1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá kết quả sử dụng bài thuốc bán hạ bạch thuận trên ma thang trong điều trị bệnh nhân rối loạn lipid máu tại bệnh viện y học cổ truyền thái nguyên

72 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Kết Quả Sử Dụng Bài Thuốc Bán Hạ Bạch Truật Thiên Ma Thang Trong Điều Trị Bệnh Nhân Rối Loạn Lipid Máu Tại Bệnh Viện Y Học Cổ Truyền Thái Nguyên
Trường học Trường Đại Học Y Dược Thái Nguyên
Thể loại luận án bác sĩ chuyên khoa ii cấp ii
Năm xuất bản 2010
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾTRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI NGUYấN Lấ KHA đánh giá kết quả Sử dụng bài thuốc bán hạ bạch truật thiên ma thang trong điều trị bệnh nhân rối loạn lipid máu tại

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI NGUYấN

Lấ KHA

đánh giá kết quả Sử dụng bài thuốc bán hạ bạch truật thiên ma thang trong điều trị bệnh nhân rối loạn lipid máu tại bệnh viện y học cổ truyền tháI nguyên

LUẬN ÁN BÁC SỸ CHUYấN KHOA II CẤP II

THÁI NGUYấN- 2010

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Rối loạn lipid máu được coi là một nguy cơ cho sự hình thành, phát triểncủa bệnh vữa xơ động mạch Vữa xơ động mạch đã gây ra nhiều biến chứngnghiêm trọng đe dọa đến tính mạng con người như: nhồi máu cơ tim, xuất huyếtnão Tỷ lệ mắc rối loạn lipid máu ngày một tăng đã trở thành một yếu tố quantrọng trong đánh giá điều trị và tiên lượng một số bệnh lý tim mạch Người tacho rằng trong các yếu tố nguy cơ tác động đến sự hình thành và phát triển củabệnh tim mạch thì rối loạn lipid máu được coi là một trong yếu tố nguy cơ quantrọng nhất Theo các công trình nghiên cứu cho thấy có mối tương quan tỷ lệthuận giữa nồng độ cholesterol máu, triglycerid máu với tỷ lệ vữa xơ độngmạch, nguy cơ mắc bệnh động mạch vành cũng như tỷ lệ tử vong do bệnh độngmạch vành Trong nghiên cứu của Paul M và cộng sự năm 2000 [47], bệnh timmạch là nguyên nhân chính gây tử vong và được cho là một trong những nguyênnhân gây hàng triệu sự bất hạnh ở nước Mỹ trong mỗi năm Tử vong của bệnhtim mạch gần một nửa là kết quả trực tiếp từ bệnh động mạch vành Theo dự báođến năm 2020 các bệnh tim mạch đặc biệt là vữa xơ động mạch sẽ trở thànhnguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật trên toàn thế giới [14]

Ở nước ta số người mắc bệnh tim mạch có liên quan đến vữa xơ độngmạch ngày càng tăng, ảnh hưởng rõ rệt đến sức lao động, chất lượng cuộc sống

và tuổi thọ của con người Số liệu mới nhất của WHO về số người tử vong dobệnh động mạch vành của Việt Nam là 66.179 người mỗi năm Dự báo con sốnày sẽ là 100.000 người vào năm 2010 Theo thống kê của Bộ Y tế tại các bệnhviện trong năm 2000 tỷ lệ mắc của một số bệnh lý tim mạch tính trên 100.000dân là: Suy tim tỷ lệ mắc 43,7; tăng huyết áp tỷ lệ mắc là 131,13; Nhồi máu cơtim tỷ lệ mắc là 7,62; tai biến mạch máu não tỷ lệ mắc là 46,48; tỷ lệ tử vong củacác biến chứng trên: suy tim là 12; tăng huyết áp 0,4; nhồi máu cơ tim 3,02; taibiến mạch máu não 3,02 [29]

Cho đến nay có nhiều nhóm thuốc có tác dụng điều chỉnh rối loạn lipidmáu ra đời góp phần hạn chế các hậu quả do rối loạn lipid máu gây ra như: dẫn

Trang 3

xuất Statin, acid fibric, các chất gắn acid mật, Ngay cả sự phát triển của cácthuốc ức chế HMG-CoA reductase là một tiến bộ lớn trong điều trị tăngcholesterol và tăng lipoprotein máu - nhóm thuốc điều trị rối loạn lipid máu antoàn và hiệu quả nhất là Statin nhưng vẫn làm tăng enzym gan, đau cơ, viêm cơ,hoại tử cơ và có một tỉ lệ gây quái thai Nhiều nhà khoa học trên thế giới đang có

xu hướng tìm các thuốc có nguồn gốc tự nhiên đặc biệt là dùng thảo dược làmthuốc phòng và chữa bệnh Theo Y học cổ truyền rối loạn lipid máu thuộc chứngthể đàm thấp và được chia làm nhiều thể bệnh với các biểu hiện khác nhau, cácthuốc điều trị chứng đàm thấp đã và đang được sử dụng rộng rãi trên lâm sàng vìthuốc sẵn có, giá thành rẻ, ít độc tính, có thể dùng kéo dài như: nấm linh chi,nhân trần, mộc dược, thảo quyết minh, sài hồ, bồ hoàng, thiên hoa phấn [63]

“Bán hạ bạch truật thiên ma thang” là một bài thuốc cổ phương của Yhọc cổ truyền có xuất xứ từ sách “Y học tâm ngộ” của Trình Trung Linh (TrungQuốc) được viết vào năm 1732 đời vua Ung Chính thứ 10 [41] Bài thuốc nàyđược ứng dụng điều trị cho bệnh nhân có chứng đàm thấp thể phong đàm Bàithuốc này đã được sử dụng nhiều năm ở Việt Nam có sự gia giảm của các vịthuốc Tại Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Thái Nguyên, bài thuốc đã được đưavào sử dụng điều trị cho bệnh nhân tăng huyết áp có rối loạn lipid máu từ 3 nămnay trong sử dụng thường có gia giảm một vài vị thuốc và chưa có nghiên cứumột cách hệ thống để đánh giá kết quả điều trị Nhằm góp phần tìm hiểu về tácdụng của bài thuốc “Bán hạ bạch truật thiên ma thang” đối với tăng lipid máuchúng tôi tiến hành thực hiện đề tài này với mục tiêu:

Đánh giá kết quả điều trị rối loạn lipid máu bằng bài thuốc “Bán hạ bạch truật thiên ma thang”.

Trang 4

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Chuyển hoá lipid trong cơ thể

Lipid trong cơ thể phân bố thành 3 khu vực:

- Khu vực lipid cấu trúc: Là những lipid có trong tất cả các tế bào, chứatrong các khu vực của tế bào: bào tương, các màng tế bào Chủ yếu là loại lipidphức tạp

- Khu vực lipid dự trữ: Lipid nằm trong tổ chức mỡ chủ yếu là loại lipidđơn giản, trong đó có TG có tỷ lệ cao nhất

- Khu vực lipid máu lưu hành: trong máu lipid không tan trong nướcnhưng khi gắn với protein thành lipoprotein, nó có thể tan được và lưu hành trong máu chính là thành phần liporotein [9], [59]

TG = Triglycerid

Hình 1.1: Cấu trúc của lipoprotein [63]

- Về cấu trúc và tính chất của các lipoprotein lưu hành trong máu cónhững đặc điểm sau:

Trang 5

+ Tan trong nước do có vỏ bọc là các phần tử protein ưa nước.

+ Có kích thước tương đối lớn và trọng lượng phân tử cao

+Thành phần của lipoprotein bao gồm: TG, CT tự do, phospholipid [8], [15].

- Tỷ lệ thành phần giữa vỏ và nhân khác nhau giữa các loại lipoprotein, do

đó giữa các lipoprotein có sự khác nhau về tỷ trọng và được phân chia dễ dàng thành các phân đoạn nhờ siêu ly tâm như sau [15]:

+ Chylomicron

+ Lipoprotein tỷ trọng rất thấp (VLDL)

+ Lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL)

+ Lipoprotein tỷ trọng cao (HDL)

+ Lipoprotein tỷ trọng trung gian (IDL)

- Các thành phần của lipoprotein máu [25]

Các protein trong cấu trúc của lipoprotein gọi là Apo

Mỗi phân tử lipoprotein có chứa nhiều phân tử Apo Các phân tử Apo nàytạo ra sự ổn định cấu trúc cho lipoprotein và tạo cầu nói thụ thể tế bào Các thụthể này quyết định sự chuyển hoá của một phân tử lipoprotein hoặc chúng hoạtđộng như đồng yếu tố của enzym trong quá trình chuyển hoá lipoprotein

Có nhiều loại Apo khác nhau: Apo A, Apo B, Apo C, Apo D, Apo E trong lâm sàng thường sử dụng Apo Al, Apo B [13], [14]

Các Apoprotein chủ yếu của lipoprotein máu:

Trang 6

Chiomicron: Apo - B48, Apo - AI, Apo - AII, Apo - B4, Apo - CIII, Apo - CIV, Apo - E [12].

