ích, chính xác và an toàn
- Chi phí bình quân cao luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
DVNHBL đáp ứng nhu cầu giao dịch và thanh toán hàng ngày của người dân, bao gồm thanh toán tiền hàng, chuyển khoản và chuyển vốn Tuy nhiên, do DVNHBL có nhiều giao dịch với giá trị mỗi giao dịch không lớn, nên chi phí trung bình cho mỗi giao dịch lại khá cao.
Sản phẩm của dịch vụ ngân hàng bán lẻ bao gồm cả tài sản nợ như tiền gửi tiết kiệm và tài sản có như cho vay cá nhân.
Sự phát triển của dịch vụ ngân hàng điện tử (DVNHBL) phụ thuộc mạnh mẽ vào trình độ công nghệ thông tin của nền kinh tế và từng ngân hàng.
Marketing ngày càng trở nên quan trọng, đặc biệt từ thập niên 80, khi các ngân hàng bán lẻ lớn thành lập bộ phận marketing chuyên trách Điều này không chỉ nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng mà còn mở rộng thị trường và đa dạng hóa sản phẩm Ngành ngân hàng bán lẻ yêu cầu hoạt động marketing thường xuyên hơn để tăng tính hữu hình của dịch vụ Các dịch vụ mới liên tục được giới thiệu với tính năng và đối tượng khách hàng mới, giúp sản phẩm dễ dàng tiếp cận người tiêu dùng thông qua các hoạt động marketing hiệu quả.
1.2.3 Các sản phẩm dịch vụ NHBL:
Huy động vốn là một nghiệp vụ tài sản nợ quan trọng của ngân hàng thương mại, giúp hình thành nguồn vốn hoạt động Ngân hàng thương mại sử dụng nhiều biện pháp và công cụ để huy động vốn từ khách hàng cá nhân, bao gồm tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, phát hành kỳ phiếu và trái phiếu Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, ngân hàng huy động vốn thông qua tài khoản tiền gửi thanh toán hoặc tiền gửi ký quỹ thanh toán Nguồn vốn huy động từ cá nhân có những đặc điểm riêng biệt, đóng góp vào sự phát triển của ngân hàng.
Khả năng huy động vốn hiện nay chủ yếu tập trung tại một số khu vực và khách hàng cụ thể, với các phương thức như tài khoản tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm và giấy tờ có giá Đặc biệt, hoạt động này diễn ra chủ yếu ở những đô thị có sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế xã hội, công nghiệp, dịch vụ và công nghệ.
Giá vốn huy động vốn từ cá nhân có sự khác biệt giữa các địa bàn và thời điểm, phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội, mặt bằng lãi suất tại từng khu vực, cũng như nhu cầu của ngân hàng Mỗi ngân hàng sẽ đưa ra các mức lãi suất huy động phù hợp với tình hình thực tế.
Dịch vụ cho vay bán lẻ bao gồm cho vay cá nhân như cho vay tiêu dùng, du học, mua ôtô, và mua nhà trả góp, cùng với cho vay cầm cố, thế chấp, cho vay hộ gia đình và doanh nghiệp vừa và nhỏ Đây là một nghiệp vụ tài sản có, là sản phẩm truyền thống của ngân hàng thương mại, giúp tăng thu nhập cho các ngân hàng.
Với sự phát triển của nền kinh tế xã hội, tỷ lệ cho vay cá nhân trong tổng dư nợ của các ngân hàng thương mại ngày càng gia tăng Cho vay cá nhân đóng vai trò quan trọng trong danh mục đầu tư của các ngân hàng thương mại toàn cầu Sản phẩm cho vay cá nhân có những đặc điểm nổi bật.
- Kỹ thuật cho vay khá đơn giản, không đòi hỏi cán bộ được đào tạo cao
Thị trường đang mở rộng và liên tục phát triển nhờ vào sự tiến bộ của xã hội và sự gia tăng dân số Nhu cầu cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân đang thúc đẩy sự gia tăng nhu cầu đối với loại sản phẩm này.
Khả năng trả nợ của khách hàng có thể thay đổi nhanh chóng do sự biến động trong điều kiện làm việc hoặc sức khỏe Trong trường hợp xảy ra rủi ro, khả năng bù đắp từ các nguồn khác là rất hạn chế, vì vậy ngân hàng cần triển khai các giải pháp phòng ngừa để bảo vệ chính mình.
- Giá trị từng món vay thường nhỏ lẻ phân tán, do đó dẫn đến tăng chi phí quản lý của ngân hàng cho từng món vay này
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHÁT TRIỂN DVNHBL
Những tiêu chí phản ánh sự phát triển của DVNHBL
1.3.1.1 Sự gia tăng số lượng khách hàng và thị phần
Ngân hàng hoạt động hiệu quả sẽ thu hút nhiều khách hàng hơn, đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng bán lẻ, nơi mà đối tượng khách hàng là đông đảo Việc thu hút nhiều khách hàng cho các giao dịch nhỏ là rất quan trọng, giúp tích tiểu thành đại và giảm chi phí giao dịch.
Khách hàng trong lĩnh vực ngân hàng bán lẻ thường có tính trung thành thấp, dễ dàng chuyển đổi sang ngân hàng khác nếu họ tìm thấy lãi suất và chất lượng phục vụ tốt hơn Trong bối cảnh cạnh tranh hiện nay, các ngân hàng cần không ngừng cải thiện vị thế và hình ảnh của mình để mở rộng thị phần Sự phát triển của hoạt động bán lẻ phụ thuộc vào chất lượng phục vụ và sự đa dạng của danh mục sản phẩm nhằm thu hút nhiều khách hàng hơn Doanh số là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá sự phát triển của dịch vụ ngân hàng bán lẻ; doanh số cao cho thấy số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ ngày càng tăng, từ đó thị phần bán lẻ cũng mở rộng, dẫn đến sự đa dạng và hoàn thiện hơn của các dịch vụ này.
1.3.1.2 Tính đa dạng của sản phẩm dịch vụ
Tính đa dạng là một đặc điểm quan trọng của dịch vụ ngân hàng bán lẻ Các dich vụ đa dạng sẽ đáp ứng được tất cả các nhu cầu khác nhau của khách hàng, tạo điều kiện thuận lợi để nhiều khách hàng khác nhau được tiếp xúc với các sản phẩm dịch vụ, nhờ đó phát triển được các dịch vụ ngân hàng bán lẻ
Yêu cầu của khách hàng ngày càng cao, nên ngân hàng không ngừng phải cung cấp cho khách hàng những dịch vụ tốt nhất, đặc biệt là xu hướng liên kết những sản phẩm thành những “gói hàng” đa dạng và tiện lợi Các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng ngày nay không chỉ gói gọn ở việc cho vay và nhận tiền gửi mà phát triển ngày càng phong phú, tận dụng tối đa hiệu suất của các kênh phân phối Các ngân hàng đa năng còn chủ động cạnh tranh bằng cách lấn sang các hoạt động phi ngân hàng khác như cung cấp dịch vụ bảo hiểm, môi giới tư vấn đầu tư…Như thế ngân hàng vừa thu được nhiều lợi nhuận, vừa tránh bớt rủi ro trong kinh doanh
1.3.1.3 Hệ thống chi nhánh và kênh phân phối
Một ngân hàng càng nhiều chi nhánh và phòng giao dịch sẽ thu hút được một lượng lớn khách hàng, đánh giá sự phát triển về quy mô và khả năng phục vụ của ngân hàng đó Để đánh giá sự phát triển của hoạt động bán lẻ, người ta còn nhìn vào các kênh phân phối của ngân hàng đó Khách hàng ngày càng không muốn bỏ ra thời gian, công sức đến tận một điểm giao dịch để yêu cầu phục vụ mà muốn có thể thực hiện những yêu cầu này ngay tại nhà, cơ quan, trường học…với những thiết bị đầu cuối sẵn có như máy tính cá nhân, điện thoại cố định và điện thoại di động Các kênh phân phối dựa trên nền tảng công nghệ mới sẽ đáp ứng được nhu cầu của khách hàng mọi lúc, mọi nơi Một ngân hàng hiện đại cần phải có các kênh giao dịch như sau: + Giao dịch qua hệ thống ngân hàng tự động (Auto-banking): đó là hệ thống máy ATM của ngân hàng, mà muốn sử dụng được khách hàng phải sử dụng sản phẩm thẻ của ngân hàng để rút tiền, nộp tiền hay chuyển khoản luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Giao dịch qua mạng điện thoại, bao gồm Phone-banking và Call center, đã phát triển mạnh mẽ gần đây, giúp ngân hàng tiết kiệm chi phí nhân sự, quản lý, điện nước và văn phòng Kênh giao dịch này có hai chế độ hoạt động: tự động trả lời và tương tác với điện thoại viên, trong đó chế độ tự động thường được sử dụng phổ biến nhất để cung cấp các dịch vụ tư vấn thông tin.
