1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lịch sử quân khu x trong kháng chiến chống mỹ (1962 1971)

247 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lịch Sử Quân Khu X Trong Kháng Chiến Chống Mỹ (1962-1971)
Tác giả Trần Thị Lan
Người hướng dẫn Tiến sĩ Hồ Sơn Đài
Trường học University of Ho Chi Minh City
Chuyên ngành Lịch Sử
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 247
Dung lượng 8,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thành lập từ tháng 2 năm 1962 đến cuối tháng 10 năm 1963, Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy Miền quyết định điều chỉnh chiến trường, giải thể Quân khu 10, tách tỉnh Bình Long, Phước Long đặt

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRẦN THỊ LAN

LỊCH SỬ QUÂN KHU X TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ

(1962-1971)

LUẬN VĂN THẠC SỸ SỬ HỌC

CHYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ VIỆT NAM

MÃ SỐ : 60.22.54

Người hướng dẫn khoa học:

Tiến sĩ HỒ SƠN ĐÀI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2008

Trang 2

DẪN LUẬN

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Từ năm 1961, căn cứ vào sự phát triển của tình hình miền Nam sau phong trào Đồng khởi, khả năng và thực tế của cách mạng và sự giúp đỡ của các nước bạn, Quân ủy Trung ương xác định một số yêu cầu và chỉ tiêu

cụ thể mà quân đội ta cần hoàn thành ngay trong những năm 1961-1963

Bộ Quốc phòng Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà quyết định thành lập các Quân khu miền Nam và tổ chức cơ quan chỉ huy quân sự Miền (B2) Tháng

10 năm 1961, Hội nghị Trung ương Cục mở rộng lần thứ nhất quyết định thành lập các tổ chức chỉ huy quân sự các cấp: Ban Quân sự Miền (R); Bộ

tư lệnh cấp quân khu (T); Bộ chỉ huy cấp tỉnh, huyện đội (U và V) Đồng thời, Trung ương Cục phân chia chiến trường B2 thành các quân khu: Quân khu 7 (T1); Quân khu 8; Quân Khu 9; Quân khu Sài Gòn - Gia Định (T4); Quân khu 6 (cực Nam Trung Bộ và Nam Tây Nguyên - T6)

Năm 1962, trước yêu cầu của cách mạng ngày càng cao, để xây dựng khu vực tiếp giáp giữa Đông Nam Bộ, Nam Tây Nguyên, Cực Nam Trung

Bộ sát biên giới Campuchia thành căn cứ địa vững chắc, tạo thế liên hoàn, bảo vệ hành lang chiến lược và địa bàn đứng chân cho quân chủ lực

Tháng 2 năm 1962, Trung ương Cục quyết định thành lập Khu 10 (còn gọi là Quân khu căn cứ biên giới), gồm các tỉnh: Bình Long, Phước Long (tách ra từ Quân khu 7), Lâm Đồng và Quảng Đức (tách ra từ Quân khu 6),

do đồng chí Bùi San (Chín Liêm), nguyên Phó Bí thư Liên khu ủy khu 5 làm

Bí thư Quân khu 10 nằm trong hệ thống tổ chức của các Quân khu ở miền Nam do Trung ương Cục, Ban Quân sự Miền (sau này là Bộ Tư lệnh Miền) lãnh đạo

Về quân sự, chưa tổ chức thành hệ thống tỉnh đội, quân khu mà tổ chức theo hệ thống các Ban quân sự: Ban quân sự Khu 10 (gọi tắt là T.10) Căn cứ đầu tiên của Khu ủy và Ban Quân sự Khu 10 đặt tại vùng Bãi Cát Tiên (khu vực tiếp giáp giữa 3 tỉnh Lâm Đồng, Phước Long, Quảng Đức và Chiến khu Đ)

Nhiệm vụ của Quân khu 10 trong giai đoạn này phần lớn tập trung vào xây dựng và bảo vệ hệ thống hành lang từ Nam Đắc Lắc đi qua hai trục đường Đồng Nai Thượng ở phía Đông và Ba Biên Giới ở phía Tây về đến

Trang 3

Thành lập từ tháng 2 năm 1962 đến cuối tháng 10 năm 1963, Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy Miền quyết định điều chỉnh chiến trường, giải thể Quân khu 10, tách tỉnh Bình Long, Phước Long đặt dưới sự lãnh đạo của Khu ủy miền Đông Tỉnh Lâm Đồng, Quảng Đức, sát nhập vào Khu 6 Quân khu 10 chỉ tồn tại gần 2 năm (khoảng 21 tháng)

Đến năm 1966, để củng cố căn cứ rừng núi, hành lang Bắc Nam đoạn cuối đường Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 1966 Trung ương Cục quyết định tái thành lập lại Khu 10 (lần thứ hai) gồm các tỉnh Quảng Đức, Phước Long (của Quân Khu 6), Bình Long (thuộc Quân khu miền Đông)

Với thời gian tồn tại khá dài (tháng 10 năm 1966 đến tháng 6 năm 1971), dưới sự lãnh đạo Trung ương Cục, Bộ Tư lệnh Miền, hệ thống tổ chức của Quân khu 10 được hình thành và hoạt động theo hệ thống chỉ đạo của một quân khu hoàn chỉnh Vốn có truyền thống yêu nước và cách mạng trong lịch sử, quân và dân Quân khu 10 tiếp tục phát huy và đã lập nhiều thành tích lớn trên các mặt xây dựng lực lượng kháng chiến về mọi mặt, kết hợp ba mũi giáp công trong tiến công địch, giữ vững căn cứ địa và hành lang chiến lược nam Tây Nguyên - Đông Nam Bộ góp phần vào chiến thắng chung của quân và dân ta trên chiến trường chống Mỹ

Trong đó, Quân khu 10 đã phối hợp với quân chủ lực Miền đánh bại cuộc hành quân Giôn sơn City (mùa khô năm 1966-1967); làm tốt công tác chuẩn bị, chiến đấu giành thắng lợi to lớn trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân Mậu Thân 1968; đập tan kế hoạch “tìm diệt” “quét và giữ” của Mỹ - ngụy đối với 2 tỉnh Bình Long, Phước Long, hỗ trợ quần chúng nổi dậy phá thế kềm kẹp, phá ấp chiến lược, giữ vững vùng căn cứ kháng chiến năm 1969; năm 1970, một bộ phận của lực lượng vũ trang Quân khu 10 đã sang Campuchia giúp bạn ở tỉnh Mônđônkiri giải phóng và xây dựng tỉnh, góp phần vun đắp tình đoàn kết hữu nghị giữa hai dân tộc…

Năm 1971, tình hình chiến trường ngày càng có nhiều thuận lợi cho ta

Để chỉ đạo sát phong trào, tháng 5 năm 1971, Trung ương Cục và Quân ủy Miền quyết định giải thể Đảng bộ Khu 10 và Quân khu 10 Giao tỉnh Quảng Đức bao gồm huyện Đức Lập (Đắc Mil), yếu khu hành chánh Đức Xuyên (huyện Krông Nô ngày nay) về tỉnh Đắk Lắk, huyện Khiêm Đức (Đắk Nông ngày nay) giao về tỉnh Lâm Đồng cùng với đại đội tập trung tỉnh (C24), tách huyện Kiến Đức (huyện Đắk R’Lấp ngày nay) sát nhập vào Phước Long và quyết định thành lập Đảng bộ và Phân khu Bình - Phước Long, gồm 2 tỉnh

Trang 4

Bình Long và Phước Long, đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Trung ương Cục, Quân ủy và Bộ chỉ huy Miền

Vậy, điều gì đã làm cho Trung ương Cục và Bộ Tư lệnh Miền quyết định thành lập Quân khu 10 vào tháng 2 năm 1962 đến tháng 10 năm 1963 thì giải thể? Sau đó đến tháng 10 năm 1966 thành lập lại và giữa năm 1971 thì giải thể lần 2? Những hoạt động của quân và dân Quân khu 10 qua 2 lần thành lập? Vai trò và nhiệm vụ của Quân khu 10 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước? Chúng ta sẽ rút ra những kinh nghiệm quí báu gì trong việc thành lập Quân khu 10 trong chiến tranh và trong công cuộc xây dựng

và bảo vệ tổ quốc hiện nay là việc làm có ý nghĩa khoa học và thực tiễn to lớn

Về khoa học, do giải thể trong thời gian chiến tranh nên Quân Khu 10

đã ít được nhắc đến trong lịch sử và có lúc đi vào quên lãng Do đó, việc nghiên cứu về Quân khu 10, góp phần dựng lại lịch sử Quân khu 10 như chính nó đã từng tồn tại nhằm ghi lại những chiến công của quân và dân Quân khu 10 trong kháng chiến chống Mỹ, góp phần khẳng định đường lối lãnh đạo đúng đắn của Trung ương Cục và Bộ Tư lệnh Miền, góp phần làm sáng tỏ về một giai đoạn lịch sử với một tổ chức quân sự - hành chính có thật

Về thực tiễn, cung cấp những kinh nghiệm lịch sử cho việc hoạch định vùng kinh tế, quốc phòng, an ninh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân và những cán bộ, chiến

sĩ đã hoạt động và chiến đấu dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ và Quân khu

10

Xuất phát từ những lý do trên đây, chúng tôi mạnh dạn chọn vấn đề

“Lịch sử Quân khu 10 trong kháng chiến chống Mỹ (1962-1971)” làm đề tài luận văn thạc sỹ sử học

2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VÀ HƯỚNG TIẾP CẬN TƯ LIỆU

Lịch sử Quân khu 10 (1962 - 1971) là một đề tài rất mới, cho đến nay trong giới khoa học vẫn chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này Trên thực tế, Quân khu 10 cũng đã được các nhà nghiên cứu

sử học đề cập tới, nhưng cũng chỉ ở mức nhắc đến thời gian thành lập và một số hoạt động quân sự, hậu cần và phát triển cơ sở cách mạng, nối liền

Trang 5

chiến trường Liên khu 5 với Nam Bộ, việc mở con đường hành lang Nam - Bắc, Đông - Tây ở đoạn cuối đường Trường Sơn, nối liền vùng Nam Đắc Lắc, tây Cực Nam Trung Bộ với bắc Đông Nam Bộ, xây dựng thành căn cứ địa vững chắc cho cách mạng Nguyên nhân chính, là do Quân khu 10 được thành lập bởi một số tỉnh thuộc Quân khu 7, Quân khu 6 và cũng do tách nhập nhiều lần trong một thời gian ngắn, nên dể bị hòa lẫn trong các Quân khu trên Mặc dù vậy, đó cũng là những tư liệu rất quan trọng

