Vì vậy để thực hiện tốt công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình, chiến lược dân số vàsức khỏe sinh sản, chương trình mục tiêu quốc gia dân số và KHHGĐ, cần cónghiên cứu đánh gía kết quả
Trang 1BỘYTẾTRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC THÁI NGUYÊN
BÙI VĂN HỘI
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC DÂN SỐ - KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH TỈNH HÀ GIANG GIAI ĐOẠN 2008-2012 VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP CAN THIỆP ĐẾN NĂM 2015
LUẬN ÁN BÁC SỸ CHUYÊN KHOA CẤP II
Chuyên ngành: Y tế công cộng
Mã số: 62 72 76 01
Hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Quỳnh Hoa
THÁI NGUYÊN - 2013
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình của nước ta trong những nămqua đã đạt được những kết quả nhất định, tỷ lệ tăng dân số bình quân hàngnăm là 1.2% [4] Tuy nhiên, vẫn còn những tồn tại và hạn chế nhất định, quy
mô dân số tiếp tục tăng, mức sinh giảm chậm, chưa bền vững, còn tiềm ẩnnguy cơ tăng dân số trở lại, khu vực nông thôn chưa đạt mức sinh thay thế vàmức giảm sinh rất chậm Về cơ cấu dân số, có sự mất cân bằng tỷ số giới tínhkhi sinh đã và đang ở mức báo động Chất lượng dân số được cải thiện, tuổithọ bình quân tương đối cao, tuy nhiên chất lượng tuổi thọ còn thấp Tỷ lệ laođộng qua đào tạo còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lựcchất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa của đấtnước [5]
Hà Giang là một tỉnh miền núi vùng cao, biên giới, trình độ dân trí cònthấp không đồng đều giữa các vùng, kinh tế còn gặp nhiều khó khăn tỷ lệ hộnghèo còn cao, giao thông đi lại khó khăn, diện tích toàn tỉnh là 7.914.9
quy mô dân số không lớn, theo tổng điều tra dân số ngày 01 tháng 4 năm
2009 là 724.537 người cụ thể: dân tộc Mông (chiếm 32,0 % tổng dân số toàntỉnh), Tày (23,3 %), Dao (15,1 %), Việt (13,3 %), Nùng (9,9 %)…[5] Trongnhững năm qua nền kinh tế đã có nhiều khởi sắc, đã có sự tăng trưởng đáng
kể, tuy vậy đời sống của người dân vẫn còn gặp nhiều khó khăn, thu nhậpbình quân đầu người còn thấp, Tỷ lệ hộ nghèo còn cao 31,52% [8] Công tác
DS – KHHGĐ tuy có đạt được những thành tích đáng kể về mục tiêu giảmsinh, nhưng thiếu bền vững, còn tiềm ẩn nguy cơ tăng sinh trở lại Sức khỏe
bà mẹ, trẻ em tuy có cải thiện nhưng rất chậm, hàng năm vẫn còn tình trạng
Trang 3chết mẹ đáng tiếc xảy ra Chất lượng dân số ở Hà Giang còn chưa tốt, tỷ lệ trẻ
em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng còn cao 25% [5]
Kết quả thực hiện công tác DS – KHHGĐ của tỉnh Hà Giang trongnhững năm qua chưa cao, chưa bền vững, còn nhiều hạn chế, bất cập Vì vậy
để thực hiện tốt công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình, chiến lược dân số vàsức khỏe sinh sản, chương trình mục tiêu quốc gia dân số và KHHGĐ, cần cónghiên cứu đánh gía kết quả công tác Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, cũngnhư chỉ ra những khó khăn bất cập trong công tác Dân số - Kế hoạch hóa giađình tỉnh Hà Giang trong 5 năm qua (2008-2012) , từ đó đề xuất một số giải
pháp can thiệp Vì vậy chúng tôi đã chọn đề tài: “ Đánh giá thực trạng công
tác Dân số - Kế hoạch hóa gia đình tỉnh Hà Giang giai đoạn 2008 – 2012
và đề xuất một số giải pháp can thiệp đến năm 2015”
Mục tiêu của đề tài là:
1 Đánh giá kết quả công tác Dân số – Kề hoạch hóa gia đình tỉnh HàGiang trong giai đoạn 2008 – 2012
2 Mô tả một số khó khăn bất cập trong công tác dân số và kế hoạch hóagia đình của tỉnh Hà Giang hiện nay
3 Đề xuất một số giải pháp can thiệp nâng cao công tác Dân số - Kế hoạchhóa gia đình của tỉnh Hà Giang
Trang 4Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Thực trạng công tác DS – KHHGĐ giai đoạn 2008 - 2012.
1.1.1 Thực trạng công tác Dân số - Kế hoạch hóa gia đình
1.1.1.1 Thực trạng công tác Dân số - KHHGĐ của một số nước trên thế giới
và khu vực
*Công tác Dân số - KHHGĐ của Trung Quốc Trung Quốc xem dân số
lớn như là một tài sản quốc gia và đề ra kế hoạch đại nhảy vọt (1958 – 1960).Bởi vậy giai đoạn đầu có những luật lệ chống nạo phá thai và triệt sản Về sau
đã không kiểm soát được tốc độ gia tăng dân số, nên đã quyết liệt trong chínhsách hạn chế sinh đẻ, với khẩu hiệu vận động sinh đẻ có kế hoạch là “chậm,thưa và ít” Hiện nay với chính sách cứng rắn mỗi gia đình chỉ có một con (trừngười thiểu số, rất ít người) Kết quả tổng tỷ suất sinh từ 6,14 con (1949) còn3,5 con (1962), tiếp đến còn 2,24 vào năm 1979 Với 1,8 con năm 1994 đượctiếp tục duy trì đến năm 2010 Việc duy trì tổng tỷ suất sinh ở mức 1,8 controng vòng 15 năm của Trung Quốc là một bài học kinh nghiệm quý báu chothế giới, về sự thành công trong chính sách giảm sinh Tuy nhiên Trung Quốclại phải đối mặt với tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh trầm trọng, với
118 bé trai trên 100 bé gái vào những năm 1980 Mặc dù vậy đến năm 2010quy mô dân số Trung Quốc là 1,36 tỷ người, lớn nhất và chiếm 21% dân sốthế giới và nguy cơ già hóa dân số đang là vấn đề lớn của Chung Quốc hiệnnay [8], [37], [63]
*Công tác Dân số - KHHGĐ của Indonesia.Năm 1967, khi dân số thế
giới là 111 triệu người, Chính phủ Indonesia đã đề ra chính sách hạn chế sinh
Trang 5đẻ và giảm sự gia tăng dân số Kết quả tổng tỷ suất sinh từ 5,8 con 1970 đãgiảm xuống còn 2,8 con năm 1994 Mức sinh tiếp tục giảm xuống còn 2,4 cònnăm 2001 và đạt mức sinh thay thế 2,1 con năm 2009 Quy mô dân số từ 119triệu người năm 1970 tăng lên 230 triệu người năm 2009 và dự báo sẽ lên tới
288 triệu người vào năm 2050 Sau 39 năm thực hiện chương trình KHHGĐ(1970-2009), Indonesia đã đạt mức sinh thay thế là 2,1 con vào năm 2009 vàquy mô dân số đã tăng lên gấp đôi từ 119 triệu lên 230 triệu, đứng hàng thứ 4trên thế giới (sau Trung Quốc, Ấn Độ, Mỹ) Tỷ lệ gia tăng dân số hàng năm là1,2 % (2009) [8], [37], [63]
*Công tác Dân số - KHHGĐ của Singapore Tháng 1/1966, Singapore
chính thức triển khai chương trình KHHGĐ quốc gia “khá cứng rắn”, gắn liền
với lợi ích kinh tế và phúc lợi giành cho bà mẹ trẻ em Nhờ đó tỷ suất sinh thôgiảm từ 32% năm 1964 xuống còn 22,1 % năm 1970 và 17,6% năm 1980.Tổng tỷ suất sinh từ 6 còn năm 1957 giảm nhanh xuống còn 2,1 còn năm
1975 và 1,8 con vào năm 1980 (dưới mức sinh thay thế) Tuy nhiên, tổng tỷsuất sinh duy chỉ ở mức 1,8 còn chỉ trong vòng 1 thập kỷ sau đó tiếp tục giảmxuống 1,6 còn năm 2000 và xuống mức thấp báo động là 1,3 còn vào năm
