ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC NÔNG THỊ YẾN NGA NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG BỆNH VIÊM GAN MẠN TÍNH, XƠ GAN, UNG THƯ GAN TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN Chuyên ngành: Nộ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
NÔNG THỊ YẾN NGA
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG BỆNH VIÊM GAN MẠN TÍNH,
XƠ GAN, UNG THƯ GAN TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA
TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Nội khoa
Mã số: 60.72.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
Th i Nguyên n m 20 0
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
NÔNG THỊ YẾN NGA
NGHI£N CøU THùC TR¹NG BÖNH VI£M GAN M¹N TÝNH, X¥ GAN, UNGTH¦ GAN T¹I BÖNH VIÖN §A KHOA TRUNG ¦¥NG TH¸I NGUY£N
Chuyên ngành: Nội khoa
Mã số: 60.72.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
Th i Nguyên n m 20 0
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm gan mạn tính, xơ gan và ung thư gan là bệnh thường gặp ở gan,chúng có mối liên quan chặt chẽ với nhau Có tác giả cho rằng viêm gan mạntính, xơ gan và ung thư gan là các giai đoạn khác nhau của một quá trình bệnh
lý ở gan, do nhiều nguyên nhân khác nhau như: nhiễm virus viêm gan, nghiệnrượu, một số thuốc có độc tính hoặc do ứ mật kéo dài, gây nên [24]
Việt Nam là một nước có tỉ lệ nhiễm virus viêm gan B, C cao so vớiquốc tế Một số nghiên cứu của những năm 90 của thế kỷ XX cho thấy bệnhviêm gan mạn tính, xơ gan và ung thư gan có liên quan đến virus viêm gan B
và C chiếm tỉ lệ 77 - 85% [11], [20], [23] Ngoài virus, tỉ lệ các bệnh gan mạntính do rượu ngày một gia tăng do việc sử dụng các chất có cồn, men rượu,bia ngày càng phổ biến, nhất là trong giới trẻ Các chất có cồn, rượu, bia làmột trong nhiều chất độc hại mà con người tự nguyện tiêu thụ Ở nước ta,theo một số thống kê từ các bệnh viện, số bệnh nhân phải nhập viện để điều trịbệnh xơ gan do uống rượu quá nhiều có xu hướng gia tăng trong thời gian gầnđây (Khoảng ¼ số bệnh nhân nằm tại khoa Tiêu hóa gan mật là xơ gan) màtheo nghiên cứu rượu chính là thủ phạm gây xơ gan đứng hàng thứ 2 chỉ sauvirus viêm gan B [8], [24]
Ở một số nước Châu Âu, Mỹ, Canada, Nhật Bản, tỉ lệ người nghiệnrượu từ 5 - 10% dân số, trong đó từ 10 - 35% sẽ phát triển thành viêm ganmạn tính và từ 8 - 10% viêm gan mạn tính sẽ tiến triển thành xơ gan và ungthư gan [37], [44],[67]
Trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu làm sáng tỏ vai trò củaviêm gan B, C, rượu, thuốc dẫn đến viêm gan mạn tính, xơ gan và ung thưgan Từ những kết quả nghiên cứu này các nhà khoa học đã đưa ra những
Trang 4biện pháp phòng ngừa và trực tiếp phòng ngừa các hậu quả của nó làm giảm chi phí khám chữa bệnh và tỉ lệ tử vong.
Ở Việt Nam cũng đã có một số nghiên cứu về viêm gan mạn tính, xơgan, ung thư gan và sự liên quan của virus viêm gan B, C, rượu, thuốc đối vớicác bệnh này Để hiểu rõ hơn vai trò của các yếu tố này trong việc điều trị,
phòng bệnh tại Thái Nguyên chúng tôi tiến hành đề tài: "Nghiên cứu thực trạng bệnh viêm gan mạn tính, xơ gan, ung thƣ gan tại Bệnh viện Đa khoa Trung ƣơng Thái Nguyên" với 2 mục tiêu:
1 Mô tả một số đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng của bệnh viêm gan mạn tính xơ gan ung thư gan.
2 Khảo s t một số yếu tố liên quan đến bệnh viêm gan mạn tính xơ gan, ung thư gan.
Trang 5Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Tình hình viêm gan mạn tính, xơ gan, ung thư gan trên Thế giới và Việt Nam
Tình hình viêm gan mạn tính
Viêm gan mạn tính (VGMT) từ lâu đã là một bệnh phổ biến mà nguyênnhân và tỉ lệ mắc bệnh cũng khác nhau ở mỗi quốc gia Điều đáng quan tâmnhất hiện nay là bên cạnh VGMT do virus thì VGMT do rượu ngày càng tăng.Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG), hiện nay có khoảng 2 tỉngười trên toàn cầu nhiễm virus viêm gan B (HBV), trong đó có khoảng 200triệu người trở thành VGMT và 75% số đó là người gốc Châu Á [42] Cũngtheo thống kê của TCYTTG có 4 triệu người Mỹ, 5 triệu người Châu Âu, 170triệu người ở các quốc gia khác trên Thế giới nhiễm virus viêm gan C (HCV),trong số đó 70% sẽ phát triển thành VGMT [83] Ở Mỹ hàng năm có khoảng
7000 người chết do viêm gan virus B mạn tính [68] Một nghiên cứu khác ở
Mỹ cho thấy 27% tổng số các ca VGMT là do HCV Nghiên cứu của GaryDavis và Johnson (Mỹ) trên 170.000 ca viêm gan C cấp kết quả cho thấy tỉ lệHCV cấp phát triển thành viêm gan virus C mạn tính là 40 - 60% [55] Dothói quen uống rượu nhiều và thường xuyên ở nước Mỹ và các nước Châu Âu,
vì thế VGMT do rượu chiếm tỉ lệ cao nhất 70 - 80% Nhưng ở các nước châu
Á và Tây Thái Bình Dương viêm gan mạn tính thường do virus viêm gan B và
C, chiếm tới 75% tổng số VGMT do virus viêm gan trên toàn thế giới [44],[68] Ở Nhật Bản các nghiên cứu đã cho thấy tỉ lệ viêm gan mạn tính có Anti-HCV (+) rất cao Theo Aries và cộng sự trong số các trường hợp nhiễm HCVthì có tới 30% là VGMT [37] Ở Italy nghiên cứu từ 1995 - 2000 cho thấytrong 370 trường hợp VGMT thì [52]: 25% có Anti - HCV (+), 13% cóHBsAg (+), 23,1% có tiền sử uống rượu > 60 g/ngày, 26,9% là các nguyên
Trang 6nhân khác Tác giả Mendel Hall cho thấy 18% những trường hợp VGMT người bệnh vừa nghiện rượu, vừa có Anti HCV (+) [47].
