Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn
Cơ sở lý luận về ứng xử của hộ dân với môi trường nuôi trồng thuỷ sản
2.1.1 Lý luận về môi trường và ô nhiễm môi trường 2.1.1.1 Môi trường
Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật (Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, 2006)
Môi trường là tổng thể các thành tố sinh thái tự nhiên, xã hội - nhân văn, các điều kiện tác động trực tiếp hay gián tiếp lên phát triển, lên đời sống và hoạt động của con người trong thời gian bất kỳ (Bách khoa toàn thư, 1994)
Môi trường của con người bao gồm toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra (tập quán, niềm tin…), trong đó con người sống và lao động, khai thác các tài nguyên thiên nhiên và nhân tạo nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình (UNESCO, 1981)
Như vậy, môi trường bao gồm các yếu tố vật chất tự nhiên hoặc nhân tạo, lý học, hóa học, sinh học, kinh tế - xã hội cùng tồn tại trong một không gian bao quanh con người Các yếu tố này có mối quan hệ mật thiết, tương tác lẫn nhau và tác động lên từng cá thể hay cả cộng đồng cùng tồn tại và phát triển
2.1.1.2 Ô nhiễm môi trường a Khái niệm Ô nhiễm môi trường là sự thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm tiêu chuẩn môi trường (Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, 2006)
Ô nhiễm môi trường là hiện tượng khi một chất nào đó xuất hiện trong môi trường với thành phần và lượng đủ để cản trở các quá trình tự nhiên hoặc làm cho chúng diễn ra không như mong muốn, gây hại cho sức khỏe con người và các sinh vật khác Nó cũng được hiểu là việc thải các chất hoặc năng lượng vào môi trường đến mức có thể gây hại cho sức khỏe con người, sự phát triển của sinh vật, hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường Các tác nhân ô nhiễm bao gồm khí thải, nước thải, chất thải rắn chứa hóa chất, cũng như các yếu tố vật lý, sinh học và năng lượng như nhiệt độ và bức xạ Môi trường chỉ được coi là ô nhiễm khi hàm lượng, nồng độ hoặc cường độ của các tác nhân này đạt mức có khả năng tác động xấu đến con người, sinh vật và vật liệu.
Trên cơ sở phân loại theo các chất gây ô nhiễm và những tác động chính của chúng đối với môi trường, ô nhiễm môi trường (ÔNMT) được phân thành 7 loại:
- Ô nhiễm môi trường đất: ÔNMT đất được xem là tất cả các hiện tượng làm nhiễm bẩn môi trường đất bởi các chất gây ô nhiễm Người ta có thể phân loại đất bị ô nhiễm theo các nguồn gốc phát sinh hoặc theo các tác nhân gây ô nhiễm
- Ô nhiễm không khí: Là sự có mặt một chất lạ hoặc một sự biến đổi quan trọng trong thành phần không khí, làm cho không khí không sạch hoặc gây sự tỏa mùi, có mùi khó chịu, giảm tầm nhìn xa (có bụi) Có rất nhiều nguồn gây ô nhiễm không khí: Các loại chất thải (khói, bụi, khí độc, ) của công nghiệp khai thác hầm mỏ, xí nghiệp, các phương tiện giao thông vận tải chạy bằng xăng, dầu, (tạo ra 65% khối lượng chất gây ô nhiễm không khí) Ô nhiễm không khí dễ gây nhiều bệnh nghề nghiệp (nhiễm bụi sillic phổi ), bệnh dị ứng (hen suyễn ), một số bệnh ung thư, các bệnh mãn tính đường hô hấp (viêm phế quản mãn tính ) Trên phạm vi rộng lớn, ô nhiễm không khí gây tác hại đến hệ sinh thái, đến các công trình xây dựng và các di tích lịch sử, đang làm tăng nhiệt độ trung bình Trái Đất với nhiều hậu quả chưa lường hết được Ô nhiễm không khí là một phần của ô nhiễm môi trường, vấn đề mà hiện nay cả thế giới đang quan tâm và được bàn luận ở nhiều hội nghị quốc tế
Ô nhiễm nước là sự thay đổi chất lượng nước do hoạt động của con người, gây ra nguy hiểm cho sức khỏe con người, nông nghiệp, công nghiệp, nuôi cá, và động vật hoang dã Nguồn gốc ô nhiễm nước có thể là tự nhiên, như mưa, tuyết tan, và lũ lụt, hoặc nhân tạo, chủ yếu từ việc thải các chất độc hại dưới dạng lỏng từ sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp và giao thông.
Ô nhiễm nhiệt là hiện tượng do nhiệt từ các nhà máy nhiệt điện và nhà máy điện nguyên tử gây ra, làm nóng bầu khí quyển và dẫn đến ô nhiễm không khí cũng như thủng tầng ozon Ngoài ra, ô nhiễm nhiệt còn làm tăng mực nước các dòng sông, giảm hàm lượng oxy trong nước, ảnh hưởng đến sự hô hấp của các sinh vật dưới nước, gây rối loạn các phản ứng sinh hóa trong cơ thể chúng, dẫn đến tình trạng không phát triển hoặc chết hàng loạt.
Ô nhiễm tiếng ồn là sự kết hợp của những âm thanh tạp loạn với tần số và chu kỳ khác nhau, thường phát sinh từ các nguồn chấn động không tuần hoàn Hàng ngày, chúng ta tiếp xúc với nhiều loại tiếng ồn từ phương tiện giao thông, hoạt động sản xuất, xây dựng, nông nghiệp và công nghiệp, cũng như làm việc trong các môi trường ồn ào như xưởng sản xuất, nhà máy và hầm mỏ Tiếng ồn không chỉ gây khó chịu mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người, dẫn đến các bệnh nghề nghiệp như ù tai, điếc và các vấn đề về thần kinh.
