1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thành phần côn trùng, nhện hại hành hoa tại hưng yên năm 2020, đặc điểm sinh học sinh thái và biện pháp phòng trừ sâu xanh da láng spodoptera exigua hubner (khóa luận tốt nghiệp)

92 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thành phần côn trùng, nhện hại hành hoa tại Hưng Yên năm 2020, đặc điểm sinh học sinh thái và biện pháp phòng trừ sâu xanh da láng Spodoptera exigua Hubner (Khóa luận tốt nghiệp)
Tác giả Đỗ Thái Sơn
Người hướng dẫn PGS. TS. Lê Ngọc Anh
Trường học Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Chuyên ngành Côn trùng
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • PHẦN 1. MỞ ĐẦU (11)
    • 1.1. Đặt vấn đề (11)
    • 1.2 Mục đích và yêu cầu (12)
      • 1.2.1 Mục đích (12)
      • 1.2.2 Yêu cầu (12)
  • PHẦN 2. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU (14)
    • 2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước (14)
      • 2.1.1. Thành phần sâu hại và thiên địch trên hành hoa (14)
      • 2.1.2. Phân bố và tình hình gây hại của sâu xanh da láng Spodoptera exigua (15)
      • 2.1.2. Một số nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái của sâu xanh da láng (17)
      • 2.1.3. Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn đến sâu xanh da láng Spodoptera (19)
      • 2.1.4. Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ đến sâu xanh da láng Spodoptera (21)
      • 2.1.5. Biện pháp phòng trừ sâu xanh da láng Spodoptera exigua (22)
    • 2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước (24)
      • 2.2.1. Phân bố và tác hại của sâu xanh da láng Spodoptera exigua (24)
      • 2.2.2 Đặc điểm hình thái và sinh học của sâu xanh da láng Spodoptera exigua 15 2.2.3. Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn đến sâu xanh da láng Spodoptera (25)
    • 3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu (31)
    • 3.2 Địa điểm và và thời gian tiến hành (31)
    • 3.3 Nội dung nghiên cứu (31)
    • 3.4. Phương pháp nghiên cứu (32)
      • 3.4.1. Điều tra, xác định thành phần côn trùng, nhện hại và thiên địch chính trên hành hoa (32)
      • 3.4.2 Điều tra diễn biến mật độ sâu xanh da láng trên hành hoa tại xã Thuần Hưng, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên (33)
      • 3.4.3. Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của sâu xanh da láng Spodoptera exigua hại hành hoa (33)
      • 3.4.4 Nghiên cứu các đặc điểm sinh thái học của sâu xanh da láng Spodoptera (38)
    • 3.5 Xử lý số liệu (39)
  • PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN (40)
    • 4.1. Thành phần sâu hại và thiên địch trên hành hoa (40)
    • 4.2. Diễn biến mật độ sâu xanh da láng Spodoptera exigua trên cây hành hoa tại xã Thuần Hưng, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên (41)
    • 4.3. Đặc điểm hình thái của sâu xanh da láng Spodoptera exigua (43)
    • 4.4. Đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của sâu xanh da láng Spodoptera (52)
      • 4.4.1. Ảnh hưởng của nhiệt độ đến đặc điểm sinh vật học của sâu xanh da láng (52)
    • 5.1. Kết luận (68)
    • 5.2. Đề nghị (69)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (70)
  • PHỤ LỤC (76)

Nội dung

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Tình hình nghiên cứu ngoài nước

2.1.1 Thành phần sâu hại và thiên địch trên hành hoa

Hành hoa là loại rau ngắn ngày, có thể trồng quanh năm và thích hợp với nhiều loại đất, thường được sử dụng làm rau, gia vị hoặc thuốc Trong quá trình sinh trưởng, hành hoa phải đối mặt với nhiều loại sâu bệnh, gây thiệt hại đáng kể về năng suất Các dịch bệnh và côn trùng không chỉ làm giảm năng suất mà còn ảnh hưởng đến chất lượng trong các khâu thu hoạch, chế biến và tiếp thị, từ đó làm giảm tiềm năng xuất khẩu và gây thiệt hại kinh tế lớn.

Côn trùng gây hại đóng vai trò quan trọng trong sản xuất hành hoa ở Ấn Độ, với sự gia tăng cả về phổ biến và phân bố trong thập kỷ qua, dẫn đến tổn thất năng suất từ 10–15% hàng năm Trong số các loại côn trùng gây hại, bọ trĩ hành (Thrips tabaci) được xác định là có tầm quan trọng quốc gia, với sự phá hoại nghiêm trọng hơn trong vụ đông/hè, tỷ lệ mắc từ 2% đến 100% và số lượng bọ trĩ trên mỗi cây từ 0,2 đến 30,3 (Gupta & cs., 1993).

Trong vùng Mansoura, hai mùa 2007/2008 và 2008/2009, các loài côn trùng gây hại chính trên cây hành hoa bao gồm bọ trĩ (36,3% và 36,9%), rệp muội (Aphis gossypii Glover) (28,7% và 28,5%), rầy xanh (Eumerus amoenus Loew) (19,3% và 18,0%) và ruồi đục lá (Liriomyza trifolii Burgess) (2,4% và 2,1%) Ngoài ra, một số loài côn trùng gây hại có tỷ lệ xuất hiện thấp như bọ xít xanh (Nezara viridula) (0,4% cả hai mùa), bọ phấn (Bemisia tabaci) (0,4% và 0,6%) và sâu keo (Spodoptera littoralis) (0,2% và 0,4%) Đồng thời, các loài thiên địch trên hành hoa cũng rất đa dạng, trong đó có bọ rùa bảy đốm Coccinella undecimpunctata (31,7% và 17,0%) và Coccinella septempunctata.