Ở Việt Nam theo La Thị Nhẫn và cộng sự thì trong các trường hợp
VGMT có 40,63% có HBsAg (+); 17,91% có Anti - HCV (+) [21] Mặc dùchưa có thống kê đầy đủ, nhưng một số tác giả đã cho thấy: ở nước ta nhữngnăm gần đây do đời sống kinh tế ngày càng phát triển thói quen dùng bia,rượu cũng tăng, đi đôi với nó thì tỉ lệ VGMT do rượu cũng tăng cao [25]
.2 Tình hình xơ gan
Xơ gan (XG) là bệnh phổ biến trên toàn thế giới Nó là một trong mườinguyên nhân gây tử vong hàng đầu, là kết quả từ nghiện rượu, bệnh mạn tính,bệnh đường mật [40] Cũng như VGMT tuỳ thuộc theo từng vùng địa lý, sựhiểu biết về y học khác nhau mà tỉ lệ về các nguyên nhân cũng khác nhau: có
20 - 30% người nhiễm virus viêm gan C mạn tính trở thành XG [51], [72]; Có
8 - 20% người uống rượu thường xuyên trở thành XG [37]; 25 - 40% viêmgan B mạn tính sẽ dẫn đến XG [62]
Ở Pháp XG nguyên nhân do rượu chiếm 80%, không chỉ ở Pháp mà cácnước Châu Âu, nước Mỹ nguyên nhân do rượu cũng chiếm tỉ lệ cao và lànguyên nhân phổ biến nhất của các bệnh gan [44], [68] Theo TCYTTG ở cácnước này tỉ lệ tử vong do xơ gan dao động từ 10 - 20/100.000 người dân [38]
Ở Mỹ hàng năm có tới 27.000 người chết vì XG và đứng thứ 9 trong cácnguyên nhân gây tử vong, chiếm khoảng 10% các bệnh nhân cho về từ cácbệnh viện ở độ tuổi từ 15 trở lên [40] và đã tiêu tốn trên 1,6 tỉ đô la/năm chobệnh XG nguyên nhân do rượu, chiếm 44% tử vong do xơ gan ở Mỹ [38].Trong các nguyên nhân gây XG ở miền Tây nước Mỹ thuộc nhóm tuổi từ 35 -
84 thì rượu chiếm phần lớn và XG do rượu đứng thứ 4 trong các nguyên nhângây tử vong ở đàn ông và thứ 5 ở phụ nữ [45] Một nghiên cứu khác ở Mỹ chothấy tỉ lệ các nguyên nhân gây XG như sau [59]: do rượu: 60 - 70%, do viêmgan virus: 10%, do bệnh đường mật: 5- 10%, do nguyên nhân khác: 10 - 15%
Trang 7Ở Vương quốc Anh xơ gan là nguyên nhân của 6000 người chết hàng năm và
XG do rượu chiếm 80% tổng số XG [67] Ở các nước châu Á, Tây Thái BìnhDương thì XG chủ yếu nguyên nhân do virus Một nghiên cứu ở Hồng Kôngcho thấy trong tổng số các bệnh nhân XG có tới 89% có HBsAg (+) [42] ỞAustralia nghiên cứu của Bird và cộng sự cho thấy XG do HCV năm 1987 là8.500 ca và ước tính đến năm 2010 sẽ là 17.000 ca [39] Theo nghiên cứu củaEsteban Mezey xơ gan xảy ra với tỉ lệ cao ở lứa tuổi từ 45 - 64 và 2 loại chủyếu là XG do rượu và XG do vius: 63% ở người ≥ 60 tuổi; 27% ở người trẻ[53] Theo Gary L Davis, Johnson Y.N Lau nghiên cứu ở 306 bệnh nhânviêm gan C mạn tính thì 39% trở thành XG những người trên 50 tuổi và 19%
ở những người dưới 50 tuổi [55]
Ở Việt Nam: XG nguyên nhân chủ yếu là do virus, ngoài ra rượu cũng lànguyên nhân phải kể đến, mặc dù tỉ lệ không cao như nước Mỹ, các nướcchâu Âu, nhưng tỉ lệ cũng tăng trong những năm gần đây Tác giả NguyễnXuân Huyên XG do rượu ở Trung Quốc là 11,6%, ở Việt Nam khoảng 6%.Theo Vũ Văn Khiêm, Bùi Văn Lạc, Mai Hồng Bàng cho thấy tỉ lệ các nguyênnhân gây xơ gan như sau [14]: do rượu là 20%, do HBV là 55%, do HCV là5%, do rượu với HBV là 5%, do nguyên nhân khác là 15%
1.1.3 Tình hình ung thư gan
Ung thư gan (UTG) là một trong các bệnh ung thư hay gặp trên thế giớicũng như ở Việt Nam, chiếm vị trí thứ 5 trong tổng số ung thư gặp ở nam giới
và thứ 8 ở nữ giới [56] Trên Thế giới mỗi năm có khoảng 1 triệu ca ung thưgan, trong đó 75 - 80% là do nhiễm virus viêm gan B hay C [56] Tỉ lệ mắc làkhoảng 20/100.000 dân/ năm ở Mozambic, Singapo, Trung Quốc và Đài Loan[75], [76] Một nghiên cứu ở Đông Nam Á cho thấy tỉ lệ mắc UTG là khoảng
30 ca/100.000 dân/năm [79] Ở Châu Á, tỉ lệ mắc cao ở Thái Lan với tần suất90,01/100.000 dân, Trung Quốc cũng là nơi có tỉ lệ mắc UTG cao nhất thếgiới [1]
Trang 8Về giới tỉ lệ mắc ở nam cao hơn ở nữ và tỉ lệ này cũng khác nhau ở cácquốc gia từ 3/1, 4/1, 5/1 [1] Ở Trung Quốc tỉ lệ mắc ở nam là 68%, nữ là 32%
và là nguyên nhân gây tử vong của 100.000 người hàng năm [36] Theo điềutra ở Phillipin, trong khi tỉ lệ HBsAg trong dân chúng là 12% thì tỉ lệ này trênUTG là 75% Tại Nam Triều Tiên, 69,3% người mang HBV phát triển thành
XG [39] và 68,8 - 76% bệnh nhân UTG có HBsAg dương tính [62]
UTG có thể gặp ở mọi lứa tuổi tử 25 - 64, nhìn chung tỉ lệ mắc bệnh tăngtheo tuổi, tuổi trung bình là 61,8 Cao nhất ở lứa tuổi 60 [57] Tuỳ theo sinhhoạt, môi trường sống, sự hiểu biết khác nhau mà nguyên nhân gây bệnh và tỉ
lệ gây bệnh cũng khác nhau ở mỗi quốc gia: Ở Nhật Bản sau năm 1995, tỉ lệbệnh nhân UTG do HCV là 80 - 85%, do HBV là 10 - 15%, nguyên nhânkhác < 5% Một nghiên cứu khác ở Nhật Bản cho thấy tỉ lệ UTG do HCV là
60 - 75% [64], [81], [82] Ở Đài Loan tỉ lệ UTG do HBV là 54%, do HCV là15% [62], [82]; Ở Italy tỉ lệ UTG do HBV là 22%, do HCV là 36%, do rượu
là 45% [52]; Ở Đức nghiên cứu từ 1994 - 2000 cho thấy tỉ lệ UTG do HCV là17,8%, do rượu là 49,2%; Ở Mỹ tỉ lệ UTG do HCV là 57%, do HBV là 23%,nguyên nhân khác là 20% [22] Một nghiên cứu khác ở Châu Phi trên bệnhnhân UTG cho thấy tỉ lệ HCV/HBV là 3/1 [35] Theo các tác giả Leung(Hồng Kông) tỉ lệ HBsAg (+) ở bệnh nhân UTG là 80%, Chung (Hàn Quốc) tỉ
lệ này là 87% [40]
Ở Việt Nam tỉ lệ UTG trong tổng số các bệnh ung thư chiếm 3,6% TheoPhạm Hoàng Anh (1992) UTG ở Việt Nam đứng hàng thứ 3 trong số các bệnhung thư thường gặp [1] Tại Hà Nội và Hồ Chí Minh thống kê gần đây chothấy UTG là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ 3 trong các bệnh ung thư ởnam giới, đứng thứ 5 ở nữ giới Tại viện K Hà Nội, UTG chiếm 11%; Tạithành phố Hồ Chí Minh UTG chiếm 17% trong tổng số bệnh ung thư Tỉ lệcác nguyên nhân do HBV, do HCV và do rượu cũng khác nhau ở từng vùng,