2007 Chương trình khuyến khích sinh đối với phụ nữ có học vấn, được tiếnhành đồng thời với dự án triệt sản có thưởng tiền nhằm làm giảm mức sinh ởphụ nữ nghèo có trình độ học vấn thấp Tuy nhiên, chương trình khuyến khíchsinh cho các bà mẹ đã tốt nghiệp đại học và triệt sản đối với người có học vấnthấp không đạt được kết quả như mong muốn [8], [37], [63]
*Công tác Dân số - KHHGĐ của Thái Lan Tháng 3 năm 1970, Chính
phủ Thái Lan tuyên bố ủng hộ chương trình DS-KHHGĐ và đã ban hànhchính sách giảm sinh Trong 3 thập kỷ thực hiện thành công chương trìnhKHHGĐ, tỷ lệ gia tăng dân số giảm nhanh, từ 3,5 % năm 1961 giảm xuống
Trang 6còn 1,4% năm 1980, tổng tỷ suất sinh từ mức rất cao 6,6 còn giảm nhanhxuống 3,7 còn năm 1991 và giảm xuống mức sinh thay thế 2,1 còn năm 1992.Hiện nay tổng dân số của Thái Lan là 63,389 triệu người Tỷ lệ người trên 60tuổi chiếm 11,5 %, Dân số đô thị chiếm 36,1 % Tổng tỷ suất sinh của TháiLan là 1, 5 con, tuổi thọ bình quân khoảng 73 tuổi (tương đương với VN), tỷ
lệ chết 12,5 % [8], [37], [63]
*Công tác Dân số - KHHGĐ Hàn Quốc Từ năm 1960 Hàn Quốc thực
hiện chính sách hạn chế sinh đẻ, với tổng tỷ suất sinh ở mức sinh tiềm tàng là
6 con/phụ nữ (1960) Kể từ khi thực hiện chương trình KHHGĐ, mức sinhgiảm rất nhanh xuống 4,4 con năm 1971 xuống 1,58 con năm 1989 Hiện naychỉ có mức sinh 1,08 con ( 2005) mức sinh thấp nhất thế giới Hiện nay HànQuốc chuyển sang chính sách khuyến sinh, để ứng phó với mức sinh thấp,thấp hơn Thụy Điển, Pháp, Hoa Kỳ và bước sang thời kỳ già hóa dân số [8],[37], [63]
*Công tác Dân số - KHHGĐ của Ấn Độ Ấn Độ hiện đứng thứ 2 thế giới
(Sau Trung Quốc) về quy mô dân số, với hơn 1,2 tỷ người, trong đó nữ chiếm48,46% tổng dân số Quy mô dân số hiện tại của Ấn Độ tương đương với tổngdân số của các nước Mỹ, Indonesia, Brazil, Pakistan, Bangladesh và Nhật Bảncộng lại Ấn Độ đã xác định mục tiêu mỗi gia đình có 2 con và đạt mức sinhthay thế vào năm 2000 Tỷ lệ sinh giảm từ 41,7 % năm 1961 xuống 31,5%năm 1985, tỷ lệ chết giảm từ 22,8 % xuống 11,6% Tỷ lệ chết của trẻ sơ sinhdưới 1 tuổi vẫn còn cao, khoảng 10,5 % Tuổi thọ trung bình lúc sinh của nam
là 56,75, của phụ nữ là 56,65 (1985) Ấn Độ vẫn còn tư tưởng nặng nề vềtrọng nam khinh nữ, dẫn đến tỷ lệ chết của trẻ em nữ rất cao và tuổi thọ bìnhquân của nữ thấp Phụ nữ Ấn Độ lấy chồng sớm, tuổi kết hôn trung bình của
nữ giai đoạn 1951 đến 1961 là 15,5 tuổi, giai đoạn 1961 đến 1971 tăng lên
Trang 717,1 tuổi Tổng tỷ suất sinh đã giảm từ 5,8 con (1965) xuống 4,2 con năm
số Việt Nam còn lớn hơn cả tỷ lệ tăng dân số của các nước chậm phát triển(tốc độ tăng bình quân của các nước này thời kỳ 1985-1990 là 2,1%) Từ saunghị quyết Trung ương 4 tháng 1/1993, tỷ lệ tăng dân số của Việt Nam đãgiảm mạnh Năm 2004, tỷ lệ tăng dân số chỉ còn là 1,4%, và đến năm 2006, tỷ
lệ tăng dân số của Việt Nam chỉ còn là 1,26% Hiện nay, theo số liệu Tổng
Trang 8điều tra dân số 2009, tỷ lệ tăng dân số bình quân trong 10 năm qua 2009) của Việt Nam là 1, 2% [8].
(1999-* Chính sách DS-KHHGĐ và kết quả đạt được ở giai đoạn 1961-1975
Trong giai đoạn này, đất nước tạm bị chia cắt thành 2 miền Nam, Bắc, hòa bình được tái lập ở Miền Bắc và hiện tượng tăng bù dân số sau chiến tranh đã xuất hiện Chính sách DS-KHHGĐ trong giai đoạn này được thông qua cuộc vận động (hướng dẫn sinh đẻ) đó là “sinh đẻ có kế hoạch” và được triển khai
ở các tỉnh Miền Bắc với nội dung quan trọng của 3 quyết định và chỉ thị chủyếu được chính phủ ban hành Mục tiêu của cuộc vận động là hướng tới quy
mô gia đình 3 con đẻ thưa, đẻ muộn nhằm bảo vệ sức khỏe bà mẹ, nuôi dậycon cái được chu đáo bảo đảm hạnh phúc và sự hòa thuận của gia đình Kếtquả thực hiện mục tiêu trong giai đoạn này là: Tỷ lệ sinh ở các tỉnh Miền Bắc
đã giảm từ 43, 9% năm 1960 xuống còn 33,2% năm 1975, mức giảm sinhtrong 15 năm là 10,7 % bình quân mỗi năm giảm được 0,71% tổng tỷ suấtsinh giảm từ 6,4 con năm 1960 xuống còn 5,2 con năm 1975 Tỷ lệ chết giảmnhanh từ 11,7% năm 1960 xuống còn 7,5 % năm 1975 Số dân cả nước tăng
từ 30,17 triệu người năm 1960 lên 47,64 triệu người năm 1975 (tăng 1,58 lần)[8], [37], [63] Đối tượng vận động chủ yếu là phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đãđông con, những người đẻ quá dày sức khỏe kém, sinh hoạt gặp nhiều khókhăn và trước hết là đối với nữ công chức, viên chức nhà nước, nữ trong cáclực lượng vũ trang và nữ ở các vùng đồng bằng đông dân Phạm vi cuộc vậnđộng được triển khai ở các tỉnh Miền Bắc, tập trung chủ yếu ở vùng thành thịvùng nông thôn đồng bằng sông hồng đồng bằng khu bốn cũ và giới hạn vàochỉ tiêu số lượng người thực hiện các biện pháp tránh thai
* Chính sách Dân số - Kế hoạch hóa gia đình và kết quả đạt được giai
đoạn 1975 – 1991 Sau ngày thống nhất đất nước số dân cả nước đã xấp xỉ 48
Trang 9triệu người tăng gần gấp đôi số dân năm 1955 qua 20 năm đất nước bị chia cắt Chính sách DS-KHHGĐ trong giai đoạn này được triển khai trong phạm
vi cả nước với những nội dung chủ yếu được Chính phủ ban hành trong 5 vănbản quan trọng nhằm đẩy mạnh hơn nữa cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch Sau một thời gian tạm lắng, cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch lại được phát động sâu rộng và được triển khai rộng khắp trên toàn quốc, để chuẩn bị cho một sự phục hưng nền kinh tế thông qua đại hội lần thứ IV, lần V và lần thứ
VI của Đảng Công tác DS-KHHGĐ trong giai đoạn này được xác định là vị trí quốc sách trong sự nghiệp phát triển đất nước Mục tiêu cuộc vận động trong giai đoạn này là đẻ ít (2,3 con), đẻ muộn từ 22 tuổi trở lên và đẻ thưa (cách nhau từ 3 đến 5 năm), các mục tiêu cụ thể này đã được xác định tại đại hội IV (1976) Tuy nhiên, kết quả thực sự trong giai đoạn này không đạt, tỷ lệ sinh chỉ giảm từ 32,5% năm 1975 xuống còn 31% năm 1985 Tỷ lệ chết gần như không giảm là 7,5 % năm 1975 và 7,3% năm 1989 Số dân từ 47,64 triệu người vào năm 1975, tăng lên 67,24 triệu người năm 1991 tăng gấp 1,41 lần
so với số dân năm 1975 [8], [37], [63]
* Chính sách Dân số - Kế hoạch hóa gia đình và kết quả đạt được giai
đoạn 1991-2000 Năm 1991 là năm đánh dấu sự biến đổi xã hội của đất nước,
công cuộc đổi mới đã đi vào cuộc sống với nhiều chính sách kinh tế - xã hộiđược ban hành và phát huy tác dụng Năm có một tổ chức bộ máy chuyêntrách lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam về công tác DS-KHHGĐ Trong giaiđoạn này, chính sách DS-KHHGĐ đã được thể hiện trong 7 văn bản quantrọng của Chính phủ Tại Đại hội Đảng lần thứ VII xác định vị trí, vai trò và