Giao dịch qua mạng máy tính (PC Banking, Home Banking) cho phép người dùng thực hiện các dịch vụ ngân hàng như kiểm tra số dư, chuyển khoản, thanh toán hóa đơn và đặt hàng hóa, dịch vụ mà không cần đến trụ sở ngân hàng.
Ngân hàng trực tuyến là dịch vụ ngân hàng được cung cấp qua internet, mang lại sự linh hoạt cao và xóa bỏ ranh giới địa lý Điều này thể hiện rõ nét bản chất đa quốc gia của ngân hàng bán lẻ.
1.3.1.4 Tăng tính tiện ích cho sản phẩm
Sự phát triển của dịch vụ bán lẻ phụ thuộc không chỉ vào số lượng mà còn vào tính tiện ích của dịch vụ Các sản phẩm tiện ích dựa trên công nghệ như ngân hàng trực tuyến cho phép giao dịch toàn quốc với một tài khoản, giao dịch một cửa giúp tiết kiệm thời gian, thẻ đa năng kết hợp ngân hàng và bảo hiểm, cùng với dịch vụ chuyển tiền nhanh chóng trong và ngoài nước đang ngày càng trở nên phổ biến.
Tính an toàn của dịch vụ ngân hàng bán lẻ là yếu tố quyết định sự tin tưởng của khách hàng, điều này rất quan trọng vì ngân hàng hoạt động chủ yếu dựa trên uy tín An toàn trong cung cấp dịch vụ ngân hàng bán lẻ bao gồm an toàn ngân quỹ, an toàn tín dụng, ứng dụng công nghệ hiện đại và bảo mật thông tin khách hàng.
1.3.1.6 Tăng thu nhập cho ngân hàng
Lợi ích lớn nhất của dịch vụ bán lẻ đối với ngân hàng thương mại là lợi nhuận Mặc dù khó có thể định lượng toàn bộ lợi nhuận từ các hoạt động bán lẻ, nhưng những thu nhập cụ thể như phí phát hành và thanh toán thẻ, lãi từ cho vay cá nhân, chênh lệch mua bán ngoại tệ, và phí chuyển tiền có thể được đánh giá Do đó, dịch vụ bán lẻ chỉ thực sự phát triển khi mang lại lợi nhuận thực tế cho ngân hàng.
Nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển sản phẩm dịch vụ ngân hàng bán lẻ hiện nay
1.3.2.1 Sự tiến bộ của công nghệ ngân hàng:
Chìa khóa cho chiến lược phát triển sản phẩm dịch vụ NHBL là phát triển công nghệ thông tin, tạo nền tảng cho kinh doanh và mở rộng các dịch vụ mới Điều này bao gồm việc tăng cường ứng dụng khoa học kỹ thuật, phát triển hệ thống giao dịch trực tuyến, và triển khai mô hình giao dịch một cửa Mục tiêu là hiện đại hóa tất cả các nghiệp vụ ngân hàng, đảm bảo hòa nhập với các ngân hàng quốc tế Đồng thời, cần tăng cường xử lý tự động trong quy trình tiếp nhận yêu cầu khách hàng, thẩm định và xử lý thông tin, nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ và đảm bảo tính bảo mật, an toàn trong kinh doanh.
1.3.2.2 Sự thay đổi nhu cầu của khách hàng:
Trong Marketing ngân hàng, khách hàng được xem là trung tâm của mọi hoạt động Họ không chỉ tham gia trực tiếp vào quá trình cung ứng sản phẩm và dịch vụ ngân hàng mà còn là những người trực tiếp sử dụng chúng.
Nhu cầu và mong muốn của khách hàng sẽ quyết định số lượng, kết cấu và chất lượng sản phẩm dịch vụ của ngân hàng Sự thay đổi trong nhu cầu của khách hàng cũng sẽ ảnh hưởng đến chính sách sản phẩm của ngân hàng, từ đó tác động đến kết quả hoạt động kinh doanh.
1.3.2.3 Sự gia tăng cạnh tranh:
Cạnh tranh trong ngành ngân hàng ngày càng gia tăng do số lượng ngân hàng tham gia thị trường tăng lên và sự mở rộng danh mục sản phẩm dịch vụ Áp lực cạnh tranh không chỉ thúc đẩy sự phát triển của các sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện tại mà còn định hình tương lai của ngành này.
1.3.2.4 Chính sách của chính phủ và qui định của pháp luật:
Ngành tài chính ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh tế và xã hội của mỗi quốc gia Chính phủ quản lý chặt chẽ hệ thống ngân hàng thông qua các quy định pháp luật Những thay đổi trong chính sách pháp luật sẽ tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh ngân hàng và danh mục sản phẩm dịch vụ của họ, tạo ra cơ hội cho sự phát triển các sản phẩm mới, đồng thời cũng đặt ra những thách thức cho ngân hàng trong tương lai.
1.3.3 Tiềm năng phát triển DVNHBL ở Việt Nam hiện nay:
Việt Nam, với dân số hơn 86 triệu người và thu nhập ngày càng tăng, đang trở thành một thị trường tiềm năng cho các ngân hàng cung cấp dịch vụ Sự phát triển của thị trường dịch vụ ngân hàng tại Việt Nam được đảm bảo bởi tăng trưởng kinh tế liên tục, cải thiện môi trường pháp lý, nâng cao trình độ dân trí, cơ cấu dân số trẻ và tình hình chính trị ổn định Điều này tạo ra một môi trường ngân hàng thuận lợi và hấp dẫn, với nhu cầu về dịch vụ ngân hàng ngày càng tăng về số lượng và chất lượng Theo thống kê, số lượng khách hàng cá nhân sử dụng dịch vụ ngân hàng đã tăng từ 1 triệu người năm 2004 lên hơn 17 triệu người hiện nay.
