Nghiên cứu giải pháp bón phân hợp lý cho rừng trồng Keo tai tượng (Acacia mangium Willd) ở Quảng Ninh.Nghiên cứu giải pháp bón phân hợp lý cho rừng trồng Keo tai tượng (Acacia mangium Willd) ở Quảng Ninh.Nghiên cứu giải pháp bón phân hợp lý cho rừng trồng Keo tai tượng (Acacia mangium Willd) ở Quảng Ninh.Nghiên cứu giải pháp bón phân hợp lý cho rừng trồng Keo tai tượng (Acacia mangium Willd) ở Quảng Ninh.Nghiên cứu giải pháp bón phân hợp lý cho rừng trồng Keo tai tượng (Acacia mangium Willd) ở Quảng Ninh.Nghiên cứu giải pháp bón phân hợp lý cho rừng trồng Keo tai tượng (Acacia mangium Willd) ở Quảng Ninh.Nghiên cứu giải pháp bón phân hợp lý cho rừng trồng Keo tai tượng (Acacia mangium Willd) ở Quảng Ninh.Nghiên cứu giải pháp bón phân hợp lý cho rừng trồng Keo tai tượng (Acacia mangium Willd) ở Quảng Ninh.Nghiên cứu giải pháp bón phân hợp lý cho rừng trồng Keo tai tượng (Acacia mangium Willd) ở Quảng Ninh.Nghiên cứu giải pháp bón phân hợp lý cho rừng trồng Keo tai tượng (Acacia mangium Willd) ở Quảng Ninh.Nghiên cứu giải pháp bón phân hợp lý cho rừng trồng Keo tai tượng (Acacia mangium Willd) ở Quảng Ninh.Nghiên cứu giải pháp bón phân hợp lý cho rừng trồng Keo tai tượng (Acacia mangium Willd) ở Quảng Ninh.Nghiên cứu giải pháp bón phân hợp lý cho rừng trồng Keo tai tượng (Acacia mangium Willd) ở Quảng Ninh.Nghiên cứu giải pháp bón phân hợp lý cho rừng trồng Keo tai tượng (Acacia mangium Willd) ở Quảng Ninh.Nghiên cứu giải pháp bón phân hợp lý cho rừng trồng Keo tai tượng (Acacia mangium Willd) ở Quảng Ninh.Nghiên cứu giải pháp bón phân hợp lý cho rừng trồng Keo tai tượng (Acacia mangium Willd) ở Quảng Ninh.Nghiên cứu giải pháp bón phân hợp lý cho rừng trồng Keo tai tượng (Acacia mangium Willd) ở Quảng Ninh.Nghiên cứu giải pháp bón phân hợp lý cho rừng trồng Keo tai tượng (Acacia mangium Willd) ở Quảng Ninh.Nghiên cứu giải pháp bón phân hợp lý cho rừng trồng Keo tai tượng (Acacia mangium Willd) ở Quảng Ninh.Nghiên cứu giải pháp bón phân hợp lý cho rừng trồng Keo tai tượng (Acacia mangium Willd) ở Quảng Ninh.
Sự cần thiết của luận án
Theo Chiến lược Phát triển Lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến 2050, ngành lâm nghiệp sẽ trở thành một lĩnh vực kinh tế - kỹ thuật quan trọng Chiến lược này tập trung vào việc thiết lập, quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, đồng thời sử dụng bền vững diện tích đất quy hoạch cho lâm nghiệp Đặc biệt, chiến lược khuyến khích sự tham gia bình đẳng của các thành phần kinh tế vào các hoạt động lâm nghiệp và huy động tối đa các nguồn lực xã hội, cùng với việc ứng dụng khoa học và công nghệ tiên tiến.
Tốc độ tăng giá trị sản xuất lâm nghiệp dự kiến đạt từ 5,0% đến 5,5% mỗi năm Giá trị xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản sẽ đạt từ 18 đến 20 tỷ USD vào năm 2025 và từ 23 đến 25 tỷ USD vào năm 2030 Đồng thời, giá trị tiêu thụ lâm sản trên thị trường nội địa sẽ đạt 5 tỷ USD vào năm 2025 và vượt 6 tỷ USD vào năm 2030 Việc trồng rừng sản xuất cũng sẽ được chú trọng trong giai đoạn tới.
Đến năm 2030, mục tiêu là trồng 340.000 ha rừng mỗi năm, nâng cao năng suất gỗ rừng trồng Ít nhất 90% diện tích rừng sẽ được trồng từ giống cây lâm nghiệp đã được công nhận Dự kiến, năng suất rừng trồng thâm canh giống mới sẽ đạt trung bình 20 m³/ha/năm vào năm 2025 và 22 m³/ha/năm vào năm 2030.
Keo tai tượng là cây gỗ lớn, phát triển nhanh, phù hợp với mục tiêu của Chiến lược Gỗ của loài cây này có đặc tính lý tưởng cho chế biến đồ mộc gia dụng và sản phẩm thủ công mỹ nghệ, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu, đặc biệt tại vùng Đông.
Bắc Bộ là khu vực kinh tế lâm nghiệp quan trọng của các tỉnh miền núi phía Bắc, đã được quy hoạch để phát triển trồng rừng gỗ lớn tập trung Thực tế đã chứng minh hiệu quả của việc này trong việc bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế bền vững.
Formatted: Font: Harlow Solid Italic
Đặc điểm đất đai và khí hậu ở vùng Đông Bắc Bộ rất phù hợp cho sự phát triển của các loài keo, đặc biệt là Keo tai tượng Việc trồng rừng Keo tai tượng tại Quảng Ninh không chỉ hợp lý mà còn cần thiết để cung cấp gỗ lớn cho khu vực này Hiện tại, Quảng Ninh có khoảng 247.838 ha rừng trồng sản xuất, trong đó diện tích rừng trồng Keo tai tượng chiếm hơn 60%.
Bón phân cho rừng trồng là biện pháp kỹ thuật quan trọng trong thâm canh rừng Việc bón phân cần dựa vào nhu cầu dinh dưỡng của từng loài cây và khả năng cung cấp dinh dưỡng của đất Xác định loại phân và liều lượng phù hợp không chỉ nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón mà còn tiết kiệm chi phí, tăng hiệu quả kinh tế cho người trồng rừng Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy việc bón phân cho các loài keo trên nhiều loại đất ở các vùng sinh thái khác nhau vẫn chưa được thực hiện một cách tối ưu.