- Ô nhiễm phóng xạ: Sự ô nhiễm môi trường gây ra bởi các chất phóng xạ nguy hiểm Đặc biệt là sự ô nhiễm bởi các chất phóng xạ không bị tiêu hủy hay không bị vô hiệu hóa bởi con người mà nó tự phân hủy theo thời gian, do đó không thể loại trừ chất phóng xạ khi bị ô nhiễm
- Ô nhiễm biển: Là hiện tượng làm biến đổi, hoặc xáo trộn các thành phần hóa học của nước biển gây ra do các hoạt động của con người trên biển như vận tải (tràn dầu, các hoạt động tẩy rửa tàu thuyền, nhiên liệu, ) khai thác dầu (rò rỉ dầu từ các dàn khoan, nhà máy lọc dầu, ) hoặc do các nguồn ô nhiễm phát sinh từ đất liền ảnh hưởng tới đời sống của các loài sinh vật dưới biển và tác động xấu đến sự tăng trưởng, phát triển của chúng
2.1.2 Lý luận về nuôi trồng thủy sản, ô nhiễm môi trường nuôi trồng thuỷ sản 2.1.2.1 Khái niệm hộ nông dân
- Hộ nông dân là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của khoa học nông nghiệp và phát triển nông thôn Các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp ở nông thôn chủ yếu thực hiện qua sự hoạt động của hộ nông dân Tchayanov cho rằng:
Hộ nông dân được xem là đơn vị sản xuất ổn định và là nền tảng quan trọng cho sự phát triển nông nghiệp Quan điểm này đã được áp dụng rộng rãi trong chính sách nông nghiệp ở nhiều quốc gia, bao gồm cả các nước phát triển.
Cơ sở thực tiễn
Việt Nam là một trong những nước có thế mạnh về NTTS nhưng Việt Nam vẫn cần học hỏi kinh nghiệm của các nước trên thế giới về kỹ thuật cũng như phương pháp NTTS Việt Nam cần phải tăng cường quản lý nhà nước trong NTTS, quản lý nguồn lợi thủy sản và sử dụng hợp lý để nâng cao chất lượng sản phẩm thủy sản, có các chính sách khuyến khích người dân phát triển NTTS và tăng cường các mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế để tham gia hoạt động thủy sản như ngư dân, nông dân, các hợp tác xã, các trung tâm sản xuất giống, thức ăn cho NTTS Điều này sẽ góp phần đảm bảo cho sự phát triển thủy sản bền vững trong tương lai Người NTTS nên chuyển từ nuôi trồng nhỏ lẻ, tự phát sang nuôi trồng tập trung có quy mô lớn và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật tùy điều kiện tự nhiên, đầu tư con giống, liên kết hợp tác với các cơ sở sản xuất giống để đưa ra các giống mới thích nghi với sự thay đổi của môi trường, áp dụng các phương pháp NTTS phát triển bền vững, thân thiện với môi trường, đầu tư xây dựng ao, đầm khép kín và theo phương thức quảng canh đảm bảo các tiêu chí về thức ăn và sử dụng thức ăn tự nhiên để tăng sản lượng năng xuất, không ngừng học hỏi kinh nghiệm của các nước trên thế giới, các phương pháp nuôi trồng và xử lý môi trường trong nuôi trồng một cách thích hợp ở Việt Nam
Trong hai thập niên gần đây, diện tích NTTS trên thế giới được mở rộng dẫn đến công nghệ NTTS cũng thay đổi nhanh chóng Phương thức chọn con giống, công thức cho ăn và kỹ thuật cho ăn cũng hay đổi rõ nét Tuy nhiên sự thay đổi quá nhanh cũng sẽ dẫn đến nhiều vấn đề môi trường nảy sinh như làm giảm diện tích rừng ngập mặn, ô nhiễm cục bộ tại các vùng NTTS hoặc gây lây nhiễm nguồn bệnh giữa các loại giống với nhau Theo Frankellis 1993, ở Thái Lan, ước tính mỗi kg tôm sản xuất ra ngư trường mất 434 kg cá chỉ do sự chuyển đổi của nơi cư trú Ở vùng Chokonia, Bangladesh, sản lượng đánh bắt giảm 80% từ khu rừng ngập mặn bị phá và đặp đê để khoanh vùng nuôi tôm ở Ấn Độ và Indonesia, năng suất nuôi tôm giảm sau 5 - 10 năm Ở Thái Lan hơn luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
20% trại tôm từ rừng ngập mặn bị bỏ chỉ sau 2 - 4 năm, 250.000 ha đã phải bị bỏ hoang Điều này sẽ dẫn đến suy thoái môi trường nghiêm trọng, các vùng đất này trở thành vùng đất chết và người nuôi tôm lại đi tìm vùng nuôi tôm khác để khai thác Đến nay, Thái Lan đã thực hiện rộng rãi phương pháp nuôi tôm phát triển bền vững, thân thiện với môi trường, chú trọng đến trồng rừng và thả tôm cá giống xuống sông Họ tiến hành xây dựng ao, đầm khép kín, chỉ cho phép xả nước khi đã được làm sạch Nuôi tôm theo phương thức quảng canh với diện tích gấp 5 lần nuôi tôm thông thường, đảm bảo các tiêu chí về thức ăn, sử dụng tảo làm nguồn nguyên liệu chính cho tôm nên sản lượng năng xuất đã tăng lên rõ rệt Theo nghiên cứu của Tiến sỹ Chalor Limsuwan, Khoa Thủy sản, trường Đại Học Kasetsart Thái Lan (2013), Thái Lan đã áp dụng kinh nghiệm thay đổi thời điểm thu hoạch khai thác tôm vào từ buổi sang chuyển sang buổi chiều khi độ pH thay đổi nằm giữa khoảng 8,0 và 8,5 Vào mùa mưa lớn, Thái Lan cũng bổ sung thêm đá vôi vào ao để tránh tôm lột xác, nhằm bù lại độ pH thấy gây ra bởi các trận mưa Theo báo Underrurrent News, năm 2010, bang Sonora ở Mexico đã bị ảnh hưởng hội chứng chết sớm của tôm do nhiệt độ tăng cao trong thời gian một tháng và đã ảnh hưởng đến sản lượng thu hoạch tôm của vùng làm tổn thất hơn
Người dân nuôi trồng thủy sản tại Sonora đã đầu tư 77 triệu USD vào kỹ thuật canh tác mới, giúp cải thiện sản lượng thu hoạch Mặc dù diện tích nuôi trồng chỉ có 300.000 ha, nhưng họ đã đạt được 84.000 tấn tôm nhờ quy trình kiểm soát nuôi trồng tốt Điều này cho thấy sự thích ứng của các hộ dân nuôi trồng thủy sản với môi trường tại Việt Nam.
Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề từ dịch bệnh, thiên tai và ô nhiễm môi trường, với thời tiết và bão ngày càng gia tăng, gây rủi ro cho các ngành sản xuất ven biển Trước tình hình này, người dân cần phải thích nghi và ứng phó với môi trường để đảm bảo sản xuất hiệu quả, giảm thiểu rủi ro và thất thoát, từ đó mang lại lợi ích kinh tế cao.
Tại tỉnh Nam Định môi trường nước nhiều vùng nuôi bị ô nhiễm, làm xuất hiện dịch bệnh trong NTTS Trong 2 năm 2012-2013, có nơi dịch bệnh thủy sản bùng phát ở mức độ cao gây nhiều thiệt hại cho các hộ nuôi Vì vậy, công tác quản lý, bảo vệ môi trường các vùng nuôi đang được ngành NN&PTNT coi là giải pháp tích cực nhất để phòng, chống dịch bệnh trong NTTS Đầu năm 2014, do người dân thả giống với mật độ dày và quản lý môi trường chưa tốt nên chỉ sau thả 35 - 42 ngày, hơn 100ha tôm thẻ chân trắng bị luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si chết Sở NN&PTNT đã tiến hành xét nghiệm mẫu thủy sản, phát hiện các mẫu tôm bị bệnh, mẫu nước không đạt tiêu chuẩn Sở đã chỉ đạo các đơn vị trực thuộc phối hợp với Phòng NN&PTNT các huyện, chính quyền các xã có vùng nuôi hướng dẫn người nuôi về khung thời vụ thả giống tốt nhất, đồng thời thực hiện tốt công tác thú y thủy sản, theo dõi diễn biến dịch bệnh, tổ chức khoanh vùng dịch, không xả nước ao nuôi và ao có bệnh chưa xử lý ra ngoài môi trường, tuân thủ nghiêm các quy định và hướng dẫn kỹ thuật Do vậy dịch bệnh đã được ngăn chặn và khống chế, đặc biệt ở các vùng nuôi tôm Giao Phong, Bạch Long, Thị trấn Quất Lâm (Giao Thủy), Hải Lý (Hải Hậu) Bên cạnh đó, Sở NN&PTNT chỉ đạo các đơn vị trong ngành tăng cường quản lý thức ăn, hóa chất, thuốc kháng sinh, chế phẩm sinh học phòng, chống dịch bệnh trong NTTS, đặc biệt chú trọng trong nuôi tôm, ngao Sở đã tiến hành rà soát, nắm bắt tình hình cải tạo đầm ao, diện tích nuôi, lượng giống thả, đôn đốc các địa phương hướng dẫn người nuôi thực hiện nghiêm túc quy trình nuôi, nhất là quy trình chuẩn bị ao nuôi Chi cục Quản lý chất lượng Nông lâm sản và thủy sản làm tốt công tác giám sát chất lượng nuôi tôm thẻ chân trắng Chi cục Thú y tỉnh tăng cường cán bộ kỹ thuật xuống các vùng nuôi làm tốt công tác tuyên truyền, hướng dẫn các hộ nuôi thực hiện các biện pháp phòng bệnh tổng hợp, quản lý chăm sóc và sử dụng các loại hóa chất, kháng sinh và chế phẩm sinh học để phòng trừ bệnh, không để lây lan ra diện rộng Bên cạnh đó, chi cục thường xuyên thu mẫu nước tại cửa cống lấy nước vào các vùng nuôi trong tỉnh, ao nuôi và mẫu tôm để cảnh báo sớm dịch bệnh và tình trạng môi trường Ngoài ra, chi cục đã phối hợp chặt chẽ với các đơn vị trong ngành tăng cường công tác kiểm tra các cơ sở sản xuất, kinh doanh giống và thuốc thú y thủy sản trên địa bàn tỉnh Phòng NTTS, Trung tâm Khuyến nông - Khuyến ngư (Sở NN&PTNT) thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật chăm sóc từng đối tượng con nuôi cho người dân, nâng cao nhận thức trách nhiệm của mỗi cá nhân và tính cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường NTTS Hiện ở một số vùng nuôi tập trung, các hộ tham gia NTTS đã thành lập, làm việc theo nhóm, hội trong cùng một khu vực nuôi bảo đảm thống nhất trong các hoạt động cải tạo ao, lấy và thải nước hợp lý, bảo vệ môi trường nuôi; trao đổi kinh nghiệm, quan tâm áp dụng các biện pháp kỹ thuật từ lựa chọn con giống sạch bệnh, xử lý nước, thức ăn, chăm sóc, phòng bệnh tốt giúp cho vùng nuôi đảm bảo an toàn dịch bệnh Tại một số vùng nuôi tôm thẻ chân trắng tập trung, các hộ nuôi đã tuân thủ nghiêm ngặt quy trình GAP/CoC (kỹ thuật nuôi tôm bền vững theo tiêu chuẩn quy phạm thực hành nuôi tốt, an toàn luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si dịch bệnh), đề cao trách nhiệm cộng đồng, bảo vệ vùng nuôi theo quy ước đã xây dựng Vì vậy, trong vụ hai vừa qua dịch bệnh không đáng kể, năng suất bình quân đạt 8 - 10 tấn/ha Ở các vùng nuôi ngao của huyện Giao Thủy và Nghĩa Hưng, các hộ nuôi đã chú trọng chọn bãi, cải tạo nền đáy bãi nuôi, tạo môi trường đáy thuận lợi cho ngao phát triển, chọn thời điểm thả giống và quản lý sản phẩm nên năng suất đã tăng lên rõ rệt Tại các vùng nuôi thủy sản nước ngọt với các đối tượng nuôi truyền thống như: mè, trôi, trắm, chép… các hộ nuôi có kinh nghiệm và được tập huấn kỹ thuật nên công tác cải tạo ao đầm, hồ, xử lý môi trường nước luôn được đảm bảo, công tác quản lý chăm sóc tốt nên đã đạt năng suất từ 4 - 6 tấn/ha/năm Với diện tích đấu thầu gần 7.000 m 2 , anh Trần Văn Nam, thôn Kim, xã Mỹ Thắng (Mỹ Lộc) đã xây dựng hệ thống ao gồm có ao xử lý nước và ao nuôi thả cá trắm đen Anh Nam cho biết: “Cá trắm đen cần nhiều lượng ôxy hơn một số giống cá khác nên hằng tuần, tôi bơm nước từ sông vào ao xử lý, chờ lắng, khi nước ổn định, tôi sử dụng chế phẩm sinh học, vôi bột để khử trùng rồi mới đưa vào ao nuôi, duy trì mực nước cao khoảng 1,8 - 2 m để tăng lượng ô xy trong ao” Do làm tốt khâu xử lý nước và chăm sóc đúng quy trình kỹ thuật nên từ nhiều năm nay, đàn cá của gia đình anh Nam không bị bệnh, mỗi năm anh xuất bán khoảng 3 tấn cá trắm đen, cho thu lãi trên dưới 150 triệu đồng Để môi trường (đất, nước…) ở các vùng nuôi có chỉ số thích hợp và ổn định, phù hợp với nhu cầu sinh thái, sinh lý của con nuôi nhằm đảm bảo an toàn dịch bệnh, ngành NN&PTNT tỉnh đang phối hợp với các địa phương tiếp tục thực hiện công tác rà soát, bổ sung quy hoạch tổng thể NTTS; dựa trên các điều tra cơ bản về chất đất, chất nước của từng vùng trong địa bàn quản lý để xác định đối tượng nuôi, hình thức nuôi thích hợp cho từng vùng Đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động các hộ nuôi xử lý nước thải đúng theo quy định; vét sạch chất thải ở các ao, đầm khi kết thúc vụ nuôi và xả thải ở xa khu vực nuôi Việc tẩy dọn ao, đầm trước, sau mỗi vụ nuôi là những thao tác kỹ thuật quan trọng, không chỉ để tiêu diệt hết những tác nhân gây bệnh, mà còn có ý nghĩa trong việc tạo ra môi trường thích hợp, ổn định Cùng với việc nâng cao ý thức, trách nhiệm của các hộ nuôi trong việc bảo vệ môi trường NTTS, các cơ quan chức năng và các địa phương cũng cần tăng cường kiểm soát chặt chẽ các loại vật tư thức ăn, thuốc kháng sinh, hóa chất, chế phẩm sinh học được sử dụng trong NTTS luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Viện Địa kỹ thuật Na Uy (NGI) hợp tác với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam nghiên cứu và khảo sát tình trạng mất đất ở vùng bờ biển, mất rừng ngập mặn và xâm thực nước mặn vào sâu trong các kênh, rạch ở tỉnh
Cà Mau nhận định: “Tình trạng sụt lún của tỉnh Cà Mau nói riêng và khu vực bán đảo Cà Mau của vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói chung đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng, vượt hơn các dự báo trước đây Số liệu được NGI đưa ra là trong khi bề mặt của hầu hết các địa phương ở tỉnh Cà Mau chỉ cao hơn mặt nước biển khoảng 1m thì 15 năm gần đây ở nhiều nơi trong khu vực này, mức độ sụt lún đất đã ở mức 30 - 80cm” Theo kết quả khảo sát gần đây của Phân viện Điều tra quy hoạch rừng Nam Bộ, trong tổng số 768km bờ biển của vùng ven biển Đồng bằng sông Cửu Long đã có hơn 310km bờ biển và ven các cửa sông bị xói lở Trong đó, chiều dài các đoạn bờ biển bị xói lở ở tỉnh Tiền Giang là 47,2km, Bến Tre hơn 29km, Trà Vinh: 14,2km, Sóc Trăng: 18,7km, Bạc Liêu: 6,3km, Cà Mau: 111,6km, Kiên Giang gần 88km Ở nhiều khu vực ven biển, các hình ảnh thu được từ vệ tinh cho thấy trong vòng 20 năm qua, đất bị mất, bờ biển đã thụt vào từ 100m đến 1,4km Các vùng nuôi cá tra ở An Giang, Đồng Tháp và Cần Thơ là những nơi dễ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất trong mùa mưa do tác động kết hợp của nước biển dâng và những thay đổi về lượng mưa Mô hình gia tăng mực nước lũ tối đa trong mùa mưa theo vùng địa lý dựa trên kịch bản nước biển dâng 50 cm cho thấy, mức ngập lụt dự báo tăng mạnh nhất tại các tỉnh nội đồng thuộc lưu vực sông Mê Kông Theo kịch bản nước biển dâng 50 cm, độ mặn tối đa sẽ tăng cao nhất tại các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu và Kiên Giang Độ mặn tại ao nuôi trong vùng vào mùa khô sẽ tăng hơn 2 ppt so với trước đây, đòi hỏi phải tăng cường bơm nước ngọt vào ao đầm để duy trì độ mặn thích hợp cho tôm Tại các vùng có cơ sở hạ tầng điều tiết nước bảo vệ khỏi xâm nhập mặn, sự gia tăng độ mặn cao nhất là tương đối nhỏ, không quá 1 ppt Các vùng nuôi cá tra mở rộng ra phía biển tại Vĩnh Long và Bến Tre nhiều khả năng sẽ có độ mặn cao hơn (Phạm Đình Đôn, 2004).