Mặt khác, dưới sự chỉ đạo sát sao của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán đã tích cực nắm bắt cơ hội phát hành thẻ cho đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước nên đã đẩy mạnh phát triển cơ sở hạ tầng của công nghệ thẻ, nhờ đó số lượng ATM và POS trong 3 năm qua phát triển với tốc độ cao: cuối năm 2007 mới chỉ có 4.855 máy ATM và 18.471 máy POS, đến cuối năm
(1) nguồn: Cty CP DV thẻ Smartlink. luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
2010 đã lên tới 11.294 máy ATM và 49.639 máy POS (số ATM tăng hơn 2,3 lần và số POS tăng hơn 2,7 lần so với năm 2007) Thị trường thẻ Việt Nam đã trải nghiệm bước phát triển đột phá mạnh trong 3 năm qua: năm 2007 thị trường thẻ có 9,1 triệu thẻ, đến cuối năm 2010 con số này lên tới 29,75 triệu thẻ (tăng hơn 3,3 lần) Tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặt so với tổng phương tiện thanh toán đã giảm mạnh qua các năm (giảm từ 31,6% năm 1991 đến nay chỉ còn khoảng 15%) Có thể nói, đây là những con số khá khiêm tốn nhưng lại là con số có ý nghĩa dành cho các ngân hàng bởi họ đang có một thị trường đầy tiềm năng để khai thác
Dự báo thị trường này còn nhiều khả năng phát triển hơn nữa khi việc kết nối thành công mạng ATM của các ngân hàng thành viên 2 công ty chuyển mạch Smartlink và Banknetvn từ ngày 23/5/2008 và sự kết nối liên thông hệ thống thanh toán thẻ nội địa (thẻ ATM) qua mạng POS (bắt đầu vào ngày 28/9/2010 tại Hà Nội và ngày 09/12/2010 tại TP Hồ Chí Minh) cho tổng cộng 15 ngân hàng thương mại và 3 công ty Banknetvn, Smartlink và V.N.B.C đã khẳng định nỗ lực của toàn ngành Ngân hàng trong việc phát triển cả về chiều sâu cơ sở hạ tầng theo hướng gia tăng cung ứng tiện ích thanh toán không dùng tiền mặt cho các chủ thẻ (trong đó có các khách hàng nhận lương qua tài khoản) đồng thời nhằm tiết kiệm chi phí đầu tư mở rộng mạng lưới POS và giảm tải cho hệ thống ATM của từng ngân hàng
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) hiện chiếm khoảng 97% tổng số doanh nghiệp trong cả nước Tính đến cuối năm 2006, cả nước có khoảng 160.000 DNVVN, đóng góp 40% vào GDP và tạo ra 12 triệu việc làm Đến năm 2007, số lượng DNVVN đã tăng nhanh, đạt khoảng 180.000-190.000 doanh nghiệp, và hiện nay đã vượt qua 400.000 doanh nghiệp Chính phủ đặt mục tiêu đạt 500.000 doanh nghiệp trong những năm tới.
Tại Việt Nam, hiện có 7 nhà cung cấp dịch vụ viễn thông di động hoạt động, với mạng lưới phủ sóng rộng khắp Theo thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, tính đến tháng 11/2010, số lượng thuê bao di động đạt 80 triệu, tương đương với trung bình một người dân sở hữu một thuê bao Việc sử dụng điện thoại di động đã trở nên phổ biến không chỉ trong giới trẻ hay khu vực thành phố mà còn với mọi đối tượng Điều này cho thấy Việt Nam là một thị trường tiềm năng lớn cho các dịch vụ thanh toán di động.
Ngành công nghệ thông tin (CNTT) đang phát triển mạnh mẽ và được dự báo sẽ trở thành ngành kinh tế mũi nhọn tại Việt Nam trong những năm tới Sự phát triển này sẽ thúc đẩy xu hướng điện tử hóa các giao dịch tài chính và hạch toán thanh toán ngân hàng, tăng tốc độ xử lý thông tin và cho phép thực hiện giao dịch ngân hàng không bị giới hạn về không gian và thời gian Đây là tiền đề quan trọng cho sự phát triển của các dịch vụ ngân hàng tiên tiến, đặc biệt là dịch vụ ngân hàng điện tử.
Với những yếu tố đầy thuận lợi như trên thì đây quả là thị trường đầy tiềm năng để phát triển DVNHBL đối với các NHTM ở Việt Nam.
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DVNHBL TẠI NHĐT & PTVN – CHI NHÁNH TỈNH TIỀN GIANG
ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH TIỀN GIANG ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG
TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH TIỀN GIANG ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG
Vị trí địa lý và thuận lợi:
Tiền Giang là một tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) và nằm trong vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam, cách thành phố Hồ Chí Minh 70 km về phía Nam và cách thành phố Cần Thơ 90 km về phía Bắc Tỉnh này trải dài trên bờ Bắc sông Tiền với chiều dài hơn 120 km Về mặt hành chính, Tiền Giang giáp biển Đông ở phía Đông, giáp tỉnh Đồng Tháp ở phía Tây, giáp tỉnh Bến Tre và Vĩnh Long ở phía Nam, và giáp tỉnh Long An cùng TP.Hồ Chí Minh ở phía Bắc và Đông Bắc.
Tỉnh Tiền Giang có diện tích tự nhiên 2.481,77 km², chiếm khoảng 6% diện tích Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) và 0,7% diện tích cả nước Dân số tỉnh đạt 1.681.465 người, tương đương 9,8% dân số vùng ĐBSCL và 1,9% dân số toàn quốc Tiền Giang bao gồm 10 đơn vị hành chính cấp huyện, trong đó thành phố Mỹ Tho là đô thị loại 2, giữ vai trò trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội của tỉnh, đồng thời là điểm giao lưu kinh tế, văn hóa, giáo dục, đào tạo và du lịch quan trọng trong khu vực ĐBSCL.
Tiền Giang có vị trí địa lý thuận lợi, nằm trên các trục giao thông quan trọng như quốc lộ IA, 50, 60, 30 và đường cao tốc TP Hồ Chí Minh-Trung Lương, kết nối thành phố Hồ Chí Minh với các tỉnh ĐBSCL Đoạn đường từ Trung Lương đến Mỹ Thuận đang được xây dựng, củng cố vị thế của Tiền Giang như một cửa ngõ của miền Tây vào thành phố Hồ Chí Minh và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Ngoài ra, Tiền Giang còn có 32 km bờ biển và hệ thống sông ngòi phong phú như sông Tiền, sông Vàm Cỏ Tây, sông Soài Rạp.
Chợ Gạo (đang triển khai nạo vét mở rộng) nối liền các tỉnh ĐBSCL với thành phố
Hồ Chí Minh và là cửa ngõ ra biển Đông của các tỉnh ven sông Tiền và Campuchia
Một số chỉ tiêu chủ yếu về kinh tế xã hội của tỉnh Tiền Giang những năm gần đây:
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2006-2010 đạt 11,0%/năm, với khu vực nông, lâm, ngư nghiệp tăng 5,2%/năm, khu vực công nghiệp-xây dựng tăng 19,6%/năm, và khu vực dịch vụ tăng 12,3%/năm.
- GDP bình quân đầu người năm 2009 đạt 969 USD, năm 2010 đạt 1.100 USD
Kinh tế nhiều thành phần, với sự đa dạng trong các hình thức sở hữu, đã kích thích và phát huy nguồn lực, đặc biệt là nội lực trong cộng đồng, từ đó tạo ra sự năng động và sáng tạo, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Chính trị xã hội ổn định và quốc phòng - an ninh được củng cố đã tạo ra môi trường thuận lợi cho sự phát triển kinh tế-xã hội Đồng thời, hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước được nâng cao, cùng với những kết quả nhất định trong công tác cải cách hành chính.