Về sách, có thể kể đến Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, tập 2 của

Bộ Quốc Phòng - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (Nxb Quân đội Nhân dân, 1994); Lịch sử Bộ Chỉ huy Miền (1961 - 1976) của Bộ Quốc Phòng, Quân khu 7 (Nxb Chính trị Quốc gia, 2004); 60 năm lực lượng vũ trang Quân khu

7 (1945 - 2005) của Bộ Quốc phòng, Quân khu 7, (Nxb Quân đội nhân dân, 2005); Lịch sử Khu 6 (Cực Nam Trung Bộ - Nam Tây Nguyên) trong kháng chiến chống Mỹ (1954 – 1975) (Nxb Quân đội Nhân dân, 1995); Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1954-1975), (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2002); Lịch sử Hậu cần Quân khu 7 (1954 - 2000), (Nxb Quân đội Nhân dân, 2000); Lịch sử Đoàn 559 Bộ đội Trường Sơn Đường Hồ Chí Minh, (Nxb Quân đội Nhân dân, 1999); Lịch sử Đảng bộ tỉnh Đăk Nông (1930 - 2005), (Nhà in Đắc Nông, 2006)… các sách trên chủ yếu đề cập một cách khái quát đến thời gian thành lập của Quân khu 10, tổ chức, hoạt động và truyền thống đấu tranh của nhân dân Quân khu 10

Về báo, tạp chí, báo cáo chuyên đề có những bài như: Quân khu 10 - căn cứ cách mạng thời chống Mỹ của Phùng Đình Ấm, Tạp chí Lịch sử Quân sự của Viện Lịch sử Quân sự - Bộ Quốc Phòng (tháng 1-2002 - trang 24-27), chủ yếu khái quát về giai đoạn đầu thành lập khu 10 (2/1962 - 1963); Tình hình Khu 10, bài phát biểu của đồng chí Ba Nghệ, Bí thư khu ủy Khu

10 tại Ban Thống nhất (tháng 4 năm 1972), tư liệu của Ban Nghiên cứu lịch

sử Đảng Trung ương, ký hiệu 15TN72; Tình hình Khu 10, bài phát biểu của đồng chí Bùi Định, ngày 26 tháng 2 năm 1970, tư liệu của Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương, ký hiệu K10B/1.1

Đặc biệt, chúng tôi đã sưu tầm được một số điện, phương hướng, chỉ thị… của Bộ Tư lệnh Miền và một số Báo cáo hàng năm của Quân khu 10: Báo cáo tình hình hoạt động, báo cáo công tác Đảng, Chính, báo cáo tổng hợp… của giai đoạn 1966 - 1971 Đây là tài liệu lưu trữ gốc, được lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III (Hà Nội), Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (Hà Nội), Phòng Khoa học Công nghệ môi trường Quân khu 7, Phòng Lịch sử

Trang 6

Đảng … Qua nguồn tài liệu của Quân khu 10, chúng tôi có thể tiếp cận được những vấn đề về tổ chức, hoạt động, đặc điểm tình hình của Quân khu 10, nhất là giai đoạn 1966 -1971

Ngoài ra, còn có một số tài liệu của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa được lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II viết về hoạt động của “Việt cộng” ở các tỉnh trên địa bàn Quân khu 10 giúp chúng tôi sử dụng số liệu để đối chiếu với những báo cáo của quân khu 10, để thấy được hoạt động của

Mỹ - ngụy trên hành lang Bắc - Nam nhằêm khẳng định những thành tích, hoạt động của Quân khu 10 một cách chính xác và khách quan

Tuy nhiên, nếu phải nêu lên những công trình tiêu biểu nhất về đề tài lịch sử Quân khu 10 (1962-1971) thì chúng tôi cho rằng chưa có một công trình nào nghiên cứu tập trung chuyên sâu về lịch sử của Quân khu 10 Trên

cơ sở kế thừa những tư liệu đã có, chúng tôi cố gắng tổng hợp, nghiên cứu

và phát triển thêm những gì chúng tôi tiếp cận được, đồng thời tham khảo

sự góp ý của các đồng chí nguyên là cán bộ lãnh đạo của Quân khu 10 qua các thời kỳ hiện còn sống trên địa bàn cả nước đưa vào luận văn quan điểm, lý luận, đường lối chính trị của Đảng ta, để hoàn tất công trình nghiên cứu này

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Như tên đề tài đã xác định, đối tượng nghiên cứu của luận văn là lịch

sử Quân khu 10 trong kháng chiến chống Mỹ (1962 - 1971) Qua đó, luận văn tập trung phân tích, tổng hợp để làm sáng tỏ những điều kiện, cơ sở để Quân ủy, Bộ Tư lệnh Miền quyết định việc thành lập, giải thể Quân khu 10 trong hai giai đoạn nêu trên; tổ chức và một số hoạt động của Quân khu 10 trên tất cả các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá, xã hội Và từ đây, có thể đúc kết và đưa ra những bài học kinh nghiệm trong công cuộc xây dựng và bảo vệ an ninh tổ quốc đối với một vùng đất có tính khu biệt gối chồng bởi hai địa hình liền kề nhau từ Tây Nguyên đến Đông Nam Bộ

Phạm vi nghiên cứu là không gian và địa bàn thuộc Quân khu 10, nay

là địa bàn của hai tỉnh Bình Phước và Đắk Nông và tỉnh Lâm Đồng (giai đoạn 1) với hệ trục tọa độ là đường 13 nối từ phía Bắc xuống phía Nam và ngang là đường 14 nối từ phía Tây sang Đông trục huyết mạch của đường

Hồ Chí Minh (Đ.559)

Về mặt thời gian, đề tài chỉ nghiên cứu giới hạn trong vòng 7 năm với hai 2 giai đoạn hình thành và tồn tại của Quân khu 10, cụ thể là:

Trang 7

- Giai đoạn 1: từ tháng 2 năm 1962 đến tháng 10 năm 1963 gồm các tỉnh: Lâm Đồng, Quảng Đức (của Quân khu 7) và tỉnh Phước Long, Bình Long (của Quân khu 6)

- Giai đoạn 2: từ tháng 10 năm 1966 đến tháng 6 năm 1971, gồm các tỉnh Quảng Đức (của Quân khu 6) và tỉnh Phước Long, Bình Long (của Quân khu 7)

Mặc dù đề tài của chúng tôi chỉ giới hạn qua các năm của hai giai đoạn nêu trên, nhưng thực chất trên địa bàn Quân khu 10, truyền thống đấu tranh cách mạng của quân và dân các tỉnh có từ lâu đời và các giai đoạn thành lập có một khoảng thời gian nhất định nối tiếp nhau Cho nên, để có cái nhìn toàn diện, chúng tôi cũng xin đề cập một cách khái quát đến truyền thống đấu tranh của Quân và dân Quân khu 10 trước khi thành lập Quân khu 10 Nhưng trọng tâm của chúng tôi vẫn là 2 giai đoạn thành lập Quân khu 10 trong khoảng thời gian từ 1962 - 1971 như đề tài đã xác định

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chúng tôi sử dụng hai phương pháp chính là phương pháp lịch sử và phương pháp logic để giải quyết những vấn đề do đề tài đặt ra Bên cạnh

đó, chúng tôi cũng sử dụng các phương pháp liên nghành khác như phương pháp thống kê, so sánh, đối chiếu, tổng hợp… để phân tích các sự kiện một cách khoa học và có hệ thống

Tất cả các phương pháp đó đều được thực hiện trên nền tảng cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh

5 BỐ CỤC VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬN VĂN

Nhìn chung, bố cục và kết cấu của luận văn được xây dựng trên nguyên tắc tuân thủ lô-gíc nội tại của vấn đề do đề tài nghiên cứu đặt ra, nhằm giải quyết tốt nhất yêu cầu và mục đích đã đề ra

Qua đó, đề tài “Lịch sử Quân khu 10 (1962-1971)” được bố trí thành ba chương chính như sau:

Chöông I: Quân khu 10 - địa lý tự nhiên và nhân văn

Chương này được chia làm 3 phần, được đề cập một cách khái quát những vấn đề chính về địa lý tự nhiên, địa lý quân sự, cư dân và khái quát

về truyền thống đấu tranh yêu nước và cách mạng của nhân dân vùng đất

Trang 8

Quân khu 10 trong lịch sử, trong đó giới hạn từ năm 1858 đến năm 1962 (trước khi Quân khu 10 ra đời) Đồng thời xác định vị trí và tầm quan trọng của những yếu tố này đã tác động đến việc thành lập Quân khu 10 cũng như vì sao Quân khu 10 đã có những thành tích trong các hoạt động sau này mà cội nguồn của nó đã có từ lâu đời

Chöông II: Quân khu 10 giai đoạn 1961 -1963

Chương II chúng tôi khái quát đôi nét về bối cảnh lịch sử và sự thành lập Quân khu 10 để thấy được vai trò, vị trí của Quân khu 10 trong hệ thống các tổ chức quân khu ở miền Nam Giai đoạn này Quân khu 10 chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn và tư liệu cũng rất ít Tuy nhiên, chúng tôi cũng đã

cố gắng tìm kiếm để đưa ra những vấn đề trọng tâm nhất về những hoạt động của Quân khu 10 trong việc xây dựng căn cứ địa, chống địch gom dân lập ấp chiến lược và Quân và dân Quân khu 10 chiến đấu bảo vệ đoạn cuối hành lang chiến lược Bắc Nam Qua đó, phần nào đánh giá kết quả hoạt động của Quân khu 10 và lý giải vấn đề về nguyên nhân thành lập cũng như giải thể Quân khu 10 lần thứ nhất