Việc sử dụng 200 g NPK kết hợp với 300-500 g phân vi sinh hữu cơ là các phương pháp thử nghiệm nhằm tìm ra cách bón phân hiệu quả nhất cho rừng Keo tai tượng Xác định thời điểm bón phân cũng là một yếu tố kỹ thuật quan trọng để nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón Thực tế cho thấy, nhiều người vẫn dựa vào kinh nghiệm và thường bón phân vào đầu mùa mưa hoặc giữa mùa sinh trưởng, nhưng điều này chưa chắc đã tối ưu cho cây trồng Do đó, nghiên cứu “Giải pháp bón phân hợp lý cho rừng trồng Keo tai tượng (Acacia mangium Willd) ở Quảng Ninh” là cần thiết, nhằm xác định loại và lượng phân bón phù hợp cũng như thời điểm bón phân tối ưu cho cây.
Mục tiêu nghiên cứu
Bài viết này nhằm bổ sung cơ sở khoa học về phân bón và phương pháp bón phân cho việc trồng rừng keo, từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế trong lĩnh vực này tại Việt Nam.
+ Xác định được nhu cầu phân bón cho rừng trồng Keo tai tượng;
+ Xác định được ảnh hưởng của thời điểm bón phân đến sinh trưởng rừng trồng Keo tai tượng.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Ý nghĩa khoa học: Luận án đã góp phần xây dựng các luận cứ khoa học làm cơ sở bón phân rừng trồng Keo tai tượng
Đã đề xuất một số biện pháp kỹ thuật nhằm xác định liều lượng và thời điểm bón phân cho rừng trồng Keo tai tượng tại Quảng Ninh, mang lại ý nghĩa thực tiễn quan trọng cho việc quản lý và phát triển bền vững rừng trồng.
Những đóng góp mới
- Đã xác định được loại phân và liều lượng phân bón cho rừng trồng Keo tai tượng ở Quảng Ninh và một số tỉnh lân cận vùng Đông Bắc Bộ;
- Đã xác định được thời điểm bón phân thích hợp cho rừng trồng Keo tai tượng ở Quảng Ninh và một số tỉnh lân cận vùng Đông Bắc Bộ.
Đối tượng và địa điểm nghiên cứu
- Đất feralit phát triển trên phiến thạch sét ở Uông Bí, Quảng Ninh
- Loài cây: Keo tai tượng (Acacia mangium Willd), xuất xứ Pongaki
Mật độ trồng 1.100 cây/ha (3 m x 3 m)
Trạm thực nghiệm Nông lâm nghiệp Miếu Trắng thuộc Trường Cao đẳng Nông Lâm Đông Bắc, phường Bắc Sơn, Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
Giới hạn nghiên cứu
6.1 Giới hạn về nội dung nghiên cứu
Khu vực trồng rừng được nghiên cứu với các đặc điểm lập địa quan trọng như khí hậu, chế độ nhiệt, chế độ ánh sáng và lượng mưa Đối với đất đai, nghiên cứu chỉ tập trung vào hai dạng tiểu lập địa, trong đó tiểu lập địa A có độ dày tầng đất đáng chú ý.
≥ 80 cm và tỷ lệđá lẫn/đá lộđầu 45 %
Các nghiên cứu định lượng tổng sinh khối trên và dưới mặt đất đã được thực hiện để xác định ảnh hưởng của loại phân, liều lượng và thời điểm bón phân Kết quả cho thấy tổng sinh khối trên mặt đất, bao gồm thân, cành và lá, cũng như tổng sinh khối của rễ cám, có sự khác biệt rõ rệt giữa các công thức thí nghiệm.
Nghiên cứu về lượng vật rơi rụng và tốc độ phân hủy cho thấy chúng đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp dinh dưỡng cho đất Bên cạnh đó, lượng rễ cám chết và quá trình phân hủy của chúng cũng góp phần hoàn trả dinh dưỡng cho đất Các yếu tố đa lượng như N, P, K được tập trung nghiên cứu nhằm đánh giá khả năng hoàn trả dinh dưỡng cho đất.
- Đề xuất giải pháp kỹ thuật cho trồng rừng Keo tai tượng ở Quảng Ninh
6.2 Giới hạn về địa bàn nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại Trạm thực nghiệm Nông lâm nghiệp Miếu Trắng, thuộc Trường Cao đẳng Nông Lâm Đông Bắc, tọa lạc tại phường Bắc Sơn, Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
Bố cục luận án
Luận án gồm 126 trang, 22 bảng; 19 sơđồ, hình ảnh, với các phần chính sau:
- Chương 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu (20 trang)
- Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu (22 trang)
- Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận (62 trang)
- Kết luận, tồn tại và khuyến nghị (4 trang)
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Giới thiệu chung về cây Keo tai tượng
1.1.1 Đặc điểm phân bố và sinh thái
Keo tai tượng (Acacia mangium Willd) có phân bố tự nhiên từ
Australia, Papua New Guinea và Indonexia Phân bố chủ yếu từ 8 o đến 18 o vĩ độ Nam, ởđộ cao dưới 300 m so với mực nước biển, lượng mưa trung bình
1.500–3.000 mm/năm (Doran và cộng sự, 1997)[56]
Keo tai tượng, một loài cây đặc trưng, được tìm thấy tự nhiên tại Queensland, Australia, với hai khu vực phân bố chính từ Jardine đến Claudie River (vĩ độ 11°20'–12°44' Nam) và từ Ayton đến Nam Ingham (vĩ độ 15°54'–18°30' Nam) Vùng phân bố chủ yếu là khu vực nhiệt đới duyên hải thấp, có độ cao dưới 800 m so với mực nước biển Ngoài Australia, keo tai tượng còn mở rộng phân bố đến các tỉnh miền tây Papua New Guinea.
Formatted: Font: Harlow Solid Italic Formatted: Font: Harlow Solid Italic
Irian Jaya (0 o 08’ vĩ độ Nam) thuộc Indonesia (Awang Kamis và David
Vùng sinh thái Keo tai tượng có đặc điểm khí hậu nhiệt đới ẩm, với mùa khô kéo dài từ 4 đến 6 tháng Lượng mưa trung bình dao động từ 1.446 đến 2.970 mm, trong khi nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất từ 13 đến 21 độ C và nhiệt độ trung bình tháng cao nhất từ 25 đến 32 độ C.