Trang 9từng tác giả Theo Lã Thị Nhẫn và cộng sự: UTG có HBsAg (+) là 63,82%,Anti - HCV (+) là 31,98% [22] Kết quả nghiên cứu của Bùi Hiền và cộng sựtrên 46 bệnh nhân ung thư gan nguyên phát cho thấy tất cả các bệnh nhân nàyđều có nhiễm HBV, trong đó 91,3% nhiễm HBV mạn tính có HBsAg (+) và8,69% nhiễm HBV trong quá khứ [8] Ở Huế theo Trần Văn Huy tỉ lệ HBsAg( ở bệnh nhân UTG là 85% Theo Phan Thị Phi Phi tỉ lệ này là 82%,Nguyễn Thị Nga là 77% Ở một nghiên cứu khác của Trần Văn Huy và cộng
sự cho thấy tỉ lệ HCV (+) ở UTG là 19% và tỉ lệ phối hợp giữa HBV và rượu
là 27,3% tỉ lệ phối hợp giữa Anti - HCV với HBsAg là 6% [11], [20], [23]
.4 Hậu quả của viêm gan mạn tính xơ gan ung thư gan đối với người bệnh và đối với xã hội
- Đối với người bệnh: VGMT, XG, UTG là bệnh gan mạn tính thườnggặp, đòi hỏi thời gian điều trị lâu dài, làm cho người bệnh phải chịu nhiều tốnkém về kinh tế Ảnh hưởng đến sức khoẻ, làm giảm hoặc mất khả năng laođộng, giảm chất lượng sống Có nhiều biến chứng có thể gây tử vong
- Đối với xã hội: số bệnh nhân VGMT, XG, UTG chiếm tỉ lệ lớn trongcác bệnh đường tiêu hoá Các bệnh này làm giảm hoặc mất khả năng lao độngcủa người bệnh, đây là lực lượng sản xuất của xã hội Cùng với việc điều trịlâu dài, tốn kém, khó khăn dẫn đến tổn hại tới nền kinh tế của đất nước Như
ở Mỹ, tiêu tốn khoảng 1,6 tỉ đô la/năm cho bệnh XG do rượu [38] Sau cùngcác bệnh này được xếp vào các nguyên nhân tử vong cao Ở Mỹ có khoảng
7000 người chết/năm từ viêm gan virus B mạn tính [80] Cũng ở Mỹ cókhoảng 27.000 người chết/năm do XG [40] Ở Trung Quốc ung thư gan lànguyên nhân của 100.000 người chết /năm [79] Ở Việt Nam theo ước tính chỉriêng tử vong do các bệnh có liên quan đến virus viêm gan B nhiều gấp 10 lần
số bệnh nhân tử vong do sốt rét hàng năm
Trang 101.2 Bệnh lý viêm gan mạn tính, xơ gan, ung thƣ gan
.2 Lâm sàng của viêm gan virus thể điển hình
1.2.1.1 Thời kỳ ủ bệnh
Thời kỳ ủ bệnh của viêm gan virus cấp kéo dài từ 30 - 180 ngày [5], [24],[63] người bệnh hoàn toàn không triệu chứng Dựa vào xét nghiệmtransaminase có thể chẩn đoán bệnh ở giai đoạn này
1.2.1.2 Thời kỳ tiền hoàng đảm (tiền vàng da)
Theo các tác giả Nguyễn Hữu Chí [5], Vũ Bằng Đình [7], Jeles L [63],thời gian này trung bình 5 - 10 ngày, có thể tới 2 tuần Bệnh thường bắt đầu từ
từ, mặc dù trong một số trường hợp xảy ra đột ngột với các hội chứng sau:
- Hội chứng giả cúm : Sốt, nhức đầu, đau các khớp và bắp thịt toàn thân
- Hội chứng tiêu hoá: Rối loạn tiêu hóa là triệu chứng thường gặp nhất,chiếm 60 - 80% các trường hợp; buồn nôn và nôn, sợ thịt, sợ mỡ, ỉa chảy hoặctáo bón; Đau bụng là triệu chứng hay gặp trong thời kỳ này Một số bệnhnhân có cảm giác căng đau vùng thượng vị, một số khác đau tức vùng hạsườn phải Trong một vài trường hợp khác có thể đau bụng dữ dội vùng túimật làm cho thầy thuốc nghĩ đến viêm túi mật cấp hoặc cơn đau sỏi mật [7].Ngoài ra, còn có thể gặp các dấu hiệu sau: viêm long mũi họng, đau họng,ngứa, nổi mề đay
- Thăm khám lâm sàng thời kỳ này ở đa số bệnh nhân đã có thể phát hiệnđược gan to mấp mé bờ sườn Một số ít trường hợp có thể sờ thấy lách
- Giai đoạn cuối của thời kỳ tiền hoàng đảm, nước tiểu ít đi, đậm đặc,sẫm màu như nước vối, chè đặc Phân nhạt màu, bềnh bệch như đất sét Dấuhiệu này thường quan sát thấy từ 1 - 5 ngày trước khi hoàng đảm xuất hiện
- Xét nghiệm ở giai đoạn này, đa số bệnh nhân có bạch cầu hơi giảm, tốc
độ máu lắng không có gì thay đổi Thay đổi quan trọng nhất giúp cho chẩnđoán là xét nghiệm enzym transaminase máu Enzym transaminase máu lêncao sau 5 ngày, kể từ khi có dấu hiệu đầu tiên (trong 50% các trường hợp) vàtăng lên (đến 70%) trước khi vàng da 3 ngày [24]
Trang 11Qua thăm khám, có thể phát hiện được gan to hơn bình thường (50 - 80%các trường hợp) [26], mật độ mềm, chắc, nhẵn Gan to kéo dài trung bình 12ngày Gan đang to nhỏ dần đi, ngược lại các triệu chứng lâm sàng nặng dầnlên là báo hiệu diễn biến xấu, thường gặp ít trong viêm gan kịch phát.
Lách to thường chỉ gặp trong 10 - 20% các trường hợp [7], [54], [63].Hạch ngoại biên phì đại, dấu sao mạch, dấu hiệu tăng áp lực tĩnh mạch cửa,
cổ trướng rất ít gặp trong thể cấp thông thường
Cuối giai đoạn hoàng đảm, bệnh nhân xuất hiện cơn đa niệu, phân cómàu vàng trở lại, báo hiệu diễn biến bệnh tốt, chuyển sang thời kỳ hồi phục
* Các xét nghiệm sinh hoá: được biểu hiện bằng các hội chứng sau
- Hội chứng ứ mật
Biểu hiện bằng bilirubin máu tăng, chủ yếu là bilirubin toàn phần và trựctiếp Nồng độ bilirubin máu trong viêm gan virus thông thường thường daođộng trong khoảng 85 - 340µmol/l (5 - 20mg/dl) Nồng độ bilirubin tăng trên340µmol/l và kéo dài có giá trị tiên lượng bệnh nặng [5], [63] Bilirubin huyếtthanh tăng khi có ứ mật [60], [77]
- Hội chứng huỷ hoại tế bào gan
Xét nghiệm AST, ALT bình thường trong máu khoảng 1,3 - 1,5µmol/l (<40U/L) Thời gian bán huỷ là 48 giờ đối với AST và 18 giờ đối với ALT Haienzym này đặc biệt tăng cao trong viêm gan virus, thường gấp 5 - 10 lần trị sốbình thường mới có giá trị chẩn đoán viêm gan cấp Trong một số bệnh cóhuỷ hoại tế bào gan như ung thư gan, xơ gan tiến triển, ứ mật lâu ngày có kèm
Trang 12theo viêm đường mật nhỏ trong gan, thiếu oxy ở gan do suy tim đều có thểlàm enzym transaminase cao lên Nhưng những trường hợp này ít khitransaminase tăng gấp 5 - 10 lần so với trị số bình thường [24], [84].