yêu cầu đối với công tác DS-KHHGĐ là “Giảm tốc độ gia tăng dân số là 1
quốc sách, và trở thành cuộc vận động rộng lớn, mạnh mẽ và sâu sắc trong toàn dân” Cùng với những quan điểm, giải pháp là chính sách đầu tư và tổ
chức bộ máy cho hoạt động DS-KHHGĐ Với mục tiêu tổng quát của chính
Trang 10sách DS-KHHGD là “thực hiện gia đình ít con, khỏe mạnh, tạo điều kiện để
có cuộc sống ấm no, hạnh phúc“ và mục tiêu cụ thể là “ mỗi gia đình chỉ có 1
hoặc 2 con Kết quả thực hiện vượt rất xa so với mục tiêu đã đề ra Tổng tỷsuất sinh giảm nhanh từ 3,74 con từ 1992 xuống 2,28 con (2000), thấp hơn0,62 con so với mục tiêu đề ra là 2,9 con vào năm 2000 Tỷ lệ sinh giảm từ30,04% xuống 19,17%, bình quân mỗi năm giảm tới 1,35% Tỷ lệ chết giảm
từ 7,3% (1989) xuống còn 5.7% (1999) Quy mô dân số tăng từ 67,24 triệungười năm 1991 lên 77,64 triệu người năm 2000 thấp hơn 4,36 triệu người sovới mục tiêu đề ra là khoảng 82 triệu người năm 2000 [7], [36], [62] Trongnhững năm trước đây, vấn đề DS-KHHGĐ là vấn đề nóng bỏng ở nước ta.Bởi vậy Đảng và Nhà nước đã đặt ra vấn đề DS vào vị trí chiến lược Ngoàinhững chính sách tích cực tuyên truyền vận động, động viên nhân dân và các
dân tộc tham gia hưởng ứng phong trào KHHGĐ, với khẩu hiệu “mỗi gia
đình chỉ đẻ 1 đến 2 con ” Chúng ta có những giải pháp cương quyết nhằm
thúc đẩy thực hiện triệt để chủ trương chính sách do đó, chương trình KHHGĐ đã gặt hái được những thành công to lớn Có được những thành tựu
DS-đó chính là nhờ vào việc đầu tư đúng đắn và tập trung vào việc đào tạo cán
bộ, nghiên cứu lý luận và công tác thông tin, truyền thông đi đôi với dịch vụDS-KHHGĐ Từ đó có thể thấy rằng khả năng kiểm soát mức sinh của nước
ta đã đạt được những kết quả đáng khích lệ Tuy nhiên vẫn còn nhiều tiềm ẩnnhững nguy cơ, thách thức về tỷ lệ sinh và mất cân bằng giới tính khi sinh,chất lượng Dân số và các vấn đề khác về DS
* Chính sách Dân số - Kế hoạch hóa gia đình và kết quả đạt được giai
đoạn 2001-2010 Chính sách DS-KHHGĐ trong giai đoạn này thể hiện trong
18 văn bản quan trọng của trung ương Đảng và Chính phủ Cho đến nay, côngtác DS-KHHGĐ của nước ta đã đạt được những thành tựu đáng kể Xu thếgiảm sinh được duy trì và mục tiêu đạt mức sinh thay thế đã được thực hiện
Trang 11Mức sinh liên tục giảm trong 50 năm qua nhất là trong 10 năm gần đây Kếtquả tổng điều tra 01/4/2009 cho thấy sau 10 năm dân số nước ta tăng thêm9,47 triệu người, bình quân mỗi năm tăng 947 nghìn người Tỷ lệ tăng dân sốbình quân năm (gọi tắt là tỷ lệ tăng dân số) trong thời kỳ giữa 2 cuộc tổngđiều tra năm 1999 và 2009 là 1,2 % giảm mạnh so với thời kỳ 10 năm trước(1989-1999) mỗi năm tăng gần 1.200 nghìn người với tỷ lệ tăng là 1,7%/năm) Đó là thời kỳ có tỷ lệ tăng dân số thấp nhất trong thời kỳ qua [8], [37],[63] Về cơ cấu dân số: Kết quả giảm sinh còn làm thay đổi rõ rệt cơ cấu dân
số theo tuổi Việt Nam bước vào giai đoạn “cơ cấu dân số vàng” tạo lợi thế
về nguồn nhân lực, một điều kiện quan trọng để nền kinh tế tăng trưởngnhanh và bền vững Dân số trẻ (dưới 15 tuổi) giảm từ 33,1% tổng dân số năm
1999 xuống còn 24,5% năm 2009 Tỷ lệ dân số già (trên 65 tuổi) cũng tăng từ5,8% năm 1999 lên 6,4% năm 2009 Mục tiêu đạt mức sinh thay thế đã trởthành hiện thực (tổng tỷ suất sinh 2005 là 2,1 con vào năm 2009 là 2,03 con)[8], [37], [63] Chất lượng dân số được nâng lên, tuổi thọ bình quân năm 2009đạt 72,8 tuổi tăng 4,3 tuổi so với năm 1999 đặc biệt tuổi thọ trung bình củaphụ nữ tăng 5,5 tuổi Số năm đi học trung bình đã đạt 9,6 vào năm 2006 Chỉ
số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đã tăng từ 0,690 điểm năm 2000lên 0,725 điểm năm 2009 [8], [37], [63] Sức khỏe sinh sản được cải thiện, tỷsuất chết trẻ em dưới 1 tuổi giảm mạnh ở tất cả các vùng Bình quân cả nướcgiảm từ 36,7% (1999) xuống còn 18,9% ( 2009) Tỷ lệ các cặp vợ chồng sửdụng biện pháp tránh thai tăng 61% (2000) lên 68,8% (2009), một số biệnpháp tránh thai mới được thử nghiệm và đã được triển khai rộng trên toànquốc [8], [37], [63]
Thế giới đánh giá cao về Việt Nam sau gần 50 năm hoạt động, chươngtrình DS-KHHGĐ có lịch sử lâu đời trong khu vực Mặc dù trải qua rất nhiềubiến động xã hội, với nhiều tổ chức và cách quản lý khác nhau, chương trình
Trang 12dân số cũng được thế giới đánh giá là một chương trình thành công Tuynhiên, cùng với những thành tựu đã đạt được, trong công cuộc đổi mới đấtnước, chương trình DS-KHHGĐ của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay cũngcòn nhiều khó khăn, thách thức [8], [37], [63].
* Chính sách Dân số - Kế hoạch hóa gia đình hiện nay Quyết định số 248/QĐ-TCDS, ngày 29/7/2011 của Tổng cục DS/KHHGĐ về việc ban hành
Chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ dân số-KHHGĐ cho cán bộ, công chức,viên chức làm công tác DS-KHHGĐ Thông tư số 12/TT-BNV ngày04/8/2011 của Bộ Nội vụ về việc Ban hành chức danh, mã số các ngạch viênchức dân số Nghị định số 56/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 của Chính phủQuy định chế độ phụ cấp ưu đãi nghề đối với công chức, viên chức công táctại các cơ sở y tế công lập
Quy mô dân số Việt Nam Năm 1921 dân số nước ta mới chỉ đạt 15
triệu rưỡi Đến nay (tại thời điểm Tổng điều tra Dân số và Nhà ở 1 tháng 4năm 2009), dân số nước ta đã đạt 85,7 triệu người Trong vòng nửa cuối củathế kỷ thứ 20, từ 1945 đến 1999, dân số đã tăng từ 23 triệu lên 76,5 triệu (tănghơn 3 lần) [8]
.Cơ cấu dân số Việt Nam
Ở Việt Nam, cơ cấu dân số trẻ nên tỷ số phụ thuộc trẻ em lớn hơn tỷ sốphụ thuộc người già Tuy nhiên, tỷ số phụ thuộc trẻ em đang giảm dần vì mứcsinh của Việt Nam đã giảm thấp trong những năm gần đây:
Tỷ số phụ thuộc trẻ (0-14) năm 1979 là: 81,3; Năm 1989 là: 69,8; Năm
2999 là: 54,2; Năm 2009 là: 36,6 Tỷ số phụ thuộc già (65+) năm 1979 là:13,6; Năm 1989 là: 8,4; Năm 2999 là: 9,4; Năm 2009 là: 9,7 Tỷ số phụ thuộcchung năm 1979 là: 95,0; Năm 1989 là: 78,2; Năm 2999 là: 63,6; Năm 2009là: 46,3 [8]
Trang 13Dân số Việt Nam hiện nay đang trong thời kỳ chuyển từ dân số trunggian giữa trẻ và già sang dân số già Số liệu sau đây cho thấy điều đó:
Nhóm tuổi 0 - 4 tuổi năm 1979 là: 42,5; Năm 1989 là: 39,2; Năm 2999là: 33,1; Năm 2009 là: 24,5 Nhóm tuổi 15 - 64 tuổi năm 1979 là: 53,1; Năm