Các khu công nghiệp trong tỉnh:
KCN Mỹ Tho (79,14 ha), KCN Tân Hương (197 ha), KCN Long Giang (600 ha), KCN tàu thủy Xoài Rạp (600 ha), KCN Bình Đông (1000 ha) và KCN dầu khí Tiền Giang (1000 ha) là những khu công nghiệp quan trọng tại Tiền Giang Giai đoạn 2010-2015, nhiều dự án khu công nghiệp lớn được triển khai, bao gồm KCN Đông Nam Tân Phước, KCN Bình Xuân, KCN Bắc Gò Công, cụm công nghiệp Tam Hiệp (Châu Thành), Long Định, CCN Bình Phú ở Bình Phú Cai Lậy, CCN Hòa Khánh (Cái Bè) và CCN Bắc Mỹ Thuận (Hòa Hưng - Cái Bè).
Tỉnh có hơn 10 cụm công nghiệp quy mô lớn, bao gồm CCN An Thạnh, CCN Tân Mỹ Chánh, CCN Bình Đức, và CCN Bình Xuân, được phân bố rộng rãi khắp các thị thành trong tỉnh.
Tiền Giang là tỉnh vừa thuộc vùng ĐBSCL, vừa thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam - là 2 vùng kinh tế đang phát triển mạnh Do nằm giữa 2 vùng kinh tế, nên Tiền Giang rất thuận lợi trong việc tiếp cận với nhiều dự án, lĩnh vực ngành nghề đầu luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si tư, tiếp thu kiến thức khoa học, nâng cao trình độ công nghệ sản xuất, quản lý, điều hành sản xuất
Tiền Giang đã và đang hình thành là một tỉnh công nghiệp có tốc độ phát triển cực mạnh với tốc độ tăng trưởng khá cao đứng vào hạng nhất nhì trong khu vực với nhiều KCN, CCN tập trung với quy mô lớn và làm ăn có hiệu quả như: KCN Mỹ Tho, KCN Tân Hương, KCN Long Giang, KCN đóng tàu thủy Xoài Rạp, và nhiều CCN tập trung có quy mô rộng đến trăm hecta như: CCN-TTCN Tân Mỹ Chánh, CCN khu vực Bình Đức, CCN An Thạnh,
- Có mạng lưới viễn thông hiện đại, đảm bảo thông tin liên lạc
- Điện lưới quốc gia đến toàn bộ các xã, phường, thị trấn
- Nước sạch cung cấp đủ cho sản xuất và sinh hoạt (55.000m³/ngày đêm) cho các khu đô thị và các vùng nông thôn
- Mạng lưới giao thông đường bộ hoàn chỉnh Mạng lưới đường thủy thuận lợi Trục chính là sông Tiền với chiều dài 120km chảy ngang qua tỉnh hướng về phía Nam và 30 km sông Soài Rạp ở phía Bắc, tạo điều kiện cho tỉnh trở thành điểm trung chuyển về giao thông đường sông từ các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đi TP.Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Đông Về phía Đông, đường biển từ huyện Gò Công Đông đến
Bà Rịa-Vũng Tàu khoảng 40 km
Cơ sở hạ tầng tại Tiền Giang ngày càng hoàn thiện, với 100% xã có đường ô tô vào trung tâm và hệ thống viễn thông phủ rộng Số lượng thuê bao cố định và di động tăng cao, đặc biệt là hệ thống internet kết nối tất cả các trường học trong tỉnh Từ 2010-2015, tỉnh đã đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng, xây dựng Thành phố Mỹ Tho đạt chuẩn loại 2 và hướng tới loại 1, cùng với việc nâng cấp các đô thị, giao thông, và hệ thống thương mại dịch vụ Tiền Giang đã trở thành trung tâm chính trị văn hóa hàng đầu, nâng cao vị thế ngang tầm với các tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
Nói tóm lại, Tiền Giang có những điều kiện thuận lợi để phát triển các KCN, CCN Là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm nên Tiền Giang rất thuận lợi trong việc tiếp cận với nhiều dự án, lĩnh vực ngành nghề đầu tư, là địa bàn thuận lợi để phát triển hoạt động kinh doanh ngân hàng
2.2 TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHĐT&PTVN-CHI NHÁNH TỈNH TIỀN GIANG
2.2.1 Sự hình thành và phát triển của NHĐT&PTVN-chi nhánh tỉnh Tiền Giang:
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, tên giao dịch quốc tế là Bank for Investment and Development of Vietnam, tên gọi tắt là BIDV, Hội sở chính đặt tại tháp BIDV, 35 Hàng Vôi, Hoàn Kiếm, Hà Nội Tiền thân của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam là Ngân hàng Kiết Thiết Việt Nam được thành lập theo quyết định 177/TTg ngày 26/04/1957 của Thủ tướng Chính phủ
Sau hơn 50 năm phát triển, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu quan trọng, góp phần vào chính sách tiền tệ quốc gia và phát triển kinh tế xã hội Trong kỷ nguyên công nghệ và tri thức, ngân hàng tự tin hướng tới mục tiêu trở thành một Tập đoàn Tài chính Ngân hàng uy tín trong nước, khu vực và toàn cầu.
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ NHBL TẠI NHĐT&PTVN - CHI NHÁNH TỈNH TIỀN GIANG
2.3.1 Tình hình hoạt động của NHBL:
2.3.1.1 Dịch vụ huy động vốn:
Trong bối cảnh nền kinh tế phát triển mạnh mẽ và sự cạnh tranh khốc liệt giữa các ngân hàng, NHĐT&PTVN - Chi nhánh tỉnh Tiền Giang đã hoàn thành xuất sắc kế hoạch kinh doanh năm 2010 một cách toàn diện và đồng bộ.
Trong năm qua, thị trường tiền tệ đã trải qua nhiều khó khăn, khiến sự cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại trở nên gay gắt NHĐT&PTVN-Chi nhánh tỉnh Tiền Giang đã nghiêm túc thực hiện các chính sách vĩ mô của Ngân hàng Nhà nước, đồng thời theo dõi sát sao diễn biến thị trường tài chính trong và ngoài nước để đưa ra các quyết sách kịp thời, hiệu quả BIDV đã triển khai nhiều sản phẩm và dịch vụ huy động vốn đa dạng, như tiết kiệm dự thưởng, tiết kiệm rút dần và tiết kiệm bậc thang, nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng Ngoài ra, BIDV cũng đã ký kết thỏa thuận hợp tác toàn diện với một số công ty lớn để kết hợp huy động vốn với tín dụng và cung cấp dịch vụ, từ đó đa dạng hóa đối tượng khách hàng và nâng cao thương hiệu, khẳng định uy tín của mình trên thị trường tiền tệ.
Bảng 1 Số liệu huy động vốn tại NHĐT&PTVN-chi nhánh tỉnh Tiền Giang giai đoạn 2006-2010 Đvt: triệu đồng
+Tổng nguồn vốn huy động 891.260 658.369 917.995 1.337.416 1.701.346
+ Phân theo nguồn huy động
Tỷ trọng tiền gửi dân cư so với tổng vốn huy động đã tăng từ 49,15% lên 75,91%, cho thấy sự gia tăng đáng kể trong sự tin tưởng của người dân đối với ngân hàng Đồng thời, tỷ trọng tiền gửi trên 12 tháng trong tổng vốn huy động cũng có sự cải thiện, từ 10,3% lên 17,1% Những số liệu này được trích dẫn từ báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh của NHĐT&PTVN - chi nhánh Tiền.