Ở bệnh lý gan do rượu sự thay đổi transaminase có khác hơn Đây là cácenzym nội bào giúp cho sự chuyển vận những nhóm amin của acid amin sangnhững acid cetonic tạo nên mối liên hệ giữa sự chuyển hoá protid và lipid Cụthể, 2 enzym tham gia chuyển vận amino acid aspartate (AST) và alanin(ALT) thành ketoglutaric acid [13], [61]
Trong huyết tương, lượng transaminase ổn định; khi có tổn thương hoại
tử hoặc khi tăng tính thấm màng tế bào ở tổ chức, các enzym này đổ vào máunhiều gây tăng nồng độ trong máu [13] Nồng độ transaminase huyết thanhhiếm khi tăng quá 500U/L Khi transaminase tăng quá cao cần xem xét liệu cóngộ độc thuốc hoặc nguyên nhân khác như virus [65], [77]
- Hội chứng suy tế bào gan
Tỉ lệ prothrombin giảm có giá trị phản ánh mức độ suy tế bào gan nặng,
sự huỷ hoại ồ ạt tế bào gan; Do đó cho thấy tiên lượng xấu của bệnh [63].Albumin là protein được tổng hợp chủ yếu ở gan, thời gian bán thải xấp
xỉ 21 ngày Trong viêm gan virus albumin huyết thanh giảm làm giảm áp lựckeo, nếu nặng dẫn đến giữ nước, phù Giảm albumin huyết thanh không đặchiệu cho bệnh lý gan rượu nhưng cho phép đánh giá tình trạng nặng cũng nhưtính chất của loại bệnh lý Theo James R.Burton (2001), giảm albumin huyếtthanh gợi ý một bệnh lý gan kéo dài trên 3 tuần [61]
Trang 13IgA, IgM, IgG đều tăng, tăng rõ rệt ở giai đoạn hoàng đảm và giảm xuống ởthời kỳ sau hoàng đảm Bệnh càng nặng, gamma globulin càng cao, albumincàng thấp Rối loạn chuyển hoá albumin cũng như sự mất cân bằng giữaalbumin và globulin là cơ sở cho các phản ứng Gros - Maclagan và tủa thymoldương tính trong viêm gan virus
- Sự thay đổi nồng độ enzyme gamma glutamyl transfease (GGT)
Ở người nghiện rượu GGT tăng khoảng 78 - 80% bệnh nhân [73] Vì thế,GGT huyết thanh được sử dụng rộng rãi để sàng lọc cho người nghiện rượu,khi GGT huyết thanh tăng 5 - 7 lần bình thường [77]
1.2.1.4 Thời kỳ hồi sức
Giai đoạn này kéo dài trung bình 2 - 3 tháng, tính từ khi hết hoàng đảmcho tới khi khỏi hoàn toàn Giai đoạn này kết thúc khi tất cả các triệu chứnglâm sàng và các chỉ tiêu chức năng gan trở về bình thường
.2.2 Thể lâm sàng của viêm gan virus là viêm gan mạn
Viêm gan được coi là mạn khi men gan tăng liên tục trong 6 tháng [84]
Về mặt cơ thể bệnh, liên tục có sự hoại tử tế bào gan kèm theo sự thâm nhiễmcác tế bào viêm, nặng hay nhẹ tuỳ thuộc giai đoạn bệnh
Trên lâm sàng có 2 loại viêm gan mạn: viêm gan mạn tính tồn tại và viêm gan mạn tính hoạt động
Đặc điểm lâm sàng thời kỳ này được nhiều tác giả thống nhất như sau[24], [84]:
Viêm gan mạn tồn tại: dấu hiệu phổ biến nhất là đau hoặc tức nặng vùng hạ sườn phải, mệt mỏi, chán ăn, tiểu vàng khi gắng sức Thăm khám thấy gan mật độ thay đổi, bì chắc và sắc Dấu hiệu sinh hoá có thể tăng nhẹ, 90% các trường hợp men gan không vượt quá 200 U/l [52] Chẩn đoán xác định dựa vào sinh thiết.
Viêm gan mạn hoạt động: dấu hiệu chán ăn, mệt mỏi rất rõ rệt, nhất làtrong các đợt tiến triển, có đợt vàng da Dấu hiệu thực thể: Gan to chắc, bờsắc, lách to trong 20% các trường hợp [24] Dấu hiệu sinh hoá dao động, mengan có thể từ 100 – 1000 U/l Chẩn đoán xác định dựa vào sinh thiết
Trang 14Nhìn chung viêm gan mạn trên lâm sàng không biểu hiện rầm rộ như viêmgan cấp Tuy nhiên, ngay ở một số bệnh nhân viêm gan mạn tồn tại,transaminase có thể cao hơn 20 lần so với người bình thường [57] Ngược lại,một số bệnh nhân ở giai đoạn viêm gan virus cấp không biểu hiện triệu chứng,bệnh diễn biến âm ỉ, dần dần trở thành viêm gan mạn Do đó, nhiều khi cần phảiphân biệt giữa một viêm gan virus cấp và một viêm gan virus mạn Dù sinh thiếtgan là phương tiện giúp chẩn đoán chắc chắn và hữu hiệu, nhưng không phải cóthể áp dụng dễ dàng, rộng rãi cho tất cả các bệnh nhân, nhất là trong điều kiệnnước ta hiện nay Vì vậy, việc nghiên cứu các dấu hiệu lâm sàng và cận lâm sàng
có giá trị gợi ý phân biệt hai thể bệnh này là rất cần thiết
.2.3 Hậu quả lâu dài của viêm gan virus: xơ gan và ung thư gan
Xơ gan phát triển hoặc trực tiếp sau một viêm gan cấp hoặc sau tiến triểncủa viêm gan mạn thể tấn công Quá trình diễn biến có thể nhanh hay chậmtuỳ từng trường hợp Nhanh là 2 - 3 tháng, chậm là 2 - 3 năm [24]
Tỉ lệ sống sót sau 5 năm của bệnh nhân xơ gan tiến triển là 55% [58].Phần lớn các bệnh nhân chết do suy gan nặng hoặc sau tiến triển thành ungthư gan Theo Nguyễn Văn Vân [32], 2/3 - 3/4 ung thư gan nguyên phát làxuất hiện trên nền xơ gan
1.3 Đại cương về các yếu tố liên quan đến bệnh viêm gan mạn tính, xơ gan, ung thư gan
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến bệnh nhưng ở nghiên cứu này chúng tôi
đề cập đến 3 yếu tố sau:
.3 Rượu trong viêm gan mạn tính xơ gan và ung thư gan
1.3.1.1 Định nghĩa nghiện rượu
Nghiện rượu là nguyên nhân thường gặp của các bệnh gan mạn tính
- Theo TCYTTG, trong sách phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm
1992, định nghĩa: Người nghiện rượu là người luôn có sự thèm muốn nên đòi hỏi thường xuyên uống rượu dẫn đến rối loạn nhân cách, thói quen, giảm khả năng hoạt động lao động nghề nghiệp, ảnh hưởng đến sức khoẻ.
Trang 15Nhưng uống số lượng bao nhiêu và thời gian bao lâu thì ảnh hưởng đếngan, gây ra các bệnh mạn tính Đó là câu hỏi đã được nhiều tác giả trên thếgiới nghiên cứu Theo James Crowford và Kewin Walsh thì lượng rượu ≥80g/ngày, uống liên tục 7 - 10 năm sẽ gây ra bệnh gan mạn tính [67] TheoKevin Walsh và Graeme Alexander lượng rượu là 40 đơn vị/tuần (tươngđương khoảng 400g/tuần) sẽ gây bệnh gan mạn tính [67] Theo Kurt và cộng
sự một bệnh nhân uống rượu điển hình bị bệnh gan mạn tính thì có lượngrượu tiêu thụ hàng ngày lớn khoảng ½ lít [68] Một số tác giả khác cũng nhậnxét lượng rượu tiêu thụ trong ngày từ 40 - 80g và uống liên tục trong 3 - 10năm sẽ gây bệnh gan mạn tính Và bệnh sẽ phát triển nhanh mạnh hơn nếu có
sự kết hợp của các virus viêm gan nhất là virus viêm gan C [47], [67] Các tácgiả cho rằng thời gian, số lượng rượu là yếu tố quan trọng để gây tổn thươnggan, thời gian tỉ lệ nghịch với số lượng rượu uống hàng ngày (uống ít trongthời gian dài hoặc uống nhiều trong thời gian ngắn) [81]
- Tổn thương của gan do rượu gây ra là gan nhiễm mỡ, VGMT, XG, UTG [37]
Ung thư gan
Sơ đồ 1.1: Tỉ lệ phần trăm ở những giai đoạn khác nhau
của bệnh gan do rượu [38]
Trang 161.3.1.2 Sinh bệnh học của viêm gan mạn tính, xơ gan và ung thư gan do rượu [68]
Gan nhiễm mỡ do rượu xảy ra ở đa số người uống rượu nhiều, nhưng cóthể hồi phục khi thôi uống rượu Khi bị gan nhiễm mỡ: gan to, vàng, có mỡ vàrắn chắc Tế bào gan bị phồng do các hốc đáy mỡ giống các túi lớn trong bàotương đẩy nhân tế bào gan về phía màng tế bào Mỡ tích luỹ trong gan dongười nghiện rượu là do sự phối hợp của oxy hoá acid béo bị tổn hại, tăng vậnchuyển và este hoá, acid béo để tạo thành triglycerid, giảm sinh tổng hợplipoprotein, bài tiết
- Viêm gan do rượu khi gan bị nhiễm mỡ nếu tiếp tục đưa rượu vào cơthể các tế bào gan sẽ bị tổn thương Hình thái học gồm có thoái hoá, hoại tử tếbào gan Thường có các tế bào căng phồng, thâm nhiễm bạch cầu đa nhân, tếbào lympho Bạch cầu đa nhân bao quanh các tế bào gan bị tổn thương chứanhững thể Mallory hoặc thể trong do rượu Đó là những đám chất bắt màueosin sẫm, ở xung quanh nhân tương ứng với các sợi trung gian đã tập kết lại
Ancohol dehydrogenase
CH3CH2OH
CH3CHOAcetal dehyde
Sơ
đồ
.2: Sự chuyển hóa của rượu khi ở trong gan [68]
Chính chất Acetal dehyde có thể làm tổn thương hoặc làm chết tế bào gan dẫn đến viêm gan do rượu
- Xơ gan do rượu: nếu vẫn tiếp tục đưa rượu vào cơ thể thì các nguyênbào sợi xuất hiện ở vùng tổ thương và kích thích tạo thành chất tạo keo Cácvách ngăn giống màng da của tổ chức liên kết xuất hiện ở vùng xung quanh
Trang 17- Ung thư gan do rượu: khi sử dụng rượu nhiều và liên tục, lúc đó rượu
sẽ gây tổn thương tế bào gan từ từ, gây ức chế gen bằng cách gây đột biến,biến đổi nhiễm sắc thể gây rối loạn phân chia sợi nhiễm sắc sẽ gây UTG
Trang 18.3.2 Virus B và C trong bệnh VGMT, XG, UTG
1.3.2.1 Viêm gan virus B ( HBV) [8], [25], [31],
[48] * Cấu trúc virus viêm gan B
HBV thuộc họ Hepadnaviridae, là một loại virus hướng gan (Hepatotropic) có cấu trúc DNA, gây bệnh cho người và cũng có thể gây bệnh chomột số loài linh trưởng khác Năm 1970 tìm thấy tiểu thể Dane (hay Virion)hoàn chỉnh Tiểu thể Dane như là một virus hoàn chỉnh, đường kính khoảng
42 nm, hình dạng ổn định Tiểu thể Dane có một nhân và một màng lọc Nhân chứa một vòng xoắn đơn DNA, có men DNA polymerase Phần nhân vàkháng nguyên của nó được ký hiệu là HBcAg (Hepatitis B Core Antigen).Lớp vỏ bọc bên ngoài, cấu tạo bởi lipoprotein có tính kháng nguyên đặc hiệu
-là HBsAg Virus này gây nhiễm một cách lặng lẽ mạn tính, dần dần dẫn tới xơgan và ung thư gan [62]
- Kháng nguyên HBcAg: Kháng nguyên này chỉ có trong nhân của tế bàogan, không xuất hiện trong huyết thanh, chỉ thấy khi làm sinh thiết gan.HBcAg là kháng nguyên có cấu trúc của một phần Lucleo capsid Khi cóHBcAg dương tính trong tế bào gan thì luôn có HBsAg dương tính Trongviêm gan mạn tính tấn công thường thấy HBcAg trong nhân tế bào gan và HBsAg trên màng tế bào gan
Trang 19- Kháng nguyên HBeAg (Hepatitis B"e" Antigen): Nó được tổng hợpvượt trội qua giai đoạn nhân đôi của virrus Xuất hiện trong huyết thanh sauHBsAg - HBeAg tồn tại tự do trong huyết thanh, nó thể hiện mức độ lâynhiễm cao khi huyết thanh có HBsAg (+) Kháng nguyên đặc hiệu cho HBV
vì người ta chỉ phát hiện nó trong huyết thanh người bệnh có HBsAg (+).HBeAg kéo dài trên 4 tuần là dấu hiệu của khả năng diễn biến mạn tính củaviêm gan cấp
* Hệ thống kháng thể của HBV [8],[24], [56]
- Kháng thể Anti HBs: là kháng thể kháng HBsAg, xuất hiện muộn trongthời kỳ bình phục của bệnh Kháng thể xuất hiện trong máu khoảng 2 - 16tuần sau khi HBsAg biến mất Sự có mặt của Anti HBs mà sự biến mất củaHBsAg chứng tỏ bệnh nhân có miễn dịch với viêm gan Trong viêm gan mạntính mà HBsAg tồn tại kéo dài thường không thấy Anti HBs Nó được dùng
để xác định sự nhiễm HBV trong quá khứ
- Kháng thể anti HBc: là kháng thể kháng kháng nguyên nhân, thườngxuất hiện sớm, tồn tại nhiều năm, có khi suốt đời Anti HBc không có tácdụng bảo vệ chống tái nhiễm HBV
- Kháng thể Anti HBe: xuất hiện ở thời kỳ bình phục trước khi HBsAg biếnmất, khi có Anti HBe xuất hiện là dấu hiệu của thuyên giảm, sau đó HBsAggiảm dần xuống Nó cũng chứng tỏ tình trạng nhiễm HBV trong quá khứ
* Chuyển đổi huyết thanh ở người nhiễm HBV
Vi rút viêm gan B sống gửi ở tế bào gan, nhưng HBsAg có mặt trong hầuhết các dịch cơ thể, trong máu Diễn biến của HBsAg trong huyết thanh khácnhau ở bệnh nhân nhiễm HBV cấp, mạn tính, người lành mang trùng
- Diễn biến huyết thanh ở bệnh nhân mang viêm gan cấp: thời kỳ ủ bệnhkéo dài 50 - 180 ngày, chia 3 thời kỳ:
Trang 20+ Thời kỳ nhiễm cấp: trong huyết thanh có thể có HBsAg, Anti - HBc, anti - HBe.
+Thời kỳ hồi phục: xuất hiện Anti-HBs, Anti-HBc-IgG, HBsAg sẽ biến mất.+Bệnh nhân khỏi hoàn toàn thì chỉ còn Anti-HBs, Anti-HBc trong huyết thanh.
- Diễn biến huyết thanh ở bệnh nhân viêm gan virus mạn: trong huyếtthanh có thể có các dấu ấn miễn dịch HBsAg, HBcAg, Anti-HBc tồn tại kéo dài
- Diễn biến huyết thanh ở người lành mang kháng nguyên HBsAg kéo dài Trong huyết thanh có HBsAg, không có biểu hiện lâm sàng nhưng có
khả năng lây bệnh cho người khác
* Tình hình nhiễm HBV trên thế giới và ở Việt Nam
Theo thống kê gần đây nhất của TCYTTG (1998) Hiện nay toàn thế giới
có khoảng 2 tỉ người nhiễm virus viêm gan B, trong đó có khoảng 280 triệungười trở thành VGMT, XG, UTG khá cao [31]
Dựa vào tỉ lệ HBsAg và Anti- HBs ở các quần thể dân cư, TCYTTG chia
ly tỉ lệ người mang HBsAg rất cao: 45%, ở Alaska Eskimos: 85% ở thổ dânChâu Úc Ở Đài Loan [46]: 8,2%; Brazin (1994), Pakistan [66]: 68,1% và4,8% Cũng theo Sheila và James thì tỉ lệ người mang HBsAg ở những người
Trang 21cho máu là khác nhau ở các quốc gia [75], [76] Anh Quốc (UK): 0,1%;
Mỹ(USA): 0,1%; Pháp: 0,5%; Nam Italy: 3,0%; Nam Phi: 11,3%; Nhật:
3,0%; Đài Loan: 15,0%; Singapo: 15,0%; Hồng Kông: 15,0%
Việt Nam là nước thuộc khu vực lưu hành cao của HBV, tỉ lệ nhiễmHBV trên toàn quốc dao động từ 10 - 20% [18], [31] Theo Phan Thị Phi Phi
tỉ lệ này là 14% [23] Theo thống kê của Lã Thị Nhẫn tỉ lệ mang HBsAg ởngười bình thường ở miền Nam là 13 - 25% [21] Theo Nguyễn Thu Vân theodõi trên một số người khám tuyển đi nước ngoài thấy tỉ lệ này là 24,47%.Theo thống kê của một số tác giả tại viện huyết học truyền máu tỉ lệ HBsAg ởngười bình thường là 11% [10] Ở Bệnh viện Việt Đức theo thống kê củaNguyễn Thị Nga thì tỉ lệ HBsAg (+) ở người cho máu là 14,7% [20] Theo VũBích Vân ở người tình nguyện cho máu tỉ lệ HBV dương tính là 0,88% [34]
Ở Huế theo Phạm Văn Lình và cộng sự thì tỉ lệ HBsAg + 16,8% [16]
1.3.2.2 Virus viêm gan C (HCV)
- Nhân: gồm các protein được phosphoryl hoá đó là protein làm nhiệm
vụ điều hoà và sao chép
- Lõi: ARN sợi đôi cấu trúc 9400 nucleotid và các men lão hoá (gen C, E1,E2,NS1) giúp mã hoá các hạt của virus
Trang 22* Chuyển đổi huyết thanh của người nhiễm HCV [8]
Sau khi bị nhiễm HCV thường RAN - HCV được tìm thấy trong huyếtthanh của bệnh nhân bằng kỹ thuật PCR sau 13 - 15 ngày (giai đoạn cấp) Với
kỹ thuật xác định kháng thể bằng ELISA, phải sau 54 - 192 ngày mới pháthiện tuỳ theo từng kỹ thuật, từng thế hệ kít khác nhau, tuỳ theo từng bệnhnhân Sau 6 tháng, kháng thể 4 Anti - HCV được phát hiện trên 60 - 80 % vàtồn tại nhiều tháng Viêm gan C khi chuyển thành mạn tính thì nồng độ khángthể Anti - HCV vẫn còn rất cao sau nhiều năm
* Tình hình nhiễm HCV trên thế giới và Việt Nam
Viêm gan siêu vi C (HCV) là một nguyên nhân phổ biến của bệnh gandẫn đến xơ gan, suy gan và ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) Trên thế giới,HCV liên quan đến giai đoạn cuối bệnh gan là dấu hiệu phổ biến nhất choviệc cấy ghép gan Người ta ước tính rằng 170 triệu người bị nhiễm bệnh trêntoàn thế giới, tỷ lệ của bệnh viêm gan C là 12% báo cáo ở một số trung tâmnhư: Trung Đông và 32.300.000 HCV bệnh nhân bị nhiễm bệnh được tìmthấy ở Đông Nam Á, Trung Đông [68] Cũng giống như virus viêm gan Bnhiễm HCV đã thực sự trở thành vấn đề lớn của sức khoẻ cộng đồng ở nhiềuquốc gia Thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu HCV trên các đối tượngkhác nhau cho kết quả như sau [51]: Bắc Mỹ tỉ lệ nhiễm là: 0,5% dân số; Bắc
Âu < 0,5% dân số; Nam Đông Âu: > 1% dân số; Nhật: > 2% dân số Cácnghiên cứu hồi cứu huyết thanh trước năm 2000 cho thấy các vùng địa lý khácnhau có tỉ lệ anti HCV trong quần thể khác nhau [51]: Anh: 0,5%; Australia:10%; Mỹ: 4,0%; Nhật: 8,0%; Đài Loan: 12%; Hy Lạp: 13%; Ý: 10,4% Tỉ lệnày từ tuổi 10 - 29 là 0,4%, > 60 tuổi là 34% Hàng năm Mỹ có khoảng170.000 ca nhiễm HCV, trong đó 70 - 80 % phát triển thành viêm gan mạntính và 800 - 10.000 người chết vì căn bệnh này [41] Theo nghiên cứu củaMoses và cộng sự (2002) ở Canada tỉ lệ nhiễm HCV là 17% [75], [76] ỞNhật một nghiên cứu trước từ 1998 - 2000 cho thấy tỉ lệ nhiễm HCV chung
Trang 23trong cộng đồng được xây dựng ở 47 tỉnh có 1,6 triệu người trên 30 tuổi tỉ lệ
là 8,1% dân số Tỉ lệ này tăng dần từ 30 - 49 tuổi (3,6%), trên 50 tuổi là 11%[78] Theo Yoshizawa và một số tác giả ở Nhật Bản năm 1995 tỉ lệ nhiễmHCV là 2,3% [82] Một nghiên cứu khác ở Nhật cho tỉ lệ nhiễm HCV là 5,8%[78] Ở Đài Loan theo Dai, Chia - Yen tỉ lệ nhiễm HCV trong cộng đồng là0,5 - 4% và 80% số đó trở thành viêm gan mạn tính [46] Nghiên cứu củaAussel tỉ lệ nhiễm HCV (1991) ở Đông Nam Á là 1,78% [31] Ở những ngườicho máu tỉ lệ nhiễm HCV trên toàn thế giới là 0,01%- 2% [75], [76] Ở Mỹ:0,3%; Scandinavia: 0,01- 0,1%; Ở Trung Quốc : 10,2%
Ở Việt Nam: tỉ lệ Anti - HCV (+) ở người bình thường tại miền nam ViệtNam, theo nghiên cứu của Lã Thị Nhẫn là 4,31% [21] Tỉ lệ nhiễm HCV trongnhóm người bình thường ở nội thành Hải Phòng là 1,69% [20] Theo Hà ThếTấn - Tình trạng nhiễm virus viêm gan B, C và nhiễm HIV ở tân binh nhậpngũ đơn vị X năm 1999 - thấy tỉ lệ Anti - HCV (+) ở vùng đồng bằng Bắc Bộ
là 3,5% Ở những người cho máu tỉ lệ Anti - HCV (+) là 15,2% [11] và 0,42%[34] Theo Phan Bích Liên - Đánh giá tình hình nhiễm virus viêm gan C ởbệnh viện Chợ Rẫy (1994) - thì tỉ lệ Anti - HCV (+) ở người truyền máu là15% Ở đối tượng nghiện chích ma túy tại Tây Nguyên tỉ lệ Anti HCV + là61,5% [33]