Chöông III: Quân khu 10 giai đoạn 1966-1971

Giai đoạn này, Quân khu 10 tồn tại gần 6 năm, tài liệu báo cáo hàng năm của Quân khu tương đối đầy đủ Đây là chương trọng tâm của đề tài, chúng tôi nêu một số nét về tình hình cách mạng miền Nam và nguyên nhân tái thành lập Quân khu 10 lần thứ 2 Đặc biệt chúng tôi sẽ đi sâu phân tích, thống kê và đưa ra những nhận xét về ưu, khuyết điểm trong các hoạt động của Quân khu 10 như: xây dựng lực lượng kháng chiến về mọi mặt (xây dựng tổ chức Đảng các cấp, xây dựng đội ngũ cán bộ quân, dân, chính đảng; thực hiện công tác dân vận, địch vận; thực hiện công tác chính sách trong vùng giải phóng và vùng tạm chiếm) Kết hợp ba mũi giáp công trong tiến công địch, giữ vững căn cứ địa và hành lang chiến lược Nam Tây Nguyên – Đông Nam Bộ (phối hợp với toàn Miền đánh bại kế hoạch bình định và tìm diệt của Mỹ – ngụy, tham gia Tổng tấn công và nổi dậy Mậu Thân 1968, bám trụ chống bình định cùng toàn Miền hoạt động thắng lợi cuộc tiến công chiến lược của địch góp phần vào chiến thắng chung của quân và dân ta trên chiến trường chống Mỹ Cuối cùng trong chương này là những ý kiến xoay quanh vấn đề về việc vì sao giải thể Quân khu 10

Ở phần Kết luận, chúng tôi nêu lên những ý kiến tổng hợp và nhận xét bước đầu về việc thành lập Quân khu 10 trong kháng chiến

Trang 9

chống Mỹ (1962-1971) Bên cạnh đó, chúng tôi cũng nêu lên những vấn

đề cơ bản nhất về: đặc điểm, vị trí quân sự, tổ chức, hoạt động, vai trò của Quân khu 10 trong kháng chiến chống Mỹ và một số bài học kinh nghiệm lịch sử trong việc hoạch định vùng kinh tế, quốc phòng, an ninh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay Để từ đó thấy được chủ trương, đường lối đúng đắn của Trung ương Đảng, Trung ương Cục, Bộ Tư lệnh Miền trong việc thành lập các quân khu nói chung, Quân khu 10 nói riêng trong chỉ đạo cuộc kháng chiến ở miền Nam

6 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

1 Bằng những tư liệu thu thập được, luận văn góp phần dựng lại một cách hệ thống lịch sử hình thành và phát triển của Quân khu 10 qua hai giai đoạn tồn tại trong khoảng thời gian hơn 7 năm (từ 1962 - 1971)

2 Tổng hợp, phân tích đặc điểm, đánh giá hoạt động và vai trò của Quân khu 10, cung cấp những luận cứ khoa học làm nổi bật đường lối chỉ đạo đúng đắn của Trung ương Cục, Bộ Tư lệnh Miền trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Đồng thời, nêu lên những bài học lịch

sử phục vụ cho nhiệm vụ hoạch định phát triển khu vực thuộc địa bàn Quân khu 10 trước đây và trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay

3 Giới thiệu sử liệu mới, bổ sung, phục vụ cho việc xác định lại tên tuổi cho Quân khu 10 vốn đã bị hòa lẫn trong các Quân khu khác, có lúc đi vào quên lãng, nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu và giảng dạy lịch sử Việt Nam, giáo dục truyền thống

Tuy đã có nhiều cố gắng, nhưng do thời gian có hạn, vấn đề nghiên cứu lại đã qua từ hơn 40 năm Nhiều tư liệu do điều kiện chiến tranh nên việc bảo quản tài liệu không đảm bảo dẫn đến thất lạc Một số tư liệu phỏng vấn cũng không chính xác do các đồng chí cựu chiến binh Quân khu 10 hiện

đã lớn tuổi, Quân khu 10 lại trải qua thời gian tồn tại ngắn, nhất là giai đoạn đầu nên không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót, nên rất mong nhận được các ý kiến đóng góp, bổ khuyết của các nhà nghiên cứu, các nhà sử học và đặc biệt là những cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trên địa bàn Quân khu 10

Nhân dịp này, chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến Tiến sĩ

Hồ Sơn Đài, Đại tá, Trưởng Phòng Khoa học, công nghệ và môi trường

Trang 10

Quân khu 7, người trực tiếp hướng dẫn chúng tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Xin chân thành cảm ơn Thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên, Thiếu tướng Phùng Đình Ấm (Ba Cung) và các đồng chí chỉ huy, lãnh đạo của Khu

ủy và Quân khu 10 đã cung cấp cho chúng tôi nhiều tư liệu bổ ích, những ý kiến xác đáng về Quân khu 10

Ngoài ra, tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy, cô trong Khoa Sử

và các bạn cùng lớp Cao học đã tận tình giúp đỡ, động viên và góp ý cho tôi hoàn thành luận văn thạc sĩ này

Tác giả

Trần Thị Lan

Trang 11

CHƯƠNG I

QUÂN KHU 10 - ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN VÀ NHÂN VĂN

1.1 ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN VÀ QUÂN SỰ QUÂN KHU 10

1.1.1 Địa lý tự nhiên

1.1.1.1 Địa hình

Vùng đất Quân khu 10 nằm ở đoạn cuối rặng Trường Sơn - cao nguyên miền Nam thường gọi là cực nam Trung Bộ (Nam Tây Nguyên) và Đông Nam Bộ Từ năm 1945, vùng đất này được Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa quyết định tổ chức một phần thuộc lãnh thổ Quân khu 6 (trong đó có tỉnh Quảng Đức và Lâm Đồng) và một phần thuộc Quân khu 7 (trong đó có Bình Long và Phước Long) Từ tháng 2 năm 1962 đến tháng 10 năm 1963, Trung ương Cục và Bộ Tư lệnh Miền quyết định thành lập Quân khu 10 nằm trong hệ thống tổ chức các quân khu ở miền Nam gồm bốn tỉnh: Phước Long, Bình Long (nay là Bình Phước), Lâm Đồng (huyện Bảo Lộc ngày nay) (thuộc Quân khu 7) và Quảng Đức (nay là Đắc Nông) (thuộc Quân khu 6) Sau đó, do yêu cầu chiến trường nên Khu 10 giải thể, các tỉnh trở lại như cũ và đến năm 1966, Quân khu 10 lại được thành lập lại gồm ba tỉnh: Bình Long, Phước Long và Quảng Đức

Do tình hình chiến trường và yêu cầu chỉ đạo đòi hỏi, nên Quân khu 10

đã trải qua nhiều lần thay đổi về tổ chức và cơ cấu chiến trường, tháng 6 năm 1971 Quân khu 10 giải thể và không còn tồn tại trong hệ thống các tổ chức các quân khu ở miền Nam Các tỉnh thuộc Quân khu 10 cũng trở về Quân khu 6 và Quân khu 7 hoặc dưới sự chỉ đạo của Bộ Tư lệnh Miền Trong thời gian tồn tại hơn 7 năm (1962 - 1971), phạm vi lãnh thổ Quân khu 10 có thay đổi (có hoặc không có Lâm Đồng), nhưng nói chung vẫn thuộc phần cuối của vùng đất cực Nam Trung Bộ (Nam Tây Nguyên) và Đông Nam Bộ

Địa hình vùng lãnh thổ Quân khu 10 có thể xếp vào loại địa hình vùng núi cao nguyên (Quảng Đức, Lâm Đồng) và trung du (Bình Long, Phước Long) Ở đây có cao nguyên Lâm Viên với ngọn núi Lang Biang cao 2.278 mét cạnh hồ Đa Kia (Lâm Đồng) và vùng núi thấp xuất hiện rải rác, đột xuất

ở các tỉnh Bình Long, Phước Long và Quảng Đức (có núi Bà Rá khá cao), xen kẽ có nhiều vùng thấp, bằng, đất đai rất thích hợp với cây công nghiệp

Trang 12

dài ngày, có giá trị kinh tế cao như tiêu, điều, cà phê, cao su Đặc biệt là cây cao su, do đó đây cũng là vùng mà thực dân Pháp xây dựng nhiều đồn điền cao su sớm nhất Hầu hết đã được khai thác lập đồn điền, có hàng ngàn héc-ta rừng trồng, cà phê, cao su trải dọc tỉnh Bình Long, Bình Phước và Quảng Đức, hình thành các cụm dân cư, có thị trấn, thị xã như Bảo Lộc (Lâm Đồng), Gia Nghĩa, Đức Lập (Quảng Đức), Đồng Xoài (Phước Long), Lộc Ninh (Bình Long)…

1.1.1.2 Khí hậu

Các tỉnh thuộc Quân khu 10 nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Trong năm chia thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5 và kéo dài đến tháng 11, lượng mưa trung bình hàng năm tương đối lớn (số ngày mưa trung bình ở Đà Lạt, Liên Khương 140-150 ngày, Di Linh 130 ngày, Bảo Lộc 170 - 180 ngày) Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 Do nằm trong vùng nội chí tuyến Bắc bán cầu, cận xích đạo nên có nhiệt độ trung bình hàng năm từ 22 độ C đến 27,3 độ C (nhiệt độ trung bình ở Lâm Đồng, Quãng Đức hàng năm là 22 độ C, về tháng 1, tháng 2 trời lạnh hơn rất nhiều, do đó, đây cũng là nơi thu hút khách tham quan du lịch đến nghỉ mát) Độ ẩm trung bình hàng năm khoảng 77,8% đến 84,2% Quân khu 10 chịu ảnh hưởng của 3 hướng gió: chính Đông, Đông Bắc và Tây Nam theo hai mùa

Nhìn chung địa hình, địa thế của vùng đất Quân khu 10 đa số là vùng rừng núi, đồng bằng nhỏ hẹp, dân cư thưa thớt, tập trung ở những chỗ dễ làm ăn sinh sống nên phân bố không đều, nhiều vùng không có dân và thường bị ngăn cách bởi núi cao, sông lớn Đối với cách mạng, có thuận lợi

về địa thế hiểm trở nhưng cũng có nhiều khó khăn trong việc bố trí lực lượng triển khai hoạt động; do vậy, thực dân Pháp, đế quốc Mỹ thường coi vùng này là hậu phương an toàn và đặt ở đây các cơ quan nghiên cứu khoa học, các trường đào tạo sĩ quan, dùng nơi đây làm chỗ đi lại hội họp, nghỉ dưỡng cho các quan chức, tướng tá trong ngụy quân, ngụy quyền

Quân khu 10 có vị trí chiến lược khá quan trọng, nhất là quốc lộ 14 đi qua vùng núi Quảng Đức nối liền với miền rừng núi các tỉnh Bình Long, Phước Long và đến biên giới Campuchia là đoạn đường hành lang chiến lược rất quan trọng nối liền Tây Nguyên - Nam Bộ đến biên giới Campuchia Làm chủ được đoạn đường này sẽ có điều kiện tiến công uy hiếp thủ đô ngụy Sài Gòn từ hướng đông, đông bắc; có điều kiện đánh xuống các tỉnh