(32,3 và 38,7%), Cydonia vicina nilotica (19,2 và 28,7%) và bọ cánh mạch

Chrysoperla carnea (16,8 và 15,6%) trong các mùa 2007/2008 và 2008/2009

2.1.2 Phân bố và tình hình gây hại của sâu xanh da láng Spodoptera exigua

Vị trí phân loại : Lớp (class): Insecta; Bộ (ordo): Lepidoptera; Họ (familia):

Noctuidae; Chi (genus): Spodoptera; Loài (species): Spodoptera exigua

Phân bố và sự gây hại:

Sâu xanh da láng Spodoptera exigua có nguồn gốc từ Nam châu Mỹ và đã lan rộng ra Bắc Mỹ, Mexico, châu Phi, châu Âu, Ấn Độ và Australia Theo nhà côn trùng học Ronald FL Mau (2007), loài này chủ yếu xuất hiện ở những vùng có khí hậu khô nóng và ấm áp, đặc biệt phổ biến tại Arizona, California, Colorado, Kansas, New Mexico, Oregon, Hawaii và các đảo như Kauai, Maui, Oahu Đến nay, S exigua đã được ghi nhận có mặt ở 67 quốc gia, với sự gia tăng phân bố lên tới 34 quốc gia kể từ năm 1972.

Theo nhiều tài liệu điều tra, vùng phân bố của nó đã được mở rộng lên phía bắc châu Âu, bao gồm Na Uy, Phần Lan và Thụy Điển.

Mỹ (Brazil, Bolivia, Chile, ) Sự phân bố về vị trí địa lý của sâu xanh da láng

S exigua thay đổi từ 57 vĩ độ bắc đến 45 vĩ độ nam Nhưng, trưởng thành sâu xanh da láng S exigua đã được ghi nhận bằng bẫy ánh sáng theo dõi ở nhiều năm tại Sotkamo (64, 13°N) thuộc Phần Lan (Mikkola, 1970) Do đó, sự phân bố địa lý của sâu xanh da láng S exigua được thay đổi từ 64°N đến 45°S

Sâu xanh da láng gây thiệt hại kinh tế nghiêm trọng ở nhiều khu vực trên thế giới, đặc biệt là ở Mỹ và châu Á Chúng xuất hiện ở các vùng ôn đới và cận nhiệt đới như Trung Quốc, Nhật Bản, Anh và Hoa Kỳ Lần đầu tiên được ghi nhận tại Trung Quốc vào năm 1892, loài côn trùng này đã bùng phát với số lượng lớn, gây thiệt hại đáng kể Đến đầu năm 1980, sâu xanh da láng đã tấn công mạnh mẽ vào cây hành.

Sâu xanh da láng đã trở thành sinh vật hại nghiêm trọng nhất đối với hành tây ở phía tây nam Nhật Bản và gây hại nhiều trên các cánh đồng trồng cải ngọt, đậu cô ve, cải bó xôi, rau cần tây và hoa cẩm chướng ở Malaysia Tại Mỹ, loài sâu này được phát hiện lần đầu ở Oregon vào năm 1876 và đã nhanh chóng thiết lập quần thể ở Bắc Mỹ, Mexico và vùng Caribê, tấn công nhiều loại cây trồng như rau, cây ăn quả và cây cảnh Ở Georgia, sâu xanh da láng là loài sâu hại chính trên cây cà chua và thứ hai trên cây bông, gây thiệt hại nặng nề với diện tích bị hại lên tới 102.060 ha và sản lượng bông mất khoảng 2.820 tấn Năm 1998, khoảng 2.040.000 ha cây bông ở Mỹ bị sâu xanh da láng tấn công, gây thiệt hại khoảng 19,2 triệu USD Tại Texas, loài sâu này bùng phát thành dịch trên cây bông vào năm 1995, ảnh hưởng đến hơn 1.200.000 ha và làm giảm năng suất bông khoảng 6,8% trên toàn quốc Ở California, sâu xanh da láng đã gây thiệt hại kinh tế đáng kể cho khoảng 200 ha cây có múi trong những năm 1957, 1958 và 1959.

Sâu xanh da láng có khả năng tấn công nhiều loại cây trồng khác nhau, gây thiệt hại lớn cho nông nghiệp Các cây dễ bị ảnh hưởng bao gồm cỏ linh lăng, ngô, bông, lúa, đậu tương, thuốc lá, măng tây, củ cải, bông cải xanh, cải bắp, súp lơ, cần tây, bắp, đậu đũa, cà tím, rau diếp, hành tây, hành hoa, hạt tiêu, khoai tây, khoai lang và cà chua Chúng có thể tồn tại quanh năm trên đồng ruộng, gây hại liên tục từ vụ này sang vụ khác và trên cả các cây cỏ dại, dẫn đến thiệt hại nghiêm trọng cho sản xuất nông nghiệp.

2.1.2 Một số nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái của sâu xanh da láng Spodoptera exigua Đặc điểm sinh học của sâu xanh da láng S.exigua : vòng đời của sâu xanh da láng gồm 4 pha: trứng, sâu non, nhộng và trưởng thành

Trưởng thành mới vũ hóa có thân và cánh màu xám bạc, sau đó chuyển sang màu xám nâu với một đốm sáng gần giữa cánh Cánh trước có đốm hình thận, trong khi cánh sau thường có màu trắng xám và viền tối ở mép cánh (Capinera, 2002).

Trứng được đẻ thành từng ổ với số lượng từ 50 đến 150 quả, có lớp lông màu trắng bao phủ Chúng thường được đặt trên cọng lá hành hoặc thân hành, có màu xanh nhạt đến trắng trong và hình dạng cầu Thời gian nở của trứng là từ 2 đến 3 ngày khi thời tiết ấm.

Sâu non bình thường có tuổi thọ 5 tuổi, với thời gian phát dục trong mùa hè là 2,3; 2,2; 1,8; 1,0 và 3,1 ngày Màu sắc của ấu trùng thay đổi từ xanh lá cây nhạt đến xanh thẫm, trong đó màu xanh lá cây oliu là phổ biến nhất Sâu non ở tuổi nhỏ có màu xanh nhạt hoặc vàng, trong khi sâu non ở tuổi lớn bắt đầu xuất hiện những sọc nhạt màu trên thân.

Sâu non tuổi 5 có sự biến đổi rõ rệt về màu sắc, với các màu như xanh vàng, nâu đen, vàng nâu hoặc hồng Trước khi lột xác, chúng thường mang màu đen (Wilson, 1932).