Nhìn vào bảng số liệu trên ta có thể thấy: Tiền gửi tiết kiệm trên 12 tháng có xu hướng giảm qua các năm, đồng thời với quá trình đó là sự tăng mạnh của tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn dưới 12 tháng Sở dĩ có điều đó là do thời gian qua lãi suất không ổn định, tâm lý của một số người gửi tiền e ngại kỳ hạn dài, một số khác kỳ vọng vào lãi suất tăng trong thời gian tới…
Phân theo thành phần kinh tế: luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Tỷ trọng tiền gửi của TCKT và ĐCTC ngày càng giảm, tuy nhiên tỷ trọng tiền gửi dân cư ngày càng tăng, nhất là giai đoạn từ năm 2008 khi chi nhánh đẩy mạnh khiển khai DVNHBL, tập trung huy động vốn từ dân cư, từ đó huy động tiền gửi dân cư là một trong những hoạt động bán lẻ chủ yếu nhất của Chi nhánh Bên cạnh những khách hàng là những người có thu nhập trung bình hoặc những người đã về hưu đặt yêu cầu về lãi suất lên hàng đầu, còn có những khách hàng muốn được hưởng những sản phẩm dịch vụ đa dạng, có nhiều nét hấp dẫn riêng so với thị trường Xuất phát từ mục tiêu kinh doanh và nhiều nhu cầu của khách hàng, Chi nhánh đã huy động vốn từ dân cư dưới nhiều hình thức:
Tiền gửi tiết kiệm dân cư là công cụ huy động vốn truyền thống của các ngân hàng thương mại, cung cấp nguồn vốn ổn định và thường xuyên cho chi nhánh Bên cạnh đó, việc phát hành giấy tờ có giá như kỳ phiếu, trái phiếu và chứng chỉ tiền gửi giúp ngân hàng thu hút lượng vốn lớn trong thời gian ngắn, phục vụ cho các dự án đầu tư Nguồn vốn này thường đi kèm với lãi suất cao, tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng trong việc chủ động nguồn vốn.
Dịch vụ tài khoản cá nhân tại Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ khi người dân chuyển từ tiêu dùng bằng tiền mặt sang thanh toán chuyển khoản Số lượng tài khoản tiền gửi cá nhân đã tăng nhanh trong những năm qua, mang lại nhiều tiện ích cho khách hàng như thanh toán tại bất kỳ Chi nhánh nào của BIDV, duy trì số dư để phát hành thẻ tín dụng quốc tế, truy vấn số dư qua internet và chuyển tiền Tài khoản cá nhân có thể được mở bằng VND hoặc ngoại tệ, với một cá nhân hoặc đồng chủ sở hữu.
Trong những năm qua, nguồn vốn tại Chi nhánh đã tăng trưởng mạnh mẽ, chiếm thị phần đáng kể và liên tục đứng thứ hai trên địa bàn trong hai năm 2009 - 2010, chỉ sau Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn - Chi nhánh tỉnh Tiền Giang.
Biểu đồ 1: Huy động vốn NHĐT&PTVN-chi nhánh tỉnh TG so với một số NHTM khác Đvt: triệu đồng
(Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động ngân hàng của NHNNVN-chi nhánh tỉnh
Cho vay là hoạt động cốt lõi của BIDV, đóng góp lớn vào tổng thu nhập ngân hàng Ngân hàng không ngừng mở rộng đối tượng vay và đa dạng hóa phương thức cho vay như cho vay theo món, hạn mức tín dụng, tín dụng thấu chi, tín chấp và hợp vốn Doanh số cho vay tăng trưởng mạnh mẽ trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt Tính đến 31/12/2010, tổng dư nợ của chi nhánh đạt 2.026 tỷ đồng, chiếm 14,4% thị phần, tăng 0,8% so với năm trước Tăng trưởng tín dụng chủ yếu phục vụ nhu cầu vốn ngắn hạn cho khách hàng truyền thống, đặc biệt là doanh nghiệp xuất khẩu lương thực, thủy hải sản, và cho vay mua tạm trữ lúa gạo theo chỉ đạo của Chính phủ, cũng như hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ có tình hình tài chính lành mạnh và khả năng cạnh tranh.
Biểu đồ 2: Dƣ nợ NHĐT&PTVN-chi nhánh tỉnh Tiền Giang so với một số NHTM khác Đvt: triệu đồng
(Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động ngân hàng của NHNNVN-chi nhánh tỉnh Tiền Giang năm 2008, 2009, 2010)[12]
Tín dụng là sản phẩm truyền thống của các ngân hàng thương mại, nhưng tại BIDV, khách hàng chủ yếu là các doanh nghiệp nhà nước và công ty lớn, dẫn đến quy mô tín dụng bán lẻ còn hạn chế, chỉ chiếm khoảng 10%-11% tổng dư nợ Gần đây, NHĐT&PTVN-Chi nhánh tỉnh Tiền Giang đã nhận thức được xu hướng phát triển của xã hội và bắt đầu chú trọng vào tín dụng bán lẻ, bao gồm cho vay cá nhân, hộ gia đình và doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Bảng 2:Phân loại dƣ nợ NHĐT&PTVN - chi nhánh tỉnh Tiền Giang 2006-2010 Đvt: triệu đồng
+Phân theo đối tượng kinh tế
- Ngoài quốc doanh 655.154 814.769 954.838 1.486.221 1.956.783 + Phân theo thời gian
+ Tỷ trọng dư nợ ngoài quốc doanh/tổng dư nợ (%) 92,4 94,6 91,4 95,2 96,6
+ Dư nợ có TS đảm bảo 637.181 755.423 805.293 1.343.247 1.846.361
Tỷ trọng dư nợ trung-dài hạn/Tổng dư nợ (%) 31,6 30,3 25,2 26,8 24,5
-Nợ quá hạn/tổng dư nợ (%) 0,24 0,78 0,92 1,07 1,08
(Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh của NHĐT&PTVN-chi nhánh tỉnh Tiền
Đến cuối năm 2010, dư nợ tín dụng bán lẻ chiếm 28-30% tổng dư nợ, với chi nhánh đứng thứ ba về thị phần tín dụng bán lẻ, đạt 10,2%.
NHNo&PTNTVN - chi nhánh tỉnh Tiền Giang chiếm 50,6% thị phần, NHTMCP Công Thương tỉnh Tiền Giang chiếm 10,5% thị phần) (2)
Phân theo đối tượng kinh tế:
Tỷ trọng dư nợ ngoài quốc doanh tại NHĐT&PTVN-Chi nhánh tỉnh Tiền Giang đã tăng liên tục từ 92,4% năm 2006 lên 96,6% năm 2010, cho thấy sự chú trọng vào đối tượng cho vay này và nâng cao chất lượng tín dụng Sự phát triển kinh tế đã cải thiện đời sống người dân, dẫn đến nhu cầu về vật chất và trang thiết bị thiết yếu ngày càng tăng, từ đó tạo ra nhu cầu lớn về vốn vay cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việc gia tăng dư nợ cho vay ngoài quốc doanh đã đóng góp quan trọng vào tăng trưởng tín dụng của chi nhánh.