Bài học kinh nghiệm trong ứng xử của các hộ dân nuôi trồng thủy sản với môi trường
Thời gian gần đây, nghề nuôi trồng thủy sản (NTTS) ven biển phát triển khá ổn định, trình độ kỹ thuật của người nuôi và mức độ thâm canh ngày càng cao Tuy nhiên, ý thức của người dân về sử dụng hóa chất, kháng sinh đúng cách trong NTTS chưa cao; việc dập dịch, xử lý chất thải trong NTTS trước khi thải ra luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si môi trường chưa được người nuôi quan tâm Việc quản lý môi trường vùng nuôi cũng chưa được người nuôi thực hiện triệt để, từ đó gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái ven biển, dẫn đến nguy cơ dịch bệnh bùng phát và làm giảm hiệu quả kinh tế trong NTTS ven biển
Tỉnh Thanh Hoá hiện có 260 ha nuôi tôm công nghiệp, tập trung ở các huyện Hoằng Hóa, Tĩnh Gia, Hậu Lộc, Quảng Xương Tuy nhiên, môi trường trong nuôi trồng thủy sản đang trở thành vấn đề bức xúc Tại một số khu vực nuôi tôm công nghiệp, cho thấy hầu hết các cơ sở nuôi tôm đều không đầu tư xây dựng bể lắng xử lý nước thải, sau mỗi vụ nuôi, nước thải, bùn đều trực tiếp xả ra ngoài tự nhiên Ngoài ra, theo định kỳ sau 30 ngày nuôi, các hộ tiến hành xiphon (hút) bùn đáy từ ao nuôi thải ra kênh mương Việc cho thức ăn quá nhiều, thức ăn dễ tan và theo nước thải ra môi trường, phần dư thừa tích tụ dưới đáy ao Tái sử dụng ao nuôi bị ô nhiễm hay thải ra môi trường xung quanh làm cho nguồn nước ô nhiễm cũng làm ảnh hưởng đến môi trường
Tại vùng nuôi tôm trên cát ven biển xã Hoằng Phụ (huyện Hoằng Hóa) vì lợi nhuận mang lại từ nuôi tôm khá lớn nên người dân đổ xô đầu tư nuôi tôm Khu nuôi trồng thủy sản tập trung của xã có 95 ha, với 130 hộ nuôi, chủ yếu là nuôi quảng canh đa con Hiện nguồn nước đang bị ô nhiễm bởi các khu vực nuôi tôm, các hộ dân thau, rửa ao nuôi thải trực tiếp ra sông Trong khi các thiết bị đo độ PH, NO2, không có, nên nguy cơ xảy ra dịch bệnh, như: Đốm trắng, gan cho các đối tượng nuôi quảng canh là khá cao Trên địa bàn xã cũng đã xảy ra dịch bệnh làm tôm, cá, cua xanh chết hàng loạt, khiến người nuôi thua lỗ Ở đồng bằng sông Cửu Long, ô nhiễm môi trường trong ngành thủy sản cũng đang ở mức báo động, đặc biệt là tình trạng ồ ạt mở rộng diện tích nuôi tôm, cá tra ở khu vực này Với khoảng 5.000ha mặt nước nuôi cá tra, ước tính mỗi năm có gần 1 triệu tấn chất thải có nguồn gốc từ thức ăn nuôi cá trong các ao thải ra môi trường
Tại Tiền Giang, diện tích nuôi tôm nước lợ hàng năm khoảng 5.000 ha, đem lại sinh kế cho khoảng 3.000 hộ dân Qua quá trình sản xuất cho thấy, việc người nuôi tôm không xử lý chất thải trước khi thải ra môi trường có ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất Cụ thể, dịch bệnh trên tôm ngày càng tăng, tình trạng tôm chết hàng loạt ngày càng xuất hiện ở nhiều địa phương và ảnh hưởng đến môi trường sinh thái Trong quá trình cải tạo ao nuôi tôm thì có hộ sử dụng hóa chất để cải tạo ao với các loại hóa chất thông dụng như: Vôi, iodin, chlorin, saponin
Cá biệt, một số trường hợp nông dân sử dụng cả thuốc trừ sâu để diệt giáp xác trong quá trình cải tạo ao nuôi, nhất là các hộ nuôi tôm bị thua lỗ, không còn vốn luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si đầu tư cho khâu cải tạo, xử lý ao nuôi theo đúng quy trình kỹ thuật mà cơ quan chức năng đã khuyến cáo Nhiều hộ nuôi tôm sử dụng các loại hóa chất, kháng sinh nằm trong danh mục cấm sử dụng như Enrofloxacin trong nuôi tôm gây mất an toàn thực phẩm và dẫn đến suy thoái môi trường ao nuôi tôm
Sự gia tăng diện tích nuôi tôm nước lợ tại Long An đã dẫn đến ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, làm gia tăng dịch bệnh Tại các huyện như Cần Giuộc, Cần Đước, Tân Trụ, hoạt động sên vét bùn thải diễn ra không kiểm soát, gây ô nhiễm nguồn nước và mâu thuẫn trong cộng đồng Lớp bùn đáy ao chứa nhiều chất độc hại như Ammonia và Hydrogen sulfide, làm giảm chất lượng nước nuôi tôm Sau 3-5 năm nuôi, môi trường nước bị mặn hóa và dịch bệnh, đặc biệt là bệnh mềm vỏ, phát sinh Nguyên nhân chính là sự phát triển tự phát, thiếu quy hoạch trong sản xuất nông, lâm, thủy sản, cùng với ý thức bảo vệ môi trường thấp của người dân Hệ thống chính sách về xử lý chất thải chưa phù hợp, gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc đầu tư cho bảo vệ môi trường Việc ứng dụng công nghệ xử lý chất thải còn hạn chế, và công tác tuyên truyền về bảo vệ môi trường chưa tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức của cộng đồng.
PHẦN 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 3.1.1 Điều kiện tự nhiên
Huyện Thái Thụy nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Thái Bình, có toạ độ địa lý từ 20 0 26’40’’ - 20 0 38’26’’ vĩ độ Bắc và 106 0 25’41’’ - 106 0 39’27’’ kinh độ Đông, có vị trí:
+ Phía Bắc giáp huyện Vĩnh Bảo thành phố Hải Phòng và ranh giới chia tách bởi sông Hóa, đổ ra biển qua cửa sông Thái Bình;
+ Phía Nam giáp huyện Kiến Xương và Tiền Hải tỉnh Thái Bình được chia tách ranh giới bởi sông Trà Lý, đổ ra biển theo cửa sông Trà Lý;
+ Phía Đông giáp Biển Đông;
+ Phía Tây giáp huyện Đông Hưng và Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình
Trung tâm huyện là trị trấn Diêm Điền cách Hà Nội 140km, cách thành phố Hải Phòng 30km theo đường bộ và cách Hạ Long 60km theo đường biển; có cảng biển Diêm Điền mở ra biển Đông, hướng về miền Nam Trung Quốc (400km) và các nước Đông Nam Á (1000km) Huyện có 27km chiều dài bờ biển vùng đất bãi bồi ven biển nằm ở phía Đông của huyện, thuận lợi cho phát triển kinh tế biển
Với vị trí địa lý có hệ thống giao thông đường bộ, đường thuỷ tạo điều kiện cho Thái Thụy giao lưu, trao đổi hàng hoá, cũng như thu hút vốn đầu tư của các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội Dân cư phân bổ ở ba vùng kinh tế: kinh tế thuần nông (37 xã); kinh tế ven biển (6 xã); kinh tế thương mại dịch vụ (1 thị trấn và 4 xã) Trong những năm gần đây, đời sống nhân dân trong huyện từng bước được nâng cao về mọi mặt
Khí hậu Thái Thụy thuộc vùng đặc trưng của khí hậu nhiệt đới ven biển Bắc bộ, chịu ảnh hưởng của gió mùa Nhiệt độ Trung bình trong năm từ 22 0 C -
24 0 C; độ ẩm trung bình 86 - 87%; lượng mưa trung bình 1.788 mm/năm luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si a Chế độ nhiệt - ẩm
Bảng 3.1 Đặc điểm khí hậu của tỉnh Thái Bình
Số giờ nắng (giờ/tháng)
Lượng bốc hơi (mm/tháng) Độ ẩm (%)
Nguồn: Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn tỉnh Thái Bình (2013 - 2015) Qua bảng 3.1 cho thấy nhiệt độ trung bình tháng trong năm là 23,56 0 C; tháng nóng nhất là tháng VII (nhiệt độ 29,2 0 C), tháng lạnh nhất là tháng I (nhiệt độ 16,97 0 C) Số giờ nắng bình quân trong năm là 121,30 giờ/tháng Chế độ mưa thay đổi rõ theo mùa: mùa mưa từ tháng V - X chiếm tới 84,5% tổng lượng mưa năm (cả năm 1.348,85mm) các tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng VII và VIII (268,10mm, 276,88mm), mùa khô từ tháng XI đến tháng IV năm sau chỉ chiếm có 15,5% tổng lượng mưa cả năm, tháng mưa ít nhất là tháng XII và I (20,38mm; 20,06mm), lượng mưa trung bình tháng trong năm là 112,40mm/tháng, lượng bốc hơi trung bình tháng trong năm là 80,05mm/tháng; độ ẩm tương đối trung bình là 86,44%, tháng có độ ẩm cao nhất là tháng III (91,29%), tháng có độ ẩm thấp nhất là tháng XII (81,28%)
+ Mùa nóng kéo dài từ 5 đến 6 tháng, từ tháng V đến tháng IX hoặc tháng
X, nhiệt độ dao động từ 24,83 đến 29,20 0 C Nhiệt độ mùa này rất thích hợp cho nuôi trồng tôm sú, cua, cá vược, cá rô phi, cá chim trắng
Mùa lạnh kéo dài từ tháng 12 đến tháng 2, với nhiệt độ dao động từ 16,97 đến 18,04 độ C Tháng 1 là tháng lạnh nhất, với nhiệt độ trung bình đạt 16,97 độ C Thời điểm này, nhiệt độ thấp hơn yêu cầu của một số loài nuôi, đặc biệt là các loài nhạy cảm với lạnh như tôm sú, tôm càng xanh, cá chim trắng và cá rô Nhiệt độ xuống dưới 17 độ C, kết hợp với mức nước trong ao quá nông, có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự sống của các loài này.
