1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn) lệ khảo thí, khảo khóa dưới thời vua lê thánh tông và bài học kinh nghiệm cho đánh giá cán bộ, công chức ở việt nam hiện nay

142 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lệ khảo thí, khảo khóa dưới thời vua Lê Thánh Tông và bài học kinh nghiệm cho đánh giá cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay
Tác giả Trần Thúy Phượng
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Thu Hòa
Trường học Học viện Hành chính Quốc gia
Chuyên ngành Quản lý công
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 142
Dung lượng 2,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu (17)
  • 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (17)
  • 5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu (19)
  • 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của nghiên cứu (22)
  • 7. Kết cấu của Luận văn (23)
  • CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHẾ ĐỘ QUAN LẠI VÀ LỆ KHẢO THÍ, KHẢO KHÓA THỜI PHONG KIẾN Ở VIỆT NAM (24)
    • 1.1. Các khái niệm liên quan (24)
      • 1.1.1. Khái niệm quan lại (24)
      • 1.1.2. Khái niệm chế độ quan lại (26)
      • 1.1.3. Lệ khảo thí, khảo khóa (27)
    • 1.2. Sơ lược về chế độ quan lại và lệ khảo thí, khảo khóa thời phong kiến ở Việt Nam . 21 1. Sơ lược về chế độ quan lại (29)
      • 1.2.1.1. Chế độ tuyển chọn quan lại (29)
      • 1.2.1.2. Chế độ sử dụng quan lại (33)
      • 1.2.2. Sơ lược về lệ khảo thí, khảo khóa (40)
    • 1.3. Tính kế thừa có chọn lọc của lịch sử hành chính (44)
      • 1.3.1. Quy luật của tính kế thừa lịch sử (44)
      • 1.3.2. Học hỏi và kế thừa có chọn lọc chế độ quan lại trong lịch sử (46)
        • 1.3.2.1. Sự kế thừa chế độ quan lại của các triều đại phong kiến Việt Nam (46)
        • 1.3.2.2. Học hỏi kinh nghiệm chế độ quan lại của các triều đại phong kiến Trung Quốc (49)
  • CHƯƠNG 2: LỆ KHẢO THÍ, KHẢO KHÓA DƯỚI THỜI VUA LÊ THÁNH TÔNG (1460 – 1497) (57)
    • 2.1. Bối cảnh lịch sử và sự cần thiết ban hành lệ khảo thí, khảo khóa dưới thời Lê Thánh Tông (57)
      • 2.1.1. Bối cảnh lịch sử thời Lê sơ (57)
      • 2.1.2. Sự cần thiết ban hành lệ khảo thí, khảo khóa dưới thời Lê Thánh Tông (60)
        • 2.2.1.1. Làm cơ sở để thực hiện các chế độ sử dụng quan lại (68)
        • 2.2.1.2. Nâng cao ý thức đạo đức đội ngũ quan lại triều đình (71)
      • 2.2.2. Kỳ hạn thực hiện lệ khảo thí, khảo khóa (72)
      • 2.2.3. Tiêu chí thực hiện lệ khảo thí, khỏa khóa (74)
      • 2.2.4. Đối tượng thực hiện lệ khảo thí, khảo khóa (76)
      • 2.2.5. Trách nhiệm thi hành lệ khảo thí, khảo khóa (77)
      • 2.2.6. Xử lý kết quả sau khảo thí, khảo khóa (79)
      • 2.2.7. Việc thực hiện lệ khảo thí, khảo khóa dưới thời vua Lê Thánh Tông (80)
    • 2.3. Đánh giá thực hiện lệ khảo thí, khảo khóa dưới thời vua Lê Thánh Tông (84)
  • CHƯƠNG 3: NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY (91)
    • 3.1. Công tác đánh giá cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay (91)
      • 3.1.1. Khái niệm cán bộ, công chức và việc đánh giá cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện (91)
        • 3.1.1.1. Khái niệm cán bộ, công chức (91)
        • 3.1.1.2. Việc đánh giá cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay (92)
      • 3.1.2. Thực trạng công tác đánh giá cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay (96)
        • 3.1.2.1. Những kết quả đạt được trong công tác đánh giá cán bộ, công chức (96)
        • 3.1.2.2. Những hạn chế còn tồn tại trong công tác đánh giá cán bộ, công chức (99)
    • 3.2. Những giá trị tham khảo từ lệ khảo thí, khảo khóa dưới thời vua Lê Thánh Tông (109)
      • 3.2.1. Coi trọng việc thực hiện đánh giá cán bộ, công chức, coi đó là hoạt động tối cần thiết để đảm bảo chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức (109)
      • 3.2.2. Chú trọng việc xây dựng đồng bộ và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật đảm bảo việc đánh giá cán bộ, công chức nghiêm ngặt, chặt chẽ, có hiệu lực hiệu quả (110)
      • 3.2.3. Xây dựng hệ thống tổ chức bộ máy thực hiện công tác đánh giá cán bộ, công chức hoạt động độc lập (112)
      • 3.2.4. Coi trọng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác kiểm tra, đánh giá (113)
    • 3.3. Một số kiến nghị cho công tác đánh giá cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay (119)
      • 3.3.1. Kiến nghị đối với các nghiên cứu tiếp theo (119)
      • 3.3.2. Kiến nghị đối với cơ quan nhà nước, các cấp chính quyền (120)
      • 3.3.3. Kiến nghị đối với đơn vị đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức (122)
      • 3.3.4. Kiến nghị đối với cán bộ, công chức (123)
  • KẾT LUẬN (126)

Nội dung

Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn áp dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin để nghiên cứu và phản ánh khách quan các sự kiện lịch sử, đồng thời xem xét sự vận động của chúng trong mối liên hệ chặt chẽ với nhau Mỗi giai đoạn lịch sử bị ảnh hưởng bởi các điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội khác nhau, do đó, nghiên cứu về lệ khảo thí, khảo khóa dưới thời vua Lê Thánh Tông được đặt trong bối cảnh lịch sử để phân tích Ngoài ra, luận văn cũng sử dụng phương pháp logic để giải thích mối quan hệ biện chứng giữa các quy định pháp luật và việc thực hiện lệ khảo thí, khảo khóa, cũng như hiệu quả của việc áp dụng thông lệ trong quản lý đội ngũ quan lại triều Lê Thánh Tông.