1989 là: 56,1 ; Năm 2999 là: 61,1; Năm 2009 là: 69,1 Nhóm tuổi 65+, năm
1979 là: 4,4; Năm 1989 là: 4,7; Năm 2999 là: 5,8; Năm 2009 là: 6,4 [8] Theo
số liệu Tổng điều tra Dân số và Nhà ở ngày 1/4/2009, trong tổng
số 63 tỉnh/thành phố của Việt Nam, 20 tỉnh/thành phố có người từ 60 tuổi trởlên chiếm trên 10%, trong đó cao nhất là tỉnh Thái Bình (14,1%), tiếp đến là
Hà Tĩnh (13,3%) Có 6 tỉnh/thành phố có tỷ trọng người từ 60 tuổi trở lên trên9% tổng số dân Số lượng các tỉnh/thành phố có tỷ lệ người già dưới 6% là 7tỉnh, trong đó tỷ trọng này thấp nhất là ở tỉnh Đăk Nông (4,0%) và Lai Châu(4,8%) Theo số liệu của các Tổng điều tra Dân số và Nhà ở các năm 1979,
1989, 1999, 2009, tỷ số giới tính của trẻ em khi sinh như sau: Năm 1979:105.0; Năm 1989: 106.0; Năm 1999: 107.0; Năm 2009: 110.6 [8]
Phân bố dân số Việt Nam Ở Việt Nam, tổng dân số trước hết được
chia theo các đơn vị hành chính, như tỉnh/thành phố, quận/huyện,xã/phường Nước ta hiện nay được chia thành 63 tỉnh và thành phố trựcthuộc Trung ương Theo số liệu thống kê ngày 1/4/2009, đơn vị hành chính có
số dân lớn nhất nước ta là thành phố Hồ Chí Minh với 7.123 nghìn người, tiếpđến là thành phố Hà Nội với 6.449 nghìn người, Thanh Hoá với 3.400 nghìnngười, Nghệ An với 2.913 nghìn người Các tỉnh có số dân thấp nhất là BắcCạn với số người là 293.826 người và Lai Châu với 370 502 người [8] Dođiều kiện tự nhiên và lịch sử, dân số Việt Nam phân bố không cân đối theocác vùng địa lý-kinh tế (xét về phương diện tiềm năng đất đai và tài nguyênthiên nhiên với nguồn nhân lực) Do đó, việc xác định số dân theo các vùngđịa lý-kinh tế có ý nghĩa quan trọng phục vụ cho việc phân bố và tái phân bố
Trang 14lực lượng sản xuất, lao động và dân cư Dưới tác động của tăng tự nhiên dân
số và di dân việc phân bố lại dân cư theo vùng địa lý - kinh tế trong thời gianqua đã có những thay đổi đáng kể
.Chất lượng dân số Việt Nam Chỉ số HDI của Việt Nam xếp hàng 116 trên
tổng số 182 nước, tương đương với mức trung bình của các nước đang phát triển.Đáng lưu ý, thứ tự của chỉ tiêu HDI còn cao hơn thứ tự về GDP bình quân đầungười tới 13 bậc (GDP tính theo PPP Việt Nam năm 2007 là 2.600 USD, chỉ sốGDP năm 2007 của Việt Nam xếp thứ 129 trong 182 nước), chứng tỏ nước ta đãkết hợp tốt các mục tiêu về tăng trưởng kinh tế với việc giải quyết các vấn đề xãhội theo hướng lấy con người làm trung tâm của sự phát triển [8]
1.1.2 Mô hình tổ chức Dân số - Kế hoạch hóa gia đình hiện nay
1.1.2.1 Một số quy định về Dân số - Kế hoạch hóa gia đình trong giai đoạn hiện nay
- Tuyến Trung ương.Thực hiện Nghị quyết số 01/2007/QH12 ngày31/7/2007 của Quốc hội về cơ cấu Chính phủ khoá 12, ngày 8/8/2007, Thủtướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1001/QĐ-TTg về việc giải thể Uỷban Dân số, Gia đình và Trẻ em (DSGĐTE), chuyển các chức năng của Uỷban này sang các bộ có liên quan thực hiện Do vậy chức năng, nhiệm vụ quản
lý nhà nước về dân số và nguyên trạng về tổ chức, biên chế, cán bộ, côngchức, viên chức làm công tác dân số thuộc Uỷ ban DSGĐTE đã được chuyểnsang Bộ Y tế
Trang 15chức hành chính và 3 đơn vị sự nghiệp trực thuộc thực hiện chức năng thammưu giúp Bộ trưởng Bộ Y tế quản lý nhà nước về DS-KHHGĐ bao gồm cáclĩnh vực: Quy mô dân số, cơ cấu dân số và chất lượng dân số; chỉ đạo các hoạtđộng chuyên môn, nghiệp vụ về DS-KHHGĐ trong phạm vi cả nước.
Ngày 12/3/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số17/2013/QĐ-TTg về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức củaTổng cục DS-KHHGĐ thuộc Bộ Y tế, trong đó quy định Tổng cục có 7 tổchức hành chính giúp Tổng cục trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước
và 4 đơn vị sự nghiệp trực thuộc Tổng cục thực hiện chức năng tham mưugiúp Bộ trưởng Bộ Y tế quản lý nhà nước về DS-KHHGĐ bao gồm các lĩnhvực: Quy mô dân số, cơ cấu dân số và chất lượng dân số; chỉ đạo các hoạtđộng chuyên môn, nghiệp vụ về DS-KHHGĐ trong phạm vi cả nước
- Tuyến Địa phương
Ngày 04/02/2008 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 13/2008/NĐ-CP
và Nghị định số 14/2008/NĐ-CP quy định tổ chức các cơ quan chuyên mônthuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện, trong đó quy định rõ Sở Y tế, phòng Y tếtham mưu giúp UBND cấp tỉnh, cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhànước về bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân, bao gồm cả lĩnh vực DS-KHHGĐ
Ngày 14/5/2008 Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 05/2008/TT-BYThướng dẫn chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức bộ máy DS-KHHGĐ ở địaphương Trên cơ sở đó, Chi cục DS-KHHGĐ ở cấp tỉnh và Trung tâm DS-KHHGĐ đặt tại cấp huyện đã được hình thành Đội ngũ cán bộ DS-KHHGĐđược kiện toàn, đặc biệt đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác DS-KHHGĐcấp xã đang từng bước được tuyển dụng thành viên chức thuộc trạm y tế
1.1.2.2.Cơ cấu tổ chức bộ máy DS - Kế hoạch hóa gia đình trên toàn quốc
Trang 16*Cấp tỉnh Chi cục DS-KHHGĐ các tỉnh/thành phố trực thuộc Trung
ương (tỉnh/TP) 63/63 tỉnh, thành phố trên cả nước đã kiện toàn và từng bước
ổn định Hầu hết các tỉnh đều thành lập 3 phòng tại Chi cục theo đúng hướngdẫn tại Thông tư số 05/2008/TT-BYT; có 4 tỉnh/TP thành lập 4 phòng (HàNội, TP.Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Hậu Giang) [18], [20]
08 tỉnh/TP (Hà Nội, Hoà Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Đà Nẵng, BìnhDương, Tiền Giang và Kiên Giang) thành lập Trung tâm Tư vấn, dịch vụ DS-KHHGĐ (các Trung tâm được thành lập trên cơ sở Trung tâm Tư vấn dịch vụDân số, Gia đình và Trẻ em thuộc Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em trướcđây); Trung tâm là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Chi cục DS-KHHGĐ, với tổng
số biên chế được giao của 8 Trung tâm là 59 chỉ tiêu Số cán bộ hiện có là 59,trong đó 54 biên chế và 05 hợp đồng [18], [20]
Về đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức:
+ Tổng số chỉ tiêu biên chế được phân bổ của 63 Chi cục DS-KHHGĐ
là 1.110 người (bình quân 17,6 người/Chi cục), trong đó có: 16 Chi cục đượcphân bổ từ 20 chỉ tiêu biên chế trở lên; 21 Chi cục được phân bổ từ 16 đến 19chỉ tiêu biên chế, 26 Chi cục được phân bổ từ 10 đến 15 chỉ tiêu biên chế
+ Tổng số cán bộ hiện có của các Chi cục là 1.133 người trong đó: 919biên chế và 214 hợp đồng lao động
+ Về chất lượng đội ngũ cán bộ của các Chi cục như sau: 68,3% cótrình độ đại học và trên đại học, 27.4% có trình độ trung học chuyên nghiệp;4.2% có trình độ sơ cấp (chủ yếu là lái xe và phục vụ)
+ Về chuyên ngành đào tạo: 32.2% được đào tạo chuyên môn y tế;25.1% được đào tạo chuyên môn về kinh tế; 19.2% được đào tạo chuyên môn
về khoa học xã hội và 23.5% được đào tạo chuyên ngành khác [18], [20]
*Cấp huyện
Trang 17+ Hiện nay đã có 62/63 tỉnh/TP thành lập Trung tâm DS-KHHGĐcấp huyện Các Trung tâm đã từng bước triển khai chức năng và nhiệm vụđược giao Một số tỉnh/TP, có mô hình tổ chức khác với hướng dẫn tại Thông
tư số 05/2008/TT-BYT: (TP Hồ Chí Minh giao việc thực hiện công tác KHHGĐ ở cấp huyện cho một nhóm công chức của Phòng Y tế và phân công
* Về đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức:
+ Tổng số chỉ tiêu biên chế sự nghiệp được phân bổ của Trung tâm KHHGĐ cấp huyện của 62 tỉnh/TP là 3.867 người; bình quân 5,7
DS-người/Trung tâm (TP Hồ Chí Minh sử dụng biên chế hành chính tại cácphòng Y tế huyện) Số chỉ tiêu biên chế sự nghiệp của các Trung tâm đượcphân bổ như sau: 38 tỉnh được phân bổ từ 6 chỉ tiêu biên chế trở lên/huyện; 15tỉnh được phân bổ 5 chỉ tiêu biên chế/huyện; 7 tỉnh được phân bổ 4 chỉ tiêubiện chế/huyện; 02 tỉnh được phân bổ 3 chỉ tiêu biên chế/huyện
+ Tuy nhiên, số cán bộ hiện có tại các Trung tâm của 62 tỉnh/TP cònthấp hơn số biên chế được giao, chỉ là 3.657 người (trong đó 3.150 biên
chế và 507 hợp đồng), số cán bộ trong biên chế hiện có đạt 81% chỉ tiêu biên chế được giao
+ Về trình độ cán bộ: 44.0% cán bộ có trình độ đại học và sau đại học; 51.7% cán bộ có trình độ trung cấp chuyên nghiệp; 4.3% có trình độ sơ cấp
Trang 18+ Về chuyên ngành đào tạo có: 40.7% được đào tạo chuyên môn y tế;26.8% được đào tạo chuyên môn về kinh tế; 13.3% được đào tạo chuyên môn
về khoa học xã hội và 19.2% được đào tạo chuyên ngành khác [18], [20]
1.2 Khó khăn, bất cập trong công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình
1.2.1 Sự biến động về tổ chức
Từ năm 1961 đến nay, tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về DS-KHHGĐ
ở nước ta đã 6 lần thay đổi bộ máy tổ chức theo các giai đoạn
1 Giai đoạn 1961-1970: Năm 1961 Ban vận động sinh đẻ có kế hoạch
do Thủ tướng Chính phủ làm Trưởng ban Cơ quan thường trực được giaolàm công tác DS-KHHGĐ là Bộ Y tế
2 Giai đoạn 1970-1974: Năm 1971 thành lập Ủy ban Bảo vệ Bà mẹ Trẻ em
và Sinh đẻ có kế hoạch để đảm nhiệm công tác chăm sóc, bảo vệ bà mẹ trẻ em,trong đó sinh đẻ có kế hoạch được coi là một chức năng quan trọng của Ủy ban.Công tác DS-KHHGĐ được chuyển giao cho cơ quan này Tổ chức bộ
máy của Ủy ban được hình thành từ Trung ương đến cấp huyện và toàn bộ hệ thống tổ chức, cán bộ được tách khỏi Bộ Y tế
3 Giai đoạn 1974-1984: Năm 1974 giải thể Ủy ban BV BM&TE, hệ thống
dịch vụ KHHGĐ được sát nhập vào Bộ Y tế, phần nuôi dạy trẻ được chuyểnsang Bộ Giáo dục, Công tác DS-KHHGĐ được giao lại cho Bộ Y tế đảm nhiệm
4 Giai đoạn 1984-2002: Năm 1984 thành lập Ủy ban Quốc gia Dân số
và sinh đẻ có kế hoạch hay được gọi là Ủy ban quốc gia DS-KHHGĐ Ngày19/6/1991 Chính phủ ban hành Nghị định số 193/HĐBT, kiện toàn bộ máy của Ủy ban DS-KHHGĐ từ trung ương đến cấp cơ sở
5 Năm 2002: Thành lập Ủy ban Dân số-Gia đình và Trẻ em các cấp trên
cơ sở hợp nhất Ủy ban DS-KHHGĐ và Ủy ban Bảo vệ BM và CSTE
Trang 196 Năm 2007-2008: Giải thể Ủy ban quốc gia Dân số - Gia đình và Trẻ em;
sát nhập bộ phận DS-KHHGĐ vào Bộ Y tế Thành lập Tổng cục DS-KHHGĐ là
tổ chức thuộc Bộ Y tế Ở địa phương thành lập Chi cục DS-KHHGĐ trực thuộc
Sở Y tế và Trung tâm DS-KHHGĐ cấp huyện trực thuộc Chi cục DS-KHHGĐ
1.2.2 Chế độ chính sách dân số
- Nghị định số 92/2009/NĐCP, ngày 22 tháng 10 năm 2009 về việc quy định về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn, và những người hoạt động không chuyên trách ởcấp xã
- Thông tư số 05/2008/TT-BYT, ngày 14/5/2008 Bộ Y tế hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức bộ máy DS-KHHGĐ ở địa phương
1.2.3 Nguồn lực
Cơ sở vật chất, trang thiết bị còn thiếu, chưa đồng bộ Chưa tuyển đủcán bộ chuyên trách dân số xã theo quy định, cán bộ trạm y tế xã còn đangphải khiêm nghiệm công tác dân số Kinh phí chương trình mục tiêu cấp hàngnăm chậm, ngân sách địa phương thấp
1.2.4 Những hạn chế trong công tác DS-KHHGĐ
+ Về mức sinh thay thế, đến năm 2009 còn có 28/63 tỉnh thành phốthuộc các vùng trung du và miền núi phía bắc, bắc trung bộ và duyên hải miềntrung, tây nguyên chưa đạt mức sinh thay thế
+ Chất lượng dân số còn hạn chế và chậm được cải thiện Mặc dù tuổithọ bình quân đạt 72,8 tuổi (2009) chỉ số phát triển con người tăng, nhưngViệt Nam chưa cải thiện được thứ hạng trong nhóm các nước có chỉ số pháttriển con người ở mức trung bình, tuổi thọ khỏe mạnh chỉ đạt 66 tuổi và đứngthứ 116/182 nước trên Thế giới Tỷ lệ dân số đã qua đào tạo chuyên môn kỹthuật còn rất thấp, tính đến 2009 chỉ còn 13,4% dân số từ 15 tuổi trở lên đượcđào tạo về chuyên môn kỹ thuật Tỷ lệ vô sinh, nhất là vô sinh thứ phát khá
Trang 20cao trong đó nguyên nhân chủ yếu là do viêm nhiễm sinh dục Khả năng tiếpcận các dịch vụ hỗ trợ các dịch vụ sinh sản còn hạn chế Nhiễm khuẩn đườngsinh sản, bệnh lây truyền qua đường tình dục, tỷ lệ nhiễm HIV và ung thưđường sinh dục vẫn có xu hướng ra tăng Tỷ lệ phá thai còn khá phổ biến và
có xu thế tăng ở vị thành niên và thanh niên Tình trạng phá thai còn nhiều ởmức 29 ca phá thai trên 100 trẻ sinh ra sống, trong đó phá thai nhiều lần cònphổ biến
+ Tư tưởng chủ quan, một số cấp lãnh đạo của Đảng và chính quyềncòn có tư tưởng thỏa mãn, buông lỏng trong lãnh đạo, chỉ đạo, công tác DS -KHHGĐ, chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng, ý nghĩa chiến lược củacông tác này đối với sự nghiệp phát triển bền vững của đất nước
+ Thiếu sự ổn định trong tổ chức; trong nhiều thập niên qua sự thay đổi
về phương thức tổ chức bộ máy làm công tác dân số đã bộc lộ những bất cập:Không ổn định và thiếu hoàn thiện, đã tác động không nhỏ đến việc tổ chứcthực hiện công tác DS-KHHGĐ [27]
1.2.5 Thách thức
Mặc dù Việt Nam đã đạt mức sinh thay thể, nhưng dân số nước ta vấnđang trong giai đoạn nhạy cảm với những yếu tố tác động, chưa loại trừ đượckhả năng mức sinh tăng trở lại Mặt khác còn có sự khác biệt về mức sinhgiữa các vùng, với 1/5 số tỉnh có mức sinh còn khá cao, đặc biệt vùng sâuvùng xa vùng dân tộc thiểu số, vùng kinh tế chậm phát triển
Sự đối mặt với đà tăng DS trong gian đoạn 2011-2020 chúng ta sẽ phảiđối mặt với hiện tượng mà các nhà nhân khẩu gọi là đà tăng DS nữ được sinh
ra trong những năm 80/90 của thế kỷ trước có quy mô lớn sẽ bước vào độ tuổimắn đẻ nhất Tổng số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (15 đến 49) tiếp tục tăngnhanh và đạt được mức khoảng 25,1 triệu người vào năm 2020 Nếu mỗi
Trang 21người phụ nữ sinh 2 con theo chính sách dân số hiện hành thì tỷ lệ tăng dân sốgiai đoạn này sẽ cao hơn giai đoạn 10 năm trước Nếu duy trì được ở những
nỗ lực trong công tác DS-KHHGĐ như thời gian qua thì bình quân mỗi nămtăng thêm gần 1 triệu người tương đương với dân số của một tỉnh trung bình
Mật độ dân số cao, Việt Nam có mật độ gần 260 người/ thuộcnhóm các nước có mật độ dân số cao nhất TG, gấp hơn 2 lần mật độ dân sốcủa châu Á và gấp 1,86 lần mật độ DS của Trung Quốc Dự báo mật độ sẽtăng lên 298 người/ vào năm 2020 và ổn định ở 350 người/ vàonăm 2050 trở về sau Đây là một thách thức rất lớn khi đất nước vấn còn trên70% dân số nông nghiệp, diện tích đất canh tác thấp dưới mức đảm bảo anninh lương thực rất nhiều, đất rừng mất nhiều, đất ở và môi trường sống ngàymột cạn kiệt
Đô thị hóa và giảm sinh, trong những năm tới, chúng ta cũng phải tíchcực chuẩn bị để ứng phó với xu hướng giảm sinh quá mức trong tương lai dotác động của đô thị hóa và phổ biến lối sống công nghiệp Kinh nghiệm của 1
số nước và vùng lãnh thổ như Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan cho thấy nếuchậm điều chỉnh chính sách có thể dẫn đến mức sinh giảm xuống đến mứcquá thấp dẫn đến việc khuyến khích tăng mức sinh lên hết mức khó khăn
Mất cân bằng giới tính khi sinh ngày càng trở nên cấp bách, trong vòngmấy năm trở lại đây, tỷ số giới tính khi sinh của Việt Nam tăng đột biến, năm
2009 là 111,5 có một số tỉnh còn cao hơn Nếu xu hướng này tiếp tục tăngnhanh và không sớm đưa trở lại mức bình thường, thì sẽ tác động mạnh đến
cơ cấu giới tính của dân số trong khoảng hai thập niên tiếp theo dẫn đến tìnhtrạng dư thừa nam giới so với phụ nữ cùng độ tuổi Sự khan hiếm phụ nữtrong độ tuổi kết hôn sẽ gây áp lực đối với việc kết hôn đồng thời có nguy cơlàm gia tăng các tệ nạn xã hội như mại dâm, buôn bán phụ nữ [27]
Trang 221.3 Các giải pháp về chiến lƣợc dân số và sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011-2020
1.3.1 Lãnh đạo, tổ chức và quản lý
Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng và chính quyềnđối với công tác dân số, chăm sóc sức khỏe sinh sản Công tác dân số, chămsóc sức khỏe sinh sản là một nội dung trọng tâm trong các chương trình, kếhoạch công tác thường xuyên của cấp ủy Đảng, chính quyền Hoàn thiện tổchức bộ máy làm công tác này ở các cấp theo hướng chuyên nghiệp hóa, đảmbảo triển khai có hiệu quả các chương trình, đề án, dự án về dân số, chăm sócsức khỏe sinh sản, bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em Ổn định, nâng cao nănglực đội ngũ cán bộ làm công tác dân số, chăm sóc sức khỏe sinh sản ở cơ sở
để đưa công tác truyền thông, giáo dục, cung cấp các dịch vụ dân số, chămsóc sức khỏe sinh sản; theo dõi, quản lý đối tượng đến từng hộ gia đình, nhất
là ở vùng sâu, vùng xa, miền núi, vùng ven biển và hải đảo Nâng cao hiệulực, hiệu quả quản lý công tác dân số, chăm sóc sức khỏe sinh sản, thực hiệnquản lý công tác này theo chương trình mục tiêu quốc gia; từng bước áp dụng
mô hình chi trả phí dịch vụ dân số, chăm sóc sức khỏe sinh sản cho đối tượngđược miễn chi phí thông qua các phương tiện thanh toán trung gian (thẻ kháchhàng, thẻ bảo hiểm y tế) Xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành để thực hiện
có hiệu quả công tác dân số, chăm sóc sức khỏe sinh sản Tăng cường kiểmtra, thanh tra, đánh giá tình hình thực hiện pháp luật về dân số, sức khỏe sinhsản, đặc biệt là kiểm tra, thanh tra, xử lý nghiêm các tổ chức và cá nhân làmdịch vụ chẩn đoán và lựa chọn giới tính thai nhi; Nâng cao vai trò giám sátcủa cộng đồng trong việc thực hiện chính sách, pháp luật [46]
1.3.2 Truyền thông, giáo dục chuyển đổi hành vi
Tăng cường phổ biến, giáo dục chính sách, pháp luật về dân số, sứckhỏe sinh sản, đặc biệt là chính sách, pháp luật về kiểm soát mất cân bằng
Trang 23giới tính khi sinh Thường xuyên cập nhật, cung cấp thông tin về dân số, giớitính khi sinh, sức khỏe sinh sản tới các cấp ủy Đảng, chính quyền, tổ chứcchính trị - xã hội và những người có uy tín trong cộng đồng Triển khai mạnh,
có hiệu quả các hoạt động truyền thông, giáo dục với nội dung, hình thức vàcách tiếp cận phù hợp với từng nhóm đối tượng; ưu tiên các đối tượng khótiếp cận thông tin và dịch vụ dân số, sức khỏe sinh sản Mở rộng và nâng caochất lượng giáo dục về dân số, sức khỏe sinh sản, bao gồm cả giáo dục vềphòng ngừa nhiễm HIV, bình đẳng giới, mất cân bằng giới tính khi sinh vàsức khỏe tình dục trong và ngoài nhà trường Kết hợp tốt truyền thông đạichúng với truyền thông trực tiếp thông qua mạng lưới cộng tác viên dân số,tuyên truyền viên của các ngành, đoàn thể; tăng cường sử dụng các phươngtiện truyền thông hiện đại như internet, truyền thông đa phương tiện, điệnthoại di động [46]
1.3.3 Dịch vụ dân số, sức khỏe sinh sản
Kiện toàn mạng lưới cung cấp dịch vụ theo phân tuyến kỹ thuật, tậptrung cho vùng khó khăn, đảm bảo cung cấp các gói dịch vụ dân số, chăm sócsức khỏe sinh sản thiết yếu ở tất cả các tuyến, đặc biệt là tuyến cơ sở Tăngcường hỗ trợ cho tuyến xã bằng nhiều hình thức, bao gồm cả đội lưu động,xây dựng hệ thống hỗ trợ chuyển tuyến thích hợp cho từng vùng, từng khuvực Nâng cao chất lượng dịch vụ thông qua việc hoàn thiện các quy định,quy trình kỹ thuật; tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện cácquy định chuyên môn và quy trình kỹ thuật đối với các cơ sở cung cấp dịchvụ; Nâng cấp cơ sở hạ tầng, bổ sung trang thiết bị và tập huấn cập nhật kiếnthức cho những người cung cấp dịch vụ dân số, chăm sóc sức khỏe sinh sản
Nâng cao chất lượng công tác dự báo, lập kế hoạch về phương tiệntránh thai và hàng hóa sức khỏe sinh sản Hoàn thiện hệ thống hậu cần và tăngcường quản lý theo phân khúc thị trường, đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời
Trang 24các phương tiện tránh thai và hàng hóa sức khỏe sinh sản cho chương trìnhdân số - kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc sức khỏe sinh sản; Đẩy mạnh tiếpthị xã hội và bán rộng rãi các phương tiện tránh thai.
Mở rộng cung cấp các dịch vụ tư vấn và kiểm tra sức khỏe tiền hônnhân, sàng lọc, chẩn đoán và điều trị sớm một số bệnh, tật trước khi sinh và sơsinh trên cơ sở xây dựng hệ thống các trung tâm sàng lọc, chẩn đoán trướcsinh và sơ sinh theo quy hoạch, kế hoạch; hoàn thiện quy trình, quy chuẩn kỹthuật tư vấn và kiểm tra sức khỏe tiền hôn nhân, sàng lọc, chẩn đoán trướcsinh và sơ sinh, chuyển giao kỹ thuật cho các trung tâm tuyến tỉnh; từng bướcđưa các dịch vụ này vào danh mục các dịch vụ y tế được bảo hiểm y tế chi trả.[46]
1.3.4 Xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách về dân số, sức khỏe sinh sản: Tích cực rà soát, nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật,
chính sách về dân số, kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh, sức khỏe sinhsản, đặc biệt là các chính sách tác động nhằm giảm thiểu mất cân bằng giớitính khi sinh, nâng cao chất lượng dân số, duy trì mức sinh thấp hợp lý, chămsóc sức khỏe sinh sản đối với thanh niên và người chưa thành niên, bảo vệ vàphát triển các dân tộc có nguy cơ suy thoái về chất lượng giống nòi [46]
1.3.5 Xã hội hóa, phối hợp liên ngành và hợp tác quốc tế
Huy động rộng rãi các ngành, các tổ chức chính trị - xã hội, cộng đồngtham gia công tác truyền thông, giáo dục, cung cấp dịch vụ dân số, sức khỏesinh sản Xây dựng và thực hiện lộ trình giảm dần mức độ bao cấp của Nhànước Chuyển dần phương thức chi trả phí dịch vụ dân số, sức khỏe sinh sản
từ việc cấp kinh phí cho cơ sở cung cấp dịch vụ sang việc thanh toán qua cácphương tiện trung gian Tăng cường hợp tác quốc tế, chủ động tham gia các tổchức, chương trình quốc tế về dân số, sức khỏe sinh sản; tích cực
Trang 25tranh thủ sự giúp đỡ về tài chính, kỹ thuật và kinh nghiệm của các nước, các
tổ chức quốc tế [46]
1.3.6 Tài chính
Tăng cường đầu tư từ ngân sách nhà nước; đẩy mạnh việc đa dạng hóacác nguồn đầu tư từ cộng đồng, doanh nghiệp và tư nhân cho công tác dân số,kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh, chăm sóc sức khỏe sinh sản Ngânsách nhà nước đảm bảo đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của công tác dân số,chăm sóc sức khỏe sinh sản và thực hiện chính sách đối với các đối tượngđược Nhà nước chi trả Tiếp tục thực hiện chương trình dân số - kế hoạch hóagia đình theo cơ chế chương trình mục tiêu quốc gia, phân bổ kinh phí côngkhai, có định mức rõ ràng, tập trung cho cơ sở, phù hợp với các vùng, miền,địa phương Quản lý chặt chẽ và nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhànước đầu tư cho công tác dân số, chăm sóc sức khỏe sinh sản [46]
1.3.7 Đào tạo, nghiên cứu khoa học và thông tin số liệu
Tăng cường đào tạo, tập huấn về quản lý, chuyên môn nghiệp vụ chocán bộ làm công tác dân số, chăm sóc sức khỏe sinh sản trên cơ sở quy hoạch
và phân tuyến kỹ thuật, với chương trình, nội dung và tài liệu được chuẩn hóa
Ưu tiên hoàn thành việc đào tạo trình độ trung cấp dân số - Y tế cho cán bộdân số - kế hoạch hóa gia đình cấp xã; đào tạo cô đỡ thôn, bản ở vùng khókhăn; đào tạo kỹ thuật sàng lọc trước sinh và sơ sinh Từng bước thực hiệnđào tạo chuyên sâu, đào tạo đại học và sau đại học về dân số, sản khoa, nhikhoa, lão khoa Tăng cường các hoạt động nghiên cứu khoa học, phổ biến vàứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học, công nghệ và kỹ thuật về dân số,kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh, sức khỏe sinh sản
Nâng cao chất lượng thu thập, xử lý thông tin số liệu về dân số, sứckhỏe sinh sản trên cơ sở áp dụng công nghệ thông tin và hoàn thiện hệ thốngcác chỉ báo, chỉ tiêu; cung cấp đầy đủ, chính xác, kịp thời thông tin, số liệu
Trang 26phục vụ sự chỉ đạo, điều hành, quản lý công tác dân số, kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh, chăm sóc sức khỏe sinh sản ở các cấp [46]
U
2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối t ợng nghi n cứ
- Cán bộ Dân số - KHHGĐ tuyến tỉnh, huyện, xã của tỉnh Hà Giang
- Các thành viên Ban chỉ đạo công tác Dân số - Kế hoạch hóa gia đìnhtuyến huyện, xã của tỉnh Hà Giang
- Tài liệu thứ cấp gồm: Các văn bản, báo cáo tổng kết năm của TTDS vàChi cục dân số, dữ liệu thống kê về Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, của tỉnh
2.2 Phương ph p nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu:
- Mô tả cắt ngang, kết hợp định lượng với nghiên cứu định tính
2.2.2 Cỡ mẫu và kỹ thuật chọn mẫu
Trang 27* Hồi cứu: Toàn bộ sổ sách, báo cáo quý, năm của 11 huyện, thành phố
và chi cục dân số về công tác dân số giai đoạn 2008-2012
* Mẫu định lượng: Chọn chủ đích
- Toàn bộ 18 cán bộ ở Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình tỉnh Hà Giang;
- Toàn bộ 66 cán bộ của 11 Trung tâm DS - KHHGĐ huyện, thành phố
- Toàn bộ 125 cán bộ chuyên trách Dân số xã phường, thị trấn tỉnh Hà Giang
*Mẫu định tính: Tiến hành 5 cuộc thảo luận nhóm trọng tâm và phỏng
vấn sâu như sau:
- Ban chỉ đạo công tác DS - KHHGĐ huyện: (05 huyện vùng cao) Mỗihuyện cử 01 lãnh đạo và 01 thành viên ban chỉ đạo công tác DS-KHHGĐ huyện.Tổng 10 người của huyện: Mèo Vạc, Đồng Văn, Yên Minh, Quản Bạ, Bắc Mê
-Ban chỉ đạo công tác DS - KHHGĐ huyện: (06 huyện vùng thấp) Mỗihuyện cử 01 lãnh đạo và 01 thành viên ban chỉ đạo công tác DS-KHHGĐhuyện Tổng 12 người của huyện: Xín Mần, Hoàng Su Phì, Quang Bình, Bắc Quang, Vị Xuyên, Thành phố Hà Giang
- Ban chỉ đạo công tác DS - KHHGĐ xã (05 huyện vùng cao, vùng sâu)mỗi huyện chọn ngẫu nhiên 01 xã, mỗi xã cử 01 lãnh đạo và 01 thành viênban chỉ đạo công tác DS-KHHGĐ xã Tổng số 10 người
- Ban chỉ đạo công tác DS - KHHGĐ xã (06 huyện vùng thấp, phía tây)mỗi huyện chọn ngẫu nhiên 01 xã, mỗi xã cử 01 lãnh đạo và 01 thành viênban chỉ đạo công tác DS-KHHGĐ xã Tổng số 12 người
- Thảo luận tại chi cục DS - KHHGĐ tỉnh 13 người gồm 02 phó chi cụccùng 11 Giám đốc trung tân DS-KHHGĐ của 11 huyện, thành phố
- Phỏng vấn sâu 44 cán bộ ban chỉ đạo công tác dân số khhe hoạch hóa gia định
Trang 28Các cuộc thảo luận nhóm nhỏ nhằm phân tích các khía cạnh về thực trạng, bất cập, đưa ra các giải pháp và xây dựng kế hoạch chiến lược.
2.3 Các chỉ số nghiên cứu
2.3.1 Nhóm chỉ số kết quả thực hiện công tác DS-KHHGĐ của tỉnh Hà Giang giai đoạn 2008 – 2012:
2.3.1.1 Nhóm chỉ số về nguồn lực thực hiện công tác DSKHHGĐ
+ Nhân lực: Gồm các chỉ số như số lượng, trình độ chuyên môn, của cán bộ làm công tác dân số
+ Vật lực (Cơ sở vật chất)
+ Tài chính (Kinh phí)
2.3.1.2 Nhóm chỉ số về kết quả thực hiện công tác DSKHHGĐ
- Quy mô dân số: Là số dân của một đơn vị hành chính trong một năm
nhất định
+Tỷ suất sinh thô (CBR): Là số trẻ sinh ra sống trong năm của 1000 dân
(phần nghìn)
+ Tỷ suất sinh chung (GFR): Tỷ suất sinh chung biểu thị số trẻ em
sinh ra trong một năm so với 1.000 phụ nữ trong độ tuổi có khả năng sinh đẻ
GFR= B *1000 (phần nghìn)
15
ỷ ệ phát triển d n ố tự nhiên
Tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên (%) = Tỷ suất sinh thô – Tỷ suất chết thô
+ Tỷ lệ sinh con thứ ba: Là số so sánh giữa số trẻ sinh ra trong năm là
con thứ 3 trở lên với tổng số trẻ sinh sống của địa phương trong năm ấy
Số sinh sống lần thứ 3
trở lên
P *1000
Trang 30phuơng trong năm
+ Tỷ suất chết thô (CDR): Là số trẻ chết trong năm của 1000 dân số
P *1000 (phần nghìn)
Cơ cấu dân số: Cơ cấu dân số là sự phân chia tổng số dân của một vùng
thành các nhóm theo một hay nhiều tiêu thức Có rất nhiều loại cơ cấu dân số như: Cơ cấu dân số theo tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, nghề nghiệp, mức sống, thành thị nông thôn…
+ Tỷ số giới tính khi sinh:
Công thức cho ta thấy cứ 100 bé gái được sinh ra sẽ có bao nhiêu bé trai được sinh ra:
- Chất ợng d n ố: “Chất lượng dân số phản ánh các đặc trưng về thể chất, trí
tuệ và tinh thần của toàn bộ dân số”
+ Tỷ lệ suy dinh dưỡng
Trang 31thấp hơn hơn trọng lượng trung bình của
Tỷ lệ % SDD trẻ trong thời điểm đánh giá
thể nhẹ cân
= Tổng số trẻ cùng nhóm tuổi của xã trong x 100
của trẻ < 5
tuổi cùng thời điểm
+ Số trẻ em sinh ra được sàng lọc sơ sinh
+ Số bà mẹ mang thai được SLSS trong năm
+ Tỷ lệ trẻ em sinh ra bị khuyết tật
- Di dân: Di dân là sự di chuyển của người dân theo lãnh thổ với những
giới hạn về thời gian và không gian nhất định
Người nhập cư hay còn gọi là người di cư đến là người đến nơi mới để
- Kế hoạch hóa gia đình KHHGĐ bao gồm những hoạt động giúp các
cá nhân hay các cặp vợ chồng để đạt được những mục tiêu:
+ Tránh những trường hợp sinh không mong muốn;
+ Đạt được những trường hợp sinh theo ý muốn;
+ Điều hòa khoảng cách giữa các lần sinh;
+ Chủ động thời điểm sinh con cho phù hợp với lứa tuổi
Tổng số cặp vợ chồng đang sử dụng các BPTTCPR = - x 100
Trang 32Tổng số cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ
Tỷ lệ các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ sử dụng các BPTT hiện đại
Tổng số cặp vợ chồng đang sử dụng các BPTT hiện đạiMCPR = - x 100
Tổng số cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ
- Vị trí công tác của cán bộ chuyên trách dân số xã
- Công tác kiêm nhiêm
- Năng lực, trình độ chuyên môn
2.4 Kỹ thuật thu thập số liệu
- Hồi cứu số liệu từ năm 2008 - 2012 (phụ lục 1) về công tác KHHGĐ: Thiết kế biểu mẫu thu thập số liệu, phần mềm quản lý dữ liệu
DS Thông tin về khó khăn bất cập trong công tác DSDS KHHGĐ: Phiếuđiều tra tự điền (phụ lục 2, 3) phiếu phỏng vấn sâu (phụ lục 4) Phỏng vấn theocâu hỏi trong phiếu điều tra Trực tiếp điều tra tại cơ sở theo kế hoạch, phâncông nhiệm vụ cho các điều tra viên
Trang 33- Thông tin về giải pháp: Phiếu phỏng vấn sâu (phụ lục 4), hướng dẫnthảo luận nhóm (phụ lục 5) Thảo luận nhóm trọng tâm : cán bộ nghiên cứu đềtài chủ trì thảo luận Nội dung thảo luận được phát cho các nhóm nghiên cứu trước Thư ký ghi chép tốc ký.