Nhộng của sâu xanh da láng Spodoptera exigua nằm trong đất, có màu nâu sáng và sau đó chuyển sang màu nâu đỏ Khối lượng nhộng dao động từ 0,053 đến 0,099 g (Idris & Emelia, 2001), và thời gian phát dục trung bình của nhộng là từ 6 đến 7 ngày trong điều kiện thời tiết ấm.

Tình hình nghiên cứu trong nước

2.2.1 Phân bố và tác hại của sâu xanh da láng Spodoptera exigua

Sâu xanh da láng, được phát hiện tại Việt Nam từ năm 1967, đã lan rộng khắp các vùng trồng rau từ Bắc vào Nam Tại Phan Rang, Ninh Thuận, Đồng Nai, và Sông Bè, loài sâu này gây ra dịch hại nghiêm trọng, đặc biệt trên các cây trồng như hành tây, hành hoa, lạc, đậu tương, cà chua, đậu xanh và khoai tây ở tỉnh Hải Hưng (Viện Bảo vệ thực vật, 1976) Được coi là một trong những đối tượng gây hại nguy hiểm, sâu xanh da láng đã bùng phát mạnh mẽ tại các tỉnh phía Nam.

Vào năm 1998, sâu xanh da láng đã bùng phát mạnh mẽ trên hàng trăm ha nho tại Ninh Thuận, gây thiệt hại nghiêm trọng cho nông dân, với hai cao điểm gây hại từ 22/4 đến 5/5 và từ 20/5 đến 30/5, đạt mật độ 20 - 40 con/m2 Từ năm 2000 đến 2004, sâu xanh da láng tiếp tục xuất hiện trên nhiều loại cây trồng cạn như bông, nho, ngô, đậu đỗ, hành tỏi, rau gia vị, cà chua và hoa Nghiên cứu cho thấy sâu xanh da láng gây hại nặng trên rau ở Bắc Ninh, Hà Nội, Ninh Thuận và Tiền Giang Gần đây, ở miền Bắc, sâu xanh da láng chủ yếu tập trung tại Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Phòng, Vĩnh Phúc và Hà Nội, với diện tích nhiễm lên tới hàng chục ha và mật độ sâu non có thể vượt quá 40 con/m2.

2.2.2 Đặc điểm hình thái và sinh học của sâu xanh da láng Spodoptera exigua

• Đặc điểm hình thái của sâu xanh da láng S.exigua

Sâu xanh da láng S.exigua là loài côn trùng thuộc nhóm biến thái hoàn toàn, phát triển qua bốn giai đoạn: trứng, sâu non, nhộng và trưởng thành Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hương và cộng sự năm 2016 đã mô tả chi tiết các đặc điểm hình thái của loài sâu này.

Trứng có hình cầu, được đẻ thành từng ổ và phủ một lớp lông màu trắng ngà, thường được đặt trên cọng lá hành Khi mới đẻ, trứng có màu xanh đến vàng nhạt, sau đó chuyển sang màu trắng đục.

Sâu non có 6 tuổi, bắt đầu với màu trắng trong và các sọc chưa rõ ràng Ở tuổi 1, sâu gặm lá hành tạo thành những lỗ nhỏ và di chuyển bằng cách co giãn cơ thể Đến cuối tuổi 2, sâu chuyển sang màu xanh lá cây, với phần đầu to hơn phần đuôi và bụng màu vàng xanh Sâu non di chuyển vào bên trong cọng hành, ăn phần nhu mô diệp lục và để lại lớp biểu bì trắng Sau khi lột xác, sâu có màu vàng xanh và sau đó chuyển sang màu xanh lá cây với đầu màu vàng nhạt Khi lột xác, sâu non ít ăn và màu sắc cơ thể nhạt dần Khi gần hóa nhộng, sâu có màu xanh thẫm hoặc nâu thẫm và nằm co lại trước khi hóa nhộng sau một ngày.

Nhộng của sâu xanh da láng là loại nhộng màng, với 3 gai hình răng cưa nổi bật ở mỗi bên bụng Nhộng có màu nâu đồng, trong đó nhộng cái thường mập hơn nhộng đực Sâu non thường chui vào đất để hóa nhộng.

Trưởng thành của ngài thường hoạt động vào ban đêm, có màu trắng xám với đầu màu xám và nhiều lông Hai mắt kép to, màu đen, cùng với râu hình sợi chỉ Ngực có màu nâu đỏ, được phủ bởi lớp phấn màu xám tro ánh kim Cánh trước thon dài, màu xám hơi ngả nâu, hình tam giác với nhiều vân, có đốm tròn màu lợt và điểm đen nhỏ ở giữa, cùng với đốm màu vàng cam Cạnh trên cánh có sọc đen không liên tục và bìa cánh có hàng chấm đen, tận cùng rìa cánh là đường vân màu trắng Cánh sau mỏng, trơn và ít vảy, làm lộ rõ gân cánh.

Cả ngài cái và ngài đực đều có chùm lông ở cuối bụng nhưng trên bướm cái thì chùm lông này dài hơn con đực

• Đặc điểm sinh học của sâu xanh da láng S.exigua

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Hương và cộng sự (2016), sâu xanh da láng thường vũ hóa vào ban đêm, với trứng được đẻ thành từng ổ dọc theo lá hành, chủ yếu vào ban đêm Sâu non tuổi 1 và 2 sống tập thể, nhưng từ cuối tuổi 2, chúng bắt đầu nhả tơ để phát tán và chuyển sang sống đơn lẻ từ tuổi 3 Sâu non tuổi 3 ít di chuyển, thường chỉ sống bên trong lá hành mà chúng đã đục Ngược lại, sâu non tuổi 4 và 5 di chuyển mạnh mẽ và cắn phá nhiều lá hành Đến cuối tuổi 6, sâu non ngừng ăn, chui xuống lớp đất mặt khoảng 1-2cm để hóa nhộng, tạo ra một kén bằng đất trong quá trình này.