 Phương pháp nghiên cứu cụ thể:

Phương pháp nghiên cứu tài liệu là yếu tố then chốt trong đề tài lịch sử hành chính, với việc nghiên cứu các tài liệu lịch sử đóng vai trò quan trọng Luận văn không chỉ dừng lại ở phương pháp mô tả lịch sử mà còn kết hợp với phương pháp sử liệu học, nhằm thu thập tài liệu để tái tạo lịch sử một cách chân thực nhất.

Luận văn sử dụng phương pháp hệ thống, thống kê và logic để phân tích số liệu về chế độ sử dụng quan lại Các số liệu này được tổng hợp từ tài liệu sơ cấp và thứ cấp, nhằm đánh giá vấn đề nghiên cứu trong bối cảnh lịch sử và theo quy luật phát triển khách quan.

Luận văn áp dụng phương pháp phân tích và tổng hợp để làm rõ tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài và ý nghĩa của tài liệu về lệ khảo thí, khảo khóa trong bối cảnh hiện nay Đồng thời, luận văn cũng phân tích chế độ quan lại dưới triều đại vua Lê Thánh Tông, từ đó nêu bật những thành công và hạn chế trong việc thực hiện lệ khảo thí, khảo khóa, nhằm so sánh và tham chiếu lịch sử, cũng như rút ra bài học kinh nghiệm quý báu cho việc đánh giá cán bộ, công chức hiện tại.

Phương pháp tổng hợp được áp dụng để tóm tắt nội dung, đánh giá tổng quan từng phần và chương, cũng như đưa ra kết luận cho toàn bộ Luận văn.

Học viên đã thực hiện khảo sát thực tế và xử lý số liệu thông qua việc phát phiếu điều tra nhằm đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức tại các cơ quan nhà nước Mục đích của nghiên cứu là tìm hiểu về công tác đánh giá cán bộ, công chức hiện nay, dựa trên thời gian và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.

Địa bàn khảo sát được xác định dựa trên tính dễ tiếp cận của các đối tượng, nhằm lựa chọn mẫu phiếu phù hợp Việc thăm dò ý kiến được thực hiện đối với đội ngũ cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước ở tất cả các cấp.

Các cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương bao gồm: Văn phòng Chính phủ, Bộ Nội vụ, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, và Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch.

Các cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh gồm có: Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn,

Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Lạng Sơn, Sở Nội vụ tỉnh Lạng Sơn, Sở Giao thông Vận tải tỉnh Thái Nguyên và Sở Tư pháp tỉnh Hòa Bình là những cơ quan quản lý nhà nước quan trọng trong việc thực hiện các chính sách và quy định liên quan đến lao động, nội vụ, giao thông và tư pháp tại các tỉnh này.

Cơ quan hành chính nhà nước cấp huyện tại tỉnh Lạng Sơn bao gồm Ủy ban nhân dân huyện Hữu Lũng, Ủy ban nhân dân huyện Chi Lăng, và các phòng ban như Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Lạng Giang, Phòng Nội vụ huyện Hữu Lũng, Phòng Văn hóa – Thể thao và du lịch Thành phố Lạng Sơn, cùng với Phòng Tài Chính – Kế hoạch Thành phố Lạng Sơn.

Cơ quan hành chính nhà nước cấp xã tại Việt Nam bao gồm Ủy ban nhân dân xã Sơn Hà thuộc huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn; Ủy ban nhân dân xã Mai Pha tại Thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn; và Ủy ban nhân dân xã Quang Thịnh thuộc huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

Đối tượng phát phiếu khảo sát bao gồm đội ngũ cán bộ, công chức làm việc tại các cơ quan hành chính nhà nước trong khu vực khảo sát, với các vị trí như chuyên viên cao cấp, chuyên viên chính, chuyên viên, cán sự và nhân viên đang công tác tại cơ quan thực hiện điều tra khảo sát.

Thời gian thực hiện điều tra khảo sát ý kiến cán bộ, công chức diễn ra từ tháng 01 năm 2019 đến tháng 02 năm 2020 Trong giai đoạn này, các cơ quan nhà nước đã hoàn thiện việc đánh giá cán bộ, công chức hàng năm, giúp việc tiếp cận đối tượng khảo sát đạt hiệu quả cao hơn.

Theo thống kê của Bộ Nội vụ, tổng biên chế công chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước năm 2019 là 259.598 biên chế, không bao gồm biên chế của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, và các đơn vị sự nghiệp công lập Trong đó, 105.189 biên chế thuộc các cơ quan, tổ chức hành chính của Bộ và cơ quan ngang Bộ, 151.906 biên chế thuộc cơ quan của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, 1.068 biên chế tại các cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài, 686 biên chế cho các Hội có tính chất đặc thù, và 749 biên chế là công chức dự phòng.