Chế độ gió theo mùa rõ rệt, mùa đông chịu sự chi phối của gió mùa Đông- Bắc với các hướng gió thịnh hành là Bắc, Đông- Bắc; mùa hè chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây- Nam và gió biển từ vịnh Bắc Bộ thổi vào có các hướng chính là Nam và Đông- Nam Trong các tháng chuyển tiếp (tháng IV và tháng IX) hướng gió thịnh hành là hướng Đông, nhưng không mạnh bằng các hướng gió chính Tốc độ gió trung bình tháng dao động từ 4,4 - 6,0m/s tháng có gió mạnh là tháng VI, VII và VIII; tháng có nhiều gió là tháng V, VI và VII c Chế độ bão
Qua bảng 3.2 cho thấy từ năm 2013 - 2015 có tổng số 51 cơn bão đổ bộ vào Việt Nam; bình quân có 6,38 cơn bão/năm; trong đó có 8 cơn bão ảnh hưởng trực tiếp đến vùng nghiên cứu; bình quân 0,16 cơn bão/năm, với sức gió mạnh từ cấp 5 - 10, tập trung vào tháng VII - X Bão thường gây mưa lớn, hầu hết các cơn bão đổ bộ vào đất liền đều có khả năng gây ra mưa tới 200 - 500mm Lượng mưa lớn dẫn đến hiện tượng nước bị ngọt hóa, giảm pH và tăng độ đục trên diện rộng ảnh hưởng đến chất lượng nước trong các ao nuôi một cách đột ngột, gây ra hiện tượng sốc đối với cá và tôm nuôi Bên cạnh đó, thiên tai còn làm sạt lở bờ đầm và kênh mương, cộng với nước triều dâng cao… ảnh hưởng đến quá trình sản xuất nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là vùng ngoài đê PAM; vì thế cần phát triển hệ thống rừng chắn sóng và bố trí thời vụ nuôi trồng cho phù hợp
Bảng 3.2 Số lượng bão ảnh hưởng tới Việt Nam và vùng nghiên cứu từ 2013 – 2015
Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Cả năm
2013 – 2015 đổ bộ vào Việt Nam 0 0 1 0 2 4 7 13 8 3 9 4 51
Tần suất bão đổ bộ vào Việt Nam/năm 0 0 0,13 0,0 0,25 0,5 0,88 1,63 1,00 0,38 1,13 0,50 6,38
2 Số bão ảnh hưởng trực tiếp đến Thái Bình
Tần suất bão ảnh hưởng tới Thái Bình/ năm
Dữ liệu từ Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn tỉnh Thái Bình (2013 - 2015) cho thấy các chỉ số thời tiết như 0,00; 0,29; 0,15; 0,38; 0,33; và 0,16 Những thông tin này có thể hữu ích cho nghiên cứu và phân tích các hiện tượng thời tiết khác Để tìm hiểu thêm, bạn có thể tải xuống luận văn tốt nghiệp và luận văn thạc sĩ mới nhất qua email luanvanfull@gmail.com.
Gió mùa Đông-Bắc mang đến khoảng 20-22 đợt gió mỗi năm, với tốc độ gió trung bình từ 10-15 m/s, có thể đạt tối đa 25 m/s Nhiệt độ trong những đợt gió này có thể giảm xuống dưới 15°C, thậm chí dưới 10°C.
Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình đã phát triển hai vùng nuôi trồng thủy sản ven biển hiệu quả, với vùng nuôi ngao bãi triều rộng 1.114 ha, sản lượng hàng năm đạt 32.426 tấn tại các xã Thụy Trường và Thái Đô Vùng nuôi trồng thủy sản nước lợ trong đầm ao ngoài đê có diện tích 1.039 ha, sản lượng đạt 599,65 tấn, trong khi vùng nuôi trồng trong đê rộng 390 ha, tổng sản lượng đạt 478,9 tấn, tập trung ở các xã Thái Thượng, Thụy Hải, Thụy Xuân và Thụy Trường Nghiên cứu tập trung vào ba xã Thái Đô, Thái Thượng và Thụy Hải, đại diện cho các phương pháp nuôi trồng thủy sản ven biển, với Thái Đô nổi bật với diện tích nuôi trồng rộng và truyền thống canh tác, Thái Thượng kết hợp giữa phương pháp truyền thống và hiện đại, và Thụy Hải với nhiều hộ nuôi trồng hiện đại, thích ứng tốt với biến đổi môi trường và thị trường sản phẩm.
Trên địa bàn mỗi xã được chọn điều tra, đề tài tiến hành điều tra ngẫu nhiên 30 hộ NTTS Từ đó sẽ phân chia thành 3 nhóm hộ NTTS dựa trên tiêu chí quy mô lớn, trung bình và nhỏ Tiêu chí lựa chọn quy mô:
Quy mô lớn bao gồm các hộ NTTS có diện tích mặt nước trên 1,6 - 2ha Quy mô trung bình bao gồm các hộ NTTS có diện tích mặt nước từ 1,1 -1,5 ha Quy mô nhỏ bao gồm các hộ NTTS có diện tích mặt nước dưới 1ha
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 3.2.2.1 Thu thập số liệu thứ cấp
Số liệu thu thập về cơ sở lý luận, thực tiễn về ô nhiễm môi trường trong NTTS ở Việt Nam và thế giới thông qua việc tra cứu, chọn lọc thông tin trên sách, báo, internet có liên quan, các nghiên cứu trong và ngoài nước
Số liệu về đặc điểm địa bàn vùng nghiên cứu về vị trí địa lý, tình hình phân bổ diện tích đất, dân số, lao động, tình hình phát triển kinh tế, cơ sở hạ tầng của huyện được tổng hợp từ các báo cáo, thông tin của phòng thống kê, phòng kinh tế,phòng địa chính, phòng môi trường của huyện và các xã; các websites của địa phương
Số liệu về diện tích, năng suất, sản lượng NTTS được tìm hiểu, khảo sát, liệt kê một cách có hệ thống những thông tin cơ bản cần thu thập và địa điểm sẽ thu thập từng loại thông tin thứ cấp từ phòng thống kê, phòng kinh tế, phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Thái Thụy
Số liệu về tình hình NTTS, diện tích hiện có và diện tích NTTS mở rộng tại huyện được chọn lọc, tổng hợp từ các báo cáo Kiểm tra độ tin cậy của thông tin qua quan sát, kiểm tra chéo từ trạm khuyến nông xã, huyện, phòng nông nghiệp, phòng thống kê, phòng môi trường huyện Thái Thụy
3.2.2.2 Thu thập số liệu sơ cấp
- Đối tượng điều tra là hộ NTTS trên địa bàn huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình Chọn mẫu điều tra: Để thực hiện đề tài này tôi tiến hành điều tra phỏng luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si vấn ngẫu nhiên 90 hộ ở 3 xã (Thái Đô, Thái Thượng, Thụy Hải) đại diện cho 3 loại hình NTTS Mỗi xã sẽ lựa chọn ra 30 hộ có quy mô diện tích sản xuất NTTS lớn, vừa và nhỏ
Dữ liệu sơ cấp trong nghiên cứu này được thu thập thông qua phương pháp phỏng vấn trực tiếp, sử dụng các phiếu điều tra để thu thập thông tin về hộ gia đình.
Nội dung câu hỏi điều tra:
+ Những thông tin cơ bản của hộ, tình hình NTTS của hộ, diện tích NTTS, sản lượng của hộ trong những năm qua
+ Hiện tượng ô nhiễm môi trường có ảnh hưởng đến sản xuất và cuộc sống của các hộ dân NTTS trong thời gian 10 năm trở lại đây
Những thay đổi trong hành vi của hộ gia đình đối với ô nhiễm môi trường trong nuôi trồng thủy sản (NTTS) đang ngày càng trở nên quan trọng Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sản xuất NTTS của hộ gia đình bao gồm nhận thức về môi trường, chính sách hỗ trợ và tình hình kinh tế Nguyên nhân dẫn đến các quyết định này thường liên quan đến áp lực từ ô nhiễm và nhu cầu cải thiện chất lượng sản phẩm Hướng sản xuất trong thời gian tới cần tập trung vào việc áp dụng các biện pháp bền vững nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.
Cách phỏng vấn: Các hộ được lựa chọn ngẫu nhiên được mời tới địa điểm nhất định (nhà văn hóa thôn, nhà hộ dân…) được phỏng vấn trực tiếp theo danh mục câu hỏi đã chuẩn bị trước
Các dữ liệu và thông tin được mã hóa, xử lý và phân tích chủ yếu trên ứng dụng EXCEL của hệ điều hành Windows
- Đối với phỏng vấn PRA/thảo luận nhóm:
Nội dung phỏng vấn: để thu thập thông tin chung về tình hình phát triển kinh tế xã hội, định hướng phát triển cũng như các hiểu biết và kinh nghiệm, lấy ý kiến về công tác chỉ đạo nuôi trồng thủy sản và tình hình xử lý các công việc khi phát sinh các vấn đề như dịch bệnh, thiên tai, ô nhiễm môi trường Đối tượng tham gia phỏng vấn: Chính quyền địa phương bao gồm: trưởng phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện, Chủ tịch UBND 3 xã, 1 cán bộ khuyến nông xã, Chủ tịch hội phụ nữ xã
+ Đối với Trưởng phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện, chủ tịch UBND 3 xã, tôi tiến hành phỏng vấn sâu
+ Đối với các thành viên còn lại được mời tới UBND xã tiến hành phỏng luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si vấn trực tiếp theo nhóm
Thông qua PRA và phỏng vấn sâu để thu thập ý kiến của các hộ NTTS để có thể nắm bắt những thông tin về thực trạng, tình hình, xác định các giải pháp tăng cường ứng xử hợp lý của các hộ dân NTTS với ô nhiễm môi trường, có thể áp dụng vào thực tế sản xuất đồng thời có thể rút ra các giải pháp có ý nghĩa thực tiễn cao 3.2.3 Phương pháp xử lý thông tin, phân tích số liệu
Sau khi thu thập thông tin qua phiếu điều tra và báo cáo, số liệu sẽ được xử lý chủ yếu bằng phần mềm Excel để tính toán và so sánh các chỉ tiêu, từ đó xác định tốc độ phát triển Điều này tạo cơ sở cho việc phân tích những thuận lợi và khó khăn trong nuôi trồng thủy sản, ô nhiễm môi trường, cũng như phản ứng của người dân đối với hoạt động này Phương pháp thống kê mô tả sẽ được áp dụng trong quá trình này.
Mô tả thực trạng về nuôi trồng thủy sản, số liệu về tổng doanh thu, thực trạng được mùa, mất mùa trong nuôi trồng thủy sản
Mô tả thực trạng môi trường nuôi trồng thủy sản, xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản
Mô tả ứng xử của hộ dân với môi trường nuôi trồng thủy sản trong việc bảo vệ môi trường, trong việc giảm thiểu ô nhiễm môi trường
Mô tả về các chính sách của nhà nước với việc xử lý ô nhiễm môi trường nuôi trồng thủy sản… b Phương pháp thống kê so sánh