2.2.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn đến sâu xanh da láng Spodoptera exigua

Sâu xanh da láng phát triển qua 6 loại thức ăn: hành hoa, rau dền, cải bắp, đậu xanh, cải ngọt và nghệ Thời gian vòng đời dài nhất là 34,7 ngày khi ăn lá nghệ, trong khi ngắn nhất là 24,2 ngày với lá rau dền Mặc dù thức ăn không ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của trứng và nhộng, nhưng nó có tác động rõ rệt đến tỷ lệ sống sót của sâu non Tỷ lệ sống sót cao nhất (87,6%) được ghi nhận khi sâu non ăn lá rau dền, trong khi tỷ lệ thấp nhất (50,0%) xảy ra với lá nghệ.

Tỷ lệ cái ở pha trưởng thành đạt 36,1% khi sâu non ăn lá nghệ và 46,7% khi ăn lá hành hoa Sức đẻ trứng của trưởng thành là 174,3 và 453,8 trứng/con cái tương ứng với thức ăn là lá nghệ và lá rau dền Khi ăn cùng loại thức ăn, khối lượng nhộng cái và sức đẻ trứng tương đồng với tỷ lệ gia tăng tự nhiên rm = 0,883 – 0,965 Sâu non dễ bị hấp dẫn bởi cây thức ăn, trong đó thí nghiệm cho thấy cây đậu tương hấp dẫn mạnh nhất với trung bình 2,92 sâu non/giờ và tỷ lệ hấp dẫn đạt 29,17% Số sâu non bị cây cải ngọt và cây hành hấp dẫn lần lượt là 2,33 và 2,17 sâu non/giờ Cây ngô và cải bắp hấp dẫn lần lượt 1,58 và 0,83 sâu non/giờ, trong khi nghệ là cây ít hấp dẫn nhất với chỉ 0,17 sâu non/giờ Trong điều kiện nuôi bằng thức ăn nhân tạo, con trưởng thành sống 4 - 5 ngày, đẻ trứng tập trung vào 1 - 2 ngày đầu Ở thế hệ I, một con cái có thể đẻ 938,5 ± 29,03 quả ở nhiệt độ 28,5°C và độ ẩm 90,2% Sang thế hệ II, khả năng đẻ trứng không ổn định, ở thế hệ III chỉ đẻ được 710,10 ± 35,03 quả ở nhiệt độ 26,7°C và độ ẩm 82% Nghiên cứu so sánh thức ăn nhân tạo và lá hành cho thấy công thức 5 (CT5) là tốt nhất cho sự sinh trưởng của sâu xanh da láng, với tỷ lệ sống ở giai đoạn ấu trùng là 97% và tỷ lệ sống ở giai đoạn nhộng là 91% Thời gian hoàn thành vòng đời là 19,3 ngày, tỷ lệ nhộng đực và cái là 1:1, số lượng trứng trung bình là 350,8 trứng và tỷ lệ nở đạt 100%.

Thức ăn có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng sinh sản của trưởng thành cái, được nghiên cứu qua ba công thức: dịch mật ong nguyên chất, nước đường 10% và nước lã Khi trưởng thành sâu xanh da láng được cho ăn mật ong nguyên chất, số ổ trứng đẻ trung bình đạt 5,8 ± 1,04 ổ, trong khi với nước đường 10% là 4,4 ± 0,68 ổ Đặc biệt, khi chỉ được ăn nước lã, số ổ trứng đẻ trung bình giảm xuống còn 3,0 ± 0,88 quả, cho thấy nước lã có khả năng sinh sản thấp nhất so với hai loại thức ăn còn lại (Nguyễn Hồng Tuyển, 2011).

2.2.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ đến sâu xanh da láng Spodoptera exigua

Nhiệt độ và độ ẩm có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của sâu xanh da láng Tỉ lệ trứng nở phụ thuộc vào điều kiện môi trường; nếu thời tiết thuận lợi, sâu xanh da láng sẽ gia tăng mật độ nhanh chóng, trở thành dịch hại nghiêm trọng Để dự đoán thời gian phát sinh và diễn biến mật độ sâu, cần căn cứ vào điều kiện thời tiết từng vùng và từng vụ Trong điều kiện nhiệt độ trung bình 16,7°C và độ ẩm 82%, sức đẻ trứng của trưởng thành cái ở thế hệ thứ nhất là 938,5 trứng/con cái Ở nhiệt độ 24,6 - 28,9°C và độ ẩm 70 - 83%, thời gian phát dục của nhộng là 6 - 12 ngày, với vòng đời trung bình là 27,3 ± 0,49 ngày Khi nhiệt độ từ 26 – 30°C và độ ẩm 80 - 90%, vòng đời của sâu xanh da láng dao động từ 19 - 30 ngày, với pha sâu non kéo dài trung bình 15 ngày Ở điều kiện nhiệt độ 29,3 ± 0,65°C và độ ẩm 77,86 ± 1,19%, vòng đời dao động từ 23 - 34 ngày, trung bình là 28,55 ± 1,91 ngày.

- 4 ngày, tuổi 6 phát triển trong 2 - 3 ngày, nhộng từ 6 - 8 ngày và trưởng thành trước đẻ trứng là 1 - 2 ngày (Nguyễn Hồng Tuyển, 2011)

2.2.5 Biện pháp phòng trừ sâu xanh da láng Spodoptera exigua

Nghiên cứu cho thấy trồng xen cây hành hoa với các cây trồng khác, đặc biệt là cây nghệ, có thể giúp phòng chống sâu xanh da láng Để đạt hiệu quả tốt nhất, nên trồng ở mật độ 80 khóm/m2 nhằm hạn chế mật độ sâu Tuy nhiên, bẫy dẫn dụ giới tính do Viện Bảo vệ thực vật cung cấp không hiệu quả trong việc thu hút trưởng thành sâu xanh da láng.

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hương và cộng sự (2016) đã chỉ ra hiệu quả của 4 loại thuốc trừ sâu, bao gồm Catex 1.8EC, Pupont Prevathon 5 SC, Tasieu 1.9EC và Radiant 60SC, trong việc bảo vệ cây hành hoa khỏi sâu xanh da láng.

• Biện pháp sinh học Đến nay đã phân lập được gần 60 chủng EPN thuộc 2 giống tuyến trùng

Nhóm thiên địch Steinernema và Heterorhabditis chỉ được tìm thấy ở hệ sinh thái rừng tự nhiên và một số chủng ở bãi cát ven biển tại Việt Nam, mà không có mặt trong hệ sinh thái nông nghiệp Các chế phẩm EPN đã được thử nghiệm cho thấy hiệu quả cao trong việc diệt sâu xanh da láng (Spodoptera exigua) và các loài sâu hại khác trên nhiều loại cây trồng (Nguyễn Văn Dũng & Ngô Hoàng Duyệt, 2010).

Đối tượng và vật liệu nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Sâu xanh da láng Spodoptera exigua Hubner Vật liệu nghiên cứu:

- Thức ăn nhân nuôi sâu xanh da láng: Cây hành hoa (Allium fistulosum) và cải ngọt (Brassica integrifolia)

Dụng cụ nghiên cứu bao gồm các thiết bị điều tra như vợt, hộp đựng mẫu và khay nhựa Đối với việc nuôi sinh học, cần có lồng lưới, hộp nhựa, kính lúp, panh, kéo, ống nghiệm, túi nilon và đĩa petri Ngoài ra, các dụng cụ khác như sổ ghi chép, máy tính, bút lông và bút chì cũng rất cần thiết.

Địa điểm và và thời gian tiến hành

- Các thí nghiệm ngoài đồng được tiến hành tại các ruộng trồng hành hoa tại xã Thuần Hưng, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên

- Các thí nghiệm trong phòng được tiến hành tại phòng thí nghiệm của bộ môn Côn trùng, Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

• Thời gian thực hiện từ tháng 8 năm 2020 đến tháng 3 năm 2021.

Nội dung nghiên cứu

- Xác định thành phần sâu hại và thiên địch trên cây hành hoa tại xã Thuần Hưng, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên

- Xác định một số đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của sâu xanh da láng hại hành hoa

Nghiên cứu này tập trung vào việc điều tra sự biến động mật độ và sự phát sinh gây hại của sâu xanh da láng trên cây hành hoa tại xã Thuần Hưng, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên Mục tiêu là xác định mức độ ảnh hưởng của sâu hại đến năng suất cây trồng, từ đó đưa ra các biện pháp quản lý hiệu quả nhằm bảo vệ cây hành hoa.

Phương pháp nghiên cứu

Điều tra thành phần và đánh giá mức độ phổ biến của các loài côn trùng, nhện hại và thiên địch chính trên cây hành hoa được thực hiện theo Quy chuẩn QCVN 01-38 của Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn Phương pháp điều tra sử dụng là tự do không cố định điểm, với tần suất điều tra định kỳ 7 ngày một lần Trong quá trình điều tra, tất cả các pha phát dục của các loài sâu hại, bao gồm trưởng thành, sâu non, trứng và nhộng, sẽ được thu thập.

Với pha trưởng thành được đưa về phòng thí nghiệm để xử lý mẫu, cắm mẫu và làm mẫu để định loai

Trứng, sâu non và nhộng được thu thập từ đồng ruộng sẽ được mang về phòng thí nghiệm để tiếp tục nuôi cho đến khi chúng trưởng thành, nhằm phục vụ cho việc định loại mẫu.

- Danh mục các loài sâu hại và thiên địch chính trên hành hoa (tên Việt Nam, tên khoa học và mức độ phổ biến)

- Mức độ phổ biến của sâu hại và thiên địch được xác định trên tần suất xuất hiện (%) của chúng

Tổng số điểm có sâu hại Tần suất xuất hiện (%) = - x 100 (%) Tổng số điểm điều tra

Mức độ xuất hiện của các loài sâu hại được đánh giá ở các mức sau:

Ký hiệu Mức độ phổ biến Tần suất bắt gặp

+++ Rất phổ biến, tần suất bắt gặp >75%

++ Phổ biến, tần suất bắt gặp 51 -75% + Ít phổ biến, tần suất bắt gặp 25-50%

- Rất ít phổ biến, tần suất bắt gặp < 25%

3.4.2 Điều tra diễn biến mật độ sâu xanh da láng trên hành hoa tại xã Thuần Hưng, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên

Chúng tôi đã chọn hai loại ruộng để tiến hành điều tra: một ruộng trồng hành hoa thuần và một ruộng trồng hành hoa xen kẽ với các cây trồng khác Quá trình điều tra sẽ diễn ra liên tục trong suốt 4 tháng, theo dõi sự sinh trưởng của cây hành.

- Phương pháp điều tra: điều tra 7 ngày 1 lần, mỗi lần điều tra 10 điểm, mỗi điểm điều tra 1m 2

3.4.3 Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của sâu xanh da láng Spodoptera exigua hại hành hoa a Nhân nuôi nguồn sâu xanh da láng và trồng hành hoa phục vụ thí nghiệm

Thu sâu non tuổi lớn sâu keo da láng từ cánh đồng trồng hành hoa và nuôi trong các hộp nhựa bằng lá hành hoa sạch cho đến khi hóa nhộng Nhộng được chuyển sang hộp nhựa có giấy giữ độ ẩm để phát triển đến trưởng thành Sau khi trưởng thành, chúng được đưa vào lồng lưới có cây hành hoa sạch để đẻ trứng Hàng ngày, cây hành hoa sạch được thay mới và trứng cùng ngày tuổi được thu để làm thí nghiệm Trưởng thành được cho ăn dung dịch mật ong 10% và thức ăn được thay mỗi 2 ngày.

Sâu non mới nở được chuyển vào từng hộp nhựa để nuôi đến khi hóa nhộng Thức ăn cho sâu xanh da láng là lá hành hoa sau 30 ngày trồng, được giữ ẩm bằng giấy thấm nước Mỗi sáng, thức ăn mới được thay và cần quan sát, ghi chép thời gian chuyển tuổi của sâu non cũng như số lượng sâu non chết ở từng tuổi.

Hành hoa được trồng trong nhà lưới để phục vụ cho nhân nuôi sinh học trong phòng thí nghiệm Mỗi bầu trồng có đường kính 15 cm và cao 20 cm, với 4-5 cây mỗi bầu Quy trình trồng diễn ra cách 15 ngày, mỗi lần trồng 20 bầu.

Hình 3.1 cho thấy hành hoa được trồng trong nhà màng của khoa Nông học Bài viết mô tả đặc điểm hình thái và kích thước của các pha phát dục của sâu xanh da láng Spodoptera exigua.