Từ năm 2006 đến 2010, tỷ trọng dư nợ tín dụng trung-dài hạn của NHĐT&PTVN-chi nhánh tỉnh Tiền Giang đã giảm đáng kể, với các mức lần lượt là 31,6%; 30,3%; 25,2%; 26,8%; và 24,5% Ngược lại, tỷ trọng tín dụng ngắn hạn lại tăng lên, đạt 68,4%; 69,7%; 74,8%; 73,2%; và 75,5% trong cùng khoảng thời gian Sự thay đổi này cho thấy NHĐT&PTVN-chi nhánh tỉnh Tiền Giang đã điều chỉnh chiến lược kinh doanh, chuyển hướng từ việc tập trung vào dư nợ trung-dài hạn sang tăng cường tín dụng ngắn hạn.
Dư nợ tín dụng VND chiếm hơn 94% tổng dư nợ, trong khi đối tượng vay ngoại tệ rất hạn chế Khách hàng thường không lựa chọn vay ngoại tệ do lo ngại về sự biến động tỷ giá.
Thị trường thẻ tại Việt Nam trong những năm gần đây đã trở nên sôi động và cạnh tranh khốc liệt, với sự tham gia của nhiều ngân hàng cả trong và ngoài nước.
PHÂN TÍCH CƠ HỘI - THÁCH THỨC - ĐIỂM MẠNH - ĐIỂM YẾU
Tình hình kinh tế của tỉnh Tiền Giang trong những năm gần đây tiếp tục tăng trưởng và phát triển mạnh (tốc độ tăng trưởng năm 2009 là 9,2% và năm 2010 là 10,6%), đây là môi trường kinh tế thuận lợi đối với ngành ngân hàng Theo số liệu thống kê của tỉnh: Năm 2009, GDP bình quân đầu người đạt 969 USD/người/năm, năm 2010 là 1.100USD và dự đoán GDP bình quân đầu người tiếp tục tăng trưởng trong những năm tới Các yếu tố như: Sản xuất phát triển ổn định, xuất khẩu có nhiều thuận lợi về giá cả trên thị trường thế giới, đời sống của người dân ngày càng được cải thiện, an sinh xã hội được chăm lo chu đáo cũng góp phần nâng cao nhận thức của dân chúng đối với lĩnh vực dịch vụ ngân hàng, qua đó có thể hy vọng số lượng khách hàng cá nhân cũng sẽ tăng do nhu cầu về tiêu dùng của người dân cũng tăng (nhu cầu nhà ở, phương tiện đi lại, học hành và các hàng hoá tiêu dùng đắt tiền khác…) hiện đã đáp ứng nhanh chóng do các khỏan tín dụng sẵn sàng hơn
Bên cạnh đó, Tiền Giang có một nền khách hàng hấp dẫn đối với thị trường DVNHBL, đó là số lượng hộ gia đình và DNVVN Tính đến năm 2010, trên địa bàn tỉnh có 2.300 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, bình quân hàng năm có 460 doanh nghiệp được thành lập, chủ yếu là DNVVN và hộ gia đình Số lượng doanh nghiệp đăng ký kinh doanh mới luôn có xu hướng năm sau cao hơn năm trước, trong hai năm
2008 và 2009 vừa qua, mặc dù cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu tác động bất lợi, nhưng doanh nghiệp đăng ký kinh doanh mới vẫn tiếp tục gia tăng cả về số lượng lẫn qui mô về vốn luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Các ngân hàng thương mại nhà nước, bao gồm BIDV, có cơ hội mở rộng thị phần tại tỉnh Tiền Giang nhờ vào lợi thế hiểu biết sâu sắc về thị trường so với các ngân hàng thương mại cổ phần mới thành lập gần đây.
"Sân nhà" là một khái niệm quan trọng, giúp chúng ta hiểu rõ hơn về đặc điểm, thói quen và nhu cầu của khách hàng Đặc biệt, việc chiếm lĩnh thị phần trước đây là một lợi thế, do đó, việc phát triển và mở rộng thị phần là điều cần thiết để duy trì vị thế cạnh tranh.
Công tác thanh toán trong hệ thống ngân hàng đang ngày càng được cải tiến để đáp ứng nhu cầu cao của khách hàng Việc áp dụng các phương tiện thanh toán nhanh và hiện đại là một chiến lược hiệu quả để thu hút khách hàng Từ đầu năm 2009, Ngân hàng Nhà nước tỉnh đã triển khai thanh toán liên hàng (CITAD) cho hệ thống ngân hàng địa phương Đến năm 2010, Ngân hàng Nhà nước đã nâng cấp và tăng cường mạng lưới thanh toán liên hàng, giúp các ngân hàng thực hiện thanh toán nhanh chóng và chính xác, giảm thiểu thời gian giao dịch và nâng cao sự hài lòng của khách hàng.
- Tình hình và xu hướng phát triển kinh tế-xã hội trong thời gian tới:
Hệ thống tài chính đang đối mặt với nhiều rủi ro, với lãi suất ngân hàng biến động thất thường và lạm phát gia tăng vào cuối năm 2010 Nguy cơ lạm phát tiếp tục tái diễn trong năm 2011, cùng với những khó khăn trong đời sống nhân dân và sức cạnh tranh thấp của các doanh nghiệp Thêm vào đó, tình hình thiên tai, xâm nhập mặn và thiếu nước trong mùa khô có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp và đời sống của người dân.
- Rủi ro thanh khoản: Thời gian qua, khả năng thanh khoản của các NHTM đã cho thấy nhiều dấu hiệu báo động, đặc biệt là các NHTM phải liên tục nâng mức lãi suất huy động lên cao để thu hút vốn Điều này là hệ quả của đà tăng trưởng tín dụng nóng trong những tháng cuối năm Mặt khác, chênh lệch kỳ hạn của tài sản có và tài sản nợ gia tăng theo hướng tăng kỳ hạn ngắn, giảm kỳ hạn trung-dài hạn do từ đầu năm đến nay huy động vốn chỉ có thể tập trung vào kỳ hạn ngắn ( do tâm lý của người luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si gửi tiền kỳ vọng vào việc tăng lãi suất trong thời gian tới…), trong khi đó vẫn phải đảm bảo nhu cầu giải ngân theo các hợp đồng tín dụng trung-dài hạn đã ký kết trước đó, dẫn đến tiềm ẩn rủi ro thanh khoản và lãi suất
- Chất lượng tín dụng suy giảm: Tỷ lệ nợ xấu cuối năm có xu hướng tăng nhanh do tình hình tài chính, hoạt động kinh doanh, khả năng trả nợ của doanh nghiệp khách hàng sa sút, đặc biệt là biến động phức tạp của môi trường kinh doanh “lạm phát cao”, chi phí vốn tăng, khả năng tiêu thụ hàng hoá chậm lại Nợ xấu tại các NHTM do đó có nguy cơ tăng nhanh trong các tháng cuối năm Nếu môi trường kinh doanh tiếp tục gặp khó khăn và thiếu các biện pháp hổ trợ của nhà nước, nhiều chuyên gia lo ngại rằng nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ đối mặt với nguy cơ phá sản và do đó gánh nặng nợ xấu sẽ gia tăng mạnh trên vai các NHTM
- Môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt: Hiện nay, hầu hết các NHTM đang cạnh tranh hết sức khốc liệt trong lĩnh vực ngân hàng bán lẻ, đặc biệt là các dịch vụ có hàm lượng công nghệ cao Các ngân hàng được phân bố khá dày đặc trên địa bàn TP
Mỹ Tho nên mức độ cạnh tranh giữa các NHTM ngày càng gay gắt Trong những năm gần đây, tỉnh Tiền Giang trở thành điểm thu hút nhiều NHTMCP tìm đến để mở chi nhánh, phòng giao dịch Sự trổi dậy của các NHTMCP với tính chuyên nghiệp và đa dạng trong việc việc cung ứng sản phẩm dịch vụ ngân hàng, đã tăng sức ép cạnh tranh rất lớn lên các NHTM Nhà nước
BIDV hiện đang giữ vị thế cạnh tranh mạnh mẽ với quy mô vốn lớn, thâm niên hoạt động và mạng lưới chi nhánh rộng khắp Thương hiệu BIDV đã xây dựng hình ảnh thân thiện, uy tín với lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các đối tác trong và ngoài nước Không chỉ hoạt động tại Việt Nam, BIDV còn mở rộng ra các thị trường quốc tế như Lào, Campuchia, Pháp, Nga, Cuba và Trung Quốc Thương hiệu này đã nhận được nhiều giải thưởng giá trị, bao gồm thương hiệu quốc gia năm 2010 và các danh hiệu về dịch vụ tài chính xuất sắc.
BIDV cung cấp nhiều sản phẩm đặc thù như cho vay CBCNV mua cổ phiếu DNNN cổ phần hoá và cho vay người lao động đi làm việc ở nước ngoài Ngoài ra, ngân hàng còn có những sản phẩm chiếm ưu thế trên thị trường như cho vay hộ gia đình sản xuất-kinh doanh, cho vay cầm cố chứng từ có giá, thẻ tiết kiệm, cho vay cán bộ công nhân viên và cho vay hỗ trợ nhu cầu về nhà ở Các sản phẩm tín dụng bán lẻ của BIDV đã được quy định cụ thể, đảm bảo cung cấp hiệu quả và thống nhất trên toàn hệ thống Đặc biệt, sản phẩm thanh toán "chuyển tiền 1 giây-nhận ngay tức thì" được khách hàng đánh giá cao nhờ tính ưu việt của nó.
Dịch vụ “Chuyển tiền 1 giây” của BIDV cho phép khách hàng chuyển tiền nhanh chóng trong nội bộ ngân hàng, với thời gian hoàn tất giao dịch chỉ trong 1 giây Tiện ích “gửi tiền nhiều nơi - rút nhiều nơi” cũng thu hút nhiều khách hàng Trong lĩnh vực thẻ ghi nợ, BIDV đã ra mắt thẻ cao cấp BIDV Harmony, mang đến nhiều tiện ích vượt trội Thẻ Harmony được thiết kế độc đáo với 5 loại thẻ tương ứng với Ngũ Hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, nhằm đáp ứng nhu cầu và tâm lý của khách hàng về sự hòa hợp phong thủy Sản phẩm này không chỉ là phương tiện thanh toán mà còn là cách thể hiện cá tính và hy vọng của chủ thẻ về sự nghiệp, sức khỏe và tài lộc.
Harmony đã thu hút sự chú ý lớn từ thị trường thẻ Việt Nam với mức giao dịch lên tới 60 triệu đồng/ngày, cao nhất hiện nay Sự phát triển nhanh chóng của số thẻ phát hành trong năm 2010 chứng tỏ sức hấp dẫn của sản phẩm này.
- Đối tượng khách hàng hộ kinh doanh:
ĐÁNH GIÁ NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƢỢC VÀ NHỮNG HẠN CHẾ, NGUYÊN NHÂN HẠN CHẾ CỦA DVNHBL TẠI NHĐT&PTVN-CHI NHÁNH TỈNH TIỀN GIANG
NGUYÊN NHÂN HẠN CHẾ CỦA DVNHBL TẠI NHĐT&PTVN-CHI NHÁNH TỈNH TIỀN GIANG
2.5.1 Những kết quả đạt đƣợc:
Hoạt động ngân hàng bán lẻ (NHBL) của BIDV đã bắt đầu từ năm 1995, nhưng sự quan tâm phát triển lĩnh vực này chỉ thực sự tăng lên từ sau năm 2008, khi BIDV triển khai mô hình tổ chức theo dự án TA2, tách bạch khối ngân hàng bán lẻ với cơ cấu tổ chức và mục tiêu rõ ràng Để nâng cao khả năng cạnh tranh và đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ, BIDV đã giới thiệu nhiều sản phẩm ngân hàng bán lẻ, giúp khách hàng dễ dàng tiếp cận dịch vụ ngân hàng hiện đại Tại Chi nhánh Tiền Giang, chiến lược kinh doanh ngân hàng bán lẻ đã được xây dựng và đạt được một số thành công, góp phần vào việc hoàn thành kế hoạch kinh doanh của BIDV và phát triển Chi nhánh thành một ngân hàng thương mại bán lẻ hàng đầu trong tỉnh.
- Sự gia tăng số lượng khách hàng và thị phần:
Bảng 6 Số lƣợng khách hàng cá nhân và số thẻ ATM đã phát hành 2006 - 2010
-Số lượng khách hàng cá nhân (gồm khách hàng có tài khoản tiền gửi không kỳ hạn.) 2.464 3.012 3.564 4.012 4.587
-Số thẻ ATM phát hành 0 1.305 2.938 4.167 6.906
(Nguồn:Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh của NHĐT&PTVN-chi nhánh tỉnh Tiền
Bảng 7 Thị phần huy động vốn của BIDV so với những NHTM khác trong tỉnh TG Đvt: %
(Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động của NHNNVN-CN tỉnh Tiền Giang năm 2006- 2010)[12] luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Bảng 8 Thị phần dƣ nợ của BIDV so với những NHTM khác trong tỉnh TG Đvt: %
(Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động NH của NHNNVN-chi nhánh tỉnh Tiền Giang năm
- Hoạt động bán lẻ cũng làm tăng thu nhập cho chi nhánh :
Hoạt động dịch vụ tại chi nhánh đã ghi nhận sự tăng trưởng liên tục về số thu dịch vụ qua các năm, cả về số lượng lẫn tỷ trọng thu phí dịch vụ so với lợi nhuận Mặc dù năm 2010 chứng kiến sự giảm sút do một số ngân hàng thương mại cổ phần áp dụng biểu phí linh hoạt, dẫn đến việc chi nhánh phải hạ giá phí của một số dịch vụ để giữ chân khách hàng, tổng thu dịch vụ vẫn đóng góp đáng kể vào thu nhập của chi nhánh Cụ thể, tỷ trọng thu phí dịch vụ so với lợi nhuận năm 2006 đạt 12,5%.
2007 là 10,9%, năm 2008 là 34,1%, năm 2009 là 47,7%, năm 2010 là 33,3% luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Bảng 9 Kết quả hoạt động kinh doanh của NHĐT&PTVN-chi nhánh tỉnh Tiền
Giang giai đoạn 2006-2010 Đvt: triệu đồng
Tổng nguồn vốn huy động 891.260 658.369 917.995 1.337.416 1.701.346
Trích dự phòng rủi ro 5.404 10.451 9.722 9.156 7.082
Lợi nhuận trước thuế sau khi trích dự phòng rủi ro 17.377 26.875 21.682 23.544 34.485
Thu nợ hạch toán ngoại bảng gốc+lãi 3.652 18.862 245 222 534
Tỷ trọng thu phí dịch vụ/ lợi nhuận (%) 12,5 10,9 34,1 47,7 33,3 (Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh của NHĐT&PTVN-chi nhánh tỉnh Tiền
Trong lĩnh vực huy động vốn, tiền gửi dân cư vẫn giữ vai trò quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn huy động Tỷ trọng này đã có xu hướng tăng dần qua các năm, đặc biệt từ năm 2006 đến nay.