Trang 13

ven biển cực nam Trung bộ; thực hiện chia cắt chiến lược giữa Sài Gòn và các tỉnh Nam Tây Nguyên và Đông Nam Bộ

1.1.1.3 Sông ngòi

Địa bàn Quân khu 10 có các nhánh của các con sông lớn chảy qua, trong đó quan trọng nhất trên địa phận tỉnh Bình Long, Phước Long là một nhánh của Sông Bé (đó là sông Đaklung, Đakquit, ĐakRap, và sông Sài Gòn) Địa phận tỉnh Quảng Đức có sông Đồng Nai, Sêrêpốk Sông ngòi chảy qua địa phận các tỉnh thuộc Quân khu 10 đều bắt nguồn từ biên giới và cao nguyên phía bắc đổ xuôi về phía Nam, Đông Nam ra Biển Đông Trong kháng chiến chống Mỹ, các con sông trên là một trong những con đường vận chuyển vũ khí, hàng hóa quan trọng của cách mạng và cũng là nguồn cung cấp thực phẩm quan trọng cho bộ đội, nhân dân Ngày nay, các con sông có thể xây dựng các công trình thủy điện lớn với tổng công suất khoảng 1000 KW (hiện nay đang xây dựng công trình thủy điện trên một nhánh sông Krông nô và Đồng Nai) … Ngoài ra còn có các sông, suối nhỏ rãi rác ở các tỉnh, huyện, nhiều hồ thiên nhiên, và nhiều thắng cảnh du lịch đẹp

1.1.1.4 Đường giao thông

Hệ thống giao thông đường bộ ở vùng đất Quân khu 10 có các trục đường giao thông chiến lược quan trọng: Quốc lộ 14 chạy xuyên suốt từ Bắc đến Nam; quốc lộ 13 (thuộc tỉnh Bình Long, Phước Long), quốc lộ 28 (nối Quảng Đức với Bảo Lộc - Lâm Đồng) …và các đường ĐT 741, ĐT 748,

ĐT 749, ĐT 750 (Bình Long, Phước Long) Đường biên giới bằng phẳng, có đường giao thông thủy bộ thuận tiện nằm phía Tây giáp nước bạn Campuchia:

Quốc lộ 14: gồm có 3 đoạn đường, dài 843 km: đoạn thứ nhất: từ Đồng Xoài thuộc tỉnh Phước Long đến huyện Điện Bàn thuộc tỉnh Quảng Nam, qua Quảng Đức, Đắk Lắêk, Pleiku, Kon Tum và Quảng Tín Đoạn này được thiết lập qua các vùng núi hiểm trở, nhiều cầu hẹp, có các cầu lớn khá quan trọng trong chiến tranh như: cầu Srépock (ZU.189957) trên sông Ea-Krong, dài 155m, rộng 2,80m, trọng tải 12 tấn …

Đoạn thứ nhì, nối liền quốc lộ 13 thuộc tỉnh Bình Long đến biên giới Việt Nam - Campuchia thuộc tỉnh Phước Long, dài 40 km, rộng trung bình 4

m, mặt đường trải đá khá tốt

Trang 14

Đoạn thứ 3, là đường rẽ của Quốc lộ 1 từ Thừa Thiên đến Quảng Nam, dài 84 km, rộng trung bình 4m, mặt đường rải đá Đường này được

dự tính làm lối đi vòng trong trường hợp Quốc lộ 1 bị bế tắc vì xe lưu thông nhiều ở quảng Đèo Hải Vân …

Quốc lộ 13: từ Sài Gòn đến Luang –Prabang qua Bình Dương, Bình Long, biên giới Việt Nam Campuchia tới Kratíe, Stung-Treng, Paksé, Savannakhet, Thaikhet, Paksane, Vientiane (Lào), dài 169km (đoạn từ Sài Gòn đi Bình Long dài 150 km, tráng nhựa, rộng từ 3-5m, xuyên qua các đồng ruộng và đồn điền cao su, qua nhiều đồi thấp ở địa phận Bình Long….) Quốc lộ 20: nối liền Quốc lộ 1 tại Dầu Giây (Long Khánh) qua Lâm Đồng đến Đà Lạt, dài 236 km, rộng từ 4-6m

Ngoài ra, còn có các con đường khác như: liên tỉnh lộ 3 và 3 nối dài: nối liền Quốc lộ 1 (Long Khánh) qua Võ Đắc thuộc tỉnh Bình Tuy và tiếp vào Quốc lộ 20 thuộc Lâm Đồng; liên tỉnh lộ 13: từ biên giới Việt Nam - Campuchia đến Đồng Xoài (Phước Long) qua Tây Ninh và Chơn Thành, dài 77km, rộng 4m; liên tỉnh lộ 1 và 6: Tỉnh lộ 1 từ thị xã Đắk Lắk đến Bản Đôn, đoạn này được nối với tỉnh lộ 6 tại Bản Đôn chạy vòng đến biên giới Việt Nam - Campuchia và tiếp vào quốc lộ 14 tại Đức Lập thuộc Quảng Đức; Liên tỉnh lộ 8: Từ Quốc lộ 1 (Bình Thuận), nối liền Quốc lộ 20 (Lâm Đồng)… Qua đó cho thấy, các con đường đi qua địa phận Quân khu 10 đều là những con đường chiến lược quan trọng: quốc lộ 14 là đường tiếp vận chính từ miền Nam lên Cao Nguyên miền Nam; Quốc lộ 13 là đường xâm nhập chính theo lưu vực sông Cửu Long; Quốc lộ 15, đường Kom Tum-Bổ Túc-Bình Phú nối với đường Lộc Ninh-Bù Đốp-Ba Biên Giới, án ngữ biên giới Việt Nam-Campuchia ở miền Đông Nam Bộ

Cùng với hệ thống giao thông đường bộ, thực dân Pháp thiết lập ở đây một con đường sắt răng cưa Tháp Chàm - Đà Lạt… và đế quốc Mỹ xây dựng sân bay khá lớn: sân bay Phước Thành (Phước Long)

Về phía cách mạng, trong kháng chiến chống Pháp đã mở được đường mòn chạy theo các triền núi phía đông qua các tỉnh từ vùng tự do Khu 5 đến Đông Nam Bộ Trong kháng chiến chống Mỹ Bộ Chính trị, Trung ương Đảng mở thêm đường mòn Hồ Chí Minh - đường hành lang chiến lược xuyên qua nam Tây Nguyên vào miền Đông Nam bộ, đoạn cuối nằm trên địa bàn tỉnh Phước Long Trong kháng chiến, Mỹ - ngụy đã dùng đủ loại phương tiện chiến tranh đánh phá, ngăn chặn Những cán bộ, chiến sĩ trong

Trang 15

các đoàn vận tải của miền Bắc chi viện cho miền Nam được sự đùm bọc của đồng bào các dân tộc trên các cung đường đã dũng cảm vượt qua bom đạn, mưa gió, lũ lụt… để đưa lương thực, vũ khí, phương tiện chiến tranh phục vụ cho chiến trường miền Nam

1.1.2 Địa lý quân sự

Quân khu 10 là tổ chức quân sự theo lãnh thổ ở miền Nam Giai đoạn (1961-1963) gồm các tỉnh: Bình Long, Phước Long (Bình Phước ngày nay), Lâm Đồng và Quảng Đức; giai đoạn 2 gồm các tỉnh: Bình Long, Phước Long (Bình Phước ngày nay) và Quảng Đức (Đắc Nông ngày nay) Toàn bộ các tỉnh trên nằm trên phần đất cực Nam Trung Bộ (Nam Tây Nguyên và Đông Nam Bộ Về phía nam của Tây Nguyên gọi là nam Tây Nguyên và phía Đông của Nam Bộ gọi là Đông Nam Bộ

Chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ (B2) nằm ở phần cuối đất nước, Tây Bắc giáp Campuchia, Đông Bắc giáp vùng núi Tây Nguyên hiểm trở cùng thẻo đồng bằng nhỏ hẹp của Khu 5 nằm sát biển Đông và Tây Nam giáp biển Đông và vịnh Thái Lan, ngoài khơi có đường hàng hải quốc tế nối liền tây Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương qua eo biển Ma-lắc-ca Với vị trí địa lý quân sự quan trọng như vậy, nên từ lâu vùng đất này là địa bàn chiến lược hết sức xung yếu không chỉ của Nam Việt Nam mà của toàn vùng Nam Đông Dương Trước đây, thực dân Pháp cũng đã từng lấy Nam Bộ làm bàn đạp xâm lược toàn bán đảo Đông Dương

Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ có diện tích gần bằng ½ diện tích toàn miền Nam (84,747.451 km vuông) với tổng số dân chiếm 67% dân số toàn miền Nam Diện tích rộng lớn đó được giới hạn về phía Tây Bắc bằng đường biên giới chạy dài từ Buprang (Lâm Đồng) đến biển Hà Tiên gắn liền với Campuchia qua 4 con đường chiến lược: quốc lộ 13, 22 và quốc lộ 1 nối liền Đông Nam Bộ với Đông Đông Bắc Campuchia, quốc lộ 2 nối Tây Nam

Bộ với Tây Nam Campuchia… hình thành thế liên hoàn về mặt địa lý giữa Nam Bộ và Campuchia Thông qua 4 cửa ngõ chiến lược nói trên, chính quyền miền Nam và thực dân, đế quốc xâm lược đều có điều kiện cơ động lực lượng thực hành tác chiến qua lại giữa hai chiến trường…

Nội địa chiến trường Nam Bộ và Cực Nam Trung Bộ bao gồm cả địa hình rừng núi, đồng bằng và đô thị, hệ thống sông ngòi và đường bộ xuyên qua nhiều tỉnh, nối thông từ phía Bắc ra biển, nối liền miền Đông và miền Tây Nam Bộ nối Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ

Trang 16

Trên các khu vực của chiến trường có sự không đồng nhất về các yếu

tố địa lý quân sự, mật độ dân số, tình hình chính trị, kinh tế và cơ cấu thiết bị chiến trường của địch … Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ (B2) chia thành 4 địa bàn chiến lược mà tính chất và giá trị không hoàn toàn giống nhau Điều này có thể tạo ra khả năng chi phối phương thức thủ đoạn tiến hành chiến tranh của địch trên từng địa bàn không hoàn toàn giống nhau Bốn địa bàn

đó là: thành phố Sài Gòn, miền Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long

và cực Nam Trung Bộ (khu 6)