1.3.2.3 Sinh bệnh học của viêm gan mạn tính, xơ gan và ung thư gan do virus viêm gan B và C [15], [23].
- Sinh bệnh học của virus viêm gan B, C mạn tính: những bệnh nhân đãnhiễm virus viêm gan B và C, các protein nucleocapsid có trên màng tế bào ởlượng rất nhỏ là các kháng nguyên đích, virus cùng với kháng nguyên túc chủgọi các tế bào T tiêu diệt, các tế bào đến phá huỷ các tế bào gan đã bị nhiễmvirus viêm gan B hoặc virus viêm gan C
- Sinh bệnh học xơ gan do virus viêm gan B, C: khi bị nhiễm virus viêmgan B (hoặc C) làm cho gan hoại tử sau đó co lại về kích thước, hình bị vặn
Trang 24vẹo và gồm nhiều hạt, cục các tế bào gan bị giãn, xơ hoá rộng và đặc tách ra.Các cục rất khác nhau về kích thước, với số lượng lớn mô liên kết phân táchcác đảo nhu mô tái sinh hỗn loạn.
- Sinh bệnh học ung thư gan do virus viêm gan B,C: ADN của virusviêm gan B kết hợp với bộ ADN của vật chủ ở các tế bào ung thư, tế bàokhông ung thư Nó tạo ra sự ức chế gen bằng cách gây đột biến gen, biến đổinhiễm sắc thể hoặc gây rối loạn phân chia các sợi nhiễm sắc hoặc sao chépqúa mức vùng X và vùng tiền 52/S của bộ gen của virus viêm gan B Sự kếthợp này xảy ra khi tế bào gan bị tổn thương hoặc đang hồi phục Tất cả cáctác nhân làm tổn thương tế bào từ từ hoặc trong khi phân bào đều có thể làmcho ADN của các tế bào gan dễ kết hợp với ADN của virus Do đó, nguy cơung thư gan ở những người mắc viêm gan virus B hoặc C cao hơn hẳn ởnhững người không bị nhiễm virus viêm gan B hoặc C
.3.3 Sự phối hợp giữa c c yếu tố liên quan [48] [64]
Khi có sự phối hợp giữa các yếu tố trong một bệnh người ta khó xác địnhđược yếu tố nào có trước, yếu tố nào có sau, yếu tố nào là chủ đạo Nhưngngười ta thấy khi có sự phối hợp của các yếu tố thì bệnh sẽ phát triển nhanhhơn và mạnh hơn [45], [48], [50], [57] Thường có sự phối hợp của virusviêm gan B với rượu, virus viêm gan C với rượu, còn sự phối hợp của virusviêm gan B với virus viêm gan C hoặc virus viêm gan B với virus viêm gan Cvới rượu thì ít gặp hơn
Trang 25Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Bệnh nhân tuổi từ 18 trở lên được chẩn đoán là VGMT, XG, UTG điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên
- Địa điểm: Khoa Truyền nhiễm, Khoa Tiêu hoá, Khoa U bướu - Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên
- Thời gian: Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 10/2009 đến tháng10/2010
- Tiêu chuẩn loại trừ: tất cả bệnh nhân không đủ tiêu chuẩn chẩn đoánVGMT, XG, UTG Bệnh nhân bị bệnh phối hợp như tim mạch Bệnh nhân không hợp tác
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1.Thiết kế nghiên cứu: Theo phương pháp nghiên cứu cắt ngang mô tả 2.2.2 Chọn mẫu
- Chọn mẫu có chủ đích: các bệnh nhân phù hợp với tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu
- Cỡ mẫu thuận tiện: tất cả các bệnh nhân đủ tiêu chuẩn trong thời gian nghiên cứu
2.2.3 Chỉ tiêu nghiên cứu
- Thông tin chung: tuổi, giới, nghề nghiệp, dân tộc
- Triệu chứng lâm sàng:
+ Mệt mỏi, chán ăn, rối loạn tiêu hóa
+ Đái ít, nước tiểu sẫm màu
+ Sốt
Trang 26+ Đau hạ sườn phải.
+ Xuất huyết tiêu hóa
+ Vàng da
+ Gan to, lách to
+ Cổ trướng
+ Tuần hoàn bàng hệ
- Triệu chứng cận lâm sàng: ALT, AST, albumin, prothrombin, bilirubin,
- Yếu tố liên quan: HBsAg; Anti - HCV ; Tình trạng nghiện rượu
2.2.4 Phương ph p thu thập số liệu
2.2.4.1 Tiêu chuẩn chẩn đoán viêm gan mạn tính
- Lâm sàng: có thể gặp [13], [30]
+ Mệt mỏi
+ Chán ăn, rối loạn tiêu hoá
+ Sụt cân, ngứa ngoài da
+ Sao mạch, bàn tay son
- Xét nghiệm sinh hoá
- Siêu âm: Nhu mô gan không đồng nhất
Trang 272.2.4.2 Tiêu chuẩn chẩn đoán xơ gan
Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng: có đủ 2 hội chứng [13], [30]
* Hội chứng tăng áp lực tĩnh mạch cửa
- Cổ trướng tự do, dịch thấm
- Lách to
- Tuần hoàn bàng hệ cửa chủ
- Giãn tĩnh mạch thực quản hoặc giãn tĩnh mạch phình vị
- Siêu âm: nhu mô gan thô, bờ không đều, giãn tĩnh mạch cửa(đường kính ≥ 13 mm), có thể có dịch ổ bụng
* Hội chứng suy chức năng gan
- Lâm sàng: toàn trạng suy giảm, mệt mỏi, ăn kém, ăn chậm tiêu, có thể
có vàng da, sao mạch, bàn tay son, phù hai chân, có thể có xuất huyết dưới da,chảy máu chân răng, chảy máu cam do rối loạn đông máu
- Xét nghiệm: protein huyết thanh giảm, albumin giảm <35g/l, globulintăng, tỉ lệ A/G đảo ngược, tỉ lệ prothrombin <70%, bilirubin toàn phần > 17,1µmol/l
2.2.4.3 Tiêu chuẩn chẩn đoán ung thư
- Hôn mê gan
- Phát hiện trên siêu âm có tổn thương khu trú
- Vàng da, có kèm khối u gan
- Gan to: cứng, lổn nhổn, đau
Trang 28Xét nghiệm: AFP >100U/l
Siêu âm và Chụp ST Scanner : có tổn thương khu trú, có khối choán chỗ
trong gan
2.2.4.4 Tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện rượu: theo ICD 10/1992 -
WHO Có 3 trong 6 biểu hiện sau:
- Thèm muốn mạnh mẽ hoặc cảm thấy buộc phải uống rượu
- Khó khăn kiểm tra về thời gian bắt đầu uống và kết thúc uống cũng nhưmức độ uống hàng ngày
- Khi ngừng uống rượu thì xuất hiện trạng thái cai, cụ thể là lo âu, vã mồ hôi, nôn mửa, co rút, trầm cảm, đau mỏi, rối loạn nhịp tim, cáu bẳn, thô bạo , và bệnh nhân có ý định uống rượu trở lại để né tránh hoặc giảm nhẹ hội chứng cai.
- Có bằng chứng về số lượng rượu uống ngày càng gia tăng
- Sao nhãng những thú vui trước đây, dành nhiều thời gian để tìm kiếm rượu, uống rượu
- Vẫn tiếp tục uống mặc dù đã hiểu rõ tác hại của rượu gây ra về cả cơ thể và tâm thần
2.2.4.5 Tiêu chuẩn chẩn đoán nhiễm virus viêm gan B mạn [24]
Bệnh diễn biến liên tục trên 6 tháng, bao gồm: HBsAg dương tính và hiện tại có biểu hiện lâm sàng của bệnh
2.2.4.6 Tiêu chuẩn chẩn đoán nhiễm virus viêm gan C mạn [24]
Bệnh diễn biến liên tục trên 6 tháng, bao gồm: Xét nghiệm Anti - HCV dương tính và hiện tại có biểu hiện lâm sàng của bệnh
2.2.4.7 Thu thập số liệu
- Tất cả thông tin được thu thập theo một phiếu thu thập dữ liệu thống nhất theo tiêu chí đã đề ra
Trang 29- Chỉ thu thập những bệnh nhân có đặc điểm lâm sàng rõ của từng bệnh
- Các thông tin về triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhânđược thu thập qua quá trình khám, hỏi bệnh, qua các kết quả xét nghiệm đượcchỉ định và được ghi chép theo mẫu bệnh án nghiên cứu
* Triệu chứng lâm sàng
- Hỏi bệnh: thông tin được khai thác từ bệnh nhân
+ Tuổi: chia nhóm 10 tuổi theo WHO (18 - 29, 30 - 39, 40 - 49, 50 - 59,
- Xét nghiệm sinh hoá
Bệnh nhân nhịn ăn trước khi làm xét nghiệm Lấy máu tĩnh mạch vàobuổi sáng, các mẫu máu được làm tại khoa Huyết học Bệnh viện Đa khoaTrung ương Thái Nguyên với các chỉ số về:
+ AST: bình thường <37U/l, từ 40 – 80U/l coi là tăng nhẹ, từ >80U/l coi
Trang 30+ GGT: bình thường <50U/l, bệnh lý >50U/l.
+ Protein toàn phần: bình thường 60 - 80g/l, bệnh lý <60g/l
+ Tỉ lệ prothrombin: bình thường ≥70%, bệnh lý <70%
- Siêu âm
Do các Bác sĩ khoa thăm dò chức năng Bệnh viện Đa khoa Trung ươngThái Nguyên thực hiện bằng máy siêu âm PHILIP 1100 - Nhật Bản Bệnhnhân nhịn ăn trước khi siêu âm ít nhất 8 giờ
Đánh giá: kích thước, tính chất nhu mô gan, bờ gan Đường mật trong,ngoài gan Đo tĩnh mạch cửa, ống mật chủ Đánh giá kích thước lách, dịch cổtrướng Phát hiện khối u trong gan Siêu âm giúp cho chẩn đoán xác định xơgan, ung thư gan
- Nội soi: do các Bác sỹ khoa Thăm dò chức năng thực hiện để xác định
và đánh giá mức độ giãn tĩnh mạch thực quản, giãn tĩnh mạch phình vị và cáctổn thương khác Giúp xác định tăng áp lực tĩnh mạch cửa để chẩn đoán xácđịnh xơ gan
- Chụp CT Scaner: do các Bác sỹ khoa Chẩn đoán hình ảnh thực hiện đểxác định và đánh giá tổn thương gan, giúp xác định khối u gan, khối choánchỗ trong gan để chẩn đoán xác định ung thư gan
* Phương pháp thu thập về các yếu tố liên quan
- Xét nghiệm HBsAg và Anti - HCV: được làm bằng kỹ thuật ELISAđồng bộ Lấy máu tĩnh mạch lúc đói, sử dụng bộ kit của Pharmatech (USA),kết quả được xử lý trên máy Titertek Multiscann mec/340, Quantum, thựchiện tại khoa Huyết học Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên
- Yếu tố liên quan đơn thuần là có 1 yếu tố: hoặc nghiện rượu, hoặc chỉ
có HBsAg (+), hoặc chỉ có Anti - HCV (+)
- Yếu tố phối hợp là có từ 2 yếu tố trở lên: hoặc HBV + HCV, hoặc rượu+ HBV, hoặc rượu + HCV, hoặc rượu + HBV + HCV
Trang 31Sử dụng các test thống kê thường dùng trong y học để phân tích.
2.4 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
- Việc tiến hành nghiên cứu có xin phép và được sự đồng ý của Lãnh đạoBệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên
- Các thông tin thu được của đối tượng chỉ nhằm mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu chỉ nhằm mục đích điều trị, phòng bệnh, nâng cao sức khỏecho nhân dân
- Thông tin cho đối tượng biết mục đích của nghiên cứu
- Đối tượng tự nguyện tham gia nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu, đối tượng có quyền bỏ cuộc nếu không muốn tham gia tiếp
Trang 32KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Một số đặc điểm chung của nhóm đối tƣợng nghiên cứu (n = 143)
Bảng 3.1 Phân bố tuổi của đối tượng nghiên cứu
- Nhóm bệnh VGMT: gặp nhiều nhất ở lứa tuổi 30 - 39 (34,1 %)
- Nhóm bệnh XG: gặp nhiều nhất ở lứa tuổi 40 - 49 (31,15%), ít nhất ởlứa tuổi 18 - 29 (1,64%)
- Nhóm bệnh UTG: gặp nhiều nhất ở lứa tuổi 50- 59 (31,43%)
Bảng 3.2: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới
Trang 33- Nhóm bệnh UTG: Làm ruộng chiếm 51,4%, nghề nghiệp khác chiếm 11,4% Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).