Theo thống kê từ Phụ lục 3, tổng số biên chế cán bộ, công chức trong các đơn vị khảo sát là 29.387, chiếm 11,32% tổng biên chế cả nước Trong số 400 phiếu khảo sát phát ra, có 387 phiếu được thu về, trong đó 382 phiếu hợp lệ và 5 phiếu không hợp lệ Lượng phiếu khảo sát này tương đương với 1,35% tổng số cán bộ, công chức hành chính đang làm việc tại các đơn vị khảo sát.

Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của nghiên cứu

Mọi nhà nước, trong mọi thời đại, đều cần thiết phải thúc đẩy sự phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội, trong đó việc xây dựng đội ngũ quan lại với hệ thống chính sách hợp lý là nhiệm vụ thiết yếu Điều này lý giải vì sao các vị vua thời xưa đã dành sự quan tâm lớn đến việc thể chế hóa quy định nhà nước và đưa hoạt động của nhà nước vào khuôn khổ pháp luật.

Đề tài này đánh giá tác động và hiệu quả của việc thực thi chính sách sử dụng quan lại, đặc biệt là lệ khảo thí và khảo khóa trong lịch sử Qua đó, nó chỉ ra ảnh hưởng đến đội ngũ quan lại và toàn bộ nền hành chính nhà nước Để một quốc gia phát triển, cần có đội ngũ quan lại có đức, có tài, cùng với chế độ chính sách rõ ràng, công khai và minh bạch dành cho họ.

Nghiên cứu chỉ ra sự thành công của cải cách hành chính thời Lê sơ, đặc biệt là chính sách đối với chế độ quan lại và lệ khảo thí, khảo khóa dưới triều vua Lê Thánh Tông Những bài học kinh nghiệm từ giai đoạn này có thể được áp dụng để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong quá trình cải cách hành chính hiện nay.

Nghiên cứu này đóng góp vào việc làm phong phú thêm kiến thức về đánh giá đội ngũ quan lại trong lịch sử hành chính nhà nước Việt Nam.

Để nâng cao hiệu quả trong quá trình ban hành chính sách và công tác quản lý, đánh giá cán bộ, công chức ở nước ta hiện nay, cần rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu Những kinh nghiệm này sẽ giúp cải thiện quy trình làm việc, tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm trong quản lý, từ đó góp phần xây dựng một hệ thống công chức chuyên nghiệp và hiệu quả hơn.

Đề tài nghiên cứu đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng, ban hành và thực thi các chính sách đánh giá cán bộ, công chức Nó góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, quản lý hiệu quả và lựa chọn được người tài, từ đó sắp xếp đúng người vào đúng việc.

Kết cấu của Luận văn

Luận văn “Lệ khảo thí, khảo khóa dưới thời Lê Thánh Tông và bài học kinh nghiệm cho đánh giá cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay” được tổ chức thành 3 chương, nhằm phân tích và rút ra những bài học kinh nghiệm từ hệ thống khảo thí trong lịch sử để áp dụng vào việc đánh giá cán bộ, công chức hiện nay tại Việt Nam.

Chương 1: Những vấn đề chung về chế độ quan lại và lệ khảo thí, khảo khóa thời phong kiến ở Việt Nam

Chương 2: Lệ khảo thí, khảo khóa dưới thời vua Lê Thánh Tông (1460 – 1497) Chương 3: Những bài học kinh nghiệm cho công tác đánh giá cán bộ, công chức ở

Việt Nam hiện nay luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHẾ ĐỘ QUAN LẠI VÀ LỆ KHẢO THÍ, KHẢO KHÓA THỜI PHONG KIẾN Ở VIỆT NAM

Các khái niệm liên quan

Khái niệm “quan lại” ở Việt Nam và trên thế giới hiện nay có nhiều cách giải thích khác nhau Từ “quan lại” có nguồn gốc từ “mandarin” trong tiếng Pháp, được vay mượn từ “mandarim” trong tiếng Bồ Đào Nha từ năm 1581, chỉ các viên chức đứng đầu các cấp hành chính ở Mã Lai, Trung Quốc và Việt Nam từ năm 1514 Theo Từ điển lịch sử của ngôn ngữ Pháp, “mandarim” có nghĩa là “cố vấn Nhà nước”, xuất phát từ chữ Phạn “mantrin” qua tiếng Mã Lai “mantari” Từ này được sử dụng để chỉ “viên chức cao cấp” ở châu Á từ năm 1604 Chỉ những người làm quan mới được gọi là “quan lại”, không phải tất cả những người làm việc trong bộ máy nhà nước phong kiến Ở Việt Nam, “quan” là những người làm việc trong bộ máy nhà nước phong kiến, thực dân từ cấp trung ương đến địa phương, được tuyển bổ chủ yếu qua khoa cử “Lại” là viên chức làm việc trong các cơ quan ở triều đình hoặc các cấp địa phương, có nhiệm vụ thảo giấy tờ và có thể chuyển thành quan nếu có công lao và thành tích.

Theo Từ điển Tiếng Việt, “quan lại” là sự kết hợp của hai thuật ngữ “quan” và “lại” “Quan” chỉ những viên chức có quyền lực trong bộ máy nhà nước phong kiến và thực dân, trong khi “lại” là những viên chức sơ cấp chuyên làm việc văn phòng trong bộ máy nhà nước phong kiến.

Theo Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam, "quan lại" là những người đảm nhiệm các chức vụ từ cấp huyện trở lên trong bộ máy nhà nước phong kiến và thuộc địa, trong đó những người điều hành được gọi chung là quan, còn những người thừa hành được gọi là lại.

Theo Từ điển Hán Việt, “quan lại” đề cập đến những người cai trị trong nhà nước phong kiến, với sự phân biệt rõ ràng giữa “quan” (viên chức có trách nhiệm) và “lại” (người thừa hành trong bộ máy hành chính).

Trong hệ thống phong kiến, "quan" được hiểu là những người giữ vị trí lãnh đạo, điều hành công việc và quản lý dân, trong khi "lại" là những viên chức thừa hành, phục vụ dưới quyền của quan Quan được vua bổ nhiệm và là người đứng đầu trong các cơ quan nhà nước, trong khi lại là nhân viên ổn định do triều đình lựa chọn để hỗ trợ bộ máy hành chính Việc phân biệt giữa "quan" và "lại" rất quan trọng, ảnh hưởng đến cơ chế tổ chức và hoạt động của bộ máy, cũng như xác định quyền hạn và trách nhiệm của từng đối tượng Khi nghiên cứu về "quan lại", ba yếu tố chính thường được đề cập là chức quan, phẩm hàm và tước vị Chức quan chỉ nhiệm vụ cụ thể của người làm quan, ví dụ như Thượng thư hay Đô ngự sử Tước vị là danh hiệu khen thưởng tương ứng với chức quan, trong khi phẩm hàm xác định cấp bậc của quan lại, thường được chia thành chín bậc từ nhất phẩm đến cửu phẩm, với mỗi bậc lại có hai trật: chánh và tòng Hàm Tản quan là danh hiệu vinh dự cho các quan, không đi kèm với nhiệm vụ thực tế, và cũng có sự phân biệt về cấp bậc giữa các hàm.

Thượng tướng quân là cấp bậc cao hơn Đại tướng quân, và huân hàm là danh hiệu vinh dự được phong tặng dựa trên công trạng Danh hiệu này chỉ được trao cho những công thần như Thượng Trụ Quốc, Chính Trị Thượng Khanh, và Thượng Hộ Quân.

Khái niệm “quan lại” được hiểu là những người làm việc trong bộ máy nhà nước quân chủ phong kiến “Quan” là những người có phẩm hàm, tước vị, chức vụ được tuyển chọn qua nhiều phương pháp như khoa cử, tiến cử, và tập ấm Trong khi đó, “lại” là những người được tuyển chọn để thực hiện các công việc cụ thể tại các nha môn từ triều đình đến cấp huyện, hỗ trợ cho quan.

1.1.2 Khái niệm chế độ quan lại

Chế độ quan lại, hay còn gọi là quan chế, đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng bộ máy nhà nước và thực hiện chính sách của vua và triều đình trong các triều đại quân chủ phong kiến Theo Sổ tay từ ngữ lịch sử, quan chế được định nghĩa là các quy định về tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn của hệ thống cơ quan và quan chức từ trung ương đến địa phương trong triều đình phong kiến.

Quan chế là hệ thống định chế pháp luật được áp dụng trong thời phong kiến, theo Bách khoa toàn thư Wikipedia Từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông định nghĩa ngắn gọn rằng quan chế là chế độ tổ chức quan lại thời phong kiến.

Chế độ quan lại không chỉ là các quy định pháp luật riêng lẻ mà còn bao gồm việc xây dựng và vận hành theo các quy định chính trị, pháp luật và đạo đức nhất định Nó thể hiện qua các nguyên tắc về tuyển chọn, sử dụng, đào tạo, quản lý và kiểm tra quan lại, cùng với chế độ trách nhiệm chính trị và đạo đức, đãi ngộ, khen thưởng và xử phạt Quy trình này từ tổ chức đến thực hiện các quy định nhằm xây dựng đội ngũ quan lại cho bộ máy hành chính nhà nước, bao gồm phân công, sắp xếp, luân chuyển, kiểm tra và giám sát Chế độ quan lại phản ánh trình độ tổ chức và tầm nhìn của một triều đại, đồng thời cho thấy sự sáng tạo hay bảo thủ trong bối cảnh lịch sử Khảo thí và khảo khóa là hoạt động kiểm tra, đánh giá việc thực hiện công vụ của đội ngũ quan lại trong triều.

1.1.3 Lệ khảo thí, khảo khóa

Trong Từ điển Tiếng Việt, "Lệ" được định nghĩa là những quy định lâu đời đã trở thành nề nếp, mà mọi người thường tuân theo; đồng thời, nó cũng là những hành động được lặp đi lặp lại nhiều lần, tự nhiên hình thành thói quen.

Theo Từ điển từ ngữ lịch sử phổ thông, “Lệ” là những quy định tập thể bắt buộc mọi người thực hiện Trong thời kỳ phong kiến, vua chúa ban hành các quy định dưới dạng lệnh, khẩu lệnh, chiếu chỉ, dụ, lệ,… có tính chất tương tự như hệ thống pháp luật hiện nay Trước khi pháp luật được ban hành thành văn bản, triều đình phong kiến đã sử dụng các quy định này để đảm bảo tính bắt buộc và thống nhất trong việc thực hiện quy định chung của nhà nước Do đó, “Lệ” trong thời phong kiến có thể được hiểu tương tự như “pháp luật” ngày nay.

Theo cuốn Sổ tay từ ngữ lịch sử – Quan chế, “Khảo thí” là một kỳ thi không theo định kỳ chính thức, không nhằm mục đích cấp học vị, mà nhằm tuyển chọn nhân tài làm quan hoặc đánh giá trình độ của quan lại Trong khi đó, “khảo khóa” là kỳ thi kiểm tra đạo đức, tư cách, trình độ và năng lực của đội ngũ quan lại trong triều.

Khảo khóa, theo Từ điển bách khoa Việt Nam, là hình thức sát hạch định kỳ các quan lại về năng lực và phẩm chất trong các vương triều phong kiến Việt Nam Thời hạn khảo khóa thay đổi theo từng triều đại, thường từ 1 đến 15 năm, với thời Lê – Trịnh phổ biến là ba năm, chia thành hai giai đoạn: sơ khảo và thông khảo Bộ Lại là cơ quan quyết định kết quả khảo khóa, và trong trường hợp đặc cách, không cần phải đợi đến niên hạn Tiêu chuẩn xét duyệt dựa vào việc hoàn thành trách nhiệm, năng lực cai trị, tín nhiệm của dân chúng và phẩm chất đạo đức Thời Lý, các quan chức được xếp thành các hạng dựa trên văn học, nết tốt và sự siêng năng.

Hệ thống Lê – Trịnh được chia thành ba bậc: thượng (tốt), trung (trung bình) và hạ (xấu) Dựa vào kết quả xếp loại, các quyết định thưởng phạt sẽ được đưa ra, bao gồm thăng chức từ 1 đến 2 bậc, thưởng tiền, biếm giảng từ 1 đến 2 bậc, chuyển đến nơi ít việc, buộc về hưu hoặc bãi chức.

Theo Đại từ điển tiếng việt, “khảo” là kiểm tra, tra cứu để xem xét [45; tr888];

Sơ lược về chế độ quan lại và lệ khảo thí, khảo khóa thời phong kiến ở Việt Nam 21 1 Sơ lược về chế độ quan lại

1.2.1 Sơ lược về chế độ quan lại

1.2.1.1 Chế độ tuyển chọn quan lại

Trong quá trình tuyển chọn quan lại, các triều đại phong kiến Việt Nam đã áp dụng nhiều phương pháp khác nhau để đảm bảo tính công minh và chính trực, nhằm không bỏ sót nhân tài và tránh nhầm lẫn Mỗi triều đại có cách thức lựa chọn riêng, từ chế độ tập ấm cổ xưa đến chế độ khoa cử được thiết lập dưới triều Lý Ngoài ra, các triều Trần và Lê còn thực hiện chế độ tiến cử và bảo cử, yêu cầu các quan lớn phải đề cử người có tài đức hoặc danh vọng để triều đình xem xét bổ nhiệm.

 Chế độ nhiệm tử (tập ấm)

Nhiệm tử, hay còn gọi là tập ấm, là hình thức tuyển chọn quan lại xuất hiện sớm nhất ở nước ta, phản ánh tập quán chính trị "con vua thì lại làm vua" Tập ấm được xem là phúc đức và ân huệ từ cha ông, là việc gia ân của vua dành cho con cháu các quan lại có công tích Sau khi qua đời, con cháu sẽ được cấp bằng ấm sinh, ấm thụ, ấm tôn để đào tạo làm quan, thường có thời hạn nhất định.

Theo quy định, con cháu được bổ nhiệm vào chức vụ nhờ ân trạch của tổ tiên Nếu không có con trai, họ có thể nhận nuôi một người thân trong họ để hưởng tập ấm Ví dụ, vào năm 1460, triều Lê sơ đã ban hành sắc chỉ cho phép các quan nuôi một người thân thích để được tập ấm Năm 1478, quy định bổ dụng con cháu quan viên được xác định, trong đó cháu trưởng của các tước công, hầu, bá, tử, nam và con trưởng của quan văn võ từ nhị phẩm trở lên sẽ được bổ làm các chức tản quan từ tứ phẩm đến bát phẩm Những người có thành tích học tập tốt sẽ được tuyển vào Sùng văn quán và Lại bộ để bổ nhiệm vào các chức vụ điển nghĩa, tư huấn.

Các triều Lý, Trần có lệ thừa ấm, hễ con các quan thì lại được bổ làm quan Ở triều

Lê vẫn có lệ thừa ấm và khoa nhiệm tử, chủ yếu nhằm bổ dụng con cái của các quan Triều Nguyễn cũng áp dụng lệ tập ấm, trong đó quan chính nhất phẩm được tập ấm theo hàng tùng lục, gọi là ấm thọ, là bậc cao nhất; trong khi bậc thấp nhất, các quan tùng ngũ, chỉ được một người con tập ấm gọi là ấm sinh Tuy nhiên, phép thế tập ở Việt Nam không giống như ở các nước châu Âu, vì lệ tập ấm chỉ tồn tại trong một hoặc hai đời Thực tế cho thấy, chế độ tập ấm thời phong kiến ở Việt Nam chỉ mang tính chất như một phần thưởng để động viên quan lại, chứ không phải là nguồn chính để tuyển dụng vào bộ máy nhà nước.

 Chế độ khoa cử (thi cử)

Chế độ khoa cử là con đường chủ yếu và rộng rãi nhất vào quan trường thời phong kiến, bắt đầu từ triều Lý và kéo dài đến khi chế độ phong kiến suy vong Ban đầu, việc tổ chức thi chưa ổn định, với khoảng 12 năm mới có một kỳ thi trong thời nhà Lý Đến năm Kỷ Hợi (1239) dưới triều Trần Thái Tông, quy định thi được thay đổi thành 7 năm một lần Về sau, thời nhà Lê, vua Thái Tông đã điều chỉnh thành 3 năm một kỳ thi Khoa cử tiếp tục được thực hiện suốt thời kỳ Hậu Lê cho đến cuối thời nhà Nguyễn.

Thời phong kiến, các khoa thi gồm ba cấp: thi Hương, thi Hội và thi Đình Thi Hương diễn ra tại địa phương, trong khi thi Hội tổ chức ở kinh đô Những thí sinh đỗ thi Hội sẽ tham gia thi Đình, nơi đề bài có thể do vua soạn Mục đích của các khoa thi là lựa chọn nhân tài phục vụ cho sự phát triển quốc gia, mặc dù cách thức tổ chức khác nhau giữa các vương triều Nội dung thi thường xoay quanh kinh sách Nho giáo, làm thơ phú và quan điểm về đạo trị nước Những người đỗ thi Hội trở lên được gọi là Tiến sĩ và có cơ hội đảm nhận các chức vụ cao cấp trong triều đình.

Chế độ khoa cử bắt đầu từ năm 1075 dưới triều Lý Nhân Tông, chủ yếu là chế khoa - những kỳ thi mở bất thường theo chỉ thị của vua, với chỉ 6 kỳ thi được tổ chức Đến triều Lê, khoa cử chuyển sang thường khoa, mở theo thông lệ, nhằm tuyển chọn quan lại có đức và tài Triều Lê sơ nhấn mạnh tầm quan trọng của việc lựa chọn kẻ sĩ qua thi cử, với mục tiêu xây dựng đội ngũ nhân tài cho đất nước Nhà Lê sơ đã ban hành các thể lệ và nguyên tắc thi cử, chính thức hóa chế độ khoa cử từ năm Thiệu Bình thứ 5 (1438).

Trong suốt 100 năm triều Lê sơ, quy định thi cử được thiết lập với kỳ thi lớn diễn ra 3 năm một lần, tạo ra một hệ thống giáo dục vững mạnh Nguyên tắc “hữu giáo vô loài” đã giúp triều đại này xây dựng đội ngũ quan lại vượt trội về cả chất lượng lẫn số lượng so với các giai đoạn phong kiến trước và sau Trong thời kỳ này, đã có 31 khoa thi được tổ chức, với 1007 tiến sĩ được phong, chiếm một phần quan trọng trong tổng số 182 khoa thi và 2898 tiến sĩ của toàn bộ lịch sử phong kiến.

Khoa cử tiếp tục được tổ chức trong các triều đại sau, với kỳ thi cuối cùng diễn ra ở Bắc Kỳ vào năm 1915 và Trung Kỳ vào năm 1918 dưới triều Khải Định của nhà Nguyễn.

Trong suốt 1000 năm chế độ khoa cử phong kiến ở Việt Nam, đã có hàng ngàn Tiến sĩ và 55 Trạng nguyên được ghi danh, cho thấy khoa cử là con đường rộng mở cho các sĩ phu tham gia vào quan trường và cống hiến cho xã hội.

 Chế độ tiến cử - bảo cử

Chế độ tiến cử và bảo cử có nhiều điểm tương đồng, nhưng khác nhau về hình thức Tiến cử là khi cá nhân tự nhận thấy mình có đủ tài năng và đức độ để đảm nhận công việc, từ đó tự tiến cử bản thân Trong khi đó, bảo cử yêu cầu một người có danh vọng, đang giữ chức vụ trong triều đình giới thiệu và đảm bảo về tài đức của người được tiến cử Triều đình sẽ lựa chọn những người có tài đức vượt trội mà không chỉ dựa vào thân phận.

Theo quy định này, những người có tài năng và đức độ sẽ được nhà vua trọng dụng mà không cần trải qua kỳ thi nào Điều này nhằm khắc phục tình trạng thiếu nhân lực trong bộ máy nhà nước, đặc biệt trong giai đoạn mới thành lập triều đại hoặc trong bối cảnh xã hội biến động Người được tiến cử cần phải có uy tín, trách nhiệm, tài năng thực sự, cùng với kinh nghiệm và khả năng đáp ứng yêu cầu công việc.

Trong Đại Việt sử ký toàn thư, có nhấn mạnh rằng việc tiến cử người hiền tài và loại bỏ kẻ bất tài là nhiệm vụ quan trọng của chính trị Cần phải sử dụng người tài mà không do dự, đồng thời loại bỏ những kẻ gian xảo một cách kiên quyết Từ nay, các cơ quan nhà nước phải xem xét và đề bạt những người liêm khiết, có tài năng và trung thực, trong khi những kẻ tham nhũng và không đủ năng lực phải bị xử lý nghiêm khắc Những ai vi phạm quy định này sẽ phải chịu hình phạt nặng nề.

Năm 1429, sau khi khôi phục độc lập cho đất nước, vua Lê Thái Tổ đã ra chiếu chỉ yêu cầu các đại thần từ tam phẩm trở lên có trách nhiệm tiến cử những người hiền tài.

Trong triều đình hay thôn quê, việc cử người có tài năng được quy định rõ ràng Nếu cử được người có tài bậc trung, sẽ được thăng tước hai bậc; nếu cử được người tài đức vẹn toàn, sẽ nhận được phần thưởng xứng đáng Đến thời Lê Thánh Tông, việc tiến cử và bảo cử được quản lý chặt chẽ theo luật pháp, cụ thể là Điều 174 Bộ luật Hồng Đức yêu cầu người bảo cử phải lập hồ sơ về người được bảo cử để trình lên.

Tính kế thừa có chọn lọc của lịch sử hành chính

Khái niệm “kế thừa” được áp dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, bao gồm cả khoa học hành chính Theo Từ điển Tiếng Việt, “kế thừa” có nghĩa là thừa hưởng, gìn giữ và phát huy những giá trị tinh thần Trong thực tế, “kế thừa” thường đi đôi với “phát triển”, tạo thành cặp khái niệm bổ sung và hỗ trợ lẫn nhau.

Trong khoa học hành chính, kế thừa là việc bảo tồn và duy trì những đặc điểm ưu việt của chế độ và chính sách cũ trong sự phát triển của chế độ mới Đây là mối liên hệ khách quan giữa cái mới và cái cũ, thể hiện sự phát triển của mọi ngành khoa học, bao gồm cả khoa học hành chính Phát triển không chỉ là bảo tồn mà còn là mở rộng, bổ sung và hoàn thiện những đặc tính vốn có Do đó, để phát triển lịch sử hành chính, cần kế thừa những đặc điểm ưu việt của chế độ cũ, từ đó nâng cao trình độ và đạt đến sự hoàn thiện tối ưu.

Trong lịch sử nhận thức khoa học, lý thuyết khoa học phát triển qua nhiều hình thức khác nhau, bao gồm việc bổ sung, hoàn thiện hoặc mở rộng các lý thuyết cũ, và thậm chí là sự kết hợp giữa các lý thuyết đối lập Tương tự, trong lịch sử hành chính, mỗi chế độ và chính sách mới được ban hành bởi các triều đại đều dựa trên việc cải tiến hoặc khắc phục những thiếu sót của các chế độ trước đó, nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Tính kế thừa trong lịch sử đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng và phát triển đất nước qua các giai đoạn khác nhau Mỗi triều đại mới không loại bỏ hoàn toàn chế độ cũ mà kế thừa những mặt tích cực còn phù hợp Các triều đại mới không ngừng bổ sung và hoàn thiện chế độ, chính sách để phù hợp với điều kiện lịch sử đương thời, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển quốc gia Tư tưởng xây dựng nhà nước pháp quyền đã xuất hiện từ thời cổ đại và được nhiều quốc gia kế thừa, phát triển Ngay từ cổ đại, nhiều nhà tư tưởng đã mong muốn xây dựng một nhà nước pháp quyền lý tưởng, nơi con người được sống trong hòa bình dưới sự quan tâm của nhà nước Trong thời phong kiến, nhiều quốc gia đã cố gắng xây dựng nhà nước pháp quyền thông qua các quan điểm về pháp luật và đạo đức Đến thời kỳ cách mạng dân chủ tư sản, những tư tưởng này đã được áp dụng ở nhiều nước Hiện nay, xu hướng chung của nhiều quốc gia là xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam đang hướng tới xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thượng tôn pháp luật, đảm bảo quyền con người và tạo ra khung pháp lý đồng bộ, thống nhất trong xã hội.

Trong lịch sử phong kiến Việt Nam, mặc dù yếu tố nhà nước pháp quyền chưa rõ nét như ở các quốc gia khác, nhưng quan điểm xây dựng nhà nước pháp quyền đã hình thành và phát triển qua thời gian Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn nhấn mạnh tư tưởng "khoan dân", coi trọng nhân dân để xây dựng xã hội thịnh trị Vua Lê Thánh Tông, với lập trường yêu nước, đã kết hợp lễ trị và pháp trị, chú trọng đến đời sống vật chất của nhân dân và xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đặc biệt là Bộ luật Hồng Đức Tư tưởng xây dựng nhà nước pháp quyền đã được phát triển cao độ và trở thành sản phẩm của xã hội văn minh Sau thời Lê Thánh Tông, các triều đại tiếp tục học hỏi và phát triển hệ thống pháp luật, tạo hành lang pháp lý thống nhất Những chế độ, chính sách hợp lý sẽ được kế thừa và phát triển, trong khi những chính sách không hiệu quả sẽ bị sửa đổi hoặc loại bỏ, nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước Mỗi giai đoạn, mỗi nhà nước đều tiếp thu kinh nghiệm để đưa đất nước phát triển bền vững.

1.3.2 Học hỏi và kế thừa có chọn lọc chế độ quan lại trong lịch sử

1.3.2.1 Sự kế thừa chế độ quan lại của các triều đại phong kiến Việt Nam

Mặc dù trải qua hơn 1000 năm Bắc thuộc dưới sự thống trị của thực dân phương Bắc, nhân dân ta vẫn giữ vững tinh thần độc lập Ngay khi giành lại một phần lãnh thổ, triều đình đã thiết lập các chế độ chính trị và quan lại phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội, tạo niềm tin cho dân chúng về một đất nước và chính quyền mới Qua nhiều cuộc đấu tranh cải cách, chính sách quan lại dưới sự cai quản của các dòng tộc ngày càng phát triển.

Khi Lý Công Uẩn lên ngôi, ông đã thay thế triều đại Tiền Lê bằng một triều đại nhân đức và khoan từ, xây dựng lại hệ thống hành chính từ trung ương đến địa phương Ông chú trọng đến việc xây dựng các Đài giám sát đạo đức của Vua và quan lại Mặc dù bộ máy nhà nước đơn giản, nhưng đã được sắp xếp quy củ hơn trước Chính sách tuyển chọn và sử dụng quan lại cũng được cải thiện Năm 1070, ông cho xây dựng Văn Miếu thờ Khổng Tử và năm 1076 thành lập Quốc Tử Giám, mở khoa thi minh kinh bác học đầu tiên Tuy nhiên, chế độ đãi ngộ quan lại vẫn còn sơ sài cho đến năm 1162, khi Lý Anh Tông quy định kỳ khảo công đầu tiên, đánh giá chất lượng đội ngũ quan văn và quan võ, đánh dấu sự chú trọng đến năng lực của quan lại trong triều.

