1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài ảnh hưởng của truyền thông công nghệ và đa dạng hóa lên ổn định tài chính của các ngân hàng thương mại tại việt nam

85 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh hưởng của truyền thông công nghệ và đa dạng hóa lên ổn định tài chính của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thị Thảo
Người hướng dẫn TS. Trần Thị Thanh Nga
Trường học Trường Đại học Tài chính – Marketing
Chuyên ngành Tài chính Doanh nghiệp
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 1,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU (15)
    • 1.1. Lý do chọn đề tài (15)
    • 1.2. Mục tiêu nghiên cứu (17)
    • 1.3. Câu hỏi nghiên cứu (18)
    • 1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (18)
      • 1.4.1. Đối tượng nghiên cứu (18)
      • 1.4.2. Phạm vi nghiên cứu (18)
    • 1.5. Phương pháp nghiên cứu (18)
    • 1.6. Ý nghĩa thực tiễn (20)
    • 1.7. K_t cấu đề tài (20)
  • CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI (22)
    • 2.1. Cơ sở lý thuy_t (22)
      • 2.1.1. Công nghệ thông tin và truyền thông (22)
      • 2.1.2. Ổn định tài chính (24)
    • 2.2. Các lý thuy_t nền tảng (27)
      • 2.2.1. Thuy_t chi phí đại diện (27)
      • 2.2.2. Thuy_t phát tín hiệu (27)
      • 2.2.4. Học thuy_t về cú sốc kinh t_ (29)
      • 2.2.5. Lý thuy_t chấp nhận và sử dụng công nghệ (29)
    • 2.3. Các nghiên cứu trước (29)
      • 2.3.1. Ảnh hưởng cua công nghệ thông tin và truyền thông lên ổn định tài chính (29)
      • 2.3.2. Ảnh hưởng cua đa dạng hoá đ_n ổn định tài chính (32)
    • 2.4. Khoảng trống nghiên cứu (36)
  • CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU (37)

Nội dung

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Cơ sở lý thuy_t

2.1.1 Công nghệ thông tin và truyền thông

Theo Pal và Panigrahi (2013), công nghệ thông tin và truyền thông có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục bền vững toàn cầu.

Theo Blurton (2002), ICT được định nghĩa là một tập hợp đa dạng các công cụ và công nghệ phục vụ cho việc giao tiếp, tạo ra, phổ biến, lưu trữ và quản lý thông tin Các công nghệ này bao gồm máy tính, Internet, công nghệ phát thanh và truyền hình, cũng như điện thoại.

Công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) là cơ sở hạ tầng và các thành phần cho phép tính toán hiện đại Thuật ngữ này thường được hiểu là tất cả các thiết bị, thành phần mạng, ứng dụng và hệ thống giúp mọi người và tổ chức tương tác trong thế giới kỹ thuật số Mặc dù đôi khi ICT được sử dụng đồng nghĩa với công nghệ thông tin (CNTT), nhưng nó thường đại diện cho một danh sách rộng hơn về các thành phần liên quan đến máy tính và công nghệ kỹ thuật số.

2.1.2 Sử dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực ngân hàng

Trong những năm gần đây, công nghệ thông tin đã trở thành một phần thiết yếu trong cuộc sống con người, ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực và ngành nghề Đặc biệt, ngành ngân hàng đang ngày càng gia tăng việc ứng dụng công nghệ thông tin, mang lại hiệu quả cao trong hoạt động của mình.

Xu hướng này được dự đoán sẽ còn tăng mạnh và phát triển mạnh hơn nữa trong tương lai.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa 4.0, việc tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành ngân hàng được xem là một yêu cầu cấp thiết của nhà nước Nhờ vào các chính sách và chủ trương tập trung vào nguồn nhân lực, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã phát triển kỹ thuật ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại và đồng bộ trong thời gian qua.

Hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam đã có những tiến bộ đáng kể nhờ đầu tư vào công nghệ cho sản phẩm và dịch vụ Việc ứng dụng công nghệ số như điện toán đám mây, phân tích dữ liệu và trí tuệ nhân tạo đã cải thiện hiệu suất làm việc của ngân hàng, đồng thời nâng cao trải nghiệm hài lòng của khách hàng khi sử dụng dịch vụ.

Ngân hàng hiện nay sử dụng các kênh tiếp cận người dùng trên nền tảng điện thoại thông minh và mạng xã hội để hiểu rõ nhu cầu và tâm lý khách hàng Vai trò của công nghệ thông tin trong ngành ngân hàng là rất quan trọng và thiết thực Hầu hết các ngân hàng tại Việt Nam đã phát triển ứng dụng Mobile Banking, và nhân viên ngân hàng khuyến khích khách hàng thực hiện các giao dịch qua ứng dụng thay vì đến quầy giao dịch.

Việc ứng dụng công nghệ thông tin đã giúp các ngân hàng cải thiện cấu trúc và phương thức hoạt động, đồng thời mở rộng các sản phẩm dịch vụ tài chính mới Điều này không chỉ mang lại lợi ích cho ngân hàng mà còn tạo sự tiện lợi cho khách hàng, giúp tiết kiệm chi phí giao dịch tối đa.

Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng đang được áp dụng rộng rãi, mang lại hiệu quả và độ an toàn cao Nó thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của giao dịch không dùng tiền mặt, đặc biệt là qua điện thoại và internet.

Các ngân hàng luôn chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin để đảm bảo an toàn hệ thống và bảo mật thông tin, đồng thời bảo vệ quyền lợi của khách hàng Ngoài ra, việc cập nhật công nghệ thông tin liên tục giúp ngân hàng bắt kịp xu hướng khoa học công nghệ, nâng cao chất lượng dịch vụ và đáp ứng các tiêu chuẩn chung trong ngành.

2.1.2 Ổn định tài chính 2.1.1.1 Khái niệm về ổn định tài chính

Kể từ khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, các nhà hoạch định chính sách đã chú trọng đến việc đo lường tổng thể vĩ mô để giám sát và điều tiết tài chính Tuy nhiên, do tính phức tạp của hệ thống tài chính và sự đa dạng về quy mô, thể chế, sản phẩm và thị trường, vẫn chưa có định nghĩa thống nhất về ổn định tài chính.

Theo Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB), ổn định tài chính là khả năng của hệ thống tài chính, bao gồm các trung gian tài chính, thị trường và cơ sở hạ tầng, chịu đựng các cú sốc mà không làm gián đoạn quá trình phân bổ tiết kiệm cho các cơ hội đầu tư ECB xác định ba điều kiện quan trọng cho ổn định tài chính: (i) Hệ thống tài chính phải chuyển giao hiệu quả nguồn lực từ người tiết kiệm sang nhà đầu tư; (ii) Rủi ro tài chính cần được đánh giá và quản lý chính xác; (iii) Hệ thống tài chính phải có khả năng hấp thụ các cú sốc kinh tế bất ngờ Trong đó, điều kiện thứ ba là quan trọng nhất, vì không thể hấp thụ cú sốc có thể dẫn đến khủng hoảng tài chính Ngân hàng Trung ương Đức cũng nhấn mạnh rằng ổn định tài chính là khả năng duy trì hoạt động hiệu quả của hệ thống ngay cả trong thời kỳ kinh tế khó khăn, đồng thời tạo ra một nền tảng cơ sở hạ tầng tài chính hiệu quả.

Anatolyevna và Ramilevna (2013) định nghĩa ổn định tài chính là khả năng của hệ thống tài chính, bao gồm thị trường tài chính, trung gian tài chính và cơ sở hạ tầng, để chống lại các cú sốc tài chính, đảm bảo hoạt động phân phối tiết kiệm cho các cơ hội đầu tư Định nghĩa này nhấn mạnh mối liên hệ giữa ổn định tài chính và việc giảm thiểu rủi ro Sự ổn định tài chính có thể khác nhau giữa các nền kinh tế phát triển và đang phát triển; ở các quốc gia phát triển, nó chủ yếu phụ thuộc vào tình trạng của các tổ chức tài chính phi ngân hàng, trong khi ở các nền kinh tế đang phát triển, ngân hàng đóng vai trò trụ cột chính Do đó, ổn định tài chính không chỉ liên quan đến khả năng phục hồi của các trung gian tài chính trước cú sốc mà còn đến việc duy trì chức năng trung gian tiết kiệm và đầu tư trong nền kinh tế thực.

Sự bất ổn tài chính của ngân hàng trái ngược với ổn định tài chính và liên quan đến nhiều khái niệm khác nhau.

Theo Mishkin (1999), bất ổn tài chính gây cản trở luồng thông tin, khiến hệ thống không thể thực hiện hiệu quả các chức năng vốn có trong việc phân bổ tài chính cho những cá nhân có cơ hội đầu tư.

Các lý thuy_t nền tảng

Thuyết chi phí đại diện, được giới thiệu bởi Jensen & Meckling (1976), giải thích ảnh hưởng của cơ cấu sở hữu đến lợi nhuận Theo lý thuyết này, các nhà quản lý thường ưu tiên lợi ích cá nhân hơn là tối ưu hóa tài sản và lợi ích của chủ sở hữu Một giải pháp hiệu quả cho mâu thuẫn đại diện là sở hữu quản trị, giúp tăng cường tỷ lệ sở hữu của các nhà quản lý trong công ty, từ đó hài hòa lợi ích giữa họ và cổ đông Nhìn chung, các ngân hàng thuộc sở hữu cổ đông có khả năng hoạt động tốt hơn so với ngân hàng tương hỗ, ngân hàng hợp tác xã hay ngân hàng Chính phủ.

Lý thuyết tín hiệu được nhắc đến từ đầu thập niên 70 của thế kỷ XX, đến năm

Năm 1973, Spence thực hiện nghiên cứu thị trường lao động và phát triển lý thuyết tín hiệu Theo lý thuyết này, để tìm kiếm việc làm, người lao động cần phát tín hiệu bằng cách cung cấp thông tin cá nhân, nhằm thể hiện khả năng của mình trên thị trường lao động.

Thuyết phát tín hiệu, theo Ross (1977), đề cập đến sự khác biệt trong thông tin giữa các giám đốc, bộ phận trong công ty và các nhà đầu tư Các nhà quản lý có quyền truy cập vào thông tin tài chính quan trọng hơn so với những người bên ngoài, trong khi các nhà đầu tư phải đối mặt với thông tin có thể gây hiểu lầm khi đánh giá cơ hội đầu tư Biến động trong cơ cấu vốn có thể phát tín hiệu cho các bên bên ngoài về hiệu quả hoạt động của công ty Heid và cộng sự (2014) chỉ ra rằng cơ cấu vốn bền vững truyền tín hiệu tích cực về giá trị ngân hàng tới thị trường Điều này cho thấy nếu các nhà quản trị ngân hàng ứng phó tốt với thông tin từ dịch bệnh Covid-19, họ sẽ có thể xây dựng chiến lược kinh doanh phù hợp.

Theo lý thuyết tín hiệu, các công ty cần phát tín hiệu cho các bên liên quan để giảm thiểu sự bất cân xứng thông tin Tuy nhiên, họ thường có xu hướng phát tín hiệu có lợi cho bản thân nhằm che giấu những điểm yếu và tăng cường sức cạnh tranh, từ đó thu hút vốn đầu tư Điều này cho thấy rằng nhà quản lý có thể sử dụng các công cụ để cung cấp thông tin tích cực nhất về doanh nghiệp cho các nhà đầu tư.

2.2.3 Thuy_t chi phí giao dịch

Thuyết chi phí giao dịch: Khái niệm chi phí giao dịch lần đầu tiên được Ronald

Coase trong bài viết nổi tiếng năm 1937 "Bản chất của doanh nghiệp" đã đề cập đến khái niệm chi phí giao dịch, bao gồm thời gian và chi phí liên quan đến việc đàm phán, soạn thảo và thực thi các hợp đồng Khái niệm này sau đó đã được Foss phát triển thêm.

Vào năm 1996, việc đầu tư vào công nghệ đã chứng minh rằng nó có thể giảm chi phí sản xuất và giá bán, từ đó giảm chi phí giao dịch cho người mua, giúp khách hàng tiếp cận sản phẩm với giá rẻ mà chất lượng không thay đổi Đến năm 2004, nghiên cứu của Chen chỉ ra rằng công nghệ không chỉ tăng năng suất mà còn giảm chi phí giao dịch, đặc biệt trong ngành ngân hàng Khi ngân hàng áp dụng công nghệ, khách hàng có thể thực hiện giao dịch từ bất kỳ đâu, thay vì phải đến trực tiếp ngân hàng Hơn nữa, việc đầu tư vào công nghệ không chỉ cải thiện chất lượng sản phẩm mà còn nâng cao hiệu suất phục vụ khách hàng, đồng thời cho phép đo lường sự thay đổi của chi phí giao dịch.

2.2.4 Học thuy_t về cú sốc kinh t_

Học thuyết về cú sốc kinh tế cho thấy rằng bất kỳ sự thay đổi nào trong các biến số kinh tế vĩ mô đều có thể ảnh hưởng lớn đến kết quả kinh tế của một quốc gia, bao gồm thất nghiệp, tiêu dùng và lạm phát Các cú sốc này thường không thể đoán trước và xuất phát từ những sự kiện ngoài tầm kiểm soát của các giao dịch kinh tế thông thường Chúng có tác động lâu dài và sâu rộng, được lý thuyết chu kỳ kinh doanh thực (RBC) coi là nguyên nhân chính dẫn đến suy thoái và chu kỳ kinh tế Đại dịch Covid-19 đã chứng minh rõ ràng điều này khi gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh tế xã hội toàn cầu, bao gồm Việt Nam, với sự đứt gãy chuỗi cung ứng, doanh nghiệp phá sản, người dân mất mạng sống và tỷ lệ thất nghiệp gia tăng, làm cho nền kinh tế bị ngưng trệ.

2.2.5 Lý thuy_t chấp nhận và sử dụng công nghệ

Lý thuyết chấp nhận và sử dụng công nghệ (TAM) là nền tảng quan trọng cho sự thành công của hệ thống thông tin, theo DeLone & McLean (2016) Các thành phần chính của lý thuyết này bao gồm nhận thức về tính hữu ích, nhận thức về tính dễ sử dụng, và thái độ cũng như hành vi sử dụng công nghệ Nhận thức đóng vai trò quyết định trong việc ảnh hưởng đến hành vi người dùng TAM đã trở thành cơ sở lý thuyết cho nhiều nghiên cứu về hệ thống thông tin, đặc biệt là những nghiên cứu liên quan đến hành vi người sử dụng, và đã được mở rộng kết hợp với các lý thuyết khác như mô hình D&M.

Các nghiên cứu trước

Del Gaudio và cộng sự (2021) đã nghiên cứu tác động của công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) đến lợi nhuận và rủi ro kiệt quệ tài chính trong ngành ngân hàng, dựa trên dữ liệu Chỉ số Phát triển Thế giới do Ngân hàng Thế giới cung cấp.

Kết quả nghiên cứu cho thấy công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT-TT) có ảnh hưởng tích cực đến việc cải thiện các chỉ số hiệu suất trong ngành ngân hàng Hơn nữa, sự ổn định tài chính tổng thể của ngành này được củng cố nhờ vào việc áp dụng mạnh mẽ công nghệ CNTT và công nghệ tài chính, từ đó làm gia tăng khoảng cách dẫn đến tình trạng vỡ nợ.

Một nghiên cứu của Asongu và Biekpe (2018) đã phân tích tác động của việc bổ sung thông tin và công nghệ thông tin (ICT) đến sức mạnh thị trường trong ngành ngân hàng châu Phi Kết quả cho thấy rằng việc giảm năng lượng có ảnh hưởng đáng kể, làm giảm khối lượng đầu tư và tiết kiệm, tăng chi phí trung gian tài chính, và cuối cùng dẫn đến sự suy giảm trong tăng trưởng kinh tế.

Nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Minh (2022) chỉ ra rằng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) có tác động tích cực đến phát triển tài chính tại một số quốc gia Đông Nam Á, bao gồm Việt Nam, Singapore, Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Brunei và Philippines trong giai đoạn 1996-2019 Dữ liệu được thu thập từ Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) Kết quả nghiên cứu nhấn mạnh rằng các quốc gia Đông Nam Á cần xây dựng chính sách phù hợp để thúc đẩy phát triển tài chính thông qua ICT.

Nghiên cứu của Linh và Khánh (2022) chỉ ra rằng chuyển đổi số trong ngân hàng thúc đẩy sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) toàn cầu Nghiên cứu này phân tích tác động của ICT đến hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng tại thị trường cận biên, dựa trên dữ liệu của 39 ngân hàng Việt Nam trong giai đoạn 2009-2020 Kết quả cho thấy có mối quan hệ đồng biến đáng kể giữa khả năng sinh lời của ngân hàng và chỉ số ICT Tác động tích cực này được thể hiện rõ trong quá trình chuyển đổi kỹ thuật số, với lợi tức đầu tư vào cơ sở hạ tầng CNTT vượt qua chi phí cài đặt ban đầu Những phát hiện này khẳng định rằng tiến bộ trong CNTT-TT giúp ngân hàng hoạt động hiệu quả hơn khi chuyển từ hệ thống truyền thống sang kỹ thuật số.

Nghiên cứu của Thanh và Tú (2022) chỉ ra rằng mặc dù có nhiều nghiên cứu về tác động của công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng, câu hỏi liệu ICT có thể cải thiện hiệu quả ngân hàng vẫn chưa có lời giải, đặc biệt ở các nước mới nổi như Việt Nam Chương này phân tích tác động của phát triển CNTT-TT đến hiệu quả hoạt động của ngành ngân hàng Việt Nam trong giai đoạn 2007-2019 Trong giai đoạn đầu, hiệu quả và năng suất của các ngân hàng được ước tính bằng phương pháp Phân tích phong bì dữ liệu Giai đoạn thứ hai tiến hành hồi quy các phép đo hiệu quả và năng suất dựa trên các đặc điểm vĩ mô và vi mô của ngành ngân hàng, bao gồm mức độ phát triển CNTT-TT Kết quả cho thấy sự phát triển CNTT-TT có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả của các ngân hàng Việt Nam, tuy nhiên mức độ ảnh hưởng này khác nhau giữa các ngân hàng.

Bảng 2.1 Tóm tắt các nghiên cứu trước có liên quan đến ảnh hưởng của truyền thông công nghệ lên ổn định tài chính

Tác giả Khung thời gian Nơi nghiên cứu Kết quả nghiên cứu

Del Gaudio và cộng sự (2021) 1995-2015 Ngành ngân hàng

Công nghệ thông tin đóng vai trò tích cực trong việc cải thiện lợi nhuận.

Các quốc gia Đông Nam Á (Việt Nam, Singapore, Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Bruney và Philippines)

ICT có tác động cùng chiều đến phát triển tài chính tại một số quốc gia Đông Nam Á. Linh và Khánh

Kết quả cho thấy khả năng sinh lời của ngân hàng và chỉ số ICT có mối quan hệ đồng biến đáng kể.

Hiệu quả của các ngân hàng Việt Nam được đóng góp tích cực bởi sự phát triển CNTT- TT

2.3.2 Ảnh hưởng cua đa dạng hoá đ_n ổn định tài chính

Naiwei và cộng sự (2018) đã nghiên cứu tác động của đa dạng hóa tài sản đến khả năng sinh lời của các ngân hàng ở ba quốc gia châu Á, bao gồm Malaysia, Pakistan và Indonesia, trong giai đoạn 2006 – 2012 Kết quả cho thấy rằng đa dạng hóa tài sản có mối quan hệ nghịch với khả năng sinh lời, cụ thể là chỉ số ROA.

Nghiên cứu của Petria và cộng sự (2015) cho thấy rằng việc đa dạng hóa thu nhập không tác động đến khả năng sinh lời của các ngân hàng tại 27 quốc gia thành viên châu Âu trong giai đoạn 2004 – 2011.

Kim và cộng sự (2020) đã tiến hành nghiên cứu trên mẫu ngân hàng thương mại từ các quốc gia OECD, nhằm điều tra tác động của đa dạng hóa ngân hàng đối với sự ổn định tài chính Kết quả cho thấy có mối quan hệ phi tuyến tính đáng kể giữa hai yếu tố này.

Mức độ đa dạng hóa ngân hàng vừa phải có thể tăng cường tính ổn định của ngân hàng, trong khi đa dạng hóa quá mức lại dẫn đến tác động ngược.

Theo nghiên cứu của Shim (2019), việc gia tăng đa dạng hóa cho vay có ảnh hưởng tích cực đến sức mạnh tài chính của ngân hàng Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng sự tập trung thị trường có mối quan hệ tiêu cực với rủi ro mất khả năng thanh toán của ngân hàng, phù hợp với quan điểm “tập trung-ổn định” Kết quả cho thấy các ngân hàng đa dạng hóa hoạt động trong các thị trường có mức độ tập trung cao thường ổn định hơn về mặt tài chính so với các ngân hàng hoạt động ở các thị trường ít tập trung hơn.

Võ Đức Thọ (2017) đã nghiên cứu ảnh hưởng của đa dạng hóa đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại (NHTM) ở Việt Nam trong giai đoạn 2001 – 2015 Kết quả cho thấy rằng đa dạng hóa tiền gửi, tín dụng và tài sản đều có tác động tích cực đến khả năng sinh lời của các NHTM, trong khi đó, đa dạng hóa thu nhập lại có ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng sinh lời.

Nghiên cứu của Thịnh và cộng sự (2021) phân tích tác động của đa dạng hóa đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2007 – 2018 Kết quả cho thấy rằng đa dạng hóa thu nhập có ảnh hưởng tích cực đến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) Bên cạnh đó, tốc độ tăng trưởng tài sản và quy mô ngân hàng cũng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao khả năng sinh lời của các ngân hàng.

Nghiên cứu của Hoàng Thị Thương Thảo (2017) về tác động của đa dạng hóa thu nhập đến lợi nhuận của ngân hàng thương mại Việt Nam đã sử dụng dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau.

Trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2016, 32 ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam đã được phân tích Hai chỉ tiêu ROAA và ROAE được sử dụng để đo lường lợi nhuận của các ngân hàng, trong khi chỉ tiêu đa dạng hóa được đo lường thông qua biến INCDIV, theo nghiên cứu của Stiroh KJ và cộng sự (2006) cũng như Chiorazzo và cộng sự.

Khoảng trống nghiên cứu

Nghiên cứu trước đây đã chỉ ra nhiều yếu tố vĩ mô và vi mô ảnh hưởng đến ổn định tài chính của các ngân hàng thương mại, nhưng vẫn còn thiếu các nghiên cứu về tác động của công nghệ truyền thông và đa dạng hóa đến vấn đề này, đặc biệt là trong bối cảnh Việt Nam Do đó, bài nghiên cứu này nhấn mạnh sự cần thiết phải lấp đầy khoảng trống này, nhằm làm rõ cách mà công nghệ thông tin và truyền thông tác động đến mọi khía cạnh của đời sống, cũng như ảnh hưởng đến ổn định tài chính của các ngân hàng Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp những hàm ý chính sách phù hợp để đối phó với những tác động tiêu cực của công nghệ thông tin đối với ổn định tài chính trong những năm tới của ngành ngân hàng.

Kết luận chương 2 đã trình bày các khái niệm, lý thuyết nền tảng, và các nghiên cứu trước đây, đồng thời chỉ ra những hạn chế của chúng Những nội dung này sẽ là cơ sở quan trọng để nhóm phát triển mô hình hình thành giả thuyết và phương pháp nghiên cứu trong chương tiếp theo.

PHƯƠNG PHÁP VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Chương này tập trung vào việc thu thập và đánh giá dữ liệu liên quan đến tác động của công nghệ đến ổn định tài chính tại các ngân hàng thương mại Việt Nam Tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả và phân tích hồi quy trên dữ liệu bảng để chứng minh mối quan hệ giữa các biến giả thuyết, chỉ số ICT Index, fintech và đa dạng hoá.

3.1 Các giả thuy_t nghiên cứu

Theo Saunders và cộng sự (2012), có bốn chủ nghĩa chính trong nghiên cứu khoa học: thực chứng, hiện thực, diễn giải và thực dụng Chủ nghĩa thực chứng áp dụng cho các trường hợp có thể thống kê và có bằng chứng xác thực, giúp thử nghiệm các giả thuyết thông qua phương pháp hệ thống Chủ nghĩa hiện thực mở rộng tri thức để cung cấp kết quả có giá trị, nhưng thường bị ảnh hưởng bởi phạm vi thông tin và sự hiểu sai Chủ nghĩa diễn giải nhấn mạnh rằng chỉ thu thập thống kê không đủ để đánh giá bối cảnh thương mại và quản trị, yêu cầu các nhà nghiên cứu phải xem xét dữ liệu định tính một cách cẩn thận Chủ nghĩa thực dụng kết hợp cả phương pháp định tính và định lượng, coi chủ nghĩa thực chứng là một ý thức hệ quan trọng trong phân tích nghiên cứu Tuy nhiên, chủ nghĩa thực chứng có thể không phù hợp cho nghiên cứu này do hạn chế trong việc thu thập dữ liệu toàn diện trong thời gian ngắn.

3.2 Các phương pháp ti_p cận

Nghiên cứu này yêu cầu một cách tiếp cận kỹ lưỡng, với ba phương pháp chính Đầu tiên, phương pháp diễn dịch được áp dụng sau khi phân tích tài liệu liên quan, nhằm xây dựng lý thuyết và kiểm tra tính chính xác của các giả thuyết Dữ liệu định lượng là yếu tố chủ chốt trong phương pháp này Ngược lại, phương pháp quy nạp tập trung vào việc thu thập và điều tra thông tin, thường được sử dụng trong các nghiên cứu định tính để tìm ra kết quả Trong nghiên cứu này, phương pháp diễn dịch sẽ được sử dụng để phân tích ảnh hưởng của công nghệ thông tin và truyền thông đến sự ổn định tài chính của các ngân hàng thương mại.

Bảng 3.1 Quy trình nghiên cứu

Mô hình và phương pháp nghiên cứu

Thu thập và xử lý dữ liệu

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

3.4 Xây dựng các bi_n trong mô hình nghiên cứu

3.4.1 Cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu

Công nghệ thông tin đã có tác động tích cực đến các ngân hàng thương mại Việt Nam, ảnh hưởng đến hoạt động của ngành ngân hàng và các lĩnh vực khác Tuy nhiên, tác động này có sự khác biệt giữa các ngân hàng lớn và nhỏ, cũng như liên quan đến rủi ro tín dụng Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu tác động đáng kể của công nghệ thông tin đến sự ổn định tài chính của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam, dựa trên dữ liệu thu thập từ năm 2009 đến 2021 Tác giả kỳ vọng sẽ phân tích và đánh giá cụ thể hơn về các biến liên quan đến tác động này.

Trong nghiên cứu này, tác giả đánh giá sự ổn định tài chính của ngân hàng thông qua 5 chỉ số tài chính quan trọng: ROA, ROE, Z-CORE, RAROA và RAROE Những chỉ tiêu này không chỉ phản ánh tính ổn định tài chính mà còn thể hiện hiệu quả kinh doanh của ngân hàng Cụ thể, ROA đo lường tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản, trong khi ROE đo lường tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu Bên cạnh đó, chỉ số Z-SCORE giúp đánh giá rủi ro phá sản của doanh nghiệp.

Nhiều nhà nghiên cứu, như Pasiouras và Kosmidou (2007), cho rằng ROA là chỉ số quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng, vì nó không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố tài chính cao Các nghiên cứu của Naceur và Kandil (2009), Naceur và Omran (2011), Dietrich và Wanzenried (2011), cùng với Sufian (2011) đã sử dụng cả ROA và ROE trong phân tích để cung cấp cái nhìn toàn diện hơn về hiệu suất ngân hàng.

Xác định biếnROAROERAROARAROEZ-SCORE 3.2.3 Các bi_n độc lập và giả thuy_t nghiên cứu

Quy mô ngân hàng lớn mang lại sức mạnh tài chính cao, cho phép ngân hàng mở rộng cho vay và đầu tư, đồng thời lựa chọn khách hàng uy tín, từ đó tăng lợi nhuận Theo nghiên cứu của Hu và các cộng sự (2004), ngân hàng lớn có nguồn nhân lực dồi dào và kinh nghiệm trong xử lý các vấn đề về sự lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức Nhiều nghiên cứu, như của A Ghosh (2005) và Rajan và Dhal (2003), cũng chỉ ra mối tương quan tích cực giữa nợ xấu và quy mô ngân hàng.

(2013), Đoàn Thị Thanh Thủy (2015), Nguyễn Thị Hồng Vinh (2015), Nguyễn Tuấn Kiệt và Định Hồng Phú (2016)

SIZE được xác định là Ln (tổng tài sản) Qua việc khảo sát các tài liệu, tác giả nhận thấy rằng quy mô ngân hàng càng lớn sẽ có tác động tích cực đến lợi nhuận.

Giả thuyết H1: Quy mô ngân hàng và ổn định tài chính tỉ lệ thuận với nhau.

Lạm phát (INF) là hiện tượng khi lượng tiền trong lưu thông vượt quá nhu cầu, dẫn đến mất giá và tăng giá hàng hóa Nó ảnh hưởng đến giá trị dòng tiền thực trong chi phí và doanh thu của các chủ thể kinh tế Mặc dù lạm phát vừa phải có thể mang lại tác động tích cực, lạm phát cao và phi mã lại gây hại nghiêm trọng cho nền kinh tế Nghiên cứu của Dietrich & Wanzenried (2014), Syafri (2012), Vincent và Gemechu (2013), Gul, Irshad và Zaman (2011), Alper và Anbar (2011) chỉ ra rằng lạm phát có tác động hai mặt đến lợi nhuận của ngân hàng, theo Nkusu.

Lạm phát tăng sẽ làm giảm thu nhập thực của khách hàng vay, theo nghiên cứu của Klein (2013) và các tác giả khác như Louzis và cộng sự (2010), Fojack (2005), Đỗ Quỳnh Anh và Nguyễn Đức Hùng (2013), Đoàn Thị Thanh Thủy (2015) Những nghiên cứu này cũng chỉ ra mối tương quan dương giữa tỷ lệ nợ xấu và tỷ lệ lạm phát.

Xác định biến: tỷ lệ lạm phát của nền kinh tế = Được xác định tỷ lệ lạm phát hằng năm mà nhà nước công bố.

Theo lược khảo các tài liệu vừa thực hiện ở trên, tác giả kỳ vọng tỷ lệ lạm phát càng thấp thì tác động tăng đến lợi nhuận.

Giả thuyết H2: tỷ lệ lạm phát của nền kinh tế và ổn định tài chính tỉ lệ nghịch với nhau

Tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại Khi nền kinh tế phát triển mạnh, nhu cầu về vốn và các dịch vụ ngân hàng như bảo lãnh, L/C và thanh toán gia tăng, thúc đẩy sự phát triển của ngân hàng Ngược lại, khi kinh tế trì trệ, doanh nghiệp không tiêu thụ được hàng hóa, dẫn đến khó khăn về thanh khoản và khả năng thanh toán, có thể gây ra phá sản và tổn thất cho ngân hàng Nhiều nghiên cứu, như của Dietrich & Wanzenried (2014) và Syafri (2012), đã chỉ ra rằng GDP có tác động tích cực đến kết quả kinh doanh của ngân hàng, thể hiện qua mối quan hệ với ROE và ROA.

(2003), Jimenez và Saurina (2006), và Fofack (2005), Khemraj và Pasha (2009) cũng chỉ ra bằng chứng cho thấy mối quan hệ ngược chiều giữa tốc độ tăng trưởng GDP và nợ xấu.

Xác định biến: tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GROWTH) = ln(𝐺 𝐺 𝐺)

Theo lược khảo các tài liệu vừa thực hiện ở trên, tác giả kỳ vọng GDP càng cao thì tác động tăng đến lợi nhuận.

Giả thuyết H3: Tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội và ổn định tài chính tỉ lệ thuận với nhau.

Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (ETA/EQUITY) là chỉ số quan trọng để đánh giá đòn bẩy tài chính của ngân hàng Tỷ lệ này càng cao cho thấy khả năng an toàn vốn và khả năng thanh toán nợ của ngân hàng được đảm bảo Nghiên cứu của Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2015) chỉ ra rằng tỷ lệ VCSH trên tổng tài sản có mối tương quan nghịch với khả năng sinh lời Ngược lại, nghiên cứu của Lê Long Hậu và Phạm Xuân Quỳnh (2017) cho thấy tỷ lệ vốn chủ sở hữu cho vay trên tổng tài sản có mối tương quan dương với khả năng sinh lời.

Xác định biến: ETA= VCSH/TTS

Theo lược khảo các tài liệu vừa thực hiện ở trên, tác giả kỳ vọng ETA càng cao thì tác động tăng đến lợi nhuận.

Giả thuyết H4: Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản và ổn định tài chính tỉ lệ thuận với nhau.

Chi phí hoạt động trên tổng tài sản (COSTA) là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến lợi nhuận ngân hàng Khi chi phí hoạt động tăng cao trong khi thu nhập không thay đổi, lợi nhuận sẽ bị giảm Ngoài ra, nếu tốc độ tăng trưởng thu nhập không theo kịp tốc độ tăng của chi phí hoạt động, điều này cũng sẽ tác động tiêu cực đến lợi nhuận Nghiên cứu của Lepetit và cộng sự (2007) cùng với Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2015) đã chỉ ra những mối liên hệ này.

Lê Long Hậu và Phạm Xuân Quỳnh (2017) cho thấy, tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng tài sản và khả năng sinh lời có tương quan nghịch.

Xác định biến: COSTA= Chi phí hoạt động/ Tổng tài sản

Theo lược khảo các tài liệu vừa thực hiện ở trên, tác giả kỳ vọng COSTA càng thấp thì tác động tăng đến lợi nhuận.

Giả thuyết H5: Chi phí hoạt động trên tổng tài sản và ổn định tài chính tỉ lệ nghịch với nhau

Tỷ lệ tiền gửi khách hàng trên tổng nợ (DLR) được coi là nguồn vốn huy động giá rẻ và dễ dàng hơn so với các khoản vay từ tổ chức tín dụng và ngân hàng Nhà nước Tỷ lệ này càng cao sẽ mang lại lợi ích cho ngân hàng trong việc quản lý nguồn vốn cho vay Nghiên cứu của Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2015) cho thấy DLR có mối tương quan dương với khả năng sinh lời, trong khi nghiên cứu của Lê Long Hậu và Phạm Xuân Quỳnh (2017) lại chỉ ra rằng DLR có mối tương quan nghịch với khả năng sinh lời Biến DLR được xác định bằng công thức: DLR = Tiền gửi khách hàng / Tổng nợ.

Theo lược khảo các tài liệu vừa thực hiện ở trên, tác giả kỳ vọng DLR càng cao thì tác động tăng đến lợi nhuận.

Giả thuyết H6: Tiền gửi khách hàng trên tổng nợ và ổn định tài chính tỉ lệ thuận với nhau.

Việc đa dạng hóa thu nhập ngoài lãi trên tổng tài sản (INCDIV) giúp ngân hàng sử dụng hiệu quả nguồn lực, giảm chi phí quản lý và hoạt động, đồng thời giảm sự phụ thuộc vào hoạt động tín dụng Điều này không chỉ tăng khả năng cạnh tranh mà còn gia tăng lợi nhuận Ngân hàng càng đa dạng hóa thu nhập thì tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) càng cao (Syed và cộng sự, 2018; Hồ Thị Hồng Minh & Nguyễn Thị Cành, 2015).

Xác định biến: INCDIV= Thu nhập ngoài lãi/ tổng tài sản

Theo lược khảo các tài liệu vừa thực hiện ở trên, tác giả kỳ vọng INCDIV càng cao thì tác động tăng đến lợi nhuận.

Giả thuyết H7: Đa dạng hoá thu nhập và ổn định tài chính tỉ lệ thuận với nhau.

Ngày đăng: 22/07/2023, 07:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan Thị Hạnh, Lê Đức Hoàng (2010), Đánh giá ảnh hưởng của đầu tư công nghệ đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Báo Quản lý Kinh tế, số 3/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá ảnh hưởng của đầu tư công nghệ đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam
Tác giả: Phan Thị Hạnh, Lê Đức Hoàng
Nhà XB: Báo Quản lý Kinh tế
Năm: 2010
2. Phan Thị Hạnh, Lê Đức Hoàng, Đánh giá ảnh hưởng của đầu tư công nghệ đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu - Trao đổi, số 34 (7/2010). https://www.tapchicongthuong.vn/bai-viet/tac-dong-cua-cong-nghe-den-nang-luc-canh-tranh-cua-cac-ngan-hang-thuong-mai-27626.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá ảnh hưởng của đầu tư công nghệ đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam
Tác giả: Phan Thị Hạnh, Lê Đức Hoàng
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu - Trao đổi
Năm: 2010
3. Mai Bình Dương (2017). Tác động của công nghệ đến năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại. Tạp chí công thương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của công nghệ đến năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại
Tác giả: Mai Bình Dương
Nhà XB: Tạp chí công thương
Năm: 2017
4. Phạm Thị Thái Hà (2020). Tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đến lĩnh vực ngân hàng Việt Nam hiện nay. Tạp chí công thương.https://www.tapchicongthuong.vn/bai-viet/tac-dong-cua-cach-mang-cong-nghiep-40-den-linh-vuc-ngan-hang-viet-nam-hien-nay-68144.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đến lĩnh vực ngân hàng Việt Nam hiện nay
Tác giả: Phạm Thị Thái Hà
Nhà XB: Tạp chí công thương
Năm: 2020
5. Nguyễn Hoàng Nam (2021). Đánh giá tác động của ứng dụng công nghệ thông tin trong nền kinh tế việt nam giai đoạn 2006 – 2020. Hội nghị Khoa học trẻ lần 3 năm 2021 (YSC2021) – IUH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tác động của ứng dụng công nghệ thông tin trong nền kinh tế việt nam giai đoạn 2006 – 2020
Tác giả: Nguyễn Hoàng Nam
Nhà XB: Hội nghị Khoa học trẻ lần 3 năm 2021 (YSC2021) – IUH
Năm: 2021
6. Lê Thanh Tâm, Minh Ngọc, Quỳnh Anh, Minh Phương (2022). Đa dạng hóa thu nhập và rủi ro nợ ngân hàng: Nghiên cứu trước và trong bối cảnh COVID -19 tại Việt Nam. Tạp chí tài chính tiền tệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng hóa thu nhập và rủi ro nợ ngân hàng: Nghiên cứu trước và trong bối cảnh COVID -19 tại Việt Nam
Tác giả: Lê Thanh Tâm, Minh Ngọc, Quỳnh Anh, Minh Phương
Nhà XB: Tạp chí tài chính tiền tệ
Năm: 2022
7. Asongu, S. A., & Biekpe, N. (2018). ICT, information asymmetry and market p ower in African banking industry. Research in International Business and Fina nce 44 , , 518-531 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ICT, information asymmetry and market power in African banking industry
Tác giả: Asongu, S. A., Biekpe, N
Nhà XB: Research in International Business and Finance
Năm: 2018
8. Le, T. L. V., & Pham, D. K. (2022). The ICT Impact on Bank Performance: The Case of Vietnam. Advances in Computational Intelligence and Communication Technology: Proceedings of CICT 2021, 399, 165 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The ICT Impact on Bank Performance: The Case of Vietnam
Tác giả: Le, T. L. V., Pham, D. K
Nhà XB: Advances in Computational Intelligence and Communication Technology
Năm: 2022

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Tóm tắt các nghiên cứu trước có liên quan đến ảnh hưởng của truyền - Đề tài ảnh hưởng của truyền thông công nghệ và đa dạng hóa lên ổn định tài chính của các ngân hàng thương mại tại việt nam
Bảng 2.1. Tóm tắt các nghiên cứu trước có liên quan đến ảnh hưởng của truyền (Trang 31)
Bảng 2.2. Tóm tắt các nghiên cứu trước có liên quan đến ảnh hưởng của đa - Đề tài ảnh hưởng của truyền thông công nghệ và đa dạng hóa lên ổn định tài chính của các ngân hàng thương mại tại việt nam
Bảng 2.2. Tóm tắt các nghiên cứu trước có liên quan đến ảnh hưởng của đa (Trang 34)
Bảng 3.1. Quy trình nghiên cứu - Đề tài ảnh hưởng của truyền thông công nghệ và đa dạng hóa lên ổn định tài chính của các ngân hàng thương mại tại việt nam
Bảng 3.1. Quy trình nghiên cứu (Trang 39)
Bảng 3.2. Mô tả các bi_n - Đề tài ảnh hưởng của truyền thông công nghệ và đa dạng hóa lên ổn định tài chính của các ngân hàng thương mại tại việt nam
Bảng 3.2. Mô tả các bi_n (Trang 46)
Hình 4.1 Mức tăng trưởng GDP và lạm phát cua Việt Nam giai đoạn 2009-2021 - Đề tài ảnh hưởng của truyền thông công nghệ và đa dạng hóa lên ổn định tài chính của các ngân hàng thương mại tại việt nam
Hình 4.1 Mức tăng trưởng GDP và lạm phát cua Việt Nam giai đoạn 2009-2021 (Trang 58)
Hình 4.2. Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) và trên tổng vốn chu sở h^u - Đề tài ảnh hưởng của truyền thông công nghệ và đa dạng hóa lên ổn định tài chính của các ngân hàng thương mại tại việt nam
Hình 4.2. Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) và trên tổng vốn chu sở h^u (Trang 59)
Bảng 4.4: K_t quả ước lượng GLS đối với công nghệ thông tin và truyền thông tác động lên đa dạng hoá - Đề tài ảnh hưởng của truyền thông công nghệ và đa dạng hóa lên ổn định tài chính của các ngân hàng thương mại tại việt nam
Bảng 4.4 K_t quả ước lượng GLS đối với công nghệ thông tin và truyền thông tác động lên đa dạng hoá (Trang 65)
Bảng 4.5: K_t quả ước lượng GLS đối với đa dạng hoá tác động lên đa dạng hoá - Đề tài ảnh hưởng của truyền thông công nghệ và đa dạng hóa lên ổn định tài chính của các ngân hàng thương mại tại việt nam
Bảng 4.5 K_t quả ước lượng GLS đối với đa dạng hoá tác động lên đa dạng hoá (Trang 67)
Bảng 4.6: K_t quả ước lượng GLS đối với đa dạng hoá tác động lên đa dạng hoá - Đề tài ảnh hưởng của truyền thông công nghệ và đa dạng hóa lên ổn định tài chính của các ngân hàng thương mại tại việt nam
Bảng 4.6 K_t quả ước lượng GLS đối với đa dạng hoá tác động lên đa dạng hoá (Trang 69)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w