2.5 Công cụ thu thập số liệu
- Phụ lục 1: Phiếu thu thập thông tin kết quả hoạt động của công tác DS-KHHGĐ
- Phụ lục 2: Phiếu điều tra hoạt động của cộng tác viên dân số thôn, bản, tổ dân phố
- Phụ lục 3: Phiếu điều tra hoạt động của cán bộ dân số tuyến tỉnh, huyện, xã
- Phụ lục 4: Phiếu phỏng vấn sâu cán bộ ban chỉ đạo công tác KHHGĐ
DS Phụ lục 5: Bảng hướng dẫn thảo luận nhóm
- Phần mềm quản lý dữ liệu
2.6 Phương ph p xử lý số liệu
- Xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê y học trên phần mềm máy tính theo chương trình EPIINFO 6.04, chương trình Excel
- Sử dụng các biểu đồ, đồ thị để biểu thị, so sánh các kết quả
2.7 Phương ph p thống kê sai số
- Phiếu điều tra: Các phiếu điều tra được xây dựng theo đúng quy trình xây dựng với bộ câu hỏi đóng, mở Và thử nghiệm bộ câu hỏi
- Cán bộ điều tra được tập huấn kỹ và thống nhất phương pháp cách thức tiến hành thu thập thông tin
2.8 Đạo đức nghiên cứu
- Việc tiến hành nghiên cứu này phải được phép của chính quyền địaphương, sở y tế và những đối tượng tham gia nghiên cứu phải tự nguyện,không được ép buộc
Trang 34- Trong quá trình nghiên cứu không làm ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp, không ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương
- Sau khi xử lý thông tin, viết báo cáo các kiến nghị sẽ được phản hồilại cho chính quyền địa phương, nhằm giúp địa phương đưa ra các giải pháp
cụ thể - Việc nghiên cứu này được sử dụng vào trong chương trình nâng caochất lượng hoạt động của Dân số địa phương
- Nghiên cứu được sự đồng ý của Hội đồng khoa học Trường Đại học y dược Thái Nguyên
Trang 35Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN C U
3.1 Kết quả công tác DS - KHHGĐ tỉnh Hà Giang giai đoạn 2008 – 2012
3.1.1 Nguồn lực thực hiện công tác DS-KHHGĐ
Bảng 3.1 Nguồn nhân lực cán bộ thực hiện công tác dân số - KHHGĐ
tuyến tỉnh, huyện, xã
Trình độ Tổng Trình độ Trình độ Trình độ tiêu
Kết quả nghiên cứu bảng 3.1 cho thấy:
Chi cục DS-KHHGĐ có tổng số có 18 cán bộ, đủ biên chế theo quyđịnh trong đó có 03 cán bộ có trình độ sau đại học chiếm 16.66%; 07 cán bộ
có trình độ đại học chiếm 38.88%; 06 cán bộ có trình độ CĐ,TC chiếm33.33%; 02 cán bộ có trình độ sơ cấp chiếm 11.11%
Tuyến huyện tổng số 66 cán bộ, đã có đủ cán bộ theo quy định trong đótrình độ chuyên môn đại học có 12 cán bộ chiếm 18.18%; trình độ cao đẳng,trung cấp 54 chiếm 81.81%;
Tuyến xã còn thiếu cán bộ chuyên trách dân số xã, mới tuyển được 125cán bộ chuyên trách dân số xã, trong đó chỉ tiêu là 195
Trang 36Bảng 3.2 Cơ sở vật chất các trung tâm dân số huyện, thành phố
TT Huyện, thành phố Số m2 Kiên cố xuống cấp, cần
Trang 373.1.2 Kết quả thực hiện công tác dân số KHHGĐ
3.1.2.1 Quy mô dân số
3.1.2.1.1 Quy mô dân số tỉnh Hà Giang từ năm 2008 – 2012
Quy mô dân
số (Người)
800000 572.184 612.625 696.849 747.622
700000 513.496600000
500000 400000 300000 200000 100000 0
Năm
Biểu đồ 3.1 Quy mô dân số tỉnh Hà Giang
Kết quả Biểu đồ 3.1 cho thấy Quy mô dân số tỉnh Hà Giang năm 2008
là 513.496 người, năm 2012 là 747.622 người như vậy sau 5 năm dân số Hà Giang đã tăng 234.126 người, trung bình mỗi năm tăng 46.825 người
3.1.2.1.2 Tỷ suất sinh thô tỉnh Hà Giang 2008 – 2012
Biểu đồ 3.2 Tỷ suất sinh th tỉnh Hà Giang
Kết quả biểu đồ 3.2 cho thấy tỷ suất sinh thô của tỉnh Hà Giang trong 5năm 2008 - 2012 tăng từ 4.92‰ lên 16.61‰
Trang 38Biểu đồ 3.3 Tỷ suất sinh chung
Kết quả biểu đồ 3.3 cho thấy tỷ suất sinh chung của tỉnh Hà Giangtrong 5 năm qua đã tăng từ 18.42‰ năm 2008 đã tăng lên 57.98‰, trung bìnhmỗi năm tăng khoảng 8‰
3.1.2.1.4 Tỷ lệ sinh con thứ ba của tỉnh Hà Giang từ năm 2008 - 2012
1.47 5
0
Năm
Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ sinh con thứ ba
Kết quả biểu đồ 3.4 cho thấy tỷ lệ sinh con thứ 3 của tỉnh Hà Giang năm 2012 còn rất cao (21,02%)
Trang 393.1.2.1.5 Tỷ lệ tăng trưởng dân số tự nhiên của tỉnh Hà Giang 2008 – 2012
2
Năm
Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ tăng trưởng d n số tự nhiên
Kết quả nghiên cứu biểu đồ 3.5 cho thấy tỷ lệ phát triển dân số tự nhiêncủa tỉnh Hà Giang năm 2012 cao nhất so với các năm (12%0)
Biểu đồ 3.6 Tỷ suất chết thô
Kết quả biểu đồ 3.6 cho thấy trong 5 năm tỷ suất chết thô năm 2011 caonhất (10,11‰), năm 2012 giảm còn 4,42‰
Trang 403.1.2.2 Cơ cấu dân số
3.1.2.2.1 Tỷ số giới tính khi sinh của tỉnh Hà Giang 2008 – 2012
Biểu đồ 3.7 Tỷ số giới tính khi sinh
Kết quả biểu đồ 3.7 cho thấy năm 2012 tỉnh Hà Giang đã mất cân bằng
tỷ số giới tính khi sinh rất cao (116 trẻ trai/100 trẻ gái)
Kết quả bảng 3.4 cho thấy mật độ dân số tỉnh Hà Giang có xu hướngtăng, năm 2008 có 6.5 người /km2 đến năm 2012 là 9.4 người /km2