Nuôi sâu keo da láng theo phương pháp đã nêu trong mục 4.3.3, đồng thời quan sát để mô tả đặc điểm hình thái của từng pha phát dục với số lượng cá thể được quan sát là n`.

Pha trưởng thành của sâu keo da láng sau khi vũ hóa trong 4 giờ được quan sát để mô tả hình dáng, màu sắc cơ thể, các đặc điểm nhận dạng trên cánh, phân biệt giới tính, cũng như đo chiều dài cơ thể và độ rộng của sải cánh.

Hàng ngày, theo dõi các lồng lưới nuôi trưởng thành để thu thập ổ trứng khi trưởng thành cái đẻ Quan sát và mô tả hình dạng, cấu trúc ổ trứng, sự sắp xếp các trứng, cũng như sự thay đổi màu sắc của ổ trứng từ khi đẻ đến khi nở Đếm số lượng trứng trong ổ và đo chiều dài, chiều rộng của từng quả trứng.

Sâu non nở từ trứng và sau khi lột xác, chúng được quan sát để mô tả đặc điểm hình dạng và màu sắc theo từng tuổi Đồng thời, kích thước của sâu non cũng được đo lường, bao gồm chiều dài cơ thể và độ rộng của mảnh cứng đầu.

Khi pha nhộng xuất hiện, cần phân biệt giữa nhộng đực và cái bằng cách quan sát hình dạng, màu sắc, kích thước (chiều dài, chiều rộng) và khối lượng của nhộng Nghiên cứu thời gian phát dục các pha và vòng đời của sâu xanh da láng Spodoptera exigua là rất quan trọng.

Các pha phát dục của sâu keo da láng nuôi theo phương pháp cá thể trong điều kiện dư thừa về thức ăn, nhiệt độ, ẩm độ ổn định

Thời gian phát dục của trứng được theo dõi từ khi ổ trứng mới đẻ được chuyển vào đĩa petri Hàng ngày, cần ghi chép thời gian phát triển và số lượng trứng nở cho đến khi sâu non xuất hiện Số ổ trứng thí nghiệm ban đầu là n` theo các công thức đã định.

Thời gian phát dục của sâu non bắt đầu từ khi chúng mới nở, được chuyển vào đĩa petri để nuôi cho đến khi hóa nhộng Thức ăn cho sâu keo da láng là lá hành hoa sau 30 ngày trồng, được giữ ẩm bằng giấy thấm nước Mỗi buổi sáng, thức ăn mới được thay và tiến hành quan sát, ghi chép thời gian chuyển tuổi của sâu non cùng số lượng sâu non chết ở từng tuổi.

Xử lý số liệu

Xử lý số liệu theo phương pháp thống kê bằng phần mềm thương ứng như Excel và xử lý theo phương trình phần mềm SPSS ver 20.