Theo nghiên cứu của MacDicken, K.G (1994), cây Keo tai tượng phân bố tự nhiên ở những khu vực có lượng mưa từ 1.000-4.500 mm/năm và sinh trưởng tốt ở độ cao dưới 300 m so với mực nước biển, mặc dù cũng được tìm thấy ở độ cao 700 m Cây này có thể chịu được nhiệt độ trung bình cao nhất từ 31-34 o C và thấp nhất từ 12-16 o C, đồng thời có khả năng chịu sương giá nhẹ Keo tai tượng có thể sống trên nhiều loại đất khác nhau, nhưng phát triển tốt nhất trên đất sâu, ẩm, giàu mùn với pH không dưới 4,5.
Khi nghiên cứu đặc điểm hình thái của 14 loài keo tìm thấy ở Papua New
Keo tai tượng là loài cây gỗ lớn, có thể đạt chiều cao tối đa 30 m và đường kính từ 25-50 cm khi trưởng thành Turnbull (1998) đã mô tả loài cây này, trong khi MacDicken (1988) nhấn mạnh tiềm năng sinh trưởng nhanh của nó trên nhiều dạng lập địa khác nhau, đặc biệt là trên đất hoang hóa ở Sabah, Malaysia Nghiên cứu của MacDicken (1994) cũng khẳng định những đặc điểm nổi bật của Keo tai tượng.
Keo tai tượng là một loài cây gỗ lớn, thường xanh, có chiều cao lên tới 30 m và đường kính từ 25-50 cm Khi nghiên cứu về việc lựa chọn và quản lý các loài cây cố định đạm ở nhiều quốc gia khác nhau, tác giả đã mô tả đặc điểm nổi bật của loài cây này.
Khi cây đạt chiều cao 90 cm, nó có hình dáng đẹp, thân thẳng và tròn đều, thường phân cành ở độ cao lớn hơn 1/2 chiều cao của cây Loài này có lá giả (phyllodinnous), với một vài cặp lá đầu tiên là lá kép lông chim, được gọi là lá thật Sau đó, cây phát triển thế hệ lá giả là lá đơn mọc cách, tồn tại đến hết đời cây Lá giả ở cây trưởng thành có chiều dài trung bình 25 cm và rộng từ 5-10 cm.
Nghiên cứu trên thế giới
1.2.1 Điều kiện lập địa trồng rừng
Tập hợp kết quả nghiên cứu ở các nước vùng nhiệt đới, tổ chức Nông
Khả năng sinh trưởng của rừng trồng, đặc biệt là rừng nguyên liệu công nghiệp từ cây mọc nhanh như keo, phụ thuộc vào bốn yếu tố chính: khí hậu, địa hình, loại đất và hiện trạng thực bì (FAO, 1984) Nghiên cứu về rừng mưa nhiệt đới ở Australia cũng cho thấy sinh trưởng của cây rừng phụ thuộc vào đá mẹ, độ ẩm đất, thành phần cơ giới, CaCO₃, hàm lượng mùn và đạm (Week, 1970) Hai nhận định này không mâu thuẫn, với Week cung cấp chi tiết cụ thể hơn, trong khi FAO mang tính tổng quát Nghiên cứu sản lượng rừng trồng bạch đàn và keo ở Brazil chỉ ra rằng năng suất rừng là sự kết hợp giữa kiểu gen, điều kiện lập địa và kỹ thuật canh tác (Golcalves và cộng sự, 2004) Hơn nữa, sản lượng rừng, đặc biệt là rừng trồng gỗ lớn, bị giới hạn bởi các yếu tố môi trường theo thứ tự quan trọng: nước, dinh dưỡng và độ sâu tầng đất.
Tại Papua New Guimea, đã tiến hành khảo nghiệm loài kết hợp với khảo nghiệm xuất xứ của 3 loài: Keo tai tượng, Keo lá tràm (A auriculiformis) và
Bạch đàn (Eucalyptus deglupta) phát triển trên ba loại đất khác nhau: đất thoát nước tốt, đất thoát nước kém và đất đồng cỏ Sau 2,5 năm, các giống bạch đàn đều cho thấy sự sinh trưởng tốt nhất trên đất thoát nước tốt, trong khi sinh trưởng kém hơn trên đất thoát nước kém và rất kém trên đất đồng cỏ Đặc biệt, các giống Balamuk PNG và Toko PNG của Keo tai tượng đạt chiều cao 12,2 cm trên đất thoát nước tốt.
12,4 m Ở Tây Timo cũng khảo nghiệm 9 loài keo trên lập địa có độ pH ≈ 7,5 và
Sau 2,6 năm tuổi, một số loài sinh trưởng tốt và có triển vọng đã được xác định trên đất có mức kiềm khác nhau Tại Madagascar, 5 loài keo đã được khảo nghiệm trên đất cát nghèo dinh dưỡng, và sau 3 năm trồng, tỷ lệ sống của các loài này đạt 60%.
90 %, chiều cao trung bình đạt 2-4,9 m; hai loài Keo tai tượng và Keo lá liềm (A crasscarpa) mặc dù có tỷ lệ sống chỉ còn ≈ 60%, nhưng chiều cao lại đạt 4,6-4,9 m
Nghiên cứu của MacDicken (1988) cho thấy cây Keo tai tượng có khả năng phát triển trên đất hoang hóa ở khu vực châu Á Thái Bình Dương, đặc biệt là ở những vùng đất nghèo, xói mòn, có tỷ lệ đá cao, tầng đất nông, đất chua hoặc đất ngập nước ngắn ngày, mặc dù sinh trưởng kém và nhiều cành nhánh Tuy nhiên, cây này phát triển tốt và mang lại hiệu quả kinh tế cao khi được trồng trên đất sâu, ẩm, ít sỏi/đá lẫn, với pH không thấp dưới 4,5.
Nghiên cứu của MacDicken (1994) cho thấy khả năng sinh trưởng của Keo tai tượng ở các vùng sinh thái khác nhau trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương có sự biến đổi rõ rệt, tùy thuộc vào từng lập địa cụ thể.
Sự sinh trưởng của cây Keo tai tượng khác nhau tùy thuộc vào địa điểm trồng Tại Chung Pu (Đài Loan), sau 4 năm tuổi, chiều cao chỉ đạt 8,8 m, đường kính ngang ngực 9,4 cm và năng suất gỗ 23,4 m³/ha/năm Trong khi đó, ở Brumas, Sabah (Malaysia), cùng độ tuổi, cây có chiều cao lên tới 20,7 m, đường kính 14,5 cm và năng suất gỗ đạt 44,5 m³/ha/năm Ngay trong cùng một quốc gia, sự khác biệt cũng rõ rệt; tại Hathazari (Bangladesh), sau 4,5 năm tuổi, cây chỉ cao 6,2 m, đường kính 7,1 cm và năng suất gỗ 8,7 m³/ha/năm.
Chittagong (Bangladesh) sau 4,5 năm tuổi đạt chiều cao 8,9 m, đường kính ngang ngực 10,7 cm và năng suất gỗ 17,1 m³/ha/năm Nghiên cứu của MacDicken (1994) và Hung T.T (2019) cho thấy cây họ đậu có khả năng cố định đạm sinh học cao hơn so với cây không phải họ đậu Hàm lượng N trong lá cây họ đậu cũng cao hơn so với các bộ phận khác của cùng một cây, và lá của cây họ đậu có khả năng cố định đạm chứa hàm lượng N cao hơn so với cây không cố định đạm Ngoài ra, các nghiên cứu về khảo nghiệm giống đã sử dụng chỉ tiêu sinh trưởng để đánh giá và chọn giống.
Keo tai tượng, điển hình như công bố của Griffin và cộng sự (2010) [63];
Arnold và cộng sự (2003) [42]; Lim và Gan, (2000) [73]; Chatarpaul và cộng sự (1983) [51]; Baggayan và cộng sự (1998) [44]; Bai và cộng sự (1997) [45];
Ani và cộng sự (1993) [41]; Nguyen Toan Thang và cộng sự (2019) [84]
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng điều kiện lập địa ảnh hưởng rõ rệt đến sự sinh trưởng của các loài keo Việc xác định điều kiện lập địa phù hợp cho trồng rừng Keo tai tượng không chỉ giúp cung cấp gỗ lớn mà còn là một biện pháp kỹ thuật quan trọng để nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng.
1.2.2 Nhu cầu phân bón rừng trồng
Bón phân cho rừng trồng là biện pháp kỹ thuật quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến hệ rễ và năng suất chất lượng của rừng trồng Keo tai tượng Nghiên cứu về vấn đề này đã thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học toàn cầu từ sớm, với nhiều công trình tiêu biểu như của Mello (1976).
Schonau (1985) [92] bón phân cho E grandis, Bolstad (1988) [49] và Herrero
Việc bón phân cho rừng trồng, như Pinus caribeae, hiện vẫn dựa trên một số ít nghiên cứu khoa học Một nghiên cứu tiêu biểu là của Simpson (2004), tập trung vào phân bón cho rừng A mangium ở Queensland, Australia Tác giả đã phân tích hàm lượng dinh dưỡng trong lá cây và đất, đặc biệt là các nguyên tố đa lượng như N, P, K Kết quả cho thấy hàm lượng các nguyên tố này trong lá có thể chỉ ra sự thiếu hụt dinh dưỡng trong đất, từ đó xác định nhu cầu bổ sung nguyên tố P cho đất.
Nghiên cứu cho thấy rằng lượng phân bón cần thiết cho cây trồng là 50 kg P/ha Bên cạnh đó, K là nguyên tố thường ít thiếu hụt trong đất trồng rừng các loài keo ở Kalimantan, Trung Quốc và Việt Nam Các nguyên tố trung lượng và vi lượng như Mg, Bo, Ca, Zn, Mn và Cu không thực sự thiếu hụt.
Formatted sự thiếu hụt trong các loại đất trồng rừng nói chung (Beadle và cộng sự, 2006)
Các loài keo có khả năng cố định đạm sinh học, do đó rất cần lân cho các hoạt động cố định đạm Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã tập trung vào việc xác định lượng lân cần thiết bổ sung cho rừng trồng, điển hình là công trình của Mead và Miller (1991).
[77], các tác giảđã thử nghiệm cho rừng trồng Keo tai tượng, bón lót 100 g
Sau 6 tháng bón thúc 150 g P/cây, kết quả cho thấy sự khác biệt rõ rệt so với bón NPK thông thường Xuifang và cộng sự (2006) cho rằng P và K là những khoáng chất thiết yếu cho sự phát triển và tăng trưởng sinh học, nhưng nồng độ của chúng trong đất thường rất thấp Các loại đất giàu P và K thường có nguồn gốc từ đá không hòa tan và đá trầm tích, mặc dù P và K tồn tại nhiều trong đất nhưng ở dạng không sử dụng được cho cây Khi gặp điều kiện thích hợp, chúng sẽ chuyển thành dạng có thể sử dụng cho cây trồng Ngoài ra, vi sinh vật đất đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển hóa P và K từ dạng khó sử dụng sang dạng có thể hấp thụ bởi rễ cây.
Nghiên cứu về sinh khối rễ cây họ đậu, bao gồm cả cây Keo tai tượng, của Sprent và Spren (1990) đã chỉ ra rằng năng suất sinh khối, trọng lượng nốt sần cố định đạm ở rễ và hàm lượng N từ quá trình cố định đạm cộng sinh có thể chuyển hóa từ không khí vào đất Số liệu cho thấy trồng cây cố định đạm với mật độ cao trên đất tốt ở vùng nhiệt đới có thể đạt tổng sinh khối lên đến 20 tấn/ha/năm, và sau 5 năm trồng có thể đạt 100 tấn.
Formatted sinh khối trên mặt đất Ngoài ra, có thể thu 1-4 tấn nốt sần ở trong đất, trong đó có khoảng 40-240 kg N
Cơ sở khoa học cho việc bón phân rừng trồng dựa vào nhu cầu dinh dưỡng của từng loài cây và khả năng cung cấp chất dinh dưỡng của đất tại từng địa điểm cụ thể.
1.2.3 Thời điểm bón phân rừng trồng
Nghiên cứu ở trong nước
1.3.1 Thực trạng rừng trồng keo
Tính đến ngày 31/12/2020, tổng diện tích đất có rừng ở Việt Nam đạt 14.677.215 ha, bao gồm 10.279.185 ha rừng tự nhiên và 4.398.030 ha rừng trồng Diện tích này cũng bao gồm các loại rừng như rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất.
Rừng trồng tại Việt Nam, theo Bộ NN&PTNT (2021), có tổng diện tích lên tới 3.691.240 ha, trong đó khoảng 70% là rừng trồng các loài keo và bạch đàn Phần còn lại bao gồm các loài cây gỗ bản địa và cây lâm sản ngoài gỗ.
Formatted hết năm 2018, riêng diện tích trồng các loài keo trên phạm vi cả nước đã đạt
Diện tích rừng trồng sản xuất tại Việt Nam đạt 1.927.954 ha, chiếm 55,15% tổng diện tích Nhiều tỉnh có tỷ lệ trồng các loài keo lên tới 80%, chủ yếu là Keo lai và Keo tai tượng (Nguyễn Huy Sơn, 2020) [37].
1.3.2 Điều kiện lập địa trồng rừng Ảnh hưởng của điều kiện lập địa đến khả năng sinh trưởng và năng suất gỗ rừng trồng đã được khẳng định khá rõ trong các công trình của Hoàng Xuân Tý
Nghiên cứu của Phạm Thế Dũng (2004) chỉ ra rằng cây Keo lai phát triển tốt hơn trên đất nâu đỏ so với đất xám phù sa cổ, mặc dù áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh giống nhau Đỗ Đình Sâm (2001) đã xây dựng bộ tiêu chí đánh giá đất lâm nghiệp cấp xã với 6 tiêu chí và 24 chỉ tiêu về điều kiện tự nhiên, cùng 5 tiêu chí về điều kiện kinh tế xã hội Công trình nghiên cứu của Nguyễn Huy Sơn cũng đóng góp quan trọng trong lĩnh vực này.
Nghiên cứu năm 2006 về trồng rừng thâm canh Keo lai đã chỉ ra sự thích ứng của cây trồng này ở các vùng sinh thái và dạng lập địa khác nhau, đặc biệt là trên đất phù sa cổ tại Bầu Bàng.
Bình Dương (Đông Nam Bộ); trên đất xám phát triển trên đá granit ở Kon Ch'ro-
Gia Lai (Tây Nguyên); trên đất feralit phát triển trên đá phiến thạch sét ở Cam
Kết quả nghiên cứu cho thấy khả năng sinh trưởng và năng suất gỗ rừng trồng ở năm thứ 3 giảm dần từ Nam ra Bắc, cụ thể là từ Đông Nam bộ đến Bắc Trung bộ và cuối cùng là Đông Bắc bộ, bao gồm Lộ, Quảng Trị và Đồng Hỷ-Thái Nguyên.
Bộ Ngoài ra, khả năng sinh trưởng và năng suất gỗ rừng trồng ở Kon Ch'ro (Gia
Lai) mặc dù ởđộ cao khoảng 300-400 m so với mực nước biển, nhưng chỉ tương đương với rừng trồng ở Thái Nguyên Điều này cho thấy khả năng sinh trưởng và
Năng suất gỗ của rừng trồng Keo lai phụ thuộc vào đặc điểm đất và khí hậu, đặc biệt là chế độ nhiệt ở các vùng sinh thái khác nhau Nghiên cứu cho thấy các điều kiện lập địa khác nhau có ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của rừng trồng keo, bao gồm cả rừng trồng Keo tai tượng.
Điều kiện lập địa là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế của rừng trồng, đặc biệt là đối với cây Keo tai tượng Các yếu tố như vùng sinh thái, chế độ nhiệt, lượng mưa, mùa vụ và điều kiện thổ nhưỡng quyết định sự sinh trưởng và phát triển của rừng trồng Keo tai tượng.
1.3.3 Nhu cầu phân bón rừng trồng
Bón phân cho rừng trồng là biện pháp kỹ thuật quan trọng trong thâm canh rừng, được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và khuyến nghị.
Việt Nam đang tích cực nghiên cứu về cây Keo lai với nhiều công trình tiêu biểu, như nghiên cứu của Vũ Tiến Lâm (2019) về bón phân cho Keo lai ở Đông Nam Bộ, và công trình của Lê Quốc Huy cùng các cộng sự (2002) nhằm hoàn thiện công nghệ chế biến chế phẩm Rhizobium cho Keo lai và Keo tai tượng tại vườn ươm và rừng non Ngoài ra, còn có các nghiên cứu của Phạm Thế Dũng (2003) và Nguyễn Toàn Thắng (2020) góp phần làm phong phú thêm kiến thức về cây trồng này.
Nghiên cứu về việc bón phân cho cây keo và bạch đàn tại miền Đông và Tây Nam Bộ đã được thực hiện, trong đó nổi bật là công trình của Nguyễn Huy Sơn (2006) về trồng rừng thâm canh cây keo tai tượng tại Đồng Nơ, huyện Bình Long, tỉnh Bình Phước.
[35], thí nghiệm được bố trí trên đất phù sa cổ với 9 công thức bón lót khác
Mật độ trồng ban đầu là 1.660 cây/ha, sau 2 năm, công thức bón lót 150-200 g NPK (14:8:6) kết hợp với 300 g phân hữu cơ vi sinh/hố cho khả năng sinh trưởng tốt nhất, với đường kính ngang ngực đạt 7,85-8,06 cm và chiều cao 6,69-6,81 m Cuối năm thứ 2, mô hình được chia làm 2 phần: một phần bón thúc với liều lượng như bón lót, phần còn lại không bón làm đối chứng Kết quả cho thấy sau 36 tháng trồng, khả năng sinh trưởng của các công thức bón thúc cao hơn rõ rệt so với công thức không bón thúc, với đường kính ngang ngực trung bình đạt 10,40 cm và chiều cao 9,43 m, trong khi công thức không bón thúc chỉ đạt 9,97 cm và 9,09 m.
Bón lót và bón thúc trong năm thứ hai có ảnh hưởng rõ rệt đến khả năng sinh trưởng của cây Keo tai tượng.
Khi nghiên cứu chuyển hóa rừng trồng keo và bạch đàn làm gỗ xẻở Quảng
Trị, Đặng Văn Thuyết (2010) [38] đã tiến hành bố trí các thí nghiệm bón phân cho rừng trồng sau tỉa thưa, kết quả cho thấy sau 1 năm bón thúc NPK 150 g +
Việc bón 150 g phân vi sinh cho mỗi cây mang lại năng suất 10,7 m³/ha/năm, cao hơn so với công thức không bón thúc chỉ đạt 9,7 m³/ha/năm ở mật độ 400 cây/ha Tương tự, ở mật độ 500 cây/ha, năng suất trung bình đạt 12,9 m³/ha/năm so với 9,0 m³/ha/năm Ở mật độ 600 cây/ha, các trị số tương ứng là 15,1 m³/ha/năm và 12,4 m³/ha/năm Cuối cùng, ở mật độ 800 cây/ha, năng suất đạt 16,1 m³/ha/năm so với 13,3 m³/ha/năm Rõ ràng, việc bón thúc phân ngay sau khi tỉa thưa rừng là rất cần thiết để tối ưu hóa năng suất.
Formatted chuyển hóa rừng gỗ nhỏ thành rừng gỗ lớn cũng có tác dụng và hiệu quả nhất định
Phạm Thế Dũng (2012) [19]; Nguyễn Toàn Thắng (2021), [39]; Vu
Thảo luận chung
Nghiên cứu cho thấy để nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng Keo tai tượng, cần giải quyết các vấn đề như chọn lập địa thích hợp, xử lý thực bì, làm đất, trồng và chăm sóc Việc xác định loại phân, lượng phân và thời điểm bón phân cũng rất quan trọng Hiện nay, bón phân cho rừng trồng Keo tai tượng thường áp dụng bón lót với 300-500 g phân hữu cơ vi sinh hoặc 100-300 g NPK cho mỗi hố, trong khi hầu hết không có bón thúc.
Hiện nay, việc xác định thời điểm bón phân chủ yếu dựa vào kinh nghiệm truyền thống, như đầu mùa mưa và mùa sinh trưởng, thay vì dựa vào nhu cầu thực sự của cây Nghiên cứu này đặt ra mục tiêu xác định thời điểm phát triển mạnh nhất của rễ cám, bộ phận chính hút chất dinh dưỡng và nước cho cây Từ đó, nghiên cứu sẽ giúp xác định thời điểm tối ưu để bón thúc, nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón.
Luận án này nhằm xác định thời điểm bón phân một cách chính xác hơn bằng cách sử dụng phương pháp phân tích ảnh rễ cám.
Formatted giảm lượng phân bón, tăng năng suất cây trồng đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn cho người trồng Keo tai tượng
Nghiên cứu này tập trung vào các cơ sở khoa học về bón phân cho rừng trồng Keo tai tượng tại Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh Các nội dung nghiên cứu bao gồm: đặc điểm điều kiện lập địa nơi trồng rừng, xác định nhu cầu phân bón cho rừng trồng, thời điểm bón phân thích hợp, và các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến hoàn trả dinh dưỡng của đất rừng trồng Keo tai tượng.
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nội dung nghiên cứu
Đểđạt được mục tiêu, luận án đặt ra 5 nội dung nghiên cứu sau:
2.1.1 Đặ c đ i ể m đ i ề u ki ệ n l ậ p đị a khu v ự c tr ồ ng r ừ ng
- Đặc điểm khí hậu: chếđộ nhiệt, chếđộẩm;
- Đặc điểm đất: tính chất lý, hóa đất;
- Đặc điểm địa hình: độ cao, độ dốc nơi trồng rừng
2.1.2 Xác đị nh th ờ i đ i ể m bón phân thích h ợ p cho r ừ ng tr ồ ng Keo tai t ượ ng
- Xác định thời điểm bón phân thích hợp;
- Ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng cây trồng;
- Ảnh hưởng của phân bón đến sinh khối trên mặt đất
2.1.3 Xác đị nh nhu c ầ u phân bón c ủ a r ừ ng tr ồ ng Keo tai t ượ ng
- Đánh giá thực trạng dinh dưỡng khoáng (N, P, K) trong đất rừng trồng
- Đánh giá nhu cầu dinh dưỡng khoáng ở giai đoạn 1 và 2 năm tuổi thông qua các chất khoáng đa lượng (N, P, K) trong lá cây;
- Ảnh hưởng của lượng phân bón thúc đến sinh trưởng rừng trồng
2.1.4 Nghiên c ứ u các y ế u t ố c ơ b ả n ả nh h ưở ng đế n độ phì đấ t r ừ ng tr ồ ng
- Ảnh hưởng của vật rơi rụng trên mặt đất đến độ phì của đất (lượng rơi rụng, tốc độ phân hủy, hàm lượng chất khoáng trả lại cho đất);
Lượng rễ cám chết và quá trình phân hủy của chúng có ảnh hưởng đáng kể đến độ phì nhiêu của đất Sự phân hủy rễ cám không chỉ cung cấp hàm lượng chất khoáng trở lại cho đất mà còn ảnh hưởng đến tốc độ phân hủy, từ đó cải thiện cấu trúc và tính chất của đất Việc hiểu rõ mối quan hệ này là cần thiết để tối ưu hóa việc quản lý đất nông nghiệp và nâng cao năng suất cây trồng.
2.1.5 Đề xu ấ t bi ệ n pháp k ỹ thu ậ t bón phân cho r ừ ng tr ồ ng Keo tai t ượ ng
Dựa trên kết quả của luận án và kế thừa các nghiên cứu trước đây, bài viết đề xuất các biện pháp kỹ thuật phù hợp cho việc trồng rừng Keo tai tượng tại Quảng Ninh và một số tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Bộ.
Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Quan đ i ể m và cách ti ế p c ậ n Để thực hiện các nội dung nghiên cứu đặt ra, trong phạm vi luận án này đã sử dụng các phương pháp tiếp cận sau đây:
Luận án nghiên cứu tiếp cận theo từng loài cây, dựa trên các nghiên cứu trước đây và kế thừa những kết quả về giống cây tiến bộ kỹ thuật cùng với biện pháp kỹ thuật thâm canh Mục tiêu là bố trí thí nghiệm theo phương pháp sinh thái thực nghiệm.
Tiếp cận theo phương pháp hệ thống giúp kế thừa các tiến bộ kỹ thuật về giống và biện pháp thâm canh rừng trồng Các thí nghiệm được bố trí một cách hệ thống nhằm xác định các chỉ tiêu cần thiết, đảm bảo tính khách quan và đáp ứng các mục tiêu đã đề ra.
Trong giai đoạn sinh trưởng của cây rừng, đặc biệt là ở thời kỳ rừng non, từ khi mới trồng cho đến khi khép tán, nhu cầu dinh dưỡng khoáng của cây rất quan trọng.
Mỗi loài cây có nhu cầu dinh dưỡng khác nhau, do đó việc nghiên cứu và xác định nhu cầu dinh dưỡng, loại phân, lượng phân và thời điểm bón phân phù hợp là rất quan trọng Điều này không chỉ giúp tiết kiệm phân bón mà còn thúc đẩy sự sinh trưởng của rừng trồng.
Nghiên cứu này tập trung vào các phương pháp bón phân cho rừng trồng Keo tai tượng, với các nội dung chính được phân tích và trình bày chi tiết.
- Đặc điểm điều kiện lập địa nơi trồng rừng;
- Nghiên cứu xác định nhu cầu phân bón cho rừng trồng;
- Nghiên cứu xác định thời điểm bón phân thích hợp cho rừng trồng;
- Nghiên cứu các yếu tố trung lượng cơ bản ảnh hưởng đến độ phì của đất rừng trồng Keo tai tượng
Hình 2.1: Sơđồ các bước nghiên cứu
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng từ giai đoạn rừng trồng khép tán trở đi, rừng có khả năng tự cân bằng dinh dưỡng khoáng để hỗ trợ sự phát triển bình thường của cây rừng (Phạm Thế Dũng, 2012; Kiều Tuấn Đạt, 2015) Do đó, luận án này sẽ tập trung vào việc nghiên cứu nhu cầu phân bón cho rừng non Keo tai tượng trên đất feralít phát triển trên đá phiến thạch sét tại tỉnh Quảng Ninh.
2.2.2 Ph ươ ng pháp nghiên c ứ u t ổ ng quát
Formatted: Font: Harlow Solid Italic Formatted: Font: Harlow Solid Italic
Sử dụng phương pháp chuyên gia kết hợp điều tra khảo sát để thu thập số liệu về đặc điểm điều kiện lập địa ở Quảng Ninh nhằm chọn địa điểm và loại đất trồng rừng đại diện Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật về giống và trồng rừng thâm canh để bố trí thí nghiệm theo phương pháp sinh thái thực nghiệm, kết hợp với phân tích trong phòng để xác định các chỉ tiêu cần thiết.
Thu thập số liệu định kỳ trên ô tiêu chuẩn (OTC/CTTN):
- Thí nghiệm xác định thời điểm bón phân thích hợp, định vào thời điểm
3, 6, 9, 12, 15 và 48 tháng sau khi trồng, đo số liệu sinh trưởng, mỗi CTTN đo
Thí nghiệm xác định nhu cầu phân bón được thực hiện bằng cách đo số liệu hai lần khi rừng đạt 24 và 48 tháng tuổi Toàn bộ cây trong CTTN được đo, với 36 cây được ghi nhận cho cả hai tiểu lập địa A và B.
- Thí nghiệm xác định các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến độ phì của đất định kỳ 3 tháng thu thập số liệu trong OTC (5 lần)
Các số liệu sinh trưởng quan trọng bao gồm đường kính gốc (Do), đường kính ngang ngực (D1,3), chiều cao vút ngọn (Hvn) và đường kính tán lá (Dt) Để đo các chỉ số này, sử dụng thước kẹp kính cho Do và D1,3, sào đo cao cho Hvn, và thước dây kết hợp với sào có khắc vạch đến cm cho Dt.
Thu thập hình ảnh rễ cám (đường kính ≤ 2 mm) bằng phương pháp quét, với thiết bị được chôn dưới đất và kết nối với máy tính, nhằm định lượng sự phát triển của rễ cám thông qua hình ảnh bằng phần mềm Rootfly.
Xác định nhu cầu dinh dưỡng khoáng N, P, K thông qua tổng số tích lũy trong cây, so sánh với N, P, K trong đất
Xử lý số liệu theo phương pháp thống kê sinh học có sự trợ giúp của các phần mềm chuyên dụng Excel và SPSS
2.2.3 Ph ươ ng pháp nghiên c ứ u c ụ th ể
2.2.3.1 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm điều kiện lập địa khu vực trồng rừng a/ Đặc điểm khí hậu gồm chếđộ nhiệt và chếđộẩm
Sử dụng phương pháp kế thừa, chúng tôi đã thu thập số liệu từ trạm khí tượng thủy văn gần nhất tại Uông Bí, Quảng Ninh, cùng với số liệu từ các trạm khí tượng khác để đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của dữ liệu.
Hàm Yên - Tuyên Quang, số liệu được tính trung bình cho 5 năm gần nhất
Dựa trên dữ liệu từ các trạm khí tượng gần nhất, luận án đã lắp đặt máy đo nhiệt độ trong một năm, tự động ghi số liệu mỗi 5 phút Hai máy được đặt, một máy ở độ sâu 10 cm dưới mặt đất và một máy ở độ cao 30 cm so với mặt đất Sau một năm, toàn bộ dữ liệu được chuyển vào Excel để phân tích và đánh giá.
Hình 2.2 Máy đo nhiệt độ không khí và đất b/ Đặc điểm đất
Formatted: Font: Harlow Solid Italic Formatted: Font: Harlow Solid Italic Formatted: Font: Harlow Solid Italic Formatted: Font: Harlow Solid Italic
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến độ phì đất rừng trồng đã tiến hành điều tra 3 phẫu diện đất chính và 6 phẫu diện đất phụ để xác định đặc điểm đất trước khi trồng Phẫu diện chính nằm ở giữa sườn đồi với kích thước 80 cm x 150 cm x 50 cm, trong khi phẫu diện phụ cách phẫu diện chính 100-150 m và có kích thước 60 cm x 100 cm x 50 cm Mỗi phẫu diện chính lấy 2 mẫu đất ở độ sâu 0-20 cm và 30-50 cm, còn phẫu diện phụ cũng lấy 2 mẫu ở các độ sâu tương tự Các mẫu đất được trộn theo phương pháp chia 4 lấy nửa cho đến khi còn 0,5 kg/mẫu để phân tích Các chỉ tiêu phân tích bao gồm dung trọng, pH KCl, chất hữu cơ tổng số, đạm tổng số (Nts), P₂O₅ dễ tiêu, K₂O dễ tiêu, CEC, và thành phần cơ giới theo 3 cấp: 2,0-0,02 mm (cát), 0,02-0,002 mm (limon) và < 0,002 mm.
Thí nghiệm “Nghiên cứu về thời điểm bón phân thích hợp” và “Nghiên cứu về nhu cầu phân bón” được thực hiện trên hai dạng lập địa khác nhau: lập địa A với độ dày tầng đất ≥ 80 cm và tỷ lệ đá lẫn/đá lộ đầu < 10%, và lập địa B với độ dày tầng đất ≤ 50 cm và tỷ lệ đá lẫn/đá lộ đầu > 45% Tại mỗi lập địa, ba phẫu diện đất được điều tra, trong đó phẫu diện ở lập địa A lấy mẫu đất hỗn hợp từ độ sâu 0-80 cm, còn phẫu diện ở lập địa B lấy mẫu từ độ sâu 0-50 cm Đất từ ba phẫu diện trong cùng một dạng tiểu lập địa được trộn đều để tạo thành một mẫu đất có trọng lượng 0,5 kg phục vụ cho phân tích.
“Phương pháp chia 4 lấy nửa” hay còn gọi là phương pháp hỗn hợp (Nguyễn
Mười và cộng sự, 1979) [28] Các chỉ tiêu phân tích: pH KCl ; Nts; Mùn; P 2 O 5 dễ tiêu, vàK 2 O dễ tiêu; thành phần cơ giới theo 3 cấp hạt: 2-0,02 mm (cát); 0,02-
0,002 mm (limon) và < 0,002 mm (sét)
- Phân tích đất: Mẫu đất được phân tích tại Viện Nghiên cứu Sinh thái và
Môi trường rừng theo các tiêu chuẩn quốc gia, cụ thể như sau:
+ Dung trọng xác định theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN 6860: 2001 [1];
+ pH KCl xác định theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN 5979: 2007 [2];
+ Hữu cơ tổng số xác định theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN 4050-85 [3];
+ Nts tổng số xác định theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN 6498: 1999 [4];
+ P 2 O 5 dễ tiêu xác định theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN 5256: 2009 [5];
+ K 2 O dễ tiêu xác định theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN 8662: 2011 [6];
+ CEC xác định theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN 6646: 2000 [7];
+ Thành phần cơ giới xác định theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN 8567:2010
Khái quát đặc điểm khu vực nghiên cứu
2.3.1 Đ i ề u ki ệ n t ự nhiên vùng sinh thái Đ ông B ắ c B ộ Điều kiện tự nhiên các tiểu vùng sinh thái vùng ĐBB được liệt kê tại bảng
2.1 cho thấy vùng ĐBB được chia thành 10 tiểu vùng khác nhau, lượng mưa trung bình giao động từ 1.000 - 2.000 mm, nhiệt độ trung bình 15 - 24 0 C
Bảng 2.1 Tổng hợp điều kiện tự nhiên các tiểu vùng sinh thái Lâm nghiệp vùng Đông Bắc Bộ
Ti ể u vùng (TV) Di ệ n tích
(ha) Độ cao bình quân (m)
TV7 Thung l ũ ng sông H ồ ng, sông
TV9 Th ượ ng ngu ồ n sông Lô, sông Gâm 918.815 > 1000 21-23 1.800-4.500 Alisols/
Ferralsols TV11 Kh ố i núi đ á vôi Đồ ng V ă n 384.386 > 700 15-22 1.200-1.600 Calcisols/
Ferralsols TV12 Trung du Phú
Ti ể u vùng (TV) Di ệ n tích
(ha) Độ cao bình quân (m)
TV13 Kh ố i núi đ á vôi B ắ c S ơ n 393.098 > 700 20-22 1.400-1.600 Calcisols/
TV15 R ừ ng ng ậ p m ặ n ven bi ể n Đ ông
Gleysols (Nguồn: Vũ Tấn Phương và cộng sự, 2012 [30])
Khu vực bố trí thí nghiệm thực hiện luận án tại tiểu vùng 14 Đồi núi thấp Cao
Khu vực Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh có nhiệt độ trung bình năm dao động từ 18 đến 23 độ C, với lượng mưa trung bình từ 1.100 đến 1.800mm Biên độ nhiệt và lượng mưa hàng năm tại đây rất phù hợp cho việc trồng cây Keo tai tượng, đối tượng nghiên cứu trong luận án.
Hình 2.10 Bản đồ phân bốđộ cao vùng Đông Bắc Bộ
Hình 2.11 Bản đồ phân bố lượng mưa vùng Đông Bắc Bộ
2.3.2 Th ự c tr ạ ng phát tri ể n r ừ ng tr ồ ng t ạ i Qu ả ng Ninh
Tổng diện tích đất lâm nghiệp tại Quảng Ninh hiện nay là 440.531 ha, trong đó diện tích có rừng đạt 370.213 ha Cụ thể, rừng tự nhiên chiếm 121.872 ha, trong khi rừng trồng là 248.341 ha.
248.341 ha là rừng gỗ trồng núi đất, trong đó diện tích rừng trồng Keo tai tương ước đạt 60 %
Nhiều chủ trương, Nghị quyết của Đảng ủy và UBND tỉnh Quảng
Ninh gần đây rất chú trọng đến phát triển lâm nghiệp, chủ yếu tập trung vào trồng rừng cung cấp gỗ lớn, nhất là Keo tai tượng
Các nghiên cứu đã tập trung vào việc rà soát quỹ đất trống hiện có để xác định những khu vực phù hợp cho việc trồng cây gỗ lớn Mục tiêu là phủ xanh nhiều diện tích đất trống và trồng rừng gỗ lớn trong thời gian tới.
Formatted: Font: Harlow Solid Italic Formatted: Font: Harlow Solid Italic Formatted: Font: Harlow Solid Italic Formatted: Font: Harlow Solid Italic
Tỉnh Quảng Ninh đặt mục tiêu hàng năm dành 2-5% tổng GDP cho phát triển lâm nghiệp, nhằm nâng cao giá trị ngành lâm nghiệp trong GDP của tỉnh lên 7-10%.
Thảo luận: Khu vực nghiên cứu thuộc Trạm thực nghiệm Nông lâm nghiệp
Miếu Trắng, thuộc phường Vàng Danh, Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, nằm ở độ cao dưới 300 m so với mực nước biển với lượng mưa bình quân từ 2.000-2.500 mm Khí hậu nơi đây rất thuận lợi cho việc trồng các loài keo, đặc biệt là Keo tai tượng, tạo điều kiện lý tưởng cho các nghiên cứu và thí nghiệm.
Xác định thời điểm bón phân tối ưu cho từng loài cây trong các vùng sinh thái khác nhau giúp cây trồng hấp thụ hoàn toàn lượng phân bón, từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế cho người trồng rừng Việc sử dụng lượng phân bón thấp hơn và giảm chi phí nhân công không chỉ cải thiện sự sinh trưởng của cây mà còn hạn chế ô nhiễm môi trường nước, góp phần vào mục tiêu phát triển bền vững của ngành Lâm nghiệp.
Hiện nay, cây keo tai tượng được trồng phổ biến nhưng chủ yếu mang tính tự phát và chưa áp dụng nhiều khoa học kỹ thuật để nâng cao hiệu quả kinh tế Mùa trồng rừng diễn ra chủ yếu trong hai vụ: vụ Xuân từ tháng 1 đến tháng 3 và vụ Thu từ tháng 7 đến tháng 10 hàng năm, đây là thời điểm lý tưởng cho việc trồng rừng Dựa trên thực tế sản xuất, luận án khuyến nghị áp dụng thời vụ trồng rừng vào vụ Thu với mật độ 1.110 cây/ha (3 m x 3 m).