Thời Trần, nhà nước phong kiến quý tộc được xây dựng theo hướng quan liêu, với bộ máy nhà nước phân chia theo thứ bậc và có sự phân công nhiệm vụ cụ thể Chính sách quan lại không có nhiều điểm nhấn so với các triều đại trước, chủ yếu dựa vào việc lựa chọn quan lại từ tầng lớp quý tộc Thi cử diễn ra 7 năm một lần nhưng chỉ dành cho con em quan lại, hạn chế đối tượng tham gia Các chức vụ cao cấp chủ yếu thuộc về quý tộc, trong khi việc ban cấp Thái ấp điền trang là điểm mạnh của triều Trần Chế độ kiêm chức và khảo công cũng được thực hiện, nhưng khảo công chỉ mang tính chất hình thức do thời gian giữa các lần khảo công kéo dài (15 năm), không chú trọng đến việc đánh giá thực chất đội ngũ quan lại, chủ yếu là hoàng thân quốc thích và dòng dõi quý tộc.

Thời Lê sơ, dưới triều đại Lê Thánh Tông, việc xây dựng và ban hành chính sách nhà nước đã có nhiều thay đổi quan trọng, với việc thiết lập một nhà nước quân chủ chuyên chế và đề cao quyền lực của nhà vua Ông đã thực hiện các chính sách kinh tế, văn hóa, xã hội phù hợp với nhu cầu của người dân, đồng thời cải cách hành chính hiệu quả bằng cách tổ chức lại bộ máy nhà nước, phân công rõ ràng quyền hạn và trách nhiệm của từng cơ quan Lê Thánh Tông cũng chú trọng đến việc tuyển chọn quan lại có thực tài và trung thực qua con đường khoa cử, đồng thời thường xuyên đánh giá trình độ và phẩm chất đạo đức của họ Đặc biệt, ông đã quy định lệ khảo thí, khảo khóa thành một quy định bắt buộc, với thời gian thực hiện là 3 năm, nhằm đảm bảo đội ngũ quan lại được kiểm tra và đánh giá thường xuyên trong quá trình quản lý nhà nước.

Sau khi thời Lê sơ kết thúc, nhà Mạc và triều Lê Trung Hưng tập trung vào việc củng cố quân đội và bộ máy nhà nước, duy trì các chính sách quản lý tương tự như thời Lê sơ Cả hai triều đại đều thực hiện chính sách tuyển chọn quan lại qua khoa cử, tổ chức kỳ thi ba năm một lần, từ đó lựa chọn được đội ngũ quan lại chất lượng Tuy nhiên, nhà Mạc có chính sách sử dụng quan lại khá bao dung và cởi mở, dẫn đến tình trạng tham nhũng trong đội ngũ này.

Thời chúa Trịnh, chế độ khảo hạch được chú trọng để kiểm tra năng lực quan lại, nhằm loại bỏ những người không đủ khả năng Tuy nhiên, các triều đại sau đó lại chỉ chú ý đến số lượng, dẫn đến sự giảm sút về kỹ năng và kiến thức của đội ngũ quan lại Đến thời Nguyễn, việc tuyển chọn và sử dụng quan lại được cải thiện với Bộ luật Gia Long, ban hành các chính sách nghiêm ngặt và hiệu quả hơn Chính sách đào tạo, tuyển dụng và bổ nhiệm quan lại được xây dựng quy củ, cụ thể và chặt chẽ.

Chế độ quan lại trong các triều đại phong kiến Việt Nam luôn có sự kế thừa và học hỏi từ các triều đại trước Sự tiếp nhận và phát triển của chế độ này phụ thuộc vào điều kiện và hoàn cảnh riêng của mỗi vương triều.

1.3.2.2 Học hỏi kinh nghiệm chế độ quan lại của các triều đại phong kiến Trung Quốc

Trong quá trình xây dựng và cải cách đất nước, nhiều triều đại phong kiến Việt Nam đã học hỏi kinh nghiệm quản lý từ các quốc gia khác Tuy nhiên, sau 1000 năm bị đô hộ bởi thực dân phương Bắc, nền văn hóa – xã hội Việt Nam đã chọn lọc và kế thừa các chế độ, chính sách phù hợp với nhu cầu phát triển Trung Quốc, với bề dày lịch sử phong kiến, đã cung cấp nhiều kinh nghiệm quý báu trong quản lý và sử dụng quan lại.

Trong hơn 2000 năm lịch sử phong kiến, từ thời Tần đến thời Thanh, chế độ quan lại Trung Quốc đã trải qua nhiều biến đổi qua các triều đại Khác với Đại Việt, nơi có nhiều năm bị đô hộ, Trung Hoa cổ đại đã phát triển thành một quốc gia rộng lớn với tiềm năng kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội mạnh mẽ.

Chính quyền triều Lê được xem là sản phẩm của quá trình tiếp nhận và sáng tạo có chọn lọc từ mô hình bộ máy Trung Hoa, phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam Thực tế cho thấy, chế độ quan lại của Trung Quốc đã trải qua nhiều thay đổi qua các triều đại, với các triều đại sau thường thực hiện nhiều cải cách hơn so với các triều đại trước.

Có thể tóm lược một số đặc điểm về quan chế Trung Quốc dưới thời phong kiến đã được Đại Việt ta học hỏi như sau:

 Về tổ chức bộ máy quan lại

LỆ KHẢO THÍ, KHẢO KHÓA DƯỚI THỜI VUA LÊ THÁNH TÔNG (1460 – 1497)

NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Ngày đăng: 22/07/2023, 07:34

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức nhiều  284  73.35 - (Luận văn) lệ khảo thí, khảo khóa dưới thời vua lê thánh tông và bài học kinh nghiệm cho đánh giá cán bộ, công chức ở việt nam hiện nay
Hình th ức nhiều 284 73.35 (Trang 139)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm