1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hành vi dự phòng nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật ở người canh tác chè xã la bằng, huyện đại từ, tỉnh thái nguyên

86 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hành Vi Dự Phòng Nhiễm Hóa Chất Bảo Vệ Thực Vật Ở Người Canh Tác Chè Xã La Bằng, Huyện Đại Từ, Tỉnh Thái Nguyên
Tác giả Trần Thế Hoàng
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Quang Mạnh
Trường học Đại học Thái Nguyên
Chuyên ngành Y học dự phòng
Thể loại luận văn thạc sĩ y học
Năm xuất bản 2011
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, phần lớn những người canhtác chè khi sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật thường có các dấu hiệu nhiễmhóa chất bảo vệ thực vật, theo nghiên cứu của Nguyễn Tuấn

Trang 1

TRẦN THẾ HOÀNG

HÀNH VI DỰ PHÒNG NHIỄM HÓA CHẤT BẢO VỆ THỰC VẬT

Ở NGƯỜI CANH TÁC CHÈ XÃ LA BẰNG, HUYỆN ĐẠI TỪ,

TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC

Thái Nguyên, 2011

Trang 2

TRẦN THẾ HOÀNG

HÀNH VI DỰ PHÒNG NHIỄM HÓA CHẤT BẢO VỆ THỰC VẬT

Ở NGƯỜI CANH TÁC CHÈ XÃ LA BẰNG, HUYỆN ĐẠI TỪ,

Trang 3

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại học, Khoa Y tế Công cộng, Bộ môn Y học cộng đồng - Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên,

đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận văn.

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Quang Mạnh - người thầy luôn tận tình dành nhiều thời gian hướng

dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận văn tốt nghiệp của mình.

Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, đồng nghiệp, những người bạn thân thiết đã luôn giúp đỡ, động viên, khích lệ, chia sẻ khó khăn trong thời gian tôi học tập để hoàn thành khóa học.

Xin chân thành cảm ơn./.

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2011

HỌC VIÊN

Trần Thế Hoàng

Trang 4

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn do tôi thu thập là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào.

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ trong việc thực hiện Luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đã được chỉ

rõ nguồn gốc.

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2011

HỌC VIÊN

Trần Thế Hoàng

Trang 5

: Nhà xuất bản: Trung học cơ sở: Trung học phổ thông

TT GDSK: Truyền thông giáo dục sức khoẻTT

YTTB

: Truyền thông: Y tế thôn bản

Trang 6

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1: TỔNG QUAN 3

1.1 Hành vi 3

1.2 Thuyết hành vi 5

1.3 Các khái niệm khác 9

1.4 Hành vi dự phòng nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật và các yếu tố liên quan 10

1.5 Khung lý thuyết nghiên cứu 15

1.6 Giả thuyết nghiên cứu 16

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

2.1 Đối tượng nghiên cứu 17

2.2 Địa điểm nghiên cứu 17

2.3 Thời gian nghiên cứu 17

2.4 Phương pháp nghiên cứu 17

2.5 Công cụ thu thập số liệu 21

2.6 Phương pháp thu thập thông tin 22

2.7 Phân tích và xử lý số liệu 23

2.8 Đạo đức trong nghiên cứu 26

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27

3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 27

Trang 7

3.3 Thái độ của người canh tác chè về dự phòng nhiễm hóa chất bảo vệthực vật 313.4 Hành vi dự phòng nhiễm HCBVTV ở người canh tác chè 333.5 Mối liên quan của hành vi dự phòng nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật 45

Chương 4: BÀN LUẬN 474.1 Kiến thức, thái độ và hành vi dự phòng nhiễm hoá chất bảo vệ thực vật

ở người canh tác chè xã La Bằng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên 474.2 Các yếu tố liên quan đến hành vi dự phòng nhiễm hoá chất bảo vệ thựcvật ở người canh tác chè 57

KẾT LUẬN 59

KHUYẾN NGHỊ 61

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

Bảng 3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 27

Bảng 3.2 Thời gian canh tác và thu hoạch chè sau phun hoá chất bảo vệ

thực vật chè của đối tượng nghiên cứu 28

Bảng 3.3 Kiến thức của người canh tác chè 29

Bảng 3.4 Thái độ của người canh tác chè về dự phòng nhiễm hoá chất

Bảng 3.7 Tỷ lệ người canh tác chè được truyền thông giáo dục sức khoẻ 43

Bảng 3.8 Nguồn truyền thông giáo dục sức khoẻ cho người canh tác chè 43

Bảng 3.9 Nhu cầu truyền thông giáo dục sức khoẻ dự phòng nhiễm hoá

chất bảo vệ thực vật 44

Bảng 3.10 Mối liên quan giữa hành vi dự phòng nhiễm hoá chất bảo vệ

thực vật với các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 45

Bảng 3.11 Mối liên quan giữa hành vi dự phòng nhiễm hoá chất bảo vệ

thực vật với kiến thức thức, thái độ, truyền thông 46

Trang 9

Biểu đồ 3.1 Thực trạng xử lý bao bì, dụng cụ đựng hoá chất bảo vệ thực vật

34

Biểu đồ 3.2 Tần suất hành vi đeo kính mắt khi canh tác chè 35

Biểu đồ 3.3 Tần suất hành vi sử dụng khẩu trang khi canh tác chè 36

Biểu đồ 3.4 Tần suất hành vi sử dụng găng tay khi canh tác chè 37

Biểu đồ 3.5 Tần suất hành vi sử dụng mũ nón bảo hộ khi canh tác chè 38

Biểu đồ 3.6 Tần suất hành vi sử dụng quần áo bảo hộ khi canh tác chè 39

Biểu đồ 3.7 Tần suất hành vi tắm rửa sau khi canh tác chè 40

Biểu đồ 3.8 Tần suất hành vi ăn /uống/hút thuốc khi canh tác chè 41

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật đối với cây chè vừa có tác dụng phòngngừa sâu bệnh vừa giúp tăng năng suất, sản lượng Tuy nhiên, khi lạm dụnghoặc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật không đúng cách không chỉ ảnh hưởnglớn tới sức khỏe người tiêu dùng mà còn ảnh hưởng trực tiếp tới người nôngdân canh tác chè Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, phần lớn những người canhtác chè khi sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật thường có các dấu hiệu nhiễmhóa chất bảo vệ thực vật, theo nghiên cứu của Nguyễn Tuấn Khanh, Đỗ Hàm(2009) tỷ lệ người canh tác chè có biểu hiện hoa mắt, chóng mặt và đau đầuchiếm tỷ lệ rất cao (78,4 %; 77,9 % và 73,1% theo thứ tự) Bên cạnh đó,người canh tác chè còn bị mắc một số bệnh như bệnh mũi họng (86,9 %),bệnh về mắt (84,8 %), cơ xương khớp (63,7 %), tâm thần kinh (51,1 %) và daliễu (40,1 %) [11], [25]

Có nhiều nguyên nhân gây nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật, tuy nhiênnguyên nhân chính gây nhiễm hóa chất bảo vệ thực là do người canh táckhông mang trang bị phòng hộ (89,5%); thuốc dính vào da khi pha chế(75,5%); do bình phun bị rò rỉ (35,0%); phun không đúng kỹ thuật (54,7%);phun với liều lượng cao hơn mức khuyến cáo và do sử dụng một số loại thuốc

đã bị hạn chế hoặc cấm sử dụng [16]; do ít sử dụng kính mắt (4,0%) [7]; vứtchai lọ tùy tiện hoặc dùng lại sau khi phun (23,88%) [32] Ngoài nhữngnguyên nhân trên, việc thực hiện các hành vi không tắm rửa sau khi phun,không chú ý đến chiều gió, không chú ý đến thời tiết, thiếu kiến thức hoặcthái độ xem thường vệ sinh lao động ở người canh tác chè đều liên quan đếnnhiễm hóa chất bảo vệ thực vật [12], [14]

Trang 11

Xã La Bằng là một xã miền núi thuộc huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên.