Bảng 1.1 Đặc điểm của các lipoprotein chính trong huyết tương

Vận

nội sinhSản phẩm Tiền chất

(Nguồn: Tài liệu dịch của J.P.Borel (2006) [3])

Trang 7

1.1.2 Các con đường chuyển hóa lipoprotein

Chuyển hóa của lipid trong máu gồm 2 con đường: ngoại sinh và nội sinh

Hình 1.2: Các con đường chuyển hoá lipoprotein [12]

1.1.2.1 Chuyển hóa lipid máu ngoại sinh

Con đường này liên quan đến lipid thức ăn, xảy ra sau bữa ăn có nhiều

mỡ, là con đường vận chuyển triglycerid và cholesterol do thức ăn cung cấp đếncác mô khác nhau của cơ thể [9]

1.1.2.2 Chuyển hóa lipid máu nội sinh

Con đường này liên quan đến lipid chủ yếu có nguồn gốc từ gan, là conđường vận chuyển triglycerid và cholesterol từ gan đến các mô khác nhau của cơthể và ngược lại

Bình thường quá trình tổng hợp và thoái hóa lipoprotein là cân bằng nhau,khi có sự bất thường trong quá trình tổng hợp và thoái hóa sẽ gây nên rối loạnlipid máu

1.2 Nguyên nhân hội chứng rối loạn lipid máu (chủ yếu là tăng lipid)

Tăng lipid máu được chia làm hai loại là tăng lipid máu tiên phát và tănglipid máu thứ phát Tăng lipid máu tiên phát thường gặp hơn tăng lipid máu thứphát

Trang 8

1.2.1 Tăng lipid máu thứ phát

Bảng 1.2 Rối loạn lipid máu thứ phát Bệnh lý Rối loạn lipid huyết Rối loạn lipoprotein huyết

Nghiện thuốc lá TG và hoặc CT 

Nghiện rượu TG và hoặc CT 

Trang 9

1.2.2 Tăng lipid máu tiên phát

Năm 1965 Fredrickson căn cứ vào kỹ thuật điện di và siêu ly tâm cácthành phần lipoprotein xếp hội chứng rối loạn lipid máu thành 5 typ trong đó týp

II được chia thành 2 kiểu IIa và IIb Từ năm 1970 cách phân loại này đã trởthành phân loại quốc tế [17]

Bảng 1.3 Phân loại rối loạn lipid và lipoprotein máu theo Fredrickson

* Týp I: Tăng chylomicron máu.

* Týp II: Tăng lipoprotein beta máu, týp này được phân làm 2 týp nhỏ là:

IIa và IIb

- Týp IIa: Tăng cholesterol máu nguyên phát (chỉ tăng cholesterol và

LDL), gồm có 2 thể: thể đa gen và thể đơn gen Thể đa gen: do khuyết tật của thụ thể LDL; có 2 hình thái đồng hợp tử và dị hợp tử

Trang 10

Nguyên nhân của bệnh là do đột biến gen mã hóa thụ thể của LDL nằm trênnhiễm sắc thể số 19 [44] Thể đơn gen: Tăng cholesterol máu đơn gen gồm tăngcholesterol máu thể gia đình di truyền trội nhiễm sắc thể thường, tăngcholesterol máu thể gia đình di truyền lặn [44].

- Tăng cholesterol máu týp IIb (Tăng lipid máu hỗn hợp gia đình): Tăng

lipid máu hỗn hợp (cholesterol và LDL-C tăng rất cao, triglycerid và VLDL-Ccũng tăng ) [44] Thể này thường kèm theo rối loạn chuyển hóa glucid, tăng aciduric máu, tăng huyết áp Đây là di sản kép của 2 thể rối loạn lipid máu týp IIa vàtýp IV, người bệnh có cha hoặc mẹ bị bệnh tăng cholesterol đơn thuần týp IIa vàtăng triglycerid đơn thuần Di truyền học của tăng lipid máu hỗn hợp gia đìnhgần đây đã cho thấy những đột biến đồng hợp tử (Q148X và Q139X) trong genapolipoprotein AV

- Tăng cholesterol máu týp III: Rối loạn lipoprotein máu (tăng IDL-C)

Thể bệnh lý này hiếm gặp (1/10.000 người); cholesterol toàn phần tăng,

triglycerid máu tăng và tăng IDL-C điểm này là đặc trưng cho týp III, bệnhthường được phát hiện sau tuổi 20, những thể ở trẻ em thì rất nặng

- Tăng triglycerid máu týp IV: Thường không có triệu chứng lâm sàng,

được phát hiện trong điều tra về di truyền; nhạy cảm với rượu, các loại glucid,các chất béo và tình trạng béo phì; mức tăng của cholesterol luôn thấp hơn rõ rệt

so với mức tăng triglycerid máu, IDL-C thấp tương ứng với mức tăng triglyceridmáu

Tăng triglycerid máu nội sinh týp IV có đặc tính sinh vữa xơ yếu Điềunày được giải thích rằng, có sự phối hợp của triglycerid máu tăng cao với HDL-

C thấp (hướng sinh vữa xơ) và LDL-C thấp (hướng bảo vệ chống vữa xơ)

- Tăng lipid máu týp IV: Có thể là bệnh di truyền đơn gen trội (khoảng

10% số bệnh nhân) hoặc thiếu gen Trong thể bệnh này, người ta đã hiểu rõ vaitrò của các yếu tố môi trường nhưng vai trò của gen vẫn chưa được sáng tỏ

Trang 11

- Týp V: Tăng triglycerid máu hỗn hợp (tăng chylomicron và VLDL-C),

typ V tiên phát rất hiếm gặp, týp V thứ phát hay gặp trong cơn tăng lipid máu

của týp IV (gây ra do rượu, điều trị corticoid, đái tháo đường nặng…)

Tăng triglycerid máu týp I rất nhạy cảm với mỡ ngoại sinh, bệnh di truyềnlặn trên nhiễm sắc thể thường

Tăng lipid máu tiên phát có dấu hiệu chính và triệu chứng lâm sàng là ứ đọng lipid ở các vị trí khác nhau của cơ thể

Bảng 1.4 Tăng lipid máu tiên phát

CT gia > 300 < 200 > 185 < 35 Thay đổi 1/500 +++ +

IIb đình

thường là Thay đổi Thay đổi Thay đổi > 90

> 260

Trang 12

1.2.3 Các rối loạn lipid máu khác

Tăng alpha - lipoprotein huyết tương (có thể do tắc nghẽn quá trình thoáihóa của HDL-C, gây tăng HDL-C huyết tương); giảm lipid huyết nguyên phát:

hạ alphalipoprotein máu (FHA) gia đình, không có bêtalipoprotein huyết; giảm

lipid huyết thứ phát [9]

1.2.4 Rối loạn lipid máu (RLLPM) và bệnh VXĐM

Nghiên cứu điều tra dịch tễ về cholesterol máu trong bệnh VXĐM tiếnhành ở Framingham cho thấy có mối tương quan thuận giữa nồng độ cholesterolmáu và tỷ lệ tử vong do VXĐM VXĐM là sự phối hợp những biến đổi của lớpnội mạc động mạch bao gồm sự tích tụ tại chỗ các lipid phức hợp các glucid,máu và các sản phẩm của máu, tổ chức xơ và canxi, kèm theo những biến đổi ởlớp trung mạc VXĐM là một bệnh của động mạch lớn và vừa, được thể hiệnbằng 2 loại tổn thương cơ bản, đặc trưng là mảng vữa rất giàu cholesterol và tổchức xơ, xảy ra ở lớp nội mạc và một phần trung mạc Nó làm hẹp dần lòngđộng mạch và cản trở dòng máu đến nuôi dưỡng các tổ chức

- Vai trò của LDL trong VXĐM:

Thành phần CT trong các mảng xơ hầu hết là CT từ LDL Tuy nhiên sựtích tụ lipid và sự tạo thành mảng xơ vữa chỉ sẽ xảy ra khi nồng độ LDL vượtquá mức ngưỡng 100mg/dl (2.6mmol/l) Nồng độ ngưỡng này chính là cơ sở củakhái niệm LDL- 100 tức là sự tạo thành VXĐM bắt đầu khi nồng độ LDL tăngcao vượt giới hạn mg/dl (2.6 mmol/l)

Hiện nay các thuốc điều trị VXĐM và giảm lipid máu có tác dụng làmtăng số lượng receptor LDL ở màng tế bào, tránh hiện tượng ứ đọng chúng ởthành mạch khi tiếp xúc lâu với tế bào nội mạc thành mạch LDL bị oxy hoáhoặc aceton hoá, bản chất bị thay đổi do đó không được các receptor tiếp nhận,

bị các tế bào nội mạc hoặc các đại thực bào thu nhận [15], [46]

Cơ chế gây vữa xơ động mạch của LDL-C còn chưa được rõ ràng, đầy đủ;nhưng sự oxy hóa LDL-C trong thành động mạch rất quan trọng trong bệnh sinhcủa xơ vữa Bình thường LDL-C được lấy ra khỏi huyết tương nhờ các thụ thể

Trang 13

LDL-C, khi LDL-C tăng quá mức: Các đại thực bào, các tế bào cơ trơn có cácthụ thể tiếp nhận LDL-C nhưng lại không có khả năng tự điều hòa cholesterolnên thu nhận tất cả LDL-C oxy hóa và bị biến đổi thành các tế bào bọt Đây làtổn thương sớm của vữa xơ động mạch và là điểm báo trước những tổn thươngcấp diễn hơn [25], [26].

Cholesterol tích tụ trong tế bào đến mức quá tải sẽ làm căng vỡ tế bào.Tiếp theo sự chết của các tế bào là sự thanh toán dọn dẹp chúng của các đại thựcbào Các tế bào này cũng bị chết để lại sự nham nhở trong lòng động mạch, từ

đó làm tăng sự kết tụ tiểu cầu dẫn đến sự dày lên và xơ cứng làm hẹp lòng độngmạch [9], [26]

Cholesterol là thành phần quan trọng nhất trong các lipid ứ đọng ở mảngvữa Cholesterol máu càng cao thì tần xuất mắc các bệnh vữa xơ động mạchcàng lớn, nhất là ở những người cao tuổi [9] Trong bệnh VXĐM hay gặp dotăng LDL-C, tăng cholesterol, tăng triglycerid, nhất là khi có giảm đồng thờiHDL-C, tăng lipoprotein

Ngoài ra Lp khi gắn mạnh vào chất ngoại nền tế bào lại làm lắng đọngLDL-C ở lớp nội mạc cũng có thể tạo nên vữa xơ động mạch Vì vậy khi vữa xơđộng mạch mà không tăng lipoprotein hoặc hạ HDL-C thì nên kiểm tra Lp

- Tăng huyết áp, hút thuốc lá nhiều, đái tháo đường…cũng gây nên tổnthương tế bào nội mô làm cho các lipoprotein dễ thâm nhập vào thành động mạch Đây cũng là các yếu tố nguy cơ gây vữa xơ động mạch

Nghiên cứu của các tác giả còn cho thấy RLLPM có mối tương quan với bệnh mạch vành, mạch não, huyết áp [25], [12]

- Cholesterol và tử vong do bệnh mạch vành (BMV) có mối tương quanthuận Nghiên cứu của Kannel và cộng sự đã cho thấy: Khi CT tăng trên 2,5 g/l thìnguy cơ BMV tăng 2,25 - 3,25 lần; khi CT từ 5,2 - 6,5 mmol/l thì tử vong do BMVtăng gấp đôi, CT từ 5,2 - 7,8 mmol/l thì tử vong do BMV tăng gấp bốn lần [10]

Trang 14

- Theo Katz và Dauber, trên 120.000 trường hợp tử vong do tổn thương TBMMN, đã có 75.000 trường hợp do nguyên nhân VXĐM não [10].

- Các nghiên cứu còn cho thấy tăng huyết áp và tăng cholesterol máu cótác dụng hiệp đồng mạnh mẽ trong quá trình thúc đẩy VXĐM

1.2.5 Tình hình mắc rối loạn lipid máu trên thế giới và Việt Nam

Thực tế hiện nay tình hình mắc RLLPM trên thế giới cũng như ở ViệtNam ngày càng gia tăng

Theo số liệu của Hội tim mạch Hoa Kỳ - American Heart Association(AHA) tính đến năm 2000 nước Mỹ có khoảng 37 triệu người và Châu Âu có 47triệu người có tăng CT máu ở mức cần điều trị [16]

Cuối thế kỷ XX tỷ lệ mắc RLLPM từng nước khác nhau Pháp: 15%,Malaysia 22%, Thuỵ Điển 26%, Nhật Bản 17,6%, Hoa Kỳ 29,5 % Ở Việt Nam

đã có một số công trình nghiên cứu về rối loạn lipid máu trong cộng đồng Quanghiên cứu của Phạm Gia Khải cùng cộng sự (2001- 2002) trong quần thể dân

cư Hà Nội ngẫu nhiên 263 người cho thấy[29]:

+ Tần suất tăng LDL- C: 51,27%

+ Tần suất tăng CT: 54,7%

+ Tần suất tăng TG: 41,9%

+ Tần suất giảm HDL: 40,7%

+ Tần suất có ít nhất 1 rối loạn thành phần lipid trong máu là 78,8%

1.2.6 Điều trị hội chứng rối loạn lipid máu

1.2.6.1 Nguyên tắc điều trị

a) Việc điều trị tuỳ thuộc vào từng cá thể bệnh nhân trên cơ sở đánh giá

tình trạng và mức độ rối loạn lipid máu là chính [25]

* Phân loại nồng độ cholesterol máu: Dưới đây là việc đánh giá tình

trạng tăng cholesterol máu

Trang 15

Bảng 1.5 Phân loại nồng độ cholesterol máu

2,26 - 4,5 mmol/l(200 - 400 mg/dl)4,5 - 11,3 mmol/l(400 - 1000 mg/dl)

> 11,3 mmol/l(> 1000 mg/dl)

3,4 - 4,1mmol/l(130 - 159mg/dl)

> 4,1 - 4,9 mmol/l(160 - 189mg/dl)

> 4,9 mmol/l(> 190 mg/dl)

(Nguồn: Pham Thị Bạch Yến [63])

Ghi chú: HDL-C bình thường: > 0,9 mmol/l Rối loạn lipid máu kiểu hỗn

hợp khi cholesterol > 6,2 mmol/l và TG trong khoảng 2,26 - 4,5 mmol/l

Bảng 1.5 cho biết nồng độ cholesterol toàn phần trong máu: mức bìnhthường và mức cần theo dõi Việc đánh giá mức cholesterol thích hợp với từng

cá thể phải tính đến sự có mặt của các yếu tố nguy cơ khác Các yếu tố nguy cơ

đã được xác định là góp phần gây bệnh động mạch vành, nhưng phần lớn cácbệnh nhân bị bệnh động mạch vành có cholesterol toàn phần và LDL - C ở mứcgiới hạn Vì vậy nhiều chuyên gia coi cholesterol huyết tương > 160mg/dl làmức giá trị lý tưởng cao

* Mức LDL-C cần trị liệu thay đổi lối sống và trị liệu bằng thuốc ở các loại nguy cơ khác nhau

- Khuyến cáo ATP III - NCEP Hoa Kỳ năm 2004 (US Aldult Treatment Panel III- National Cholesterol Education Program):

Trang 16

Bảng 1.6 Khuyến cáo ATP III-NCEP Hoa Kỳ năm 2004 (sửa đổi) về mức

Nguy cơ cao: BMV

hoặc nguy cơ tưong < 100 mg/dl ≥ 100 mg/dl < 100 mg/dlđương BMV và (2,59 < 70 mg/dl (2,59

10 năm: 10 - 20%

bình: 2 YTNC và < 130 mg/dl

(mg/dl)nguy cơ BMV sau (3,4 mmol/l)

Trên cơ sở những bằng chứng, những số liệu từ nghiên cứu bảo vệ tim

(HPS) đã đưa ra đích cholesterol LDL hợp lí là < 70 mg/dl (1,8 mmol/L) cho

những bệnh nhân nguy cơ rất cao BMV và khuyên điều trị bằng thuốc chonhững bệnh nhân này thậm chí khi mức cholesterol LDL nền < 100 mg/dl (2,6mmol/L)

Những bệnh nhân như vậy bao gồm BMV có kèm nhiều yếu tố nguy cơlớn đa dạng, nhiều yếu tố nguy cơ được kiểm soát kém hoặc nặng, nhiều yếu tốnguy cơ đa dạng của hội chứng chuyển hoá, hội chứng động mạch vành cấp[20],[44]

Trang 17

Hướng dẫn gần đây tại Mỹ có chương trình giáo dục cholesterol quốc giacủa Panel III (ATP III) về điều trị cholesterol máu cao đã đưa ra: CholesterolLDL là đích điều trị quan trọng nhất; nồng độ triglyceride huyết thanh và non-HDL-C (chứa cả cholesterol LDL và VLDL-C) là đích điều trị tiếp theo Phươngpháp điều trị của NCEP ATP III đã dựa trên tính toán nguy cơ BMV trên từngbệnh nhân: cần phải thay đổi cách sống cho mọi bệnh nhân kể cả các bệnh nhân

có nguy cơ cao, nguy cơ cao vừa; việc điều trị bằng thuốc cần phải giảm được ítnhất 30 - 40% LDL-C, nhưng hầu hết các bệnh nhân đã không đạt được mục tiêucủa NCEP ATP III đưa ra [20],[44]

- Khuyến cáo của hội tim mạch Việt Nam 2006:

Bảng 1.7 Khuyến cáo điều trị RLLPM theo mức độ LDL-C

“không HDL-C” *

(BMV) và tương đương (2,59 mmol/l) (3,4 mmol/l)

Tối ưu < 70

≥ 2 YTNC + nguy cơ 10 năm từ 10 - (3,4 mmol/l) (4,1 mmol/l)

Nguy cơ trung bình

< 130 < 160

≥ 2 YTNC + nguy cơ 10 năm < 10% (3,4 mmol/l) (4,1 mmol/l)

(4,1 mmol/l)

Mục tiêu HDL-C : > 1,04 mmol/l

(Nguồn: Nguyễn Duy Hưng,- Tim mạch học giản yếu [20])

* Xác định sự hiện diện của bệnh vữa xơ động mạch trên lâm sàng, đây làyếu tố nguy cơ cao gây các biến cố của bệnh mạch vành (BMV) (các yếu tốnguy cơ tương đương bệnh mạch vành) [1],[20]:

- BMV có triệu chứng lâm sàng

Trang 18

- Bệnh động mạch cảnh có triệu chứng.

- Bệnh động mạch ngoại biên

- Phình tách động mạch chủ bụng

- Đái tháo đường

* Các yếu tố nguy cơ bệnh mạch vành (ngoài LDL-C) được thể hiện ở bảng 1.8 dưới đây:

Bảng 1.8 Các yếu tố nguy cơ bệnh mạch vành Yếu tố nguy cơ dương tính:

Khi HDL-C > 1,6 mmol/l ( > 60 mg/dl ) được coi như một yếu tố nguy cơ

âm tính, giúp làm giảm bớt một yếu tố nguy cơ

* Nếu có từ 2 yếu tố cơ trở lên (ngoài LDL-C tăng) mà không có biểuhiện của BMV hoặc nguy cơ tương đương của BMV thì phải đánh giá nguy cơBMV trong 10 năm theo bảng Framingham với 3 mức, cụ thể như sau:

- Nguy cơ BMV sau 10 năm > 20%: là nguy cơ tương đương BMV

- Nguy cơ BMV sau 10 năm từ 10 - 20%

- Nguy cơ BMV < 10%

1.2.6.2 Điều trị cụ thể

Nhiều nghiên cứu đã cho thấy hạ thấp nồng độ cholesterol máu vẫn là phương pháp chủ yếu để phòng và điều trị bệnh tim mạch

Trang 19

Điều chỉnh chế độ ăn uống, sinh hoạt: Điều chỉnh chế độ ăn uống và sinh hoạt

ít nhất trong 3 tháng

- Chế độ ăn uống: thành phần chất dinh dưỡng ăn hàng ngày có luợngacid béo bão hoà < 7 - 10%, tổng số các chất béo không quá 30% và lượngcholesterol phải < 300 mg/ngày Như vậy là cần tránh hoặc giảm các thịt mỡđộng vật, trứng, sữa toàn phần, phủ tạng động vật, các loại phomat, kem, Tăng cường ăn dầu thực vật, cá có nhiều acid béo không bão hoà, hoa quả tươi, rau, các loại ngũ cốc với lượng tinh bột chiếm khoảng 55 - 60% khẩu phần

Chế độ ăn sẽ phải duy trì lâu dài cho dù có dùng thuốc hay không dùng thuốc.

Ở những bệnh nhân có béo phì thì cần phải giảm cân nặng (nên bắt đầugiảm dần dần lượng calo hàng ngày, thường hạn chế ở mức 1600 calo/ngày) Ởnhững bệnh nhân tăng triglycerid: cần hạn chế mỡ động vật, đường và rượu

- Chế độ sinh hoạt: làm việc điều độ, tránh các stress, tránh các chấnthương tình cảm, nghỉ ngơi, giải trí, giảm hoặc bỏ thuốc lá, cần tăng cường vậnđộng, không hút thuốc lá Tập thể dục, dưỡng sinh, xoa bóp, tăng cường đi bộ

Điều trị phải bắt đầu bằng điều chỉnh chế độ ăn và luyện tập Dùng thuốckhi đã điều chỉnh chế độ ăn một thời gian mà thất bại hoặc phải bắt đầu ngaykhi: (1) có quá nhiều yếu tố nguy cơ bệnh mạch vành và lượng LDL-C trongmáu cao (> 4,1 mmol/l); hoặc (2) khi lượng LDL-C trong máu quá cao (> 5mmol/l) [13], [25], [26]

Điều trị bằng thuốc

Khi bệnh nhân đã có biểu hiện bệnh mạch vành hoặc có nguy cơ tươngđương BMV cần điều chỉnh chế độ ăn thật nghiêm ngặt cho mọi bệnh nhân,đồng thời dùng thuốc Mục đích điều trị chủ yếu là phải làm giảm được LDL-C

< 2,6 mmol/l (< 100 mg/dl)

Với các loại yếu tố nguy cơ khác thì xem xét việc thêm thuốc điều trị sau

3 tháng trị liệu bẳng thay đổi cách ăn uống và sinh hoạt

Ngày nay có rất nhiều thuốc để lựa chọn điều trị tăng cholesterol máu

Trang 20

Dựa vào tác dụng điều chỉnh liporotein, thuốc được chia làm 2 nhóm chính:thuốc làm giảm hấp thu và tăng thải trừ lipid, thuốc ức chế sinh tổng hợp lipid.

Các nhóm thuốc

điều trị RLLPM

Thuốc làm giảmhấp thu và tăngthải trừ lipid:

Cholestyramin,

Thuốc ức chế sinhtổng hợp lipid:

Acid Fibric,Statin, Probucol,D-Thyroxin

Sơ đồ 1.1: Phân loại thuốc điều trị rối loạn lipid máu

- Thuốc làm giảm hấp thu và tăng thải trừ lipoprotein: các nhựa resin kếthợp với acid mật hiện nay có hai loại là Cholestyramine và Colestipol Cả haiđều là nhựa trao đổi anion Các nhựa này mang điện tích dương sẽ gắn vào cácacid mật mang điện tích âm làm tăng bộc lộ các thụ thể LDL ở mặt tế bào gan đểtăng cường thu nạp LDL-C từ huyết tương và làm tăng hoạt tính của HMG-CoAreductase, là enzym kiểm soát tổng hợp cholesterol Số lượng LDL receptor ởgan tăng làm tăng việc gắn LDL-C từ huyết tương nên làm hạ cholesterol huyếttương Chỉ định: Điều trị chứng tăng cholesterol máu gia đình ở người trẻ [13],[25]

- Nhóm thuốc ức chế sinh tổng hợp lipoprotein: (gồm các nhóm thuốc dẫn xuất của Acid fibric, nhóm Statin, Probucol và D – Thyroxin)

Trang 21

1.3 Quan niệm của Y học cổ truyền về rối loạn lipid máu

1.3.1 Chứng đàm thấp

Đàm thấp là sản phẩm bệnh lý, đàm là chất đục đặc, thấp là chất loãnghơn đàm; đàm thấp sau khi sinh sẽ gây ra những chứng bệnh mới, đặc biệt phạm

vi gây bệnh của đàm rất rộng rãi

Theo Y văn cổ: “Chứng đàm thấp là một loại chứng bệnh mà nguyên nhângây bệnh chính là thuỷ ứ đọng lại ở một vị trí trong cơ thể dần dần kết đặc lại,không vận hoá theo quy luật bình thường Nội Kinh gọi là đàm tích, Kim QuỹYếu lược gọi là đàm thấp”

Nguồn gốc sinh ra đàm thấp do tân dịch ngưng tụ biến hoá mà thành, do lụcdâm thất tình làm cơ năng của ba tạng tỳ, phế, thận bị ảnh hưởng, tân dịchkhông phân bố và vận hành được ngưng tụ, thành thấp, thấp hoá thành đàm [5],[54]

Bình thường sự vận hoá thuỷ thấp trong cơ thể được điều hoà bởi ba tạng

tỳ, phế, thận Tỳ vận hoá thuỷ thấp thành tân dịch, vận chuyển lên phế, phế tiếpthu thuỷ dịch xuống thận, thận chưng hoá khai hợp vận chuyển phần thanh lênphế, phần trọc ra ngoài thành nước tiểu Trong ba tạng tỳ đó tỳ thận dương giữvai trò quan trọng Sự tuần hoàn của tân dịch và sự bài tiết thuỷ dịch thường làmấu chốt quan trọng để duy trì thuỷ dịch trong cơ thể [5], [6], [7], [61]

Sự mất thăng bằng và hư tổn chức năng tạng phủ vì lý do nào đó (nộinhân, ngoại nhân, bất nội, bất ngoại nhân) làm tân dịch không phân bố và vậnhành được ngưng tụ thành thấp, thấp hoá thành đàm, đàm thấp đều do tân dịchthuỷ cốc tạo thành Lãn Ông viết “Đàm tức là khí huyết” Cảnh Nhạc nói

“Không phải chỉ có đàm sinh ra bệnh mà bệnh còn sinh ra đàm [37],[49],[61].Theo Lý Đông Viên “Tỳ là nguồn gốc sinh ra đàm, phế là nơi chứa đàm,như vậy tỳ vị không vận hành mới sinh ra đàm” [61]

Vương Tiết Trai nói: “Tỳ thổ không đủ sức, khí hư bị yếu, không vậnchuyển được, ăn kém tiêu hoá chậm sinh ra đàm” [61]

Trang 22

Sách Thánh tế tổng lục nói: “Tam tiêu là đường giao thông của các chấtthuỷ cốc và là nơi để cho khí tới Tam tiêu điều hoà, khí huyết quân bình thì cóthể lưu thông được các chất thuỷ dịch, đưa vào trong đường kinh, hoá sinh huyếtmạch để nuôi dưỡng khắp cơ thể Khí tam tiêu không lưu thông, đường mạch bếtắc, nước đọng lại klhông lưu hành được rồi tụ lại thành đàm thấp” [52].

Đàm thấp do tỳ dương mất chức năng vận hoá, làm chuyển hoá tân dịch bịngưng trệ lại thành thấp, thấp thắng sinh ra đàm chứng thuộc tỳ là chứng quantrọng nhất trong vấn đề cơ chế sinh chứng đàm trệ Tỳ hư đàm trệ có thể do:

- Ăn uống nhiều chất béo ngọt tổn hại tỳ vị, vận hoá thuỷ thấp rối loạn, đàmthấp nội sinh

- Do tình chí: Lo, nghĩ, giận dữ, làm tổn thương can tỳ, can mộc khắc tỳ thổlàm tổn thương tỳ vị, làm tỳ giảm hoặc mất khả năng vận hoá thuỷ cốc, tân dịch

tụ lại thành thấp

- Người cao tuổi trên 60 tỳ khí hư nhược mất hoặc giảm chức năng vận hóathuỷ thấp hoặc thận dương hư không khai thông thuỷ thấp, làm thuỷ thấp đọnglại sinh đàm trệ

Đàm thấp sau khi hình thành theo khí đi các nơi, ở ngoài đến xương, trongđến tạng phủ, không đâu là không ảnh hưởng sự vận hành khí huyết, sự thănggiáng của khí gây ra các chứng bệnh ở các bộ phận của cơ thể, các chứng nộithương ngoại cảm đều có thể có khả năng làm thuỷ thấp ứ lại sinh ra đàm [5],[6], [7], [54]

Dựa vào tính chất ngũ khí kết hợp với đàm người ta chia đàm làm 5 loại:phong đàm, hàn đàm, nhiệt đàm, táo đàm, thấp đàm Đàm sinh ra bệnh biến hoárất phức tạp

1.3.1.2 Sự tương đồng giữa chứng đàm thấp và hội chứng RLLPM

Y học cổ truyền coi thấp đàm có liên quan đến sự lưu thông thuỷ dịch, sựmạnh yếu của các tạng, đặc biệt là tạng tỳ, tuổi càng cao (lão suy) đàn ông thậnkhí kém, đàn bà mạch nhâm xung yếu, thiên quý cạn, các tạng tỳ, phế, thận đềuyếu, vạn hóa thuỷ thấp đình trệ gây chứng đàm thấp ứ trệ [6],[52]

Trang 23

Y học hiện đại coi hội chứng RLLPM là một bệnh do rối loạn chuyển hoá,

đó là rối loạn chuyển hoá Lipid có liên quan đến tuổi, ăn uống hấp thụ, chuyểnhoá di truyền

Sau nhiều năm nghiên cứu các nhà nghiên cứu lâm sàng đều cho rằngchứng RLLPM và chứng đàm thấp có nhiều điểm tương đồng [16],[36],[50]

Trong nhiều năm qua, nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước, đặc biệt ởTrung Quốc đã đi sâu phân tích, tìm mối liên hệ giữa hội chứng RLLPM củaYHHĐ với các chứng trạng của YHCT

Căn cứ trên các biểu hiện lâm sàng, người ta thấy giữa hội chứng PLLPM

và chứng đàm thấp có một sự tương đồng khá sâu sắc về bệnh nguyên, bệnh sinh

+ Yếu tố ít vận động thể lực: sách Tố Vấn Thiên “Tuyên minh ngũ khíluận” viết “Cửu ngoạ thương khí, cử toạ thương nhục” (nằm nhiều hại khí, ngồinhiều hạ nhục), thương khí dẫn đến khi hư, thương nhục dẫn đến tỳ hư, tỳ khí hưsuy mà gây bệnh

+ Yếu tố tinh thần (thất tình) lo nghĩ hại tỳ, giận dữ hại can, can mộcvượng khắc tỳ thổ làm tỳ vị rối loạn, hư yếu, công năng vận hoá giảm, đàm trọc

Trang 24

ứ trệ kinh mạch mà sinh bệnh Đây chính là yếu tố căng thẳng tinh thần (stress) của YHHĐ [48].

- Bệnh sinh: theo cơ chế bệnh sinh của YHCT là do các yếu tố gây bệnhtrực tiếp hoặc gián tiếp làm cho công năng của tạng phủ bị rối loạn hoặc hư tổn,trong đó liên quan đến tỳ, thận, tâm, can mà đặc biệt là tỳ thận

+ Tỳ là nguồn sinh đàm, tỳ khí hư yếu thì không thực hiện được công năngvận hoá thuỷ cốc khiến thanh khó thăng lên, chất trọc khó giáng xuống, chất tinh

vi của thuỷ cốc không thể vận hoá, lưu chuyển bình thường, tụ lại hoá thànhđàm trọc gây bệnh Mặt khác, tỳ thổ suy yếu không chế được thuỷ thấp ngưngđọng thành đàm

+ Thận là gốc của đàm, thận dương hư suy, hoả không làm ấm được thổ,thuỷ thấp và tân lịch không hoá khí được tràn lên thành đàm Thận âm khuy tổn,

hư hoả ở hạ tiêu chưng cốc hun nấu tân dịch cũng tạo thành đàm

+ Can cũng có thể sinh đàm, các chứng uất đàm, khí đàm, kinh đàm, phong đàm mà cổ nhân đã nói không loại nào không có quan hệ tới can

+ Phế khí hư suy mất khả năng túc giáng thông điều thuỷ đạo, thuỷ dịchngưng lại thành đàm hoặc phế âm bất túc, âm hư hoả vượng, hư hoả hun nấu tân dịch cũng tạo thành đàm [48]

Như vậy ngũ tạng hư tổn đều có thể sinh đàm, đàm khi sinh ra đi theo khí

và phân bố rất rộng rãi gây ra các chứng đầu thống, huyễn vựng tâm quý vớicác biểu hiện lâm sàng tương tự như bệnh cảnh RLLPM của YHHĐ [50]

Trang 25

+ Trị đàm phải chú ý nguyên tắc “Trị đàm tiên trị khí, khí thuận đàm tựtiêu” (Hải Thượng Lãn Ông- Y trung quan kiện) và trong trị đàm “ Nhất thiếtkhông nên vét sạch đàm đi” “Vì đàm vốn có sẵn từ lúc sơ sinh và cũng là mọtvật để nuôi sống nữa” (Hải Thượng Lãn Ông) có nghĩa chỉ loại bỏ phần đàm dưthừa mà thôi.

- Quan điểm của các Y gia trong YHCT:

+ Trương Cảnh Nhạc: “Đàm vốn không sinh ra bệnh mà bệnh sinh ra đàm” và

“Nếu chỉ biết chữa đàm mà không biết đàm từ đâu ra thì kết quả đàm càng nhiều”,

“Trăm bệnh đều do đàm sinh ra cho nên chữa bệnh thì quá nửa là chữa đàm”

+ Hải Thượng Lãn Ông: “Chữa đàm phải điều hoà khí trước và khí thuậnthì đàm tự tiêu” trong chữa bệnh không nên vét sạch đàm đi, chữa đàm không cóphép bổ, không có phép công mà chỉ là vỗ về khéo léo mà thôi, lấy gốc làmngọn, lấy bổ làm công, không chữa đàm mà đàm tự hết [49]

+ Tuệ Tĩnh: “Phép chữa đàm phải theo từ gốc vì đàm do nhiều nguyên nhânsinh ra” Vậy theo quan điểm điều trị của người xưa là chữa bệnh phải điều trịtận gốc, dựa vào nguyên nhân và chơ chế bệnh sinh gây đàm chứ không phảichữa đàm là chỉ có trừ đàm [58]

Trang 26

- Tuỳ theo nguyên nhân người ta chia ra làm 5 loại: thấp đàm, táo đàm,nhiệt đàm, phong đàm, hàn đàm Tuỳ theo từng loại đàm mà có pháp điều trị khác nhau.

+ Thể đàm thấp thì pháp điều trị là táo thấp, hoá đàm

+ Thể táo đàm thì pháp điều trị là nhuận táo, hoá đàm

+ Thể nhiệt đàm thì pháp điều trị là thanh nhiệt, hoá đàm

+ Thể phong đàm thì pháp điều trị là trừ phong, hoá đàm

+ Thể hàn đàm thì pháp điều trị là trừ hàn, hoá đàm hay ôn hoá đàm thấp.Xưa có bàn rằng: “Thấy có đàm hày đừng trị đàm” nghĩa là phải tìm

nguyên nhân sinh đàm để chữa

Ví dụ: Nếu tỳ vị sinh đàm phải kiện tỳ trừ thấp hoá đàm

Nếu thận hư sinh đàm phải ôn bổ thận để hoá đàm

Nếu do phế sinh đàm thì phải tuyên phế hoá đàm

Đàm do nhiệt sinh ra phải dùng thuốc thanh nhiệt hoá đàm

- Theo những tài liệu gần đây nhất của YHCT Trung Quốc (2002) đã chia chứng RLLPM làm 4 thể

+ Thể tỳ hư đàm thấp:

Triệu trứng: Người béo, dễ mệt mỏi, cơ thể nặng nề, ngực sườn đầy tức, ănhay đầy chướng, nước tiểu ít, đại tiện nát, chất lưỡi nhạt, rêu trắng bẩn, mạchhoạt

Pháp: kiện tỳ, lợi thấp

+ Thể vị nhiệt tỳ hư:

Triệu trứng: Huyễn vựng, nặng đầu, thích ăn, ăn không tiêu, bụng chướng,phân lúc đầu rắn sau nát, lưỡi hồng, rêu vàng bẩn hoặc trắng bẩn, mạch tế hoạthoặc đới sắc

Pháp: Kiện tỳ, hoà vị, thanh nhiệt lợi thấp

+ Thể khí hư ứ trệ:

Triệu chứng: hay phiền não, cáu gắt, ngực sườn tức, không muốn ăn, nữ kinh nguyệt không đều hoặc bế kinh, lưỡi ứ huyết, mạch huyền tế sác

Trang 27

Pháp: sơ can lý khí, hoạt huyết, hoá ứ

+ Thể tỳ thận lưỡng hư:

Triệu chứng: Người mệt, đau mỏi vùng thắt lưng, bụng chướng, khôngmuốn ăn, có thể kèm liệt dương lãnh cảm, chất lưỡi nhạt, rêu trắng mỏng, mạchtrầm tế vô lực

Pháp: ích khí, kiện tỳ, ôn dương, bổ thận

Dựa trên những cơ sở lý luận trên đề điều trị đàm thấp thể tỳ hư phải dùngbài thuốc có tác dụng kiện tỳ, lý khí, lợi thấp mới giải quyết được cả bàn và tiêu

1.3.3 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng thuốc YHCT điều trị hội chứng RLLPM

1.3.3.1 Tại Việt Nam

Trên thực nghiệm: Nguyễn Khang và cộng sự [27]

Trên lâm sàng: Phạm Tử Dương [12]

Dùng cao nghệ và viên nén với lượng tương đương 10g nghệ tươi/ ngày trong 1 tháng thấy giảm 11,7% CT máu và 7,7% lipid toàn phần [27]

+ Nghiên cứu về dầu đậu tương, dầu mầm hạt ngô là dầu chứa nhiều axid béo không bão hoà làm giảm CT máu đối với 75% số bệnh nhân [12]

Trang 28

+ Võ Hiền Hạnh, Lương Thuý Quỳnh nghiên cứu viên tỏi (Allisa) thấy cótác dụng làm giảm CT toàn phần trên 75% số bệnh nhân, mức độ hạ từ 30-50mg

% [18]

+Nguyễn Trung Chính và cộng sự đã dùng viên Diosgin từ cây mía nghệ trên bệnh nhân thấy giảm 16% CT, 11,6% TG, 22% LDL và tăng 28.57% HDL - C [8]

* Nghiên cứu bài thuốc:

+ Trần Thị Hiền (1996) tiến hành nghiên cứu tác dụng hạ CT của bài thuốc

“Nhị trần thang” cho thấy bài thuốc làm giảm 13% CT, 37% TG, làm tăng 20%HDL - C và làm giảm 19% LDL - C [21]

+ Đoàn Quốc Dũng (2001) nghiên cứu tác dụng điều chỉnh hội chứngRLLPM bài thuốc “Nhị trần gia giảm”, kết quả cho thấy có tác dụng làm giảm18% CT, 32,21 % TG, tăng 18,97% HDL - C và giảm 16,5 LDL-C [11]

+ Bùi Thị Mẫn (2004) tiến hành nghiên cứu tác dụng điều trị hội chứngRLLPM của viên BCK sản xuất dựa trên cơ sở bài thuốc “Sơn tra nhị trần” cótác dụng làm giảm 18,34% CT,18,3% LDL-C, tăng 18,6% HKL-C [42]

+ Vũ Việt Hằng (2005) tiến hành nghiên cứu tác dụng điều trị hội chứngRLLPM của cốm GCL, dựa trên cơ sở bài thuốc “Giáng chỉ thang gia vị linhchi”, kết quả giảm 16,19% CT, 26,65% TG, 10,49% LDL-C, tăng 7,14%, HDL-

C [19]

+ Tăng Thị Bích Thuỷ (2007), tiến hành nghiên cứu tác dụng điều trị nộichứng RLLPM nguyên phát thể tỳ hư đàm thấp của viện HCT1, dựa trên cơ sởbài thuốc “Hương sa lục quân tử hoàn”, kết quả: giảm 17,20% CT, giảm 30,00%

TG, giảm 21,50% LDL-C, tăng 10,00% HDL-C [51]

+ Phạm Thị Bạch Yến (2009), tiến hành nghiên cứu hiệu quả điều trị hộichứng rối loạn lipid máu của nấm hồng chi Đà Lạt, kết quả giảm 22,09% CT,giảm 40,28% TG, giảm 24,17% LDL-C, tăng 17,52% HDL-C [63]

1.3.3.2 Tại Trung Quốc

* Một số bài thuốc có tác dụng hạ lipid được nghiên cứu tại Trung Quốc [36],[37],[67]

Trang 29

+ Bạch kim giản chỉ phương (Trần Vũ, Sở Nghiên cứu Khoa học khu NghiXuân, Tỉnh Giang Tây)

Công thức: Uất kim lạng, bạch phàn 3 lạng, ngày 3 lần, mỗi lần 3g

Kết quả: 334 BN CT giảm trung bình 85,8 mg%, TG 70,6 mg%,  -

Lipoprotein giảm trung bình 175,69%

+ Giáng chỉ linh phương (Trường Vệ Sinh, khu Thường Đức, Tỉnh HồNam) Công thức: hà thủ ô, trạch tả, hoàng tinh, kim anh tử, sơn tra đều 3g, thảoquyết minh 6g, mộc hương 1g, nấu cao chế viên, ngày uống 3 lần, mỗi lần 8viên x 3 thang

Kết quả: 200 bệnh nhân trong đó CT máu cao là 145 bệnh nhân, giảm tốttrên 98 bệnh nhân (67,6%), có kết quả ở 25 bệnh nhân (17,2%), CT giảm trungbình có kết quả ở 16 bệnh nhân (29%), TG giảm trung bình là 150,15mg%.[61]+ Đơn điền gián chỉ hoàn (Hoàng Chấn Đông, Sỏ nghiên cứu bệnh tim mạch, tỉnh Quảng Đông):[61]

Công thức: đan sâm 5-10g, tam thất 0,3-1,5g, xuyên khung 6-9g, trạch tả 12g, nhân sâm 5-10g, đương quy 9-12g, hà thủ ô đỏ 10-15g, hoàng tinh 10-15g,tán bột mịn làm hoàn mỗi ngày 4g chia 2 lần sáng tối x 45 ngày

9-Kết quả: 251 người bệnh trong đó CT máu cao là 115 bệnh nhân sau điềutrị kết quả tốt 38 bệnh nhân (8%), kết quả khá 45 bệnh nhân (39,15), CT máugiảm trung bình 52,8mg5, TG máu có 136 bệnh nhân kết quả tốt 97 bệnh nhân(71, 3%) có kết quả 14 bệnh nhân (10,35) TG giảm trung bình 147,2mg%

+ Giáng chỉ phương (Mã Phong, bệnh viện Giải phóng quân Trung Quốc371) [61]

Công thức bài thuốc: Sơn tra, thảo quyết minh, đan sâm chế thành viên cóhàm lượng cao thuốc 0,25g, tương đương 2,9g thuốc sống, mỗi lần uống 2-4viên, ngày uống 3 lần, mỗi liệu trình là một tháng

Kết quả: điều trị ở 64 bệnh nhân có tăng CT máu cao giảm trung bình88,3% TG máu cao có 43 bệnh nhân sau khi giảm trung bình 68,1%

Trang 30

+ Sơn đơn phương (Trương Thanh Bảo, bệnh viện nhân dân số 1, Tỉnh Cát Lâm)

Công thức bài thuốc: sơn tra 50g, mạch nha 40g, đan sâm 30g, huyền bồ, cúc hoa, hồng hoa đều 15g sắc uống

+ Kết quả: điều trị 51 bệnh nhân, kết quả tốt cho 20 bệnh nhân (39,25); cókết quả 18 bệnh nhân (35,3%)

* Nghiên cứu vị thuốc làm hạ lipid máu trên thực nghiệm cho thấy:

1.4 Bài thuốc “Bán hạ bạch truật thiên ma thang”

Là một bài thuốc cổ phương của YHCT có xuất xứ từ sách ”Y học tâm ngộ”của Trình Trung Linh (Trung Quốc) được viết vào năm 1732 đời vua Ung Chínhthứ 10 Bài thuốc này được ứng dụng điều trị cho bệnh nhân có chứng đàm thấp thểphong đàm, theo y học hiện đại người béo có cao huyết áp Bài thuốc này đã được

sử dụng nhiều năm ở Việt Nam có sự gia giảm của các vị thuốc

Trang 31

- Cách dùng và lượng dùng: Bài thuốc cổ phương được sắc bằng ấm đấtnhỏ lửa ngày sắc uống hai lần Hiện nay các bệnh viện Y học cổ truyền trongnước đều được trang bị các máy sắc thuốc bằng điện của Trung Quốc hoặc HànQuốc Thuốc được sắc và chiết xuất, cô đặc thuốc trên máy sắc thuốc Hàn Quốcđược đóng gói: 3 gói mỗi gói xấp xỉ 200ml thuốc nước, uống trong ngày3lần/ngày mỗi lần một gói sau bữa ăn.

1.4.2 Giải thích

Bán hạ để táo thấp phong đờm, giáng nghịch chỉ nôn thiên ma để hóa đờmtức phong chỉ chóng mặt Hai vị hợp với nhau trở thành cặp thuốc có tác dụngchính trong chữa đau đầu chóng mặt do phong đờm Lý Cảo viết: “Đau đầu dođàm tuyết ở kinh thái âm không dùng bán hạ chữa thì không xong, mắt tối sầmđầu quay do hư phong gây nên không dùng thiên ma thì không trị được” Bạchtruật để kiện tỳ táo thấp, cùng bán hạ, Thiên ma trừ thấp hóa đờm chỉ chóng mặt.Phục linh để kiện tỳ thảm thấp, cùng bạch truật chữa gốc của đờm Trần bì để lýkhí hóa đờm, cam thảo để điều hòa các vì thuốc, hòa trung [54]

Dùng để chữa chứng phong đờm, có ngoại phong và nội phong Ngoạiphong do cảm phải phong tà, phế khí không tuyên giáng sinh ra đờm trọc vớicác biểu hiện nóng sợ gió, ho khạc nhiều đờm Phải sơ phong hoá đờm

Phương thuốc đại biểu là Chỉ thấu tán Nội phong hiệp đờm, do vốn cóđờm trọc, can phong nội động hiệp đờm nghịch lên nhiễu phế với các biểu hiệnchóng mặt đau đầu hoặc kinh giản, nặng thì hôn mê quyết nghịch, bất tỉnh nhân

sự Phải tức hoá phong đờm Phương thuốc đại biểu là Bán hạ bạch truật thiên

ma thang [4]

Theo YHHĐ Bạch truật có tác dụng chống suy giảm chức năng gan Bán

hạ có tác dụng giải độc (antidotal) đối với nhiễm độc strychnine và acetylcholin.Thiêm ma làm tăng cường lưu lượng máu ở tim và não, làm giảm lực cản củamạch máu, làm gĩan mạch ngoại vi, có tác dụng hạ áp, làm chậm nhịp tim, nângcao sức chịu đựng thiếu oxy Polysaccharide của Thiên ma có hoạt tính miễn

Trang 32

dịch Phục linh có tác dụng lợi thủy thảm thấp, kiện tỳ, an thần Cam thảo có tácdụng làm hạ mỡ rõ rệt, nhưng không có tác dụng phòng xơ mỡ động mạch.

Như vậy tác dụng dược lý của bài thuốc là giảm hấp thu và tăng thể trừcác chất độc trong cơ thể trong đó có thể làm giảm lipid máu

1.4.3 Một số tác dụng và đặc điểm của các thành phần trong bài thuốc

Bạch truật

- Mô tả: Cây cỏ, cao 40 - 60cm, sống nhiều năm Rễ thành củ nạc Lá mọc

so le, mép khía răng; lá ở gốc có cuống dài, xẻ 3 thùy; lá gần cụm hoa, cuốngngắn, không chia thùy Cụm hoa hình đầu, ở ngọn; hoa nhỏ màu tím Quả bế cótúm lông

- Phân bố: Cây nhập nội, trồng được ở cả miền núi và đồng bằng

- Bộ phận dùng: Thân rễ Thu hoạch vào tháng 11, khi lá ở gốc đã khôvàng, rửa sạch, cắt bỏ rễ con, phơi hay sấy khô

- Thành phần hóa học: Thân rễ chứa tinh dầu 1,5%, atractylol, atractylon, glucosid, inulin, vitamin A và muối kali atractylat

Trang 33

Bạch truật có tác dụng hạ đường huyết Glucozid Kali Artactylat chiết từBạch truật có tác dụng chọn lọc trên đường huyết Chất Atractylon trong Bạchtruật có tác dụng chống suy giảm chức năng gan.

Bán hạ

- Mô tả: Bán hạ là loại thân củ Củ hình tròn cầu hoặc tròn dẹt Lá có cuốngdài, về mùa xuân cây mọc 1-2 lá, lá đơn chia làm 3 thùy Cây 2-3 tuổi mới cóhoa, hoa hình bông nở vào đầu mùa hạ, hoa có bao lớn, bao màu xanh, trong bao

có hoa tự, hoa cái mọc ở phía dưới, màu xanh nhạt, hoa đực mọc ở bên trên,màu trắng, đoạn trên cong hoa đài nhỏ Quả mọng hình bầu dục, dạng trứng

- Phân bổ: Có nhiều ở Trung Quốc, mọc hoang và trồng sản xuất Nhân dânTrung Quốc có tập quán cho Bán hạ sản xuất ở các tỉnh Hồ Bắc, Hồ Nam, AnHuy, Sơn Đông có phẩm chất tốt nhất Ở các tỉnh như Giang Tô, Triết Giang, TứXuyên, Vân Nam, Quý Châu, Giang Tây, Quảng Tây cũng có sản xuất vị này.Việt Nam còn phải nhập của Trung Quốc

- Thành phần hóa học:

+ Coniine, Protoanemonin, Homogentisic acid, Nicotine, Aspartic acid,Glutamic acid, Arginine, b-Sitosterol, Ephedrine, Choline, b-Sitosterol,Daucosterol

- Một số tác dụng:

Theo Y học cổ truyền: Bán hạ có tác dụng: táo thấp hóa đàm, giáng nghịchcầm nôn (chỉ ẩu), tiêu bỉ tán kết Chủ trị các chứng: thấp đàm, hàn đàm thượng

Trang 34

xung gây động phong, đàm trọc hung tý, hàn ẩm ẩu thổ, vị hư ẩu thổ, vị nhiệt ẩuthổ, nhâm thần ẩu thổ (nôn thai nghén), chứng kết hung, mai bạch khí (chứngđau đầu tức ngực, chứng như vướng ở họng lúc nuốt), chứng anh lựu đàm hạch,ung thư thũng độc.

Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:

Bán hạ chế thành hoàn và nước sắc Bán hạ có tác dụng cầm nôn Cao lỏngBán hạ, bột Bán hạ (đã được chế với nhiệt độ cao) cũng có tác dụng cầm nôn.Nhưng Bán hạ sống ngược lại có tác dụng gây nôn

Bán hạ có tác dụng giải độc (antidotal) đối với nhiễm độc strychnine vàacetylcholin

- Một số tác dụng:

Theo Y học cổ truyền: Thuốc có tác dụng tức phong chỉ kinh, bình can tiềmdương Chủ trị các chứng: kinh phong co giật, phá thương phong (uốn ván), candương thượng kháng đau đầu chóng mặt

Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại: Thiên ma có tác dụng an thần chống

co giật Thuốc có tác dụng làm giảm đau, tác dụng giảm đau của loại mọc hoangmạnh hơn loại trồng Thuốc chích Thiên ma và loại do nhân tạo cũng có tácdụng giảm đau Thuốc còn có tác dụng kháng viêm Thiên ma làm tăng cườnglưu lượng máu ở tim và não, làm giảm lực cản của mạch máu, làm giãn mạchngoại vi, có tác dụng hạ áp, làm chậm nhịp tim, nâng cao sức chịu đựng thiếuoxy Polysaccharide của Thiên ma có khả năng tăng cường miễn dịch

Trang 35

Phục linh

Phục linh - Poria cocos (Schw.) Wolf., thuộc họ Nấm lỗ - Polyporaceae

- Mô tả: Nấm mọc hoại sinh trên rễ cây thông Quả thể hình khối to, có thểnặng tới 5kg nhỏ cũng có thể bằng nắm tay, mặt ngoài màu xám đen, nhăn nheo

có khi hình bướu, cắt ngang sẽ thấy mặt lổn nhổn màu trắng hoặc hồng xám cókhi có rễ thông ở giữa nấm

- Bộ phận dùng: Quả thể nấm - Poria, thường gọi là Phục linh thường người

ta phân biệt loại màu trắng gọi là Bạch linh, loại hồng xám gọi là Phục linh, loại

có rễ thông đâm xuyên giữa gọi là Phục thần

- Phân bổ: Cây mọc trong rừng có thông, nằm sâu dưới một lớp đất mặt 30cm Thường phát triển ở vùng núi hướng về phía mặt trời, khí hậu ấm áp,thoáng, độ cao trung bình, không bị gió bấc thổi, chất đất cát mịn tơi xốp Ðãtìm thấy ở Hà Giang, Thanh Hoá, Lâm Ðồng, Gia Lai Ðang nghiên cứu trồng ởSapa, Tam Ðảo Thu hoạch nấm vào tháng 10-11 sau tiết lập thu Khi đào lên,người ta ngâm nước một ngày, rửa sạch, gọt bỏ vỏ, đồ lên, thái mỏng 2-3mm,phơi hay sấy khô Khi dùng thì sắc với thuốc thang

20 Thành phần hóa học: Trong quả thể Phục linh có acid pachymic, acid tumulosic, acid eburicoic, acid pinicolic, pachyman

Trang 36

- Một số tác dụng:

Theo Y học cổ truyền thuốc có tác dụng lợi thủy thảm thấp, kiện tỳ, anthần Chủ trị các chứng tiểu khó ít, phù, chứng đàm ẩm, tỳ khí hư nhược, hồihộp, mất ngủ Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại thuốc có tác dụng kháng ungthư (do thành phần polysacharide của thuốc) do làm tăng miễn dịch cơ thể.Thuốc có tác dụng an thần, có tác dụng hạ đường huyết, bảo vệ gan và chốngloét bao tử Nước sắc Phục linh có tác dụng ức chế đối với tụ cầu vàng, trựckhuẩn đại tràng, trực khuẩn biến dạng Cồn ngâm kiệt thuốc có tác dụng giếtchết xoắn khuẩn

Cam thảo:

- Mô tả: Cam thảo lâu năm cao từ 0,5-1m, nhẵn, mọc đứng khỏe, có gốchóa mộc, có thân bò kéo dài, lá kép lông chim gồm 4-8 đôi lá chét hình bầu dụchoặc thuôn, nguyên hơi dính ở mặt dưới, lá kèm rất nhỏ Hoa màu xanh lơ hoặctím, hơi nhỏ, nhiều, thành chùm dạng bông hình trụ, trên những cuống ở náchchỉ bằng nửa của lá Đài có lông tuyến, hình ống, gù lên ở gốc, có hai môi chia 5răng hơi không đều, hình mũi mác dài hơn ống, cánh cờ dựng lên, thuôn, dàihơn các cánh bên Nhị hai bó (9+1) Bầu không cuống, 2 đến nhiều noãn, đầunhụy nghiêng Quả cong rất dẹt, mặt quả có nhiều lông Hạt 2-4, hình lăng kính

- Bộ phận dùng: Rễ hoặc thân rễ phơi hay sấy khô (Radix Glycyrrhizae)

- Thành phần hóa học:

Trong Cam Thảo có Glycyrrhetinic acid Glycyrrhizin, Uralenic

acid, Liquiritigenin, Isoliquitigrenin, Liquiritin, Neoliquiritin,

Neoisoliquiritin, Licurazid, Glycyrrhizin

- Một số tác dụng:

Tác dụng giải độc: Thuốc có tác dụng giải độc đối với rất nhiều loại thuốc

và độc tố, như Chloralhydrat, Physostigmin, Acetylcholin, Pilocarpin.[2] ChấtGlyxyridin có tác dụng chống các hóa chất gây ung thư gan, có tác dụng bảo vệgan chống các loại thuốc hại gan như Carbon tetra chloride Chất Glyxyridin

Ngày đăng: 21/07/2023, 22:16

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Cấu trúc của lipoprotein [63] - Đánh giá kết quả sử dụng bài thuốc bán hạ bạch thuận trên ma thang trong điều trị bệnh nhân rối loạn lipid máu tại bệnh viện y học cổ truyền thái nguyên
Hình 1.1 Cấu trúc của lipoprotein [63] (Trang 4)
Bảng 1.1 Đặc điểm của các lipoprotein chính trong huyết tương - Đánh giá kết quả sử dụng bài thuốc bán hạ bạch thuận trên ma thang trong điều trị bệnh nhân rối loạn lipid máu tại bệnh viện y học cổ truyền thái nguyên
Bảng 1.1 Đặc điểm của các lipoprotein chính trong huyết tương (Trang 6)
Hình 1.2: Các con đường chuyển hoá lipoprotein [12] - Đánh giá kết quả sử dụng bài thuốc bán hạ bạch thuận trên ma thang trong điều trị bệnh nhân rối loạn lipid máu tại bệnh viện y học cổ truyền thái nguyên
Hình 1.2 Các con đường chuyển hoá lipoprotein [12] (Trang 7)
Bảng 1.2 Rối loạn lipid máu thứ phát Bệnh lý Rối loạn lipid huyết Rối loạn lipoprotein huyết - Đánh giá kết quả sử dụng bài thuốc bán hạ bạch thuận trên ma thang trong điều trị bệnh nhân rối loạn lipid máu tại bệnh viện y học cổ truyền thái nguyên
Bảng 1.2 Rối loạn lipid máu thứ phát Bệnh lý Rối loạn lipid huyết Rối loạn lipoprotein huyết (Trang 8)
Bảng 1.3 Phân loại rối loạn lipid và lipoprotein máu theo Fredrickson - Đánh giá kết quả sử dụng bài thuốc bán hạ bạch thuận trên ma thang trong điều trị bệnh nhân rối loạn lipid máu tại bệnh viện y học cổ truyền thái nguyên
Bảng 1.3 Phân loại rối loạn lipid và lipoprotein máu theo Fredrickson (Trang 9)
Bảng 1.4 Tăng lipid máu tiên phát - Đánh giá kết quả sử dụng bài thuốc bán hạ bạch thuận trên ma thang trong điều trị bệnh nhân rối loạn lipid máu tại bệnh viện y học cổ truyền thái nguyên
Bảng 1.4 Tăng lipid máu tiên phát (Trang 11)
Bảng 1.5 Phân loại nồng độ cholesterol máu - Đánh giá kết quả sử dụng bài thuốc bán hạ bạch thuận trên ma thang trong điều trị bệnh nhân rối loạn lipid máu tại bệnh viện y học cổ truyền thái nguyên
Bảng 1.5 Phân loại nồng độ cholesterol máu (Trang 15)
Bảng 1.6 Khuyến cáo ATP III-NCEP Hoa Kỳ năm 2004 (sửa đổi) về mức - Đánh giá kết quả sử dụng bài thuốc bán hạ bạch thuận trên ma thang trong điều trị bệnh nhân rối loạn lipid máu tại bệnh viện y học cổ truyền thái nguyên
Bảng 1.6 Khuyến cáo ATP III-NCEP Hoa Kỳ năm 2004 (sửa đổi) về mức (Trang 16)
Bảng 1.7 Khuyến cáo điều trị RLLPM theo mức độ LDL-C - Đánh giá kết quả sử dụng bài thuốc bán hạ bạch thuận trên ma thang trong điều trị bệnh nhân rối loạn lipid máu tại bệnh viện y học cổ truyền thái nguyên
Bảng 1.7 Khuyến cáo điều trị RLLPM theo mức độ LDL-C (Trang 17)
Sơ đồ 1.1: Phân loại thuốc điều trị rối loạn lipid máu - Đánh giá kết quả sử dụng bài thuốc bán hạ bạch thuận trên ma thang trong điều trị bệnh nhân rối loạn lipid máu tại bệnh viện y học cổ truyền thái nguyên
Sơ đồ 1.1 Phân loại thuốc điều trị rối loạn lipid máu (Trang 20)
Bảng 2.1 Thang điểm đánh giá sự thay đổi triệu chứng YHCT - Đánh giá kết quả sử dụng bài thuốc bán hạ bạch thuận trên ma thang trong điều trị bệnh nhân rối loạn lipid máu tại bệnh viện y học cổ truyền thái nguyên
Bảng 2.1 Thang điểm đánh giá sự thay đổi triệu chứng YHCT (Trang 46)
Sơ đồ 2.4: Quá trình nghiên cứu lâm sàng 2.4 Xử lý số liệu nghiên cứu - Đánh giá kết quả sử dụng bài thuốc bán hạ bạch thuận trên ma thang trong điều trị bệnh nhân rối loạn lipid máu tại bệnh viện y học cổ truyền thái nguyên
Sơ đồ 2.4 Quá trình nghiên cứu lâm sàng 2.4 Xử lý số liệu nghiên cứu (Trang 49)
Bảng 3.1 Phân bố của đối tƣợng nghiên cứu theo tuổi, giới - Đánh giá kết quả sử dụng bài thuốc bán hạ bạch thuận trên ma thang trong điều trị bệnh nhân rối loạn lipid máu tại bệnh viện y học cổ truyền thái nguyên
Bảng 3.1 Phân bố của đối tƣợng nghiên cứu theo tuổi, giới (Trang 50)
Bảng 3.2 Nghề nghiệp của đối tƣợng nghiên cứu - Đánh giá kết quả sử dụng bài thuốc bán hạ bạch thuận trên ma thang trong điều trị bệnh nhân rối loạn lipid máu tại bệnh viện y học cổ truyền thái nguyên
Bảng 3.2 Nghề nghiệp của đối tƣợng nghiên cứu (Trang 50)
Bảng 3.4 Một số thói quen sinh hoạt của đối tƣợng nghiên cứu - Đánh giá kết quả sử dụng bài thuốc bán hạ bạch thuận trên ma thang trong điều trị bệnh nhân rối loạn lipid máu tại bệnh viện y học cổ truyền thái nguyên
Bảng 3.4 Một số thói quen sinh hoạt của đối tƣợng nghiên cứu (Trang 51)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w