Vùng đất Quân khu 10 có sự thay đổi trong hai lần thành lập nên phạm

vi lãnh thổ rộng, hẹp từng lúc có khác nhau, nhưng nói chung vẫn nằm trên

2 địa bàn: miền Đông Nam Bộ và Nam Trung Bộ:

Phía Bắc Miền Đông Nam Bộ là các tỉnh Bình Long, Phước Long, cùng với Tây Ninh hình thành vành đai chiến lược xung yếu án ngữ Bắc Sài Gòn

và tiếp cận với Campuchia, càng đi về phía biên giới rừng càng nhiều và địa thế càng cao; phía Đông là các tỉnh Biên Hòa - Xuân Lộc - Long Khánh - Phước Tuy, tiếp giáp với cao nguyên và cực Nam Trung Bộ, càng đi về phía Đông Bắc địa thế càng cao có nhiều rừng rậm và đồn điền cao su, có quốc

lộ 20 thông lên cao nguyên và quốc lộ 1 thông ra Khu 5; phía Đông Nam là tỉnh Phước Tuy có quốc lộ 15 thông xuống Vũng Tàu; phía Tây giáp Long

An - Hậu Nghĩa và rừng Sát mà địch cho là cửa ngõ quan trọng để vào Sài Gòn Địa hình ở miền Đông kể cả ở phía Bắc, phía Đông và Đông Nam là vùng đất do các lớp phù sa trầm tích cấu tạo từ lâu nên đất rắn, địa hình cao

và rộng thuận tiện cho việc sử dụng binh khí kỹ thuật tác chiến lớn Do đó, suốt cuộc chiến tranh, miền Đông Nam Bộ là chiến trường của chủ lực, của tác chiến qui mô lớn - giá trị chiến lược của chiến trường đối với Mỹ-ngụy còn là một vành đai sống còn trong chiến lược phòng thủ “thủ đô” Sài Gòn, trung tâm chỉ đạo cuộc chiến tranh

Cực Nam Trung Bộ (Khu 6 cũ) là phần đất bao gồm đoạn cuối của dãy Trường Sơn (Lâm Đồng-Tuyên Đức-Quảng Đức) và thẻo đồng bằng nhỏ hẹp của các tỉnh Ninh Thuận – Bình Thuận – Bình Tuy: Tây và Tây Nam giáp biên giới Campuchia và miền Đông Nam Bộ; Bắc và Đông Bắc giáp với Tây Nguyên và đồng bằng Khu 5, Đông giáp biển

Thông vào Nam Bộ, dựa vào quốc lộ 11, quốc lộ 20 và quốc lộ 1; giao lưu giữa miền núi ở cao nguyên với vùng đồng bằng Duyên Hải dựa vào quốc lộ 11, quốc lộ 8 và đường sắt Tháp Chàm - Đà Lạt, Cực Nam Trung

Trang 17

hướng Đông Bắc Vì vậy, đã có thời kỳ Mỹ - ngụy ghép địa bàn này vào tổ chức chiến trường Nam Bộ (từ tháng 11 năm 1962 biến khu chiến thuật 22 của vùng chiến thuật 2, thành khu chiến thuật 31 trực thuộc vùng chiến thuật

3 bao gồm các tỉnh Đắc Lắc + Khánh Hòa + Quảng Đức + Tuyên Đức + Lâm Đồng + Ninh Thuận và Bình Thuận, nhưng đến tháng 4 năm 1964 trả

về cho chiến trường Tây Nguyên và Nam Trung Bộ thuộc vùng chiến thuật 2) [10, 25-29]

Đối với chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ (B2), khi bước vào xâm lược Việt Nam, đế quốc Mỹ có được lợi thế là thế lực phản động tập trung, ngụy quân, ngụy quyền và các thiết bị chiến trường thực dân Pháp để lại còn nhiều, quân đội Việt Nam đã tập kết ra Bắc, hoạt động của Đảng Cộng sản lui vào bí mật, sự chỉ đạo của Trung ương cách trở…

Tuy nhiên, đế quốc Mỹ cũng đứng trước những khó khăn bất lợi rất cơ bản: trình độ giác ngộ và tinh thần cách mạng của nhân dân Quân khu 10 rất cao, đội ngũ cán bộ Đảng để lại rất kiên cường và giàu kinh nghiệm, trong khi quân lính Mỹ - ngụy, tinh thần sa sút, mâu thuẫn nội bộ phát sinh gay gắt giữa tay sai thân Mỹ, tay sai thân Pháp và chính quyền Ngô Đình Diệm Đế quốc Mỹ lại phải chiến đấu trên một chiến trường có địa hình thời tiết phức tạp xa hậu phương chiến lược…

Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, vùng đất Quân khu 10 thuộc một phần tổ chức quân sự của Chiến khu 6 (sau đổi thành Khu 6, có khi là Liên khu 5 …) và một phần của tổ chức quân sự của Khu 7

Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, tổ chức quân sự theo lãnh thổ cực Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ luôn luôn thay đổi nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chiến trường của từng giai đoạn khác nhau:

Phần thuộc tổ chức quân sự của Chiến khu 6 gồm hai tỉnh thuộc tổ chức quân sự của Quân khu 10 là tỉnh Lâm Đồng (thời kỳ này thuộc tỉnh Đồng Nai Thượng) và tỉnh Quảng Đức (tỉnh Quảng Đức được tách khỏi Đắc Lắc từ năm 1959) thuộc tỉnh Đắc Lắc của Khu 6 (từ tháng 10 năm 1945 Chiến khu 6 sau đổi thành Khu 6 đến ngày 20 tháng 4 năm 1948, hợp nhất với khu 5 và Liên khu 15; từ tháng 7 năm 1961 được tách ra lập thành Khu

6 gồm các tỉnh: Đắc Lắc, Lâm Viên, Đồng Nai Thượng, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận)

Phần thuộc tổ chức quân sự của Khu 7 gồm huyện Bình Long và huyện Phước Long của tỉnh Thủ Dầu Một Đến năm 1961, hai tổ chức quân

Trang 18

khu được chính thức thành lập là Quân khu 7 và Quân khu Sài Gòn - Chợ Lớn (tách từ Quân khu 7) thì Quân khu 7 (Quân khu miền Đông Nam Bộ) gồm các tỉnh Tây Ninh, Bình Dương, Biên Hòa, Long Khánh, Bà Rịa, Bình Long và Phước Long Lúc này, phần tồ chức quân sự của Quân khu 10 nằm trong tổ chức Quân khu 7 tách ra là tỉnh Bình Long và tỉnh Phước Long (nay

là tỉnh Bình Phước)

Trên vùng đất miền Nam, đầu năm 1962, do yêu cầu của chiến trường, các quân khu được phân chia lại và lúc này Quân khu 10 cũng chính thức được thành lập lần thứ nhất (tháng 2 năm 1962 đến tháng 10 năm 1963) gồm các tỉnh: Bình Long, Phước Long tách ra từ Quân khu 7, cùng với các tỉnh Quảng Đức, Lâm Đồng tách ra từ Quân khu 6

Khu 10 được thành lập lại lần hai (tháng 10 năm 1966 đến tháng 6 năm 1971) gồm các tỉnh Quảng Đức, Phước Long, Bình Long (lúc này không còn Lâm Đồng)

Sau khi Quân khu 10 giải thể lần hai (tháng 6 năm 1971), tỉnh Quảng Đức về lại Quân khu 6, còn tỉnh Bình Long, Phước Long giải thể thành lập Phân khu Bình – Phước Long trực thuộc chỉ đạo của Bộ Tư lệnh Miền

Tỉnh Lâm Đồng, là một tỉnh miền núi phía Nam Tây Nguyên Trước năm 1899, Lâm Đồng thuộc tỉnh Ninh Thuận và đạo Ninh Thuận Giai đoạn

1899 – 1945, Lâm Đồng thay đổi nhiều lần: năm 1916, Lâm Đồng thuộc tỉnh Lang Bian; đến năm 1920, Lâm Đồng thuộc Đồng Nai Thượng; ngày 8-1-

1941, Toàn quyền Dcoux ký Nghị định thành lập tỉnh Lang Bian, Lâm Đồng lại về tỉnh Lang Bian

Trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp, Lâm Đồng thuộc Khu

6, từ tháng 10 năm 1948, Lâm Đồng nằm trong tổ chức quân sự - hành chính Liên khu 5 Trong kháng chiến chống Mỹ, Lâm Đồng chia thành hai tỉnh: Lâm Đồng, Tuyên Đức và thành phố Đà Lạt Về địa lý quân sự thuộc

sự lãnh đạo của Quân khu 7

Thời kỳ 1954 đến 1975: ngày 19 tháng 5 năm 1958, Ngô Đình Diệm ra Nghị định số 170-NV đổi tên Đồng Nai Thượng là Lâm Đồng Tỉnh Lâm Đồng bắc giáp tỉnh Quảng Đức, đông giáp Tuyên Đức, nam giáp Bình Thuận và Bình Tuy, tây giáp tỉnh Phước Long và Long Khánh

Đối với Chính quyền cách mạng, để đảm bảo cho công tác lãnh đạo và chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, Tỉnh ủy, Ủy Ban Mặt trận Dân tộc Giải phóng, Ủy ban cách mạng lâm thời tỉnh Lâm Đồng đã thành lập các khu vực

Trang 19

sau: K1 (vùng đất phía bắc tỉnh Lâm Đồng cũ); K2 (vùng đất sát thị xã B’Lao, giữa B’Lao và Di Linh); K3 (huyện Di Linh); K4 (huyện Đạ Huoai); K5 (xã Lộc Nam và cùng lân cận); T29 (thị xã B’Lao); Vùng 3 (huyện Đạ Tẻh); Vùng C200 (huyện Cát Tiên)

Đến năm 1976, hai tỉnh Tuyên Đức, Lâm Đồng và thành phố Đà Lạt nhập lại thành tỉnh Lâm Đồng Quân khu 6 giải thể, Lâm Đồng trực thuộc Quân khu 5 Tháng 5 năm 1999, hai tỉnh Bình Thuận và Lâm Đồng nhập về Quân khu 7

Tỉnh Phước Long, đầu thế kỷ XIX, khi triều Nguyễn hình thành và đặt ra

hệ thống hành chính mới ở Lục tỉnh, Phước Long là vùng đất thuộc dinh Trấn Biên (sau dinh Trấn Biên là tỉnh Biên Hòa)

Sau khi thực dân Pháp xâm lược và đặt ách thống trị ở Nam Kỳ, năm

1912, đại lý Sông Bé hình thành, vùng đất Phước Long thuộc đại lý hành chính Sông Bé (còn gọi là đại lý Bà Rá), cho đến cuối thời Pháp thuộc, địa bàn Phước Long thuộc quận Bà Rá của Biên Hòa và quận Bù Đốp (tỉnh Thủ Dầu Một)

Tỉnh Bình Long, từ năm 1905 là quận Hớn Quản thuộc tỉnh Thủ Dầu Một, được thành lập năm 1905 khi thực dân Pháp đưa người từ Bình Dương (gồm binh lính người Việt, dân phu và gia đình) lên lập thành đồn Hớn Quản

và mang tên của xã Hớn Quản Năm 1908, Công ty Cao su Đất Đỏ ra đời,

bộ máy hành chính của quận Hớn Quản trực thuộc hoàn toàn vào bộ máy tổ chức của các đồn điền trực thuộc Công ty Cao su này cho đến năm 1954…

Ngày 02 -10 -1956, Ngô Đình Diệm ký sắc lệnh số 143/NV tách tỉnh Thủ Dầu Một thành hai tỉnh Bình Dương và Bình Long; tách Biên Hòa thành

ba tỉnh Biên Hòa, Phước Thành và Phước Long

Về diện tích, cư dân (tính đến tháng 7 năm 1959), tỉnh Bình Long: diện tích chung 2.334 km2, diện tích canh tác 1460 km2, số dân 39.300 người, dân tộc thiểu số 18.788 người, mật độ 8 người/km2; tỉnh Phước Long: diện tích chung 4734 km2, diện tích canh tác 4700 km2, số dân 64.200 người, dân tộc thiểu số 15193 người, mật độ 28 người/km2 [9,183 -184]

Đối với chính quyền cách mạng, tháng 6 năm 1960, theo hệ thống tổ chức và chỉ đạo chiến trường của Nam Bộ, tỉnh Phước Long chính thức hình thành Do đặc điểm chiến trường cụ thể, tỉnh Phước Long không tổ chức thành đơn vị hành chính theo quận mà lập thành các K (tương đương quận huyện), trực thuộc chỉ đạo của Quân khu 7 Đến cuối năm 1971, đầu năm

Trang 20

1972, tỉnh Phước Long giải thể, hai tỉnh Phước Long và Bình Long trước đây hợp nhất thành tỉnh Bình Phước [8,18)

Tháng 2 năm 1962, Quân khu 10 thành lập, tỉnh Phước Long và Bình Long thuộc Quân khu 10 Tháng 10 năm 1963, Quân khu 10 giải thể, tỉnh Phước Long và Bình Long trở về Quân khu 7

Đến năm 1966, Quân khu 10 thành lập lại, Phước Long và Bình Long

về Quân khu 10 đến năm 1971 Quân khu 10 giải thể lần 2, tỉnh Bình Long, Phước Long thuộc Phân khu Bình – Phước Long trực thuộc Bộ Tư lệnh Miền

Cuối năm 1971 đầu năm 1972, tỉnh Phước Long và Bình Long giải thể, hai tỉnh Phước Long, Bình Long trước đây hợp nhất thành tỉnh Bình Phước Ngày 2 tháng 7 năm 1976, Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ra quyết định sáp nhập các tỉnh Thủ Dầu Một và Bình Phước trước đây cùng 3 xã An Bình, Đông Hoà, Bình An (của quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định) thành lập tỉnh Sông Bé Phước Long, Bình Long trở thành một huyện trong 9 huyện, thị của tỉnh Sông Bé

Theo Quyết định số 55 - CP ngày 11 tháng 3 năm 1977 của Hội đồng Chính phủ, tỉnh Bình Phước tái lập lại bao gồm 5 huyện phía bắc thuộc tỉnh Sông Bé cũ, tỉnh lỵ đặt tại Đồng Xoài

Tỉnh Quảng Đức, thời kỳ kháng chiến chống Pháp, thuộc tỉnh Đắk Lắk nằm trên vùng đất Tây Nguyên - Nam Trung Bộ

Năm 1959, chính quyền Ngô Đình Diệm ra sắc lệnh số 24-NV ngày 23 tháng 1 năm 1959, thành lập tỉnh Quảng Đức: cắt toàn bộ huyện Đắk Mil của Đắk Lắk từ nam cầu 14 vào đến Đắk Song gọi là quận Đức Lập (Đắk Mil ngày nay); cắt một phần huyện Kiến Hoà của Thủ Dầu Một thành lập quận Kiến Đức (Đắk R’Lấp ngày nay); một phần vùng núi phía Tây đường

12 lập Khiêm Đức (tức từ Đắk Song đến Buôn Gia Bùng; Buôn Gia Bùng có hai buôn, buôn phía tây năm 1960 lập một quận, còn từ Gia Bùng chạy đến buôn Biton là huyện Di Linh cũ (Đắk Nông ngày nay); và một phân khu hành chính ở Blaosiêng, lập yếu khu hành chính Đức Xuyên (Krông Nô ngày nay), tỉnh lị đặt tại Gia Nghĩa

Đối với chính quyền cách mạng, trong những năm kháng chiến, phạm

vi hành chính của tỉnh Quảng Đức cũng được điều chỉnh ít nhiều cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ chiến lược và điều kiện chiến trường miền Nam Đầu năm 1960, Liên khu ủy 5 quyết định chia tỉnh Đắk Lắk thành bốn vùng

Trang 21

(gọi theo mật danh là B) gồm B3, B4, B5, B6, trong đó B4 là toàn bộ phần đất tỉnh Quảng Đức do ngụy quyền Sài Gòn thành lập …

Đến tháng 10 năm 1960, đồng chí Bùi San từ Khu 5 vào thành lập Ban cán sự lâm thời (tỉnh ủy lâm thời) của tỉnh để chỉ đạo cách mạng, đồng chí

Vũ Anh Ba (Hồng Ưng) là Bí thư Mặt khác do yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu

và xây dựng trong từng thời kỳ lịch sử, nên tỉnh Quảng Đức có sự chia tách nhiều lần cho phù hợp yêu cầu thực tế Khi mới thành lập, Quảng Đức thuộc Liên tỉnh 6 (Liên khu 6 gồm các tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Quảng Đức) Trên cơ sở địa giới hành chính này, tháng 12 năm 1960, Trung ương quyết định thành lập tỉnh Quảng Đức và Đảng bộ Quảng Đức (lấy mật danh B4) trực thuộc Liên khu ủy 5

Tháng 5 năm 1961, Bộ Chính trị quyết định thành lập Quân khu 5 và Quân khu 6 Quân khu 6 gồm các tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đắk Lắk, Tuyên Đức, Lâm Đồng, Quảng Đức

Tháng 2 năm 1962, Quân khu 10 thành lập, Quảng Đức thuộc Quân khu 10 Tháng 10 năm 1963, giải thể Quân khu 10, tỉnh Quảng Đức cũng giải thể luôn và chia các huyện về các tỉnh (huyện Đức Lập, Đức Xuyên về tỉnh Đắk Lắk (Quân khu 5), Khiêm Đức giao về Lâm Đồng (Quân khu 6), Kiến Đức giao về tỉnh Phước Long (Quân khu 7)

Đầu năm 1965, tỉnh Quảng Đức tái lập lại với 4 huyện như trước Năm 1965- 1966, lực lượng Quảng Đức được tăng cường C24, D606

Năm 1966, Khu 10 thành lập lại và quyết định tạm thời chia tỉnh Quảng Đức thành hai Tiền phương A và B (Tiền phương A gồm huyện Đức Lập và Đức Xuyên; Tiền phương B gồm huyện Khiêm Đức và Kiến Đức Đầu tháng

1 năm 1967, do nhiệm vụ chiến trường đặt ra, hai cơ quan Tiền phương A

và B hợp nhất thành tỉnh Quảng Đức như cũ

Tháng 5 năm 1971, Quân khu 10 giải thể, tỉnh Quảng Đức giải thể luôn, đồng thời giao huyện Khiêm Đức, Kiến Đức về Lâm Đồng dưới sự chỉ đạo của Khu 6; Đức Xuyên, Đức Lập về Đắk Lắk thuộc sự chỉ đạo của Khu V Đến tháng 8 năm 1974, cắt Kiến Đức về Phước Long; còn Khiêm Đức, Gia Nghĩa vẫn thuộc Lâm Đồng Sự chỉ đạo của các huyện theo tổ chức này kéo dài cho đến ngày giải phóng

Sau giải phóng, tháng 5 năm 1975, tỉnh Quảng Đức được thành lập lại Đến tháng 11 năm 1975, Quảng Đức sát nhập lại với Đắk Lắk

Trang 22

Ngày 1 tháng 1 năm 2004, tỉnh Đắc Nông (Quảng Đức cũ) được thành lập theo quyết định số 22/2003 - QH11 ngày 26-11-2003 của Quốc Hội trên

cơ sở chia tách từ tỉnh Đắk Lắk Diện tích tự nhiên là 6.514,38 km vuông, dân số 392.070 người với 31 dân tộc anh em sinh sống Toàn tỉnh có 06 đơn vị hành chính cấp huyện: Cư Jút, Đắc Mil, Đắc Song, Đắc R’Lấp, Krông

nô, Đak Nông Trung tâm tỉnh lỵ đặt tại thị trấn Gia Nghĩa Như vậy, Đắk Nông ngày nay nằm trên vùng đất của Quảng Đức thời chống Mỹ [6, 9 -10] Căn cứ trên vị trí địa lý quân sự đã nêu trên cho thấy: Quảng Đức xưa (Đắk Nông ngày nay) nằm phía Tây Nam của Tây Nguyên (Nam Tây Nguyên) Phía Bắc giáp tỉnh Đắk Lắk, phía Nam giáp tỉnh Bình Phước, phía Đông và Đông Nam giáp tỉnh Lâm Đồng, lấy dãy Tà Đùng làm ranh giới tự nhiên giữa hai tỉnh, phía Tây giáp Campuchia Toàn bộ phần đất này nằm trên cao nguyên M’Nông theo thư tịch của Pháp thường gọi là Cao Nguyên Trung tâm Nam Đông Dương, gọi tắt là Cao nguyên Trung tâm (Cplatteau Central) nằm ngay “Ngã ba ranh giới” của ba xứ Trung Kỳ, Nam Kỳ, Cao Miên

Địa thế Cao nguyên M’Nông, nhìn chung như một mái nhà Các nhà địa lý học gọi đây là “mái nhà của cực Nam Đông Dương”, đường nóc là một cao nguyên dài và hẹp, rộng tương đương gần 4000 km, có độ cao trung bình 800m Từ cao nguyên này đổ xuống đường nóc chủ yếu là sườn dốc, với mạng lưới sông ngòi dày đặc, ở phía bắc và phía tây chảy xuống sông Sêrêpốk, sông Prêktê và sông Prêk Clong đổ ra sông Mê Kông, phía đông nam chảy xuống sông Đồng Nai, Sông Bé rồi đổ ra Biển Đông

Quảng Đức có vị trí quan trọng cả về kinh tế, chính trị và an ninh - quốc phòng Là cửa ngõ phía nam của Tây Nguyên, có hệ thống giao thông đường bộ quan trọng Trong thời kỳ chiến tranh và cũng như hiện nay, trên địa bàn tỉnh có quốc lộ 14 chạy xuyên suốt từ Bắc đến Nam, con đường nối liền tỉnh Đắk Nông đi thành phố Hồ Chí Minh, Gia Nghĩa đi Đắk Lắk, là huyết mạch xuyên xuống vùng đồng bằng châu thổ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc lưu thông hàng hóa giữa vùng này với vùng khác, mở ra một mối thông thương hết sức quan trọng cho việc phát triển kinh tế của tỉnh Ngoài ra, trên địa bàn của tỉnh còn có quốc lộ 28 nối liền với Di Linh (Lâm Đồng), có trên

130 km đường bộ chạy dọc biên giới nối liền với tỉnh Muldunkiri qua cửa khẩu B Prăng, đây là tuyến hết sức quan trọng cả về mặt kinh tế lẫn an ninh quốc phòng Ngoài ra, còn có các tuyến tỉnh lộ nối trung tâm với các huyện,

xã trong tỉnh

Trang 23

Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, Mỹ - Diệm thành lập tỉnh Quảng Đức với âm mưu chiến lược lâu dài nhằm khống chế toàn bộ vùng cực Nam Tây Nguyên và vùng rừng núi miền Đông Nam Bộ Trong chiến tranh, đế quốc

Mỹ xây dựng ở đây hai sân bay dã chiến: sân bay Nhân Cơ (ở cách Kiến Đức 8 km) và Đắk Sắk (hiện nay ở xã Đắk Mol, huyện Đăk Mil); sân bay Gia Nghĩa nằm trong khu vực tỉnh lỵ Gia Nghĩa

Tỉnh Bình Long, Phước Long nằm trên đường quốc lộ 13 nối liền với Bình Dương, Sài Gòn và Campuchia, là quốc lộ có tính chất chiến lược cả

về kinh tế và quốc phòng Ngoài ra, còn có liên tỉnh lộ 13 (dài 50km, đoạn Bình Long dài 13 km) nối Đồng Phú với Tây Ninh Ngoài hai con lộ chính này, Bình Long còn có hàng trăm kilômét đường lô cao su mở ra từ thời Pháp nối các đồn điền lại với nhau, tạo thành hệ thống giao thông thuận tiện

từ huyện lị đến các ấp, sóc xa xôi…

Do vị trí địa lý, là một khu đệm nối liền phía Bắc và Đông bắc Sài Gòn với vùng núi cực nam Trung Bộ và nam Tây Nguyên, nối tiếp với vùng biên giới và đông bắc Campuchia thấu đến tận hậu phương miền Bắc Xã hội Chủ nghĩa Với đặc điểm là vùng núi nằm liền kề biên giới, Phước - Bình Long cùng với Lộc Ninh từng là căn cứ địa vững chắc của cách mạng, đồng thời là bàn đạp tấn công uy hiếp biệt khu thủ đô của ngụy, vừa có điều kiện thuận lợi phát triển xuống vùng đồng bằng nhờ có hệ thống giao thông thuận tiện, lại vừa có điều kiện tập trung xây dựng lực lượng vũ trang và tồn trữ hậu cần - lương thực - vũ khí phục vụ cho những trận quyết chiến chiến lược

Địa lý quân sự của các tỉnh Quân khu 10 nằm trên đường hành lang chiến lược Bắc- Nam, đoạn cuối đường Hồ Chí Minh, xuyên sang biên giới Campuchia Đây là con đường vận tải chiến lược rất quan trọng trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chính quyền cách mạng cũng đã nhiều lần xoi mở đường này nhưng đều thất bại, các đoàn đều bị phục kích và bị tổn thất lớn

Nối thông được con đường chiến lược này, để miền Bắc chi viện sức người sức của cho miền Nam đã góp phần to lớn vào chiến thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước

1.2 CƯ DÂN VÀ TRUYỀN THỐNG ĐẤU TRANH YÊU NƯỚC VÀ CÁCH MẠNG CỦA NHÂN DÂN VÙNG ĐẤT QUÂN KHU 10 TRONG LỊCH SỬ

1.2.1 Cư dân

Trang 24

Cư dân định cư trên vùng đất Quân khu 10 có nhiều thành phần dân tộc khác nhau, có xuất xứ từ hai nguồn chủ yếu là cư dân bản địa và lưu dân từ các tỉnh phía Bắc

Cư dân bản địa đầu tiên thuộc các dân tộc ít người: dân tộc S’tiêng (ở Bình Long, Phước Long; dân tộc M’nông (ở Quãng Đức), ngoài ra còn có các dân tộc ít người khác như: Châu Ro, Tà Mun, Mạ Các dân tộc ít người sinh sống ở đây qua nhiều thế kỷ Họ sống chủ yếu bằng săn bắn, hái lượm

và làm nương rẫy, tỉa lúa theo phương thức du canh du cư

+ Lưu dân từ các tỉnh phía Bắc đến vùng này qua nhiều giai đoạn:

- Từ cuối thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XVII, vùng đất này dần dần thu nạp những cư dân mới người Khơ me và lưu dân Việt từ Đàng ngoài vào Đó là những người bỏ quê ra đi trong cuộc giao tranh Trịnh – Nguyễn, hoặc bị lưu đầy do mắc tội “nghịch mạng với triều đình” bị lưu đày đến đây Một số người Hoa cũng theo chân vào đây sinh sống để thoát khỏi ách áp bức của triều đình Mãn Thanh, tự nguyện gia nhập cộng đồng cư dân nước Việt

- Sang đầu thế kỷ XX, cùng với quá trình tư bản, thực dân Pháp mở rộng đầu tư khai thác nghành kinh tế cao su ở Đông Dương, hàng ngàn nông dân chủ yếu người Kinh ở Bắc, Trung Kỳ bị lừa phỉnh đã bị chúng đưa vào

ký giao kèo làm phu cao su và định cư ở đây, hình thành tầng lớp công nhân đồn điền

- Quá trình bổ sung vào cộng đồng cư dân ở Quân khu 10 còn diễn ra tiếp tục vào thời kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, với hàng ngàn đồng bào tín đồ Thiên chúa giáo bị chính quyền Diệm ép di cư vào vào Nam

và hàng chục ngàn cán bộ chiến sỹ từ phía Bắc vào Nam chiến đấu, công tác, lấy nơi đây làm quê hương mới

- Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, rất đông đồng bào các tỉnh đi xây dựng vùng kinh tế mới Một số khác là cán bộ tập kết trở về, bộ đội phục viên, công nhân cao su được tuyển từ nơi khác đến để khôi phục và phát triển các nông trường cao su Đại bộ phận cư dân là nông dân yêu chuộng tự do, cần cù lao động sáng tạo

- Dân số Quân khu 10 sau khi thành lập lại lần 2 là 156432 người trong đó: Quảng Đức: 28.458 người, Phước Long: 44140 người, Bình Long: 81.334 người và K28: 2500 người [135,2] Thành phần dân cư gồm các dân tộc M’Nông, Stiêng Khơ mer, Châu Ro, Chàm, Kinh, và một số ít người Tà Nung Trong đó, người Kinh gồm các thành phần: công nhân đồn điền, dân

Trang 25

di dân Số lượng công nhân đồn điền 60.000 người, 33.000 ở Phước Long

và 13.000 ở Bình Long Số lượng người dân tộc: Stiêng, Châu Ro, Chàm

300 người (do Ngô Đình Diệm đưa từ Tây Ninh sang), M’Nông, Tà Nung

600 người, Khơmer 13.000 người (người Khơmer ở đây khác người Khơmer ở Sóc Trăng, Trà Vinh, họ giống người dân tộc bản địa ở đây, nói tiếng Khơmer nhưng không biết chữ Khơmer, còn lại các dân tộc khác khoảng 20.000 người” [14];[135,7],

Về tôn giáo tín ngưỡng của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Quân khu

10 như: S”tiêng, Khơ me, Mnông, Tà Mun, Châu Ro … thuộc tín ngưỡng đa thần Lưu dân người Kinh vào thì xuất hiện các đạo giáo mới như đạo phật, Thiên chúa giáo, Tin lành… và họ theo các tôn giáo này, trong đó số người theo đạo Phật là đông nhất Đặc biệt, dưới thời Ngô Đình Diệm, tại Phước Long và Bình Long, Mỹ - Diệm đưa dân di cư từ các tỉnh miền Trung vào để làm hậu thuẫn chính trị và làm lá chắn phòng thủ bảo vệ vòng ngoài của căn

cứ ở các khu vực trung tâm và những nơi quan trọng Các xứ đạo Long Điền (Phước Bình), Chu Ninh (Bù Đốp), Bù Đăng đều là dân công giáo miền Bắc

di cư Chúng còn phát triển đạo Tin lành trong đồng bào S’Tiêng, lập nhà thờ Sơn Giang (Phước Long) và Bù Đăng để quy tụ đồng bào dân tộc thiểu

số vào sinh hoạt… nhằm hoạt động tuyên truyền, tâm lý chiến chia rẽ nhân dân với chính quyền cách mạng

Tuy nhiên, quá trình đấu tranh làm chủ thiên nhiên và chống xâm lược

đã cố kết các dân tộc trên vùng đất này thành một khối thống nhất có tinh thần thương yêu đùm bọc và đoàn kết cao, đồng thời cũng tạo cho họ có tính cách riêng Đó là tình yêu quê hương đất nước, tinh thần đoàn kết, ý chí bất khuất, khảng khái và năng động trước mọi hoàn cảnh; là tinh thần chiến đấu cao quyết tâm bảo vệ buôn làng, kiên cường, dũng cảm và mưu lược, tự lực, tự cường vượt qua khó khăn; tính cần cù lao động, lối ứng xử trung thực, hào hiệp, chân thành Đặc điểm trên bắt nguồn từ tính cách chung của dân tộc, hòa quyện tính cách Nam Bộ hình thành tính cách riêng của người dân miền Nam nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung

Đặc điểm về địa lý và dân cư nêu trên làm cho vùng đất Quân khu 10

có một vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng, cả trong thời ký kháng chiến và thời kỳ xây dựng bảo vệ Tổ quốc

Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, vùng đất này luôn là địa bàn

chiến lược có ý nghĩa quan trọng của cuộc chiến tranh …

Trang 26

Đối với chính quyền cách mạng, Quân khu 10 là vùng chiến lược hoàn chỉnh ở nông thôn rừng núi, với con đường hành lang chiến lược Bắc-Nam nối với biên giới Campuchia Nhân dân có truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm bất khuất Số lượng công nhân trong các đồn điền cao su và đồng bào dân tộc chiếm tỷ lệ cao Trong kháng chiến, đây là địa bàn có khả năng thể hiện sự vận động đầy đủ đường lối quân sự, chính trị của Đảng về đường lối chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện, với phương châm kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy… Đây cũng là địa bàn có điều kiện biểu hiện một cách trực tiếp truyền thống đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù chung của nhân dân và lực lượng vũ tranh hai nước Việt Nam – Campuchia

Từ sau năm 1975, địa bàn Nam Trung Bộ và Nam Tây Nguyên có vị trí chiến lược quan trọng trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và quốc phòng - an ninh, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

1.2.2 Truyền thống đấu tranh yêu nước và cách mạng của nhân dân

Quân khu 10 trong lịch sử

1.2.2.1 Giai đoạn 1858 - 1930

Từ thế kỷ thứ XVI đến đầu thế kỷ XIX, vùng đất Quân khu 10 (hay gọi tắt là vùng Ba biên giới) là vùng đất này hội tụ giữa các dân tộc thiểu số từ lâu đời tại đây với hàng vạn người dân nghèo khổ bị áp bức bóc lột từ khắp mọi miền đất nước và đều cùng chung một cội nguồn trong đại gia đình dân tộc Việt Nam Họ phải đổ nhiều sức lực, mồ hôi để khai phá rừng hoang và cũng đã phải đổ nhiều xương máu để bảo vệ mãnh đất này

“Ai làm chủ Tây Nguyên và vùng cao nguyên miền Đông Nam Bộ kẻ đó

sẽ khống chế cả Đông Dương”… Thực dân Pháp cho rằng vùng đất Tây Nguyên và Đông Nam Bộ nói chung là vùng đất có nhiều triển vọng lớn: triển vọng phát triển nông nghiệp, triển vọng khai thác các nguồn nước để phục vụ sinh hoạt, phục vụ phát triển nông nghiệp, công nghiệp ở Nam Kỳ, Cao Miên và cả triển vọng khai thác khoáng sản Đặc biệt, từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp thi hành một kế sách đồng bộ và toàn diện nhằm thâu tóm trong tay toàn bộ miền sơn nguyên Nam Đông Dương:

Với chính sách cướp đất, chính sách xâu thuế và chính sách bắt lính của Đume đã đẩy đồng bào các dân tộc thiểu số ở đây vào cảnh bị nhổ bật

ra khỏi nương rẫy đi đến cảnh bần cùng, nguy cơ của nạn diệt vong dân tộc

Trang 27

Sự áp bức bóc lột hà khắc cùng kế sách đó của chúng trở thành một trong những yếu tố thúc đẩy đồng bào các dân tộc đứng lên chống bọn tư bản thực dân Pháp để bảo vệ quyền lợi của mình

Ngay từ khi thực dân Pháp tấn công thành Gia Định (9-2-1859), phong trào chống xâm lược của đồng bào các dân tộc vùng đất Quân khu 10 đã bùng lên mạnh mẽ hòa cùng phong trào chống Pháp của đồng bào Tây Nguyên và Đông Nam Bộ dưới sự lãnh đạo của với nghĩa quân Trương Định…

Trong những năm đầu thế kỷ XX, lịch sử đã từng ghi nhận nhiều phong trào, nhiều cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Quân khu 10, các phong trào đấu tranh hoặc lẽ tẻ, riêng rẽ hoặc liên minh phối hợp với nhau, đánh vào các đồn bốt và các cuộc hành quân của địch, chống thuế, chống xâu, hay lánh cư, bất hợp tác với địch Trong số hàng trăm phong trào phản kháng của đồng bào các dân tộc ở Quân khu 10 có thể điểm qua một số các phong trào tiêu biểu như:

- Tại Bình Long, tháng 1 năm 1864, dưới ngọn cờ khởi nghĩa của nhà sư yêu nước Khơme Pôkămpô Cum Pô cùng với nghĩa quân Trương Quyền xây dựng căn cứ trong vùng người Thượng để chống Pháp Đông đảo đồng bào X’Tiêng, Chơ Ro, Khơme đã đoàn kết với nghĩa quân người Việt chiến đấu tiêu hao nhiều sinh lực địch [206,153-154]

- Tại Quảng Đức, tiêu biểu có: cuộc nổi dậy của đồng bào M’Thunr ở thung lũng sông Ba và sông H’Năng (năêm 1894); cuộc nổi dậy của đồng bào Êđê do tù trưởng Ama Sao lãnh đạo chống Pháp ở vùng Buôn Tung- Mê Van (1899 - 1905); cuộc nổi dậy của đồng bào Mơ -thua do Oi Mai, Oi Dla (1901 - 1907) hay của Ama Lai (1907); Nơ Trang Gưh (1900 - 1914) lãnh đạo…

- Tại Lâm Đồng có phong trào hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của Trương Định năm 1862; phong trào chống Pháp của thủ lĩnh K’Dúi năm 1915; phong trào nổi dậy khởi nghĩa của thủ lỉnh K’Nhồi năm 1938

- Tại Bình Long, Phước Long, năm 1908, nổi lên là phong trào do ông Điểu

Dố, người S’Tiêng ở sóc Thủ Bổn, Xa Trạch, quận Hớn Quản (Bình Long) lãnh đạo, được đông đảo đồng bào các dân tộc X’Tiêng, Chơ Ro, Châu

Mạ, Tà Mun, N’Nông tham gia Trước sức mạnh của kẻ thù, nghĩa quân của ông phải rút về Long Nguyên (Bến Cát) (nay thuộc tỉnh Bình Dương), kiên cường chống Pháp và ông đã anh dũng hy sinh năm 1918 Không

Trang 28

còn người chỉ huy nhưng trong nhiều năm liền, từ năm 1919-1923, nghĩa quân X’Tiêng vẫn hoạt động và có lúc mở rộng địa bàn sang đất Campuchia ở vùng Srey Khtum và Srey chia [4,19]

Tinh thần đoàn kết chống ngoại xâm của đồng bào các dân tộc trên vùng đất Quân khu 10 còn được tiếp tục đẩy mạnh trong cuộc khởi nghĩa N’Trang Lơng Phong trào N’Trang Lơng kéo dài một phần tư thế kỷ (1912-1935) đã thu hút được hầu hết đồng bào dân tộc M’Nông, S’Tiêng, Châu

Mạ, Châu Ro, Êđê, K’ho, Mạ, Chàm, Kinh …Vùng căn cứ mà nghĩa quân đóng chính là vùng núi Nâm Nung, Đắk Huýt (Quảng Đức), Ba Biên Giới Địa bàn hoạt động của nghĩa quân N’Trang Lơng là khu vực cao nguyên trung tâm và được trải rộng qua biên giới hai nước Việt Nam - Campuchia

về phía tây nam Đắk Lắk

Giai đoạn đầu của phong trào (1912 - 1927) nổi lên nhiều sự kiện quan trọng, giải phóng cao nguyên M’nông qua những chiến thắng oanh liệt như: Chiến thắng Bu Poustra (1912) tiêu diệt đồn Bu Poustra, cơ quan đầu não của phái bộ H.Mết, tiêu diệt 13 tên lính, thu vũ khí và kho hàng của địch, mở màn cho phong trào, gây tiếng vang lớn ở Tây Nguyên; chiến thắng chiến dịch càn quét của Pháp (mùa khô 1912 – 1913 và 1913-1914) làm cho thực dân Pháp ở Đông Dương hoảng sợ Toàn quyền Pháp vội vã ra lệnh cho tên tỉnh trưởng Krachiê, Ka-nôm phải đích thân đem quân tiểu phạt, nhưng cuối cùng chúng bị thất bại; chiến thắng Buno – Bumêra ngày 29 đến 31 -7-

1914, tiêu diệt H.Mết, Y Linh và 6 tên khác, phá hủy đồn Bumêra; chiến thắng Bu Klin là điểm chốt tiền tiêu của phái bộ H.Mết, tiêu diệt tên trưởng đồn Neang và 4 tên lính và sau đó tiến công tiêu diệt đồn Bu Thông (đầu tháng 8 -1914)…

Giai đoạn hai của phong trào (1928 - 1935), nghĩa quân đã giành nhiều chiến công vang dội: chiến công tiêu diệt công trường làm đường 14 của Gan -ti-dơ (Galtille) tháng 5-1931, giải phóng dân phu, phá hủy công trường Tiêu diệt tên đại lý hành chánh Snoul - Gan- ti-dơ và hàng chục tên lính bảo

an Bẻ gãy kế hoạch bình định của Pa xkiê và Bi lô mùa khô năm 1931

-1932, tiêu diệt 40 tên lính và làm bị thương 200 tên khác; cuối năm -1932, nghĩa quân tấn công cứ điểm 65 (hay còn gọi là cứ điểm Gian - ti - dơ, một đồn vệ tinh của phái bộ Rô - lăng), kết quả tuy không tiêu hủy được đồn nhưng đã tiêu diệt được hàng chục lính Pháp, đặt thực dân Pháp ở cao nguyên trước một tình thế nghiêm trọng… Đầu năm 1935, nghĩa quân tổ

Trang 29

chức tấn công đồn Rô - lăng, tiêu diệt 5 tên lính, làm bị thương 6 tên lính khác

Viên đại lý hành chính Buôn Ma Thuột Sabachiê đã thú nhận rằng phong trào N’Trang Lơng “là một phong trào có tổ chức, có chuẩn bị, là cuộc nổi dậy toàn vùng” có ảnh hưởng sâu rộng khắp Tây Nguyên [191]

Những chiến công vang dội của nghĩa quân N’Trang Lơng làm