Trong năm 2010, tỷ lệ huy động vốn của chi nhánh đạt 68,28%, 49,15%, 54,13%, 64,89% và 75,91% Chi nhánh đã nỗ lực áp dụng nhiều biện pháp để duy trì và tăng trưởng huy động vốn, nhằm đảm bảo nền tảng vốn vững chắc cho hoạt động kinh doanh và đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng Tuy nhiên, mức tăng trưởng tiền gửi trên 12 tháng còn hạn chế so với tổng nguồn vốn, do đó cần có giải pháp thu hút loại hình tiền gửi này để đáp ứng đủ vốn trung và dài hạn cho khách hàng.
Đối với lĩnh vực cho vay: cho thấy BIDV cũng đang đẩy mạnh sang kinh doanh bán lẻ, điều này thể hiện ở việc giảm dư nợ của các doanh nghiệp quốc doanh (vốn là thế mạnh của BIDV) và tăng dư nợ của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, đặc biệt là hộ kinh doanh cá thể và DNVVN (tỷ trọng dư nợ ngoài quốc doanh/tổng dư nợ từ năm 2006 đến 2010 lần lượt là 92,4%; 94,6%; 91,4%; 95,2%; 96,6%)
- Gia tăng tiện ích cho khách hàng: Đối với nhóm các sản phẩm bán lẻ truyền thống, sự tiến bộ của BIDV được thể hiện ở sự chú trọng tới việc gia tăng tiện ích cho khách hàng Ở mảng tiền gửi, ngoài chương trình huy động tiết kiệm thông thường còn có tiết kiệm dự thưởng, tiết kiệm tặng thẻ cào hoặc các cách tính lãi suất linh hoạt (lãi suất bậc thang, lĩnh lãi định kỳ, lĩnh lãi trước) được thiết kế cho phép khách hàng lựa chọn phù hợp với nhu cầu, tạo sức hấp dẫn với các sản phẩm truyền thống BIDV là một trong những ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam cho phép khách hàng có thể gửi tiền ở một nơi và thực hiện rút tiền ở bất kỳ điểm giao dịch nào thuộc hệ thống BIDV trên toàn quốc qua mạng thanh toán online trong hệ thống Song song đó, BIDV cũng đã tăng thêm một số dịch vụ giá trị gia tăng trên ATM, như thanh toán hoá đơn trả sau các mạng điện thoại, nạp tiền điện thoại trả trước, mua bảo hiểm qua máy ATM, thanh toán vé máy bay Jestar Pacific…
2.5.2 Những hạn chế và nguyên nhân hạn chế đối với việc phát triển DVNHBL tại NHĐT&PTVN-Chi nhánh tỉnh Tiền Giang:
- Về quản trị điều hành, mô hình tổ chức kinh doanh
+Mô hình tổ chức quản lý và kinh doanh NHBL đang trong giai đoạn hoàn thiện, còn chưa chuyên biệt và thiếu tính hệ thống
+Các thể chế, quy định trong quản lý, kinh doanh NHBL chưa đầy đủ, chưa chuẩn hoá phù hợp với thông lệ quốc tế
+Năng lực quản trị rủi ro, năng lực kiểm soát và tự kiểm soát các hoạt động bán lẻ còn chưa cao để phòng tránh các rủi ro đạo đức và rủi ro tác nghiệp luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
+Hệ thống thông tin phục vụ quản trị điều hành còn thiếu
- Về sản phẩm dịch vụ:
+BIDV chưa có nhiều sản phẩm đi trước đón đầu thị trường, đa số các sản phẩm được BIDV triển khai sau khi các NHTM khác đã thực hiện thành công
+BIDV cũng có một số sản phẩm dịch vụ mang tính tiên phong nhưng chưa được khai thác và phát huy thế mạnh (như dịch vụ tin nhắn BSMS, Homebanking) + Sản phẩm dịch vụ BIDV chưa có tính vượt trội so với với các NHTM trên địa bàn cả về tính năng, chất lượng và số lượng sản phẩm, chưa đưa ra được những sản phẩm dịch vụ thực sự nổi trội, mang tính cạnh tranh cao và đặc trưng đại diện cho thương hiệu BIDV
+Tính cạnh tranh chưa cao: Việc cạnh tranh bằng chất lượng dịch vụ, công nghệ và thương hiệu chưa trở nên phổ biến mà NH quan tâm nhiều đến việc đua tăng lãi suất
- Kênh phân phối không đa dạng, hiệu quả thấp, chưa mở rộng mạng lưới , chưa đáp ứng căn bản nhu cầu về dịch vụ ngân hàng của các nhóm đối tượng khác nhau , trong đó phải kể tới các đối tượng là người có thu nhập thấp, người nghèo, người dân ở vùng sâu, vùng xa rất khó tiếp cận với dịch vụ ngân hàng Hiện tại, ngoài hội sở chi nhánh và 2 phòng giao dịch của NHĐT&PTVN-chi nhánh Tiền Giang đều ở Thành phố Mỹ Tho, chưa có điểm giao dịch nào cho khách hàng ở huyện, thị xã trong tỉnh Phương thức giao dịch và cung cấp dịch vụ chủ yếu vẫn là
“tiếp xúc trực tiếp qua quầy” Các hình thức giao dịch từ xa dựa trên cơ sở nền tảng công nghệ thông tin và điện tử chưa phổ biến Mạng lưới chưa được mở rộng đến với từng người dân vùng xa – mà điều này đang là lợi thế của NH Nông nghiệp và NH Công Thương
- Sự đơn điệu trong hoạt động kinh doanh, hệ thống sản phẩm dịch vụ mang nặng tính truyền thống, nghèo nàn về chủng loại
BIDV hiện cung cấp chủ yếu các dịch vụ ngân hàng truyền thống như cho vay, nhận tiền gửi và thanh toán, nhưng vẫn thiếu các sản phẩm công nghệ cao và hiện đại Sự đơn điệu trong hoạt động kinh doanh và nghèo nàn về chủng loại sản phẩm, cùng với việc chậm triển khai sản phẩm mới so với các ngân hàng thương mại cổ phần khác, là những hạn chế cần được khắc phục ngay.
- Cơ cấu, tỷ trọng các loại dịch vụ chưa hợp lý : hoạt động dịch vụ trong các năm qua vẫn tập trung vào các sản phẩm truyền thống như dịch vụ bảo lãnh, thanh toán trong nước và quốc tế, kinh doanh ngoại tệ, tài trợ thương mại chiếm tỷ trọng khá cao trong khi các dịch vụ mới và có hàm lượng công nghệ cao như BSMS, Direct-banking, Homebanking, POS …chiếm tỷ trọng rất thấp
- Tính an toàn bảo mật của các giao dịch bán lẻ chưa được đảm bảo: Đôi khi các nhân viên ngân hàng vẫn còn xem nhẹ việc bảo mật các thông tin giao dịch bán lẻ, nhiều khi không phải là cố ý nhưng vô tình các thông tin của khách hàng vẫn không được được đảm bảo bí mật Ở giai đoạn triển khai công nghệ mới do chưa được quán triệt hết tầm quan trọng của tính an toàn nên việc tuân thủ một số quy trình tác nghiệp bị vi phạm, gây ra mất mát tài sản của ngân hàng