Xã có tổng số dân là 3767 người trong đó có 40% là người dân tộc thiểu số.Tổng diện tích của xã là 12,2 km2 với diện tích trồng chè toàn xã là 328ha.Phát triển cây chè là thế mạnh kinh tế của xã tuy nhiên trong quá trình canhtác, người canh tác chè phải thường xuyên tiếp xúc với hóa chất bảo vệ thựcvật và đây là một trong những nguyên nhân quan trọng ảnh hưởng tới sứckhỏe của người canh tác chè Đã có một số đề tài nghiên cứu ảnh hưởng củahóa chất bảo vệ thực vật đến sức khỏe người canh tác chè nhưng chưa có đềtài nào nghiên cứu về hành vi dự phòng nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật củangười canh tác chè tại xã La Bằng Để tìm hiểu về hành vi dự phòng nhiễmhóa chất bảo vệ thực vật ở người canh tác chè tại xã La Bằng, chúng tôi tiến

hành nghiên cứu: “Hành vi dự phòng nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật ở người canh tác chè xã La Bằng, Đại Từ, Thái Nguyên” với mục tiêu:

1 Đánh giá kiến thức, thái độ và hành vi dự phòng nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật ở người canh tác chè xã La Bằng, Đại Từ, Thái Nguyên năm 2011.

2 Mô tả một số yếu tố liên quan đến hành vi dự phòng nhiễm hóa chất bảo

vệ thực vật ở người canh tác chè.

Giả thuyết nghiên cứu

Hành vi dự phòng nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật có liên quanđến giới, dân tộc, trình độ học vấn, số năm canh tác chè, kiến thức, thái

độ và truyền thông giáo dục sức khỏe

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN

1.1 Hành vi

1.1.1 Khái niệm hành vi

Hành vi là “một phản ứng quan sát được của một người tới một tác

nhân kích thích hoặc một hành động có thể vô thức hoặc có ý thức với mục

đích, tần suất và khoảng thời gian cụ thể.” [3], [27].

1.1.2 Hành vi sức khỏe

Hành vi sức khỏe (HVSK) là “những thuộc tính cá nhân như niềm tin,

sự mong đợi, động lực thúc đẩy, giá trị, nhận thức, và kinh nghiệm; những đặc điểm về tính cách bao gồm tình cảm, cảm xúc; các loại hành vi, hành động, và thói quen có liên quan đến sự duy trì, phục hồi, và cải thiện sức khỏe” [3], [27].

1.1.3 Các yếu tố của hành vi sức khỏe

Ba nhóm yếu tố chính góp phần hình thành và tác động trực tiếp hoặcgián tiếp đến hành vi con người [26], [27], đó là:

* Yếu tố tiền đề

Yếu tố tiền đề là yếu tố bên trong của cá nhân, bao gồm: kiến thức, thái

độ, niềm tin và giá trị xã hội Nhóm yếu tố này quyết định cách ứng xử củamỗi chúng ta

 Kiến thức là sự hiểu biết về sự vật, hiện tượng và bắt nguồn từ sự học

tập, trải nghiệm và là yếu tố tiền đề/dẫn dắt đến hành vi Ví dụ: bà mẹ khôngbiết rõ lịch tiêm chủng (kiến thức) thì không đưa con đi tiêm chủng (hành vi)

 Thái độ là một phản ứng được đánh giá thích hay không thích hoặc

khuynh hướng hướng tới sự vật, hiện tượng, một tình huống, một người, một

Trang 13

nhóm người mà biểu hiện bằng niềm tin, cảm giác hoặc một hành vi dự định.Thái độ là yếu tố cơ bản dẫn đến hành vi Ví dụ: nếu người canh tác chè nhậnthức rằng không đeo khẩu trang khi tiếp xúc hóa chất bảo vệ thực vật(HCBVTV) sẽ có nguy cơ nhiễm HCBVTV (thái độ), họ sẽ thực hiện đeokhẩu trang (hành vi).

 Niềm tin là sự tin tưởng chắc chắn rằng một sự kiện, quan điểm là

đúng, là có thật mặc dù có thể không đúng, không có thật Niềm tin nàythường do cha mẹ, ông bà, và những người thân mà ta thương yêu, kính trọngtruyền đạt, khuyên bảo hoặc có được từ kinh nghiệm bản thân Người tathường có xu hướng tiếp nhận niềm tin mà không kiểm chứng lại xem niềmtin đó có đúng không Ví dụ: có những nhóm người cho rằng phụ nữ có thaikhông nên ăn thịt một số động vật vì nếu ăn đứa trẻ sau này sinh ra có thể cóhành vi hoặc một số đặc điểm giống như con vật mà người mẹ đã từng ăn(niềm tin), vì vậy họ sẽ không ăn thịt động vật (hành vi)

 Giá trị là điều mà chúng ta coi là quan trọng để định hướng cho các

hành động Khi được nhận thức một cách đầy đủ, các giá trị sẽ trở thànhnhững tiêu chuẩn cho sự yêu thích và lựa chọn Ví dụ: người tập thể dục thểthao thấy người khỏe mạnh, ăn ngon, ngủ tốt (giá trị) thì họ sẽ tiếp tục tập thểdục thể thao thường xuyên (hành vi)

Trang 14

* Yếu tố điều kiện thuận lợi

 Đó là các yếu tố liên quan đến nguồn lực nói chung, bao gồm điềukiện sinh sống, việc làm, thu nhập, cũng như các chính sách và môi trườngluật pháp Chẳng hạn như một người canh tác chè sau khi tiếp xúc vớiHCBVTV bị đau đầu, nôn muốn đi khám ở trạm y tế xã nhưng vì phải đi bộquá xa nên đã không đến khám Một số người muốn mua quần áo bảo hộ laođộng nhưng do chi phí cao nên họ không thể mua, vì vậy họ vẫn tiếp tục canhtác chè mà không sử dụng bảo hộ lao động Trong khi đó các khu vực chuyêncanh chè có nhiều khu vực thuộc các huyện miền núi, vùng sâu vùng xa, điềukiện kinh tế xã hội còn thấp [14] cho nên sẽ ảnh hưởng đến việc thực hiệnhành vi dự phòng nhiễm HCBVTV

 Yếu tố về môi trường pháp luật như các quy định, luật pháp có tácđộng rất mạnh đến hành vi cá nhân Ví dụ: hiện tượng hút thuốc trong bệnhviện và trường học sẽ không xảy ra nếu qui định cấm hút thuốc và việc xửphạt người hút thuốc trong khu vực này được áp dụng một cách nghiêm ngặt.Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, kiến thức, thái độ, niềm tin ảnh hưởng

đến hành vi phòng chống bệnh tật của người dân (yếu tố tiền đề)[13], [45];

theo nghiên cứu của Phạm Thị Tâm cho thấy các yếu tố tăng nguy cơ hútthuốc là gia đình có nhiều người hút thuốc lá và có thái độ ủng hộ hành vi hút

thuốc (yếu tố củng cố) [24] Do vậy, việc nghiên cứu rõ ràng các yếu tố củahành vi chính là cơ sở để can thiệp giúp cá nhân thay đổi hành vi theo hướng

có lợi cho sức khỏe

Trang 15

hình được sử dụng phổ biến nhất trong khoa học hành vi sức khỏe để giảithích sự thay đổi/duy trì hành vi sức khỏe cá nhân cũng như hướng dẫn chocác can thiệp thay đổi hành vi sức khỏe Mô hình này đã được phát triển trongnhững năm 1950 bởi nhà nghiên cứu tâm lý xã hội Mỹ Hochbaum,Rosenstock và Kegels để giải thích lý do người dân Mỹ không tham gia vàochương trình sàng lọc bệnh lao Sau đó mô hình đã được tác giả Becker bổsung thêm và xây dựng từ năm 1974 [37], [41].

Mô hình niềm tin sức khỏe đã được áp dụng để giải thích hành vi nhưhành vi xét nghiệm HIV của thanh niên trong nghiên cứu của tác giả Caroline

W Karibu [35] khi tác giả sử dụng HBM làm khung lý thuyết của nghiên cứu

và chỉ ra rằng việc nhận thức về mối đe dọa nhiễm HIV ở giới trẻ sẽ dẫn tớihành vi xét nghiệm HIV (1/2 số thanh niên có quan hệ tình dục không làm xétnghiệm nhiễm HIV vì họ cho rằng họ không có nguy cơ nhiễm HIV) Các tácgiả Hazavehei SM, Taghdisi MH, Saidi M đã sử dụng HBM trong nghiên cứuhành vi dự phòng bệnh loãng xương ở nữ học sinh trung học tại Garmsar, Iran

[39] Tác giả đã chia nữ học sinh làm 3 nhóm, 1 nhóm tham gia chương trìnhcan thiệp giáo dục dự phòng bệnh loãng xương theo mô hình HBM, 1 nhómtham gia chương trình giáo dục theo phương pháp truyền thống và một nhómchứng Tác giả tiến hành đánh giá kết quả trước can thiệp, ngay sau can thiệp

và sau khi can thiệp 1 tháng Kết quả cho thấy rằng nhóm 1 đã tăng điểmtrung bình trong các lĩnh vực kiến thức, nhận thức sự nhạy cảm về bệnh, hậuquả, rào cản và lợi ích của việc giảm các nguy cơ mắc bệnh, nhóm 2 chỉ tăngđiểm trong lĩnh vực kiến thức và nhận thức sự nhạy cảm về nguy cơ gây bệnh;còn nhóm 3 thì không có sự thay đổi Ngoài ra, mô hình niềm tin sức khỏecũng được sử dụng để giải thích các hành vi khác như hành vi dự phòngnhiễm sốt xuất huyết Dengue bằng cách sử dụng HBM để xây dựng nội dungtruyền thông thay đổi hành vi để kiểm soát bệnh sốt xuất huyết Dengue [40];

hành vi hút thuốc lá, hành vi uống rượu…

Trang 16

Mô hình của thuyết HBM [41] như sau:

Biến số nhân khẩu học

(Tuổi, giới, dân tộc, kinh tế xã hội, kiến thức)

- Thông tin từ các phương tiện truyền thông đại chúng

Nhận thức lợi ích của hành vi

dự phòng so với những rào cản khi thay đổi hành vi.

Khả năng thay đổi

hành vi (Khả năng

thực hiện hành vi phòng bệnh)

(Mô hình niềm tin sức khỏe Becker, 1974[ 41])

* Nhận thức sự nhạy cảm

Là niềm tin của cá nhân hướng đến các yếu tố nguy cơ sức khỏe Ví dụ,nhận thức rằng không sử dụng bao cao su trong quan hệ tình dục có nguy cơmắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục Nhận thức được yếu tố nguy cơ

là cơ sở làm nền tảng cho việc thúc đẩy hành vi có lợi cho sức khỏe của họ

Ví dụ, người cao huyết áp nhận thức rằng ăn mặn, uống rượu/bia sẽ có nguy

Trang 17

cơ làm tăng huyết áp Nhận thức nguy cơ giúp người làm giáo dục sức khỏe(GDSK) xác định quần thể nguy cơ, mức độ nguy cơ.

* Nhận thức tính trầm trọng

Là niềm tin của cá nhân về tính nghiêm trọng hoặc tính khốc liệt củamột bệnh Ví dụ, tính nghiêm trọng khi bị nhiễm HIV/AIDS là dẫn đến tửvong, bị kỳ thị phân biệt đối xử… Nhận thức được tính nghiêm trọng sẽ lànền tảng cho sửa đổi hành vi sức khỏe Ví dụ, nếu như người tham gia giaothông nhận thức được tai nạn giao thông có thể làm chấn thương sọ não vì thếngười tham gia giao thông sẽ thực hiện hành vi đội mũ bảo hiểm khi tham giagiao thông Tính nghiêm trọng được áp dụng để đánh giá quan điểm của cánhân về hậu quả của tiếp xúc yếu tố nguy cơ

* Nhận thức lợi ích

Là quan điểm của cá nhân về lợi ích thực hiện hành vi khuyến nghị đểlàm giảm yếu tố nguy dẫn đến bệnh tật Ví dụ, người dân nhận thức rằng tậpthể dục thường xuyên sẽ làm cơ thể khỏe mạnh, phòng được bệnh tật (lợi ích);đánh răng sau khi ăn, trước khi đi ngủ sẽ phòng sâu răng (lợi ích) Nhận thứclợi ích khi thực hiện hành vi dự phòng giúp người làm GDSK xác định nhữngmong đợi mà quần thể đích phải đạt được

* Nhận thức rào cản

Nhận thức rào cản là quan điểm của cá nhân về các yếu tố gây cản trởhành vi dự phòng Ví dụ, người dân nhận thức rằng không có nơi tập luyện làyếu tố cản trở cho hành vi tập thể dục thường xuyên Bất cứ một hành vi sứckhỏe nào cũng có yếu tố “rào cản” của nó Việc xác định yếu tố gây cản trởhành vi có ý nghĩa quan trọng trong chiến lược làm thay đổi HVSK Chỉ khi

cá nhân nhận thức được yếu tố “lợi ích” lấn án/áp đảo yếu tố gây “cản trở” thìhành vi đó mới có khả năng thực hiện

Trang 18

* Yếu tố bổ trợ

Bốn yếu tố nhận thức đã nêu trên là chịu sự tác động bởi các biến sốnhư tuổi, giới, trình độ học vấn, điều kiện kinh tế (các yếu tố xã hội học) Vìthế, tác giả Becker đã bổ sung vào mô hình các yếu tố này đã ảnh hưởng giántiếp đến hành vi sức khỏe thông qua nhận thức của cá nhân

* Yếu tố nhắc nhở (Động lực cho thay đổi)

 Yếu tố nhắc nhở đề cập đến vai trò của truyền thông làm thay đổi hành

vi Đó là những sự kiện hoặc những thứ làm thúc đẩy quá trình thay đổihành vi Ví dụ, lời khuyên từ những người khác, tranh ảnh, các phươngtiện truyền thông đại chúng (yếu tố nhắc nhở)

 Trong giáo dục và nâng cao sức khỏe, xác định yếu tố nhắc nhở sẽ quyết định hình thức cũng như phương pháp truyền thông giáo dục sức khỏe Ví

dụ, mô hình giáo viên cắm bản của tác giả Hạc Văn Vinh [32] đã sử dụng yếu tố thúc đẩy/nhắc nhở hành vi giáo dục sức khỏe vệ sinh môi trường vàchăm sóc sức khỏe sinh sản cho các bà mẹ 15-49 có con < 5 tuổi

1.3 Khái niệm về hóa chất bảo vệ thực vật và phương tiện bảo vệ cá nhân

1.3.1 Hóa chất bảo vệ thực vật

Là danh từ chung để chỉ một chất hoặc một hợp chất bất kỳ có tác dụng

dự phòng, tiêu diệt hoặc kiểm soát các sinh vật gây hại kể cả các vector gâybệnh cho người và động vật, các loại côn trùng khác hay động vật có hại trongquá trình sản xuất, chế biến, dự trữ, xuất khẩu, tiếp thị lương thực, sản phẩmtrong nông nghiệp, sản phẩm của gỗ, thức ăn gia súc hoặc phòng chống cácloại côn trùng, ký sinh trùng [1]

1.3.2 Phương tiện bảo vệ cá nhân

Là những dụng cụ, phương tiện, trang thiết bị thiết yếu mà mỗi mộtngười lao động cần sử dụng trong khi làm việc và công tác để cơ thể không bịtác động xấu của các yếu tố có hại phát sinh trong môi trường [1], [4]

Trang 19

1.4 Hành vi dự phòng nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật và các yếu tố liên quan

1.4.1 Thế giới

Theo nghiên cứu của tác giả Dilshad Ahmed Khan (2010) tại Parkistan, sốngười có kiến thức tốt về sử dụng các phương tiện bảo vệ cá nhân phòng nhiễmHCBVTV chiếm tỷ lệ thấp (14,6%), đa số kiến thức của người được hỏi (55,4

%) không đạt yêu cầu [36] Nghiên cứu tại Ethiopia và Campuchia cho thấy,HCBVTV được sử dụng rộng rãi và phổ biến trong nông nghiệp, thậm chí cónhiều hóa chất độc hại đã bị cấm Tuy nhiên, kiến thức của người dân vềHCBVTV còn thấp, đa phần người dân (67,4%) không hiểu các thông tin ghitrên bao bì đựng hóa chất bảo vệ thực vật [50] và thậm chí có rất nhiều ngườidân chưa qua đào tạo và đa số người dân mù chữ do đó họ không biết về nhữngtác hại cảnh báo cho người sử dụng ghi trên bao bì đựng HCBVTV [47]

Người canh tác nhận thức rõ tác hại của HCBVTV và đồng ý phải sửdụng đầy đủ các biện pháp dự phòng nhiễm HCBVTV [38], phần lớn ngườinông dân đồng ý nên sử dụng các phương tiện bảo vệ cá nhân khi canh tác(99,2%) [50]

Việc thực hành các giải pháp dự phòng nhiễm HCBVTV của người laođộng trong lĩnh vực nông nghiệp chưa cao, chỉ có 25% người sử dụngHCBVTV mặc quần áo bảo hộ lao động và số người đeo găng tay trong quátrình sử dụng HCBVTV cũng chiếm tỷ lệ không cao (43%) [34] Theo nghiêncứu của Hong Zhang và Yonglong Lu (2007) tại các tỉnh phía Bắc TrungQuốc cho thấy hầu hết người dùng HCBVTV không sử dụng đầy đủ các biệnpháp phòng ngừa [49] Tỷ lệ người nông dân sử dụng giày dép, mặt nạ vàgăng tay khi tiếp xúc với HCBVTV thấp (31%, 14% và 9%) [36] Số ngườikhông bao giờ sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân nào tại thời điểm phunHCBVTV cũng khá cao (22,1%), số không sử dụng mũ và không đeo kínhbảo hộ lao động chiếm tỷ lệ trên 50% (50,0% và 64,6%) [42] như vậy chứng

Trang 20

tỏ còn tỷ lệ rất lớn người dân chưa thực hiện các biện pháp cá nhân nhằm dựphòng nhiễm HCBVTV.

Bên cạnh tỷ lệ sử dụng phương tiện bảo hộ lao động còn thấp thì tỷ lệngười dân vẫn ăn uống trong khi làm việc với HCBVTV chiếm tỷ lệ cao(79,4%) Có 64,0% người dân cất giữ HCBVTV không đảm bảo an toàn và tỷ

lệ cất giữ HCBVTV gần thức ăn chiếm tới 29,4%, chỉ có 66,9% người dânthỉnh thoảng tắm rửa sau khi phun và có 2,9% người dân có thói quen khôngthay quần áo sau khi phun HCBVTV [49]

Các nghiên cứu đã chỉ ra nhận thức của người dân về: ăn, uống, hútthuốc lá không rửa tay; mặc quần áo lao động quá 1 ngày đều có liên quanđến hành vi dự phòng nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật [48]; nhận thức về ràocản thực hiện hành vi dự phòng nhiễm HCBVTV và việc được đào tạo về dựphòng nhiễm HCBVTV trong 5 năm liên quan có ý nghĩa thống kê với việcthực hiện các hành vi dự phòng nhiễm HCBVTV của người dân [45]

1.4.2 Việt Nam

1.4.2.1 Kiến thức dự phòng nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật tại Việt Nam

Phần lớn người canh tác chè biết HCBVTV có tác dụng diệt trừ sâubệnh chiếm 99,2% và gây nhiễm độc cho người chiếm tỷ lệ 93,4% tuy nhiên

số người biết đầy đủ tác dụng của HCBVTV chỉ chiếm 37,9% và số ngườihiểu được đầy đủ cả các tác hại của HCBVTV chiếm 50,1% [13] Điều nàychứng tỏ hiểu biết đầy đủ của người dân về HCBVTV còn sơ sài

Theo nghiên cứu của các tác giả: Bùi Thanh Tâm, Vũ Quốc Hải, không

có người nào biết đầy đủ các màu sắc chỉ mức độ độc hại của nhãn lọ thuốchóa chất bảo vệ thực vật [6], [23 ] Hơn nữa, người dân còn có quan điểm phathuốc trừ sâu với nồng độ cao sẽ có tác dụng diệt sâu bệnh tốt hơn, việc nàykhông những làm ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏengười dân mà còn làm sâu bệnh kháng thuốc và mất tác dụng của HCBVTV

Trang 21

Người dân thường pha thuốc trừ sâu với nồng độ gấp 1,5 – 3 lần so với liềulượng quy định [28].

Số người biết HCBVTV gây nhiễm độc cho người chiếm tỷ lệ caonhưng trên thực tế rất nhiều người dân không sử dụng các phương tiện phòng

hộ khi phun thuốc trừ sâu Số người biết sử dụng khẩu trang để dự phòngnhiễm HCBVTV chiếm tới trên 90% [5] Tuy nhiên số người biết phải đeokính mắt chiếm tỷ lệ thấp với 32,2% và số người kể được đầy đủ tên cácphương tiện phòng hộ lao động như mũ nón, quần áo bảo hộ, găng tay, khẩutrang, kính mắt,ủng chỉ chiếm tỷ lệ 22,3% [12]

Trong thực tế, chè thường được trồng thành luống và ở trên đồi nên khiphun HCBVTV, người canh tác chè thường phun theo địa hình, hướng trướcmặt và đi theo luống chứ họ không để ý đến hướng gió, có trên 24% ngườidân không quan tâm đến địa hình và hướng phun [30] mà chỉ muốn phun saocho thuận tiện và nhanh nhất Theo tác giả Nguyễn Tuấn Khanh: Số ngườidân trồng chè có hiểu biết đầy đủ cách chọn thời tiết mát để phun, biết phungiật lùi, biết phun xuôi chiều gió đạt tỷ lệ thấp 29,6 % [13] Việc người dânkhông biết chọn thời tiết, hướng phun, hướng gió mà thường phun một cáchtùy tiện là yếu tố nguy cơ gây nhiễm HCBVTV rất cao

1.4.2.2 Thái độ dự phòng nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật

Trong các nghiên cứu đã thực hiện, phần lớn người canh tác chè có thái

độ tích cực đối với nhiễm HCBVTV Họ luôn lo lắng cho sức khỏe của chínhmình và gia đình Đa phần người dân đồng ý với việc nên cất HCBVTV trong

tủ riêng (62,19%) Tỷ lệ người dân có thái độ đồng ý với việc luôn đeo khẩutrang, luôn mặc áo bảo hộ khi phun HCBVTV, thái độ về việc đảm bảo thờigian cách ly giữa các lần phun, và thái độ không mua nếu như nhãn mácHCBVTV không rõ ràng (hư hỏng) chiếm từ 93,53% đến 97,01% [34]

Trang 22

Phần lớn người canh tác chè có tâm lý lo lắng khi sử dụng HCBVTV sẽảnh hưởng đến sức khoẻ của bản thân (97,4%), và số người cho rằng cần thiếtphải sử dụng các loại phương tiện bảo vệ cá nhân, đồng ý với việc không thuhoạch chè sớm sau phun nhằm dự phòng nhiễm HCBVTV cũng chiếm tỷ lệrất cao (98,7 %; 96,9%) [13].

1.4.2.3 Hành vi dự phòng nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật

Người dân khi pha thuốc trừ sâu thường pha với nồng độ đậm đặc hơnhướng dẫn và thường pha phối hợp nhiều loại thuốc trừ sâu với mong muốn

sẽ diệt trừ sâu bệnh tốt hơn Theo nghiên cứu của Bùi Thanh Tâm tại huyệnChí Linh (Hải Dương) có 29,6 % trường hợp pha HCBVTV đặc hơn chỉ dẫn,

47 % trường hợp pha trộn tuỳ tiện nhiều thứ HCBVTV khác nhau để diệt sâumạnh hơn [23]; tỷ lệ người dân thực hành đúng về việc không tự ý pha trộncác loại HCBVTV với nhau rất thấp (7,69%) [32]; còn trong nghiên cứu củaNguyễn Tuấn Khanh thì tỷ lệ người thực hành sử dụng hóa chất BVTV đúngcòn rất thấp chỉ chiếm 17,4 % và người dân thường trộn 2 - 3 loại thuốc vàomột bình trong lần phun, tỷ lệ trộn nhiều loại thuốc là 82,3 % [12]

Mặc dù có thái độ tích cực đối với nhiễm hóa chất bảo vệ thực vậtnhưng trên thực tế các nghiên cứu cho thấy số lượng người canh tác chè sửdụng các phương tiện bảo hộ trong quá trình phun thuốc trừ sâu còn thấp Tỷ

lệ sử dụng đầy đủ các phương tiện bảo vệ cá nhân gồm mũ, găng tay, quần áobảo hộ, khẩu trang, kính mắt còn thấp (chiếm 6,5 %), nhưng tỷ lệ người phun

có sử dụng khẩu trang cao (92,2 %) [12] Theo các tác giả Nguyễn Thị Hà, VũQuốc Hải, Hoàng Hải tỷ lệ đeo khẩu trang trên 90 %, tỷ lệ sử dụng kính mắt

là 11,9 % [5], [6], [7] Kết quả nghiên cứu về sử dụng đúng phương tiện bảo

hộ lao động ở người dân của Bùi Thanh Tâm là 57,0 % [23], Nguyễn Thị Hà

là 27,65 % [5]

Trang 23

Tỷ lệ người canh tác chè có thực hành đúng về thời điểm phunHCBVTV và việc không tăng số lần phun quá mức qui định thấp (14,43% và14,93%), và thực hành đúng về xử lý bao bì đựng HCBVTV không cao(23,88%) [32] Theo nghiên cứu của Nguyễn Tuấn Khanh thì số lượng ngườicanh tác chè vứt bao bì đựng HCBVTV lung tung hoặc dùng lại tương đối lớn(21,8%) [12] Điều này là một trong những nguyên nhân gây nhiễmHCBVTV ra môi trường và ảnh hưởng tới sức khỏe người dân.

1.4.2.3 Các yếu tố liên quan đến hành vi dự phòng nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật

Theo tác giả K’ Vởi, Đỗ Văn Dũng [32] khi nghiên cứu về kiến thức,thái độ và thực hành về HCBVTV cho thấy có sự liên quan giữa trình độ họcvấn của người dân; kiến thức và thái độ đúng về HCBVTV với thực hànhđúng về hóa chất bảo vệ thực vật của người nông dân trồng rau

Trang 24

1.5 Khung lý thuyết nghiên cứu

Thái độ của người canh tác chè

- Yếu tố nguy cơ nhiễm HCBVTV

- Hậu quả nhiễm HCBVTV

- Lợi ích thực hiện hành vi dự phong

- Yếu tố rào cản khi thực hiện hành

- Đeo kính mắt

- Sử dụng khẩutrang

- Sử dụng găng tay

- Sử dụng mũ nón

- Mặc quần áo bảo hộ lao động

- Tắm sau khi phun

- Không ăn uống, hút thuốc trong khiphun

Trang 25

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: người canh tác chè

- Tiêu chuẩn lựa chọn:

 Những người canh tác chè tham gia một hoặc nhiều hoạt động canh tác chè sau đây: phun HCBVTV, hái chè, sao chè, làm cỏ chè

 Thời gian canh tác chè từ 1 năm trở lên

 Là chủ hộ gia đình đáp ứng tiêu chí lựa chọn

2.2 Địa điểm nghiên cứu:

Xã La Bằng là một xã miền núi thuộc huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyênnằm sát chân núi Tam Đảo Dân số của xã là 3767 người trong đó có 40% làngười dân tộc thiểu số (chủ yếu là dân tộc Nùng, Dao và Tày) Toàn xã có 971

hộ gia đình Tổng diện tích của xã là 12,2 km2 và được chia thành 10 xóm: LaNạc, Lau Sau, La Bằng, Đồng Tiến, La Cút, Rừng Vần, Kẹm, Tiến Thành,Đồng Đình, Non Vẹo Xã La Bằng là một xã miền núi, điều kiện kinh tế chưaphát triển, thế mạnh của xã là kinh tế đồi rừng tập trung vào phát triển cây chèvới diện tích trồng chè toàn xã là 328ha

2.3 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 02 năm 2011 đến tháng 11 năm 2011

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả Kết hợp phương pháp nghiêncứu định tính và định lượng

2.4.2 Thiết kế nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu cắt ngang

Trang 26

2.4.3 Cỡ mẫu nghiên cứu

* Chọn cỡ mẫu điều tra cho nghiên cứu mô tả, tính cỡ mẫu [9] như sau:

n  Z 2 p.

q

e2

1 /2

Trong đó: n: cỡ mẫu nghiên cứu, chọn p = 0,54; theo nghiên cứu

của Nguyễn Tuấn Khanh [13] tỷ lệ người sử dụng găng tay trongquá trình canh tác chè là 54,0%

e = ngưỡng chính xác, ấn định e = 0,05;

Z1 – α / 2 Hệ số tin cậy, Z(1 - /2) = 1,96,với  = 0,05 tương ứng với độ tin cậy là 95% [9], [19]

Thay vào công thức tính được cỡ mẫu tối thiểu sẽ là 382, lấy thêm 5%chống sai số, được 401, làm tròn 400 Thực tế nghiên cứu đã tiến hành với cỡmẫu n = 400 hộ gia đình, tương ứng với 400 đối tượng là chủ hộ gia đình cócanh tác chè được phỏng vấn

* Cách chọn mẫu nghiên cứu mô tả

- Chọn xã nghiên cứu: chọn chủ đích, xã La Bằng huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên

- Chọn đối tượng người canh tác chè cho mẫu nghiên cứu: Sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn theo các bước sau:

 Bước 1: lập danh sách tất cả những hộ gia đình có canh tác chè đạt đủ tiêu chuẩn (810 hộ)

 Bước 2: tìm khoảng cách chọn (k): Lấy tổng số hộ gia đình canh tácchè trong danh sách chọn chia cho cỡ mẫu (k = 810/400 = 2,025), tađược khoảng cách k = 2

 Bước 3: chọn đối tượng nghiên cứu

 Chọn đối tượng thứ nhất: Chọn ngẫu nhiên một người canh tácchè (chủ hộ gia đình) nằm trong danh sách từ 01 đến khoảng cáchchọn (k = 2) (lấy đối tượng có số thứ tự 1)

Trang 27

 Chọn đối tượng thứ hai: là số thứ tự của đối tượng thứ nhất cộngvới khoảng cách chọn (k = 2) Đối tượng thứ 2 là chủ hộ gia đìnhthứ 3 có tên trong danh sách.

 Chọn đối tượng tiếp theo: là số thứ tự của đối tượng kế trước cộngvới khoảng cách chọn (k = 2) Làm như vậy đến khi chọn đủ 400đối tượng (là cỡ mẫu nghiên cứu)

2.4.4 Biến số nghiên cứu

của đối tượng nghiên cứu Quan sátDân tộc Là thuộc tính nhóm dân tộc của Bảng hỏi Phỏng vấn

đối tượng được phỏng vấnTrình độ học vấn Là số năm đi học của người Bảng hỏi Phỏng vấn

được phỏng vấn

Số năm canh tác Số năm người dân tham gia Bảng hỏi Phỏng vấnchè canh tác chè đến thời điểm

phỏng vấnThời gian thu hoạch Là thời gian tính từ lúc phun Bảng hỏi Phỏng vấnchè sau phun HCBVTV đến lúc thu hoạch chè

Kiến thức Là kiến thức của người canh Bảng hỏi Phỏng vấn

tác chè về: ảnh hưởng của Thảo luậnHCBVTV; đường lây nhiễm nhómHCBVTV và các biện pháp dự

phòng nhiễm HCBVTV

Trang 28

Thái độ Là nhận thức của người canh Bảng hỏi Phỏng vấn

tác chè về: nguy cơ tiếp xúc Thảo luậnHCBVTV; hậu quả khi mắc nhómbệnh; lợi ích khi thực hiện

hành vi dự phòng và rào cảnkhi thực hiện hành vi dự phòng

Truyền thông Là phương tiện truyền thông và Bảng hỏi Phỏng vấn

nội dung truyền thông liên Thảo luậnquan đến dự phòng nhiễm nhómHCBVTV ở người canh tác chè

Hành vi Là hành vi dự phòng nhiễm Bảng hỏi Phỏng vấn

HCBVTV của người canh tác Thảo luậnchè, bao gồm: đeo kính mắt; sử nhómdụng khẩu trang; sử dụng găng

tay; mặc quần áo bảo hộ; sửdụng mũ nón; tắm sau khi canhtác chè và không ăn uống trongkhi canh tác

Trang 29

* Mức độ kiến thức, thái độ và hành vi của người canh tác chè

 Truyền thông giáo dục sức khỏe

2.5 Công cụ thu thập số liệu

Có 2 loại công cụ thu thập số liệu: (i) công cụ thu thập số liệu định lượng

và (ii) công cụ thu thập số liệu định tính

2.5.1 Công cụ thu thập số liệu định lượng: có 5 phần chính như sau

Phần I: Thông tin chung về người canh tác chè

Phần II: Kiến thức của người canh tác chè

Phần II: Nhận thức của người canh tác chè

Phần IV: Hành vi dự phòng nhiễm HCBVTV

Phần V: Truyền thông giáo dục sức khỏe

2.5.2 Công cụ thu thập số liệu định tính

Bảng hướng dẫn thảo luận nhóm đã được phát triển bởi nhóm nghiêncứu và đã được thẩm định bởi các chuyên gia có kinh nghiệm Bảng hướngdẫn thảo luận nhóm giúp đánh giá người canh tác chè về:

- Kiến thức dự phòng nhiễm HCBVTV: các biểu hiện khi nhiễm, đường lây nhiễm và cần làm gì để phòng tránh nhiễm HCBVTV;

Trang 30

- Thái độ dự phòng nhiễm HCBVTV: nhận thức về yếu tố nguy cơ,tác hại, lợi ích và rào cản cho việc thực hiện hành vi dự phòngnhiễm HCBVTV

- Hành vi dự phòng nhiễm HCBVTV

- Truyền thông giáo dục sức khỏe dự phòng nhiễm HCBVTV

2.5.3 Tính giá trị và tính tin cậy của bộ công cụ

2.5.3.1 Tính giá trị

Bộ công cụ này đã được gửi tới những chuyên gia về sức khỏe nghềnghiệp để đánh giá Các ý kiến phản hồi từ các chuyên gia sẽ được nhómnghiên cứu tập hợp, xem xét và sửa chữa bộ công cụ cho phù hợp

2.5.3.2 Tính tin cậy

Tính tin cậy được xác định bởi hệ số Alpha Cronbach Coefficient: theo lý thuyết, công cụ nghiên cứu được chấp nhận khi hệ số Alpha Cronbach Coefficients

từ 0.7 trở lên [ 46 ] Trong nghiên cứu này hệ số Alpha Cronbach Coefficients = 0,74;

vì vậy, bộ công cụ này được áp dụng để tiến hành nghiên cứu.

2.6 Phương pháp thu thập thông tin

- Thu thập thông tin theo 2 phương pháp

 Thu thông tin định lượng: phỏng vấn trực tiếp 400 người canh tác chè theo tiêu chuẩn đã lựa chọn

 Thu thông tin định tính: 03 cuộc thảo luận nhóm với người canh tác chè

đã được tiến hành tại 3 xóm: Lau Sau, La Bằng và Đồng Tiến

- Hạn chế sai số

 Chọn mẫu xác suất

 Phiếu thu thập thông tin được các chuyên gia có kinh nghiệm xây dựng,

có thử nghiệm trước khi áp dụng

 Cán bộ điều tra được tập huấn kỹ thuật trước khi điều tra

Trang 31

về lợi ích; và nhận thức về yếu tố gây cản trở trong việc thực hiện hành vi dựphòng nhiễm HCBVTV được đánh giá bằng câu hỏi c5, c6, c7 và c9 Mỗi câuhỏi được đánh giá bởi thang điểm Likert (1, rất đồng ý; 2, đồng ý; 3, không rõràng; 4, không đồng ý; và 5, rất không đồng ý) Các câu hỏi được cho điểmnhư sau:

Trang 32

Trả lời Câu khẳng định Câu phủ định

Trang 33

Không bao giờ làm 0

Tốt

2.7.2 Xử lý số liệu

- Làm sạch số liệu:

 Sau khi thu thập, số liệu được làm sạch ngay tại cộng đồng

 Kiểm định phân phối chuẩn các biến số: tuổi, giới, dân tộc, trình độ họcvấn, số năm canh tác chè, kiến thức, thái độ và hành vi dự phòng nhiễm HCBVTV

- Số liệu được nhập bằng phần mềm quản lý số liệu Epidata 3.1 và xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0 theo các thuật toán thống kê [2]:

 Thống kê mô tả tần suất và phần trăm được xem xét để mô tả đặc điểmchung của người canh tác chè cũng như kiến thức, thái độ và hành vi dựphòng nhiễm HCBVTV của họ

 Chi-square test được sử dụng để xác định mối liên quan của đặc điểmchung, kiến thức, nhận thức, yếu tố truyền thông với hành vi dự phòngnhiễm HCBVTV của người canh tác chè Giá trị p < 0,05 được xácđịnh là có mối liên quan

Trang 34

2.8 Đạo đức trong nghiên cứu

- Giải thích mục đích ý nghĩa của cuộc điều tra cho đối tượng khi cần thiết để tạo tinh thần hợp tác cùng làm việc

- Điều tra trên những đối tượng đồng ý cộng tác, không ép buộc và trên tinh thần tôn trọng

- Sau khi phỏng vấn điều tra sẽ được thông tin tuyên truyền thêm nhữngkiến thức mà đối tượng còn chưa biết

- Đảm bảo an toàn, bí mật các thông tin và chỉ công bố thông tin sau khi

đã có sự thỏa thuận đôi bên

Trang 35

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (n= 400)

Trang 36

Nhận xét:

- Nhóm tuổi của đối tượng tham gia nghiên cứu từ 30 – 39 và 40 – 49chiếm tỷ lệ 26,8% và 26,0% Nhóm tuổi dưới 20 và trên 60 chiếm tỷ lệthấp (2,2% và 7,5%) Độ tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là41,92; người ít tuổi nhất là 15 tuổi, cao nhất là 85 tuổi

- Tỷ lệ nam và nữ tương đương nhau (49,8% và 50,2%)

- Dân tộc Kinh chiếm phần lớn (52,8%), phần lớn người dân tộc thiểu số

là người Nùng (37,8%)

- Đa phần đối tượng tham gia nghiên cứu có trình độ tiểu học (50,2%);7,3% đối tượng chưa đạt trình độ tiểu học và 1% mù chữ, số đối tượng

có trình độ trung học phổ thông trở lên chiếm tỷ lệ thấp (12,0%)

Bảng 3.2 Thời gian canh tác chè của đối tượng nghiên cứu (n = 400)

- Thời gian canh tác chè của người canh tác chè trung bình là 18,2 năm, người

có thời gian canh tác chè ngắn nhất là 2 năm và lâu nhất là 55 năm.

- Đối tượng nghiên cứu có thời gian canh tác chè > 10 năm chiếm tỷ lệ lớn (66,8%), dưới 5 năm chiếm tỷ lệ thấp (5,2%)

Trang 37

3.2 Kiến thức của người canh tác chè về dự phòng nhiễm hóa chất bảo

vệ thực vật

Bảng 3.3 Kiến thức của người canh tác chè (n = 400)

Mức độ Kiến thức

- Đa số người canh tác chè có kiến thức trung bình về ảnh hưởng, đườnglây nhiễm và các biện pháp dự phòng nhiễm HCBVTV (71,8%; 56,2%

và 45,6% theo thứ tự)

Hộp 3.1.

Bà Triệu Thị H: “Thỉnh thoảng phun HCBVTV xong cũng cảm thấy đau đầu, buồn nôn, nhưng nghỉ ngơi vài bữa là hết Làm chè thì chỉ chú ý đến sự phát triển của chè, chứ chẳng có thời gian nghĩ cho sức khỏe của mình".

Bà Đỗ Thị T: “Tôi thấy hay đau lưng và đau đầu sau mỗi lần phun

Trang 38

HCBVTV, có lần tôi còn bị ngứa chân tay sau khi phun HCBVTV mất mấy ngày” Ông Lý Văn K: “Việc sử dụng HCBVTV phần nhiều dựa vào kinh nghiệm của bà con, còn cách pha thế nào để an toàn, thuốc độc hại ra sao, ảnh hưởng đến sức khỏe như thế nào thì bà con chúng tôi cũng chẳng có thời gian để ý đâu”

Bà Hoàng Thị T: “Theo tôi, muốn phòng nhiễm HCBVTV thì khi canh tác chè cần phải mặc áo mưa, đeo khẩu trang và đội mũ nón Nói chung là nếu làm những việc này thì sẽ phòng được thôi”

Bà Triệu Thị T: “ Việc thu gom vỏ bao bì đựng HCBVTV là rất tốt, sẽ tránh ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng sức khỏe, ngoài ra bà con còn phải đeo kính mắt, đội mũ nón và đi ủng, đặc biệt là phải chú ý tắm sau khi phun HCBVTV, tắm bằng xà phòng thì sẽ tốt hơn cho bà con để phòng tránh nhiễm HCBVTV”

Ông Nông Văn P: “Riêng cái cây chè này, phải có nhiều thuốc thì mới tốt được, nếu không phun liên tục sâu ăn là không bán được ngay, bà con của tôi ở đây, có người còn bảo là nếu không có HCBVTV thì lá chè không xanh được mà sau này nước chè cũng không ngon”

Ông Nguyễn Ngọc A: “Ngày nay các loại HCBVTV thì bà con ai cũng biết, nhưng có người dùng quá nhiều thuốc BVTV hay trong quá trình sử dụng không thực hiện đúng các biện pháp bảo hộ lao động trong sản xuất nông nghiệp như không đeo khẩu trang, không dùng nón bảo hộ lao động nên có những trường hợp nhiễm độc HCBVTV đáng tiếc xảy ra”.

Nhận xét:

- Qua thảo luận nhóm, có 9/12 người canh tác chè biết các triệu chứngcủa nhiễm HCBVTV, nhưng chỉ có 4/12 người kể tên đầy đủ các biệnpháp dự phòng nhiễm HCBVTV

- Có người canh tác chè chưa có những kiến thức đúng về HCBVTV

Trang 39

3.3 Thái độ của người canh tác chè về dự phòng nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật

Bảng 3.4 Thái độ của người canh tác chè về dự phòng nhiễm hóa chất bảo

vệ thực vật

Mức độ Nhận thức

- Nhận thức tốt của người canh tác chè về các yếu tố nguy cơ chiếm 64,6%, nhận thức trung bình chiếm 8,0%

- Tỷ lệ người canh tác chè có nhận thức về hậu quả nhiễm HCBVTV mức độ tốt là 39,8% và mức độ khá là 53,6%

- Đa phần (64,6%) người canh tác chè có nhận thức khá về lợi ích của dựphòng nhiễm HCBVTV (58,8%), nhận thức trung bình chiếm tỷ lệ thấp(6,0%)

- Nhận thức tốt về các yếu tố cản trở hành vi dự phòng nhiễm HCBVTV chiếm 13,8%, nhận thức mức độ trung bình chiếm 58,8%

Trang 40

Hộp 3.2.

Ông Nguyễn Văn H: “Phun HCBVTV không đeo khẩu trang nói chung

là cũng không ảnh hưởng gì lắm, chúng tôi quen rồi Bao nhiêu năm làm nông nghiệp, vụ nào chẳng phun như vậy, có sao đâu”

Bà Nguyễn Thị Q: “Làm nông phải chấp nhận nhọc nhằn, khi nào đổ bệnh tính sau, đó là cái giá phải trả của nghề làm nông!”

Ông Nông Văn T: “Không mặc quần áo bảo hộ lao động là nguy hiểm lắm, dễ dính đòn như chơi ý, nó mà nhiễm thì sau này kiểu gì cũng dính bệnh”

Bà Nguyễn Thị Q: “ Ui dào, mặc áo mưa vào nóng lắm, lại khó chịu mà lại mặc chẳng quen Phun có tí là xong, mặc ra mặc vào mất thời gian”

Bà Trần Thị H: “ Biết đeo kính mắt là tốt đấy nhưng mà nói chung là khó nhìn lắm, nhìn chẳng rõ mà lại chẳng quen”

Bà Nguyễn Thị L: “Nói chung là bà con đủ tiền mua quần áo bảo hộ lao động, nhưng mà bà con không mặc vì vướng, nóng và khó chịu chứ không phải hiếm hay không có tiền mua”

Ông Dương Bá H: “Tắm à? Thật ra làm như chúng tôi suốt ngày chân lấm tay bùn, lấy đâu thời gian mà tắm, mà tắm xong cũng lại bẩn ngay thôi

mà Không tắm có sao đâu? Trâu bò mấy triệu còn chẳng tắm cơ mà! Chỉ hôm nào về đi ăn cỗ thì tắm chứ nếu cứ phun xong mà tắm có người ngày phải tắm đến chục lần chứ chẳng chơi”

Nhận xét:

- Phần lớn (10/13) người canh tác chè nhận thức rõ hậu quả của nhiễmHCBVTV, nhưng cũng có người canh tác chè chưa nhận thức đúng

về hậu quả của nhiễm HCBVTV

- Người canh tác chè đã có nhận thức về các yếu tố rào cản đối với việcthực hiện hành vi dự phòng nhiễm HCBVTV

Ngày đăng: 21/07/2023, 22:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ môn Sức khoẻ nghề nghiệp Trường đại học Y khoa Thái Nguyên (2007), Giáo trình Sức khoẻ nghề nghiệp, NXB Y học, Hà Nội, tr. 83 -96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ môn Sức khoẻ nghề nghiệp Trường đại học Y khoa Thái Nguyên(2007), "Giáo trình Sức khoẻ nghề nghiệp
Tác giả: Bộ môn Sức khoẻ nghề nghiệp Trường đại học Y khoa Thái Nguyên
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2007
2. Bộ môn Thống kê - Tin học - Đại học Y tế Công cộng Hà Nội (2007), Hướng dẫn sử dụng SPSS, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ môn Thống kê - Tin học - Đại học Y tế Công cộng Hà Nội (2007), "Hướng dẫn sử dụng SPSS
Tác giả: Bộ môn Thống kê - Tin học - Đại học Y tế Công cộng Hà Nội
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2007
3. Bộ môn Y học cộng đồng Trường đại học Y Khoa Thái Nguyên (2009), Bài giảng Truyền thông Giáo dục sức khỏe, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ môn Y học cộng đồng Trường đại học Y Khoa Thái Nguyên (2009),"Bài giảng Truyền thông Giáo dục sức khỏe
Tác giả: Bộ môn Y học cộng đồng Trường đại học Y Khoa Thái Nguyên
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2009
4. Chương trình Quốc tế về an toàn hoá chất (2000), An toàn và sức khoẻ trong sử dụng hoá chất nông nghiệp, NXB Lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình Quốc tế về an toàn hoá chất (2000), "An toàn và sức khoẻ trong sử dụng hoá chất nông nghiệp
Tác giả: Chương trình Quốc tế về an toàn hoá chất
Nhà XB: NXB Lao động xã hội
Năm: 2000
5. Nguyễn Thị Hà (2004), Nghiên cứu kiến thức thực hành và tồn dư thuốc bảo vệ thực vật trên rau thương phẩm của người dân phường Túc Duyên thành phố Thái Nguyên, Luận văn thạc sĩ Y học, Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thị Hà (2004), "Nghiên cứu kiến thức thực hành và tồn dư thuốcbảo vệ thực vật trên rau thương phẩm của người dân phường Túc Duyênthành phố Thái Nguyên
Tác giả: Nguyễn Thị Hà
Năm: 2004
6. Vũ Quốc Hải (2004), Kiến thức, thái độ, thực hành bảo quản và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật của người nông dân tại xã Đông Tảo, huyện Khoái Châu, Hưng Yên năm 2003, Luận văn thạc sĩ Y học, Trường Đại học Y tế Công cộng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ Quốc Hải (2004), "Kiến thức, thái độ, thực hành bảo quản và sử dụngthuốc bảo vệ thực vật của người nông dân tại xã Đông Tảo, huyện KhoáiChâu, Hưng Yên năm 2003
Tác giả: Vũ Quốc Hải
Năm: 2004
7. Hoàng Hải (2006), Nghiên cứu thực trạng an toàn vệ sinh lao động và một số chứng bệnh ở khu chuyên canh rau Yên Thường huyện Gia Lâm, Hà Nội, Luận văn thạc sĩ Y học, Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Hải (2006), "Nghiên cứu thực trạng an toàn vệ sinh lao động vàmột số chứng bệnh ở khu chuyên canh rau Yên Thường huyện Gia Lâm,Hà Nội
Tác giả: Hoàng Hải
Năm: 2006
9. Đỗ Hàm, Nguyễn Thành Trung, Nguyễn Văn Sơn (2009), Phương pháp luận trong nghiên cứu khoa học y học (Giáo trình sau đại học), NXB Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Hàm, Nguyễn Thành Trung, Nguyễn Văn Sơn (2009), "Phương phápluận trong nghiên cứu khoa học y học (Giáo trình sau đại học)
Tác giả: Đỗ Hàm, Nguyễn Thành Trung, Nguyễn Văn Sơn
Nhà XB: NXB Yhọc
Năm: 2009
10. Nguyễn Văn Hùng, Vũ Thế Dân (2000), Sử dụng hợp lý thuốc trừ sâu trên cây chè, Viện nghiên cứu chè - Bộ Nông nghiệp - PTNN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Văn Hùng, Vũ Thế Dân (2000), "Sử dụng hợp lý thuốc trừ sâu trên cây chè
Tác giả: Nguyễn Văn Hùng, Vũ Thế Dân
Năm: 2000
11. Nguyễn Tuấn Khanh, Đỗ Hàm (2009), "Thực trạng một số bệnh thường gặp ở người dân chuyên canh chè tại Thái Nguyên" , Tạp chí Y học dự phòng, Tập XXIII, số 6 (105), tr 56 - 61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng một số bệnh thườnggặp ở người dân chuyên canh chè tại Thái Nguyên
Tác giả: Nguyễn Tuấn Khanh, Đỗ Hàm
Năm: 2009
12. Nguyễn Tuấn Khanh (2010), Đánh giá ảnh hưởng của sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật đến sức khỏe của người chuyên canh chè tại Thái Nguyên và hiệu quả của các biện pháp can thiệp. Luận án Tiến sĩ y học, Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Tuấn Khanh (2010), "Đánh giá ảnh hưởng của sử dụng hóa chấtbảo vệ thực vật đến sức khỏe của người chuyên canh chè tại Thái Nguyênvà hiệu quả của các biện pháp can thiệp
Tác giả: Nguyễn Tuấn Khanh
Năm: 2010
13. Nguyễn Tuấn Khanh, Đỗ Hàm (2010), "Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật của người chuyên canh chè tại Thái Nguyên", Tạp chí Y học thực hành, 9/2010, số 9 (732), tr. 65 - 67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng kiến thức, thái độ,thực hành về sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật của người chuyên canh chètại Thái Nguyên
Tác giả: Nguyễn Tuấn Khanh, Đỗ Hàm
Năm: 2010
14. Lô Thị Hồng Lê (2003), Nghiên cứu thực trạng sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật, tình hình sức khoẻ của người chuyên canh chè tại nông trường Sông Cầu và xã Minh Lập - Đồng Hỷ- Thái Nguyên, Luận văn thạc sĩ Y học, Trường Đại học Y – Dược Thái Nguyên, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lô Thị Hồng Lê (2003), "Nghiên cứu thực trạng sử dụng hoá chất bảo vệthực vật, tình hình sức khoẻ của người chuyên canh chè tại nông trườngSông Cầu và xã Minh Lập - Đồng Hỷ- Thái Nguyên
Tác giả: Lô Thị Hồng Lê
Năm: 2003
15. Bùi Ngọc Linh, Trần Khánh Long (2006), Can thiệp sử dụng an toàn hóa chất bảo vệ thực vật tại xã An Hòa, huyện An Dương, Hải Phòng, năm 2004, Hội nghị khoa học công nghệ tuổi trẻ các trường Đại học Y Dược Việt Nam lần thứ XIII, tr. 135 – 141 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bùi Ngọc Linh, Trần Khánh Long (2006), "Can thiệp sử dụng an toàn hóachất bảo vệ thực vật tại xã An Hòa, huyện An Dương, Hải Phòng, năm2004
Tác giả: Bùi Ngọc Linh, Trần Khánh Long
Năm: 2006
16. Phạm Bích Ngân, Đinh Xuân Thắng (2006), "Ảnh hưởng của thuốc trừ sâu tới sức khỏe người phun thuốc", Tạp chí phát triển khoa học và công nghệ, TPHCM, 9 (2/2006),tr. 72 - 80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của thuốc trừsâu tới sức khỏe người phun thuốc
Tác giả: Phạm Bích Ngân, Đinh Xuân Thắng
Năm: 2006
17. Trần Như Nguyên, Tăng Xuân Châu (2010), "Đặc điểm cơ cấu lao động và việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật huyện Sóc Sơn - Hà Nội", T ạp chí Y học thực hành, 713 (4/2010), tr. 8 -13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm cơ cấu lao độngvà việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật huyện Sóc Sơn - Hà Nội
Tác giả: Trần Như Nguyên, Tăng Xuân Châu
Năm: 2010
18. Nguyễn Trần Oánh, Nguyễn Văn Viên, Bùi Trọng Thuỷ (2007), Giáo trình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Trần Oánh, Nguyễn Văn Viên, Bùi Trọng Thuỷ (2007), "Giáotrình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
Tác giả: Nguyễn Trần Oánh, Nguyễn Văn Viên, Bùi Trọng Thuỷ
Năm: 2007
19. Đào Ngọc Phong, Phan Văn Các (2004) Phương pháp nghiên cứu sức khỏe công cộng, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào Ngọc Phong, Phan Văn Các (2004) "Phương pháp nghiên cứu sức khỏe công cộng
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
20. Nguyễn Thị Xuân Phương (2001), Nghiên cứu tình hình sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật tại Nông trường thực nghiệm chè Phú Thọ, Báo cáo tóm tắt Hội nghị khoa học YHLĐ lần thứ IV, Nhà xuất bản Y học, tr. 40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thị Xuân Phương (2001), "Nghiên cứu tình hình sử dụng hoá chấtbảo vệ thực vật tại Nông trường thực nghiệm chè Phú Thọ
Tác giả: Nguyễn Thị Xuân Phương
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2001
21. Nguyễn Minh Sơn (2010), "Nghiên cứu tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên một số địa bàn tỉnh Quảng Trị", Tạp chí Y học thực hành, 716 (5/2010), tr. 17 - 19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình hình sử dụng thuốc bảo vệthực vật trên một số địa bàn tỉnh Quảng Trị
Tác giả: Nguyễn Minh Sơn
Năm: 2010

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (n= 400) - Hành vi dự phòng nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật ở người canh tác chè xã la bằng, huyện đại từ, tỉnh thái nguyên
Bảng 3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (n= 400) (Trang 35)
Bảng 3.3. Kiến thức của người canh tác chè (n = 400) - Hành vi dự phòng nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật ở người canh tác chè xã la bằng, huyện đại từ, tỉnh thái nguyên
Bảng 3.3. Kiến thức của người canh tác chè (n = 400) (Trang 37)
Bảng 3.4. Thái độ của người canh tác chè về dự phòng nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật - Hành vi dự phòng nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật ở người canh tác chè xã la bằng, huyện đại từ, tỉnh thái nguyên
Bảng 3.4. Thái độ của người canh tác chè về dự phòng nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật (Trang 39)
Bảng 3.5. Hành vi phun hóa chất bảo vệ thực vật, xử lý dụng cụ và thu  hoạch chè sau phun - Hành vi dự phòng nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật ở người canh tác chè xã la bằng, huyện đại từ, tỉnh thái nguyên
Bảng 3.5. Hành vi phun hóa chất bảo vệ thực vật, xử lý dụng cụ và thu hoạch chè sau phun (Trang 41)
Bảng 3.6. Mức độ hành vi dự phòng nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật  ở người canh tác chè (n = 400) - Hành vi dự phòng nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật ở người canh tác chè xã la bằng, huyện đại từ, tỉnh thái nguyên
Bảng 3.6. Mức độ hành vi dự phòng nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật ở người canh tác chè (n = 400) (Trang 50)
Bảng 3.8. Nguồn truyền thông giáo dục sức khỏe cho người canh tác  chè (n = 139) - Hành vi dự phòng nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật ở người canh tác chè xã la bằng, huyện đại từ, tỉnh thái nguyên
Bảng 3.8. Nguồn truyền thông giáo dục sức khỏe cho người canh tác chè (n = 139) (Trang 51)
Bảng 3.7. Tỷ lệ người canh tác chè được truyền thông giáo dục sức khỏe (n=400) - Hành vi dự phòng nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật ở người canh tác chè xã la bằng, huyện đại từ, tỉnh thái nguyên
Bảng 3.7. Tỷ lệ người canh tác chè được truyền thông giáo dục sức khỏe (n=400) (Trang 51)
Bảng 3.9. Nhu cầu truyền thông giáo dục sức khỏe dự phòng nhiễm  hóa chất bảo vệ thực vật (n=400) - Hành vi dự phòng nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật ở người canh tác chè xã la bằng, huyện đại từ, tỉnh thái nguyên
Bảng 3.9. Nhu cầu truyền thông giáo dục sức khỏe dự phòng nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật (n=400) (Trang 52)
Bảng 3.10. Mối liên quan giữa hành vi dự phòng nhiễm hóa chất bảo vệ thực  vật với các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu (n = 400) - Hành vi dự phòng nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật ở người canh tác chè xã la bằng, huyện đại từ, tỉnh thái nguyên
Bảng 3.10. Mối liên quan giữa hành vi dự phòng nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật với các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu (n = 400) (Trang 53)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w