Ngày đăng: 22/07/2023, 15:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Chen, Y., Ruberson, J. R. &amp;Olson, D. M. (2008). Nitrogen fertilization rate affects feeding, larval performance, and oviposition preference of the beet armyworm, Spodoptera exigua, on cotton. Entomologia Experimentalis et Applicata. 126(3): 244-255 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nitrogen fertilization rate affects feeding, larval performance, and oviposition preference of the beet armyworm, Spodoptera exigua, on cotton
Tác giả: Y. Chen, J. R. Ruberson, D. M. Olson
Nhà XB: Entomologia Experimentalis et Applicata
Năm: 2008
11. Eveleens, K., Van Den Bosch, R. &amp;Ehler, L. (1973). Secondary outbreak induction of beet armyworm by experimental insecticide applications in cotton in California. Environmental Entomology. 2(4): 497-504 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Secondary outbreak induction of beet armyworm by experimental insecticide applications in cotton in California
Tác giả: Eveleens, K., Van Den Bosch, R., Ehler, L
Nhà XB: Environmental Entomology
Năm: 1973
12. Fye, R. E. &amp;McAda, W. (1972). "Laboratory studies on the development, longevity, and fecundity of six lepidopterous pests of cotton in Arizona,"Agricultural Research Service, US Department of Agriculture Sách, tạp chí
Tiêu đề: Laboratory studies on the development, longevity, and fecundity of six lepidopterous pests of cotton in Arizona
Tác giả: Fye, R. E., McAda, W
Nhà XB: Agricultural Research Service, US Department of Agriculture
Năm: 1972
13. Gore, J., Leonard, B., Church, G., Russell, J. &amp;Hall, T. (2000). Cotton boll abscission and yield losses associated with first-instar bollworm (Lepidoptera: Noctuidae) injury to nontransgenic and transgenic Bt cotton.Journal of economic entomology. 93(3): 690-696 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cotton boll abscission and yield losses associated with first-instar bollworm (Lepidoptera: Noctuidae) injury to nontransgenic and transgenic Bt cotton
Tác giả: Gore, J., Leonard, B., Church, G., Russell, J., Hall, T
Nhà XB: Journal of economic entomology
Năm: 2000
15. Gupta, R., Srivastava, K. &amp;Pandey, U. (1993). Diseases and insect pests of onion in India. In "International Symposium on Alliums for the Tropics 358", pp. 265-270 Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Symposium on Alliums for the Tropics 358
Tác giả: Gupta, R., Srivastava, K., Pandey, U
Năm: 1993
16. Han, L.-Z., Zhai, B.-P. &amp;Zhang, X.-X. (2003). Life table of the laboratory population of Spodoptera exigua (Hubner) at different temperatures. Acta Entomologica Sinica. 46(2): 184-189 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Life table of the laboratory population of Spodoptera exigua (Hubner) at different temperatures
Tác giả: Han, L.-Z., Zhai, B.-P., Zhang, X.-X
Nhà XB: Acta Entomologica Sinica
Năm: 2003
17. Huffman, R. (1996). The beet armyworm in Texas and Oklahoma 1995. In "1996 Proceedings Beltwide Cotton Conferences, Nashville, TN, USA, January 9-12, 1996: Volume 1.", pp. 113-115. National Cotton Council Sách, tạp chí
Tiêu đề: 1996 Proceedings Beltwide Cotton Conferences, Nashville, TN, USA, January 9-12, 1996: Volume 1
Tác giả: R. Huffman
Nhà XB: National Cotton Council
Năm: 1996
18. Idris, A. &amp;Emelia, O. (2001). Development and feeding behaviour of Spodoptera exigua L.(Lepidoptera: Noctuidae) on different food plants.OnLine Journal of Biological Sciences (Pakistan) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Development and feeding behaviour of Spodoptera exigua L.(Lepidoptera: Noctuidae) on different food plants
Tác giả: Idris, A., Emelia, O
Nhà XB: OnLine Journal of Biological Sciences (Pakistan)
Năm: 2001
19. Karimi-Malati, A., Fathipour, Y. &amp;Talebi, A. A. (2014). Development response of Spodoptera exigua to eight constant temperatures: linear and nonlinear modeling. Journal of Asia-Pacific Entomology. 17(3): 349-354 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Development response of Spodoptera exigua to eight constant temperatures: linear and nonlinear modeling
Tác giả: Karimi-Malati, A., Fathipour, Y., Talebi, A. A
Nhà XB: Journal of Asia-Pacific Entomology
Năm: 2014
21. Leather, S. R. (1988). Size, reproductive potential and fecundity in insects: things aren't as simple as they seem. 386-389 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Size, reproductive potential and fecundity in insects: things aren't as simple as they seem
Tác giả: S. R. Leather
Năm: 1988
22. Lee, S., Ahn, S., Cho, W. &amp;Choi, K. (1991). Effects of temperature on the development of beet armyworm, Spodoptera exigua Hübner (Lepidoptera:Noctuidae). Research Reports of the Rural Development Administration, Crop Protection. 33(2): 58-62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effects of temperature on the development of beet armyworm, Spodoptera exigua Hübner (Lepidoptera:Noctuidae)
Tác giả: Lee, S., Ahn, S., Cho, W., Choi, K
Nhà XB: Research Reports of the Rural Development Administration, Crop Protection
Năm: 1991
23. Luo, L. Z., Cao, W. J., Qian, K. &amp;Hu, Y. (2003). Mating behavior and capacity of the beet armyworm, Spodoptera exigua (Lepidoptera:Noctuidae). Acta Entomologica Sinica. 46(4): 494-499 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mating behavior and capacity of the beet armyworm, Spodoptera exigua (Lepidoptera:Noctuidae)
Tác giả: Luo, L. Z., Cao, W. J., Qian, K., Hu, Y
Nhà XB: Acta Entomologica Sinica
Năm: 2003
24. Mehrkhou, F., Talebi, A. A., Moharramipour, S., Naveh, V. H. &amp;Farahani, S. (2012). Development and fecundity of Spodoptera exigua (Hübner)(Lepidoptera: Noctuidae) on different soybean cultivars. Archives of Phytopathology and Plant Protection. 45(1): 90-98 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Development and fecundity of Spodoptera exigua (Hübner)(Lepidoptera: Noctuidae) on different soybean cultivars
Tác giả: Mehrkhou, F., Talebi, A. A., Moharramipour, S., Naveh, V. H., Farahani, S
Nhà XB: Archives of Phytopathology and Plant Protection
Năm: 2012
25. Mikkola, K. (1970). The interpretation of long-range migrations of Spodoptera exigua Hb.(Lepidoptera: Noctuidae). The Journal of Animal Ecology: 593-598 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The interpretation of long-range migrations of Spodoptera exigua Hb.(Lepidoptera: Noctuidae)
Tác giả: Mikkola, K
Nhà XB: The Journal of Animal Ecology
Năm: 1970
26. Prabhaker, N., Coudriet, D., Kishaba, A. &amp;Meyerdirk, D. (1986). Laboratory evaluation of neem-seed extract against larvae of the cabbage looper and beet armyworm (Lepidoptera: Noctuidae). Journal of Economic Entomology. 79(1): 39-41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Laboratory evaluation of neem-seed extract against larvae of the cabbage looper and beet armyworm (Lepidoptera: Noctuidae)
Tác giả: Prabhaker, N., Coudriet, D., Kishaba, A., Meyerdirk, D
Nhà XB: Journal of Economic Entomology
Năm: 1986
28. Saeed, S., Sayyed, A. H. &amp;Ahmad, I. (2010). Effect of host plants on life- history traits of Spodoptera exigua (Lepidoptera: Noctuidae). Journal of Pest Science. 83(2): 165-172 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effect of host plants on life- history traits of Spodoptera exigua (Lepidoptera: Noctuidae)
Tác giả: Saeed, S., Sayyed, A. H., Ahmad, I
Nhà XB: Journal of Pest Science
Năm: 2010
29. Sappington, T. W., Greenberg, S. M. &amp;Tisdale, R. A. (2001). Location of beet armyworm (Lepidoptera: Noctuidae) egg mass deposition within canopies of cotton and pigweed. Environmental entomology. 30(3): 511- 516 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Location of beet armyworm (Lepidoptera: Noctuidae) egg mass deposition within canopies of cotton and pigweed
Tác giả: Sappington, T. W., Greenberg, S. M., Tisdale, R. A
Nhà XB: Environmental entomology
Năm: 2001
30. Smits, P. H. (1987). Nuclear polyhedrosis virus as biological control agent of Spodoptera exigua, Smits Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nuclear polyhedrosis virus as biological control agent of Spodoptera exigua
Tác giả: P. H. Smits
Năm: 1987
32. Wilson, J. (1933). The biology of parasites and predators of Laphygma exigua Huebner reared during the season of 1932. The Florida Entomologist. 17(1): 1-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The biology of parasites and predators of Laphygma exigua Huebner reared during the season of 1932
Tác giả: Wilson, J
Nhà XB: The Florida Entomologist
Năm: 1933
33. Wilson, J. (1932). Notes on the biology of Laphygma exigua Hübner. The Florida Entomologist. 16(3): 33-39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Notes on the biology of Laphygma exigua Hübner
Tác giả: Wilson, J
Nhà XB: The Florida Entomologist
Năm: 1932

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1. Hành hoa được trồng ở nhà màng khoa nông học - Thành phần côn trùng, nhện hại hành hoa tại hưng yên năm 2020, đặc điểm sinh học sinh thái và biện pháp phòng trừ sâu xanh da láng spodoptera exigua hubner (khóa luận tốt nghiệp)
Hình 3.1. Hành hoa được trồng ở nhà màng khoa nông học (Trang 34)
Bảng 4.3. Diễn biến mật độ sâu xanh da láng Spodoptera exigua trên cây    hành tại xã Thuần Hưng, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên năm 2020  Ngày điều - Thành phần côn trùng, nhện hại hành hoa tại hưng yên năm 2020, đặc điểm sinh học sinh thái và biện pháp phòng trừ sâu xanh da láng spodoptera exigua hubner (khóa luận tốt nghiệp)
Bảng 4.3. Diễn biến mật độ sâu xanh da láng Spodoptera exigua trên cây hành tại xã Thuần Hưng, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên năm 2020 Ngày điều (Trang 42)
Hình 4.1. Triệu chứng sâu đục trên lá - Thành phần côn trùng, nhện hại hành hoa tại hưng yên năm 2020, đặc điểm sinh học sinh thái và biện pháp phòng trừ sâu xanh da láng spodoptera exigua hubner (khóa luận tốt nghiệp)
Hình 4.1. Triệu chứng sâu đục trên lá (Trang 43)
Hình 4.9. Sâu non tuổi 5  Sâu non tuổi 6: Cơ thể có màu xám hoặc màu xanh đậm, trên mặt lưng từ - Thành phần côn trùng, nhện hại hành hoa tại hưng yên năm 2020, đặc điểm sinh học sinh thái và biện pháp phòng trừ sâu xanh da láng spodoptera exigua hubner (khóa luận tốt nghiệp)
Hình 4.9. Sâu non tuổi 5 Sâu non tuổi 6: Cơ thể có màu xám hoặc màu xanh đậm, trên mặt lưng từ (Trang 47)
Hình 4.13. Nhộng đực và nhộng cái  Trưởng  thành:  có  màu  trắng  xám,  kích  thước  trung  bình  18,95  -  19,68mm, sải cánh rộng 22,9 - 24,19mm ( bảng 4.6) - Thành phần côn trùng, nhện hại hành hoa tại hưng yên năm 2020, đặc điểm sinh học sinh thái và biện pháp phòng trừ sâu xanh da láng spodoptera exigua hubner (khóa luận tốt nghiệp)
Hình 4.13. Nhộng đực và nhộng cái Trưởng thành: có màu trắng xám, kích thước trung bình 18,95 - 19,68mm, sải cánh rộng 22,9 - 24,19mm ( bảng 4.6) (Trang 48)
Hình 4.14. Trưởng thành - Thành phần côn trùng, nhện hại hành hoa tại hưng yên năm 2020, đặc điểm sinh học sinh thái và biện pháp phòng trừ sâu xanh da láng spodoptera exigua hubner (khóa luận tốt nghiệp)
Hình 4.14. Trưởng thành (Trang 49)
Bảng 4.4. Kích thước mảnh đầu sâu non sâu xanh da láng S.exigua khi nuôi - Thành phần côn trùng, nhện hại hành hoa tại hưng yên năm 2020, đặc điểm sinh học sinh thái và biện pháp phòng trừ sâu xanh da láng spodoptera exigua hubner (khóa luận tốt nghiệp)
Bảng 4.4. Kích thước mảnh đầu sâu non sâu xanh da láng S.exigua khi nuôi (Trang 50)
Bảng 4.4 và 4.5. thể hiện kích thước mảnh đầu và chiều dài của sâu non  sâu xanh da láng khi nuôi ở 2 mức nhiệt độ khác nhau - Thành phần côn trùng, nhện hại hành hoa tại hưng yên năm 2020, đặc điểm sinh học sinh thái và biện pháp phòng trừ sâu xanh da láng spodoptera exigua hubner (khóa luận tốt nghiệp)
Bảng 4.4 và 4.5. thể hiện kích thước mảnh đầu và chiều dài của sâu non sâu xanh da láng khi nuôi ở 2 mức nhiệt độ khác nhau (Trang 52)
Bảng 4.7. Kích thước và khối lượng nhộng của sâu keo da láng khi nuôi - Thành phần côn trùng, nhện hại hành hoa tại hưng yên năm 2020, đặc điểm sinh học sinh thái và biện pháp phòng trừ sâu xanh da láng spodoptera exigua hubner (khóa luận tốt nghiệp)
Bảng 4.7. Kích thước và khối lượng nhộng của sâu keo da láng khi nuôi (Trang 53)
Bảng 4.11. Tỷ lệ đực cái sâu xanh da láng Spodoptera exigua khi nuôi trên các  mức nhiệt độ khác nhau - Thành phần côn trùng, nhện hại hành hoa tại hưng yên năm 2020, đặc điểm sinh học sinh thái và biện pháp phòng trừ sâu xanh da láng spodoptera exigua hubner (khóa luận tốt nghiệp)
Bảng 4.11. Tỷ lệ đực cái sâu xanh da láng Spodoptera exigua khi nuôi trên các mức nhiệt độ khác nhau (Trang 60)
Bảng 4.12. Kích thước mảnh đầu sâu non sâu xanh da láng Spodoptera exigua khi nuôi - Thành phần côn trùng, nhện hại hành hoa tại hưng yên năm 2020, đặc điểm sinh học sinh thái và biện pháp phòng trừ sâu xanh da láng spodoptera exigua hubner (khóa luận tốt nghiệp)
Bảng 4.12. Kích thước mảnh đầu sâu non sâu xanh da láng Spodoptera exigua khi nuôi (Trang 61)
Bảng 4.15. Tỷ lệ chết các pha trước trưởng thành của sâu xanh - Thành phần côn trùng, nhện hại hành hoa tại hưng yên năm 2020, đặc điểm sinh học sinh thái và biện pháp phòng trừ sâu xanh da láng spodoptera exigua hubner (khóa luận tốt nghiệp)
Bảng 4.15. Tỷ lệ chết các pha trước trưởng thành của sâu xanh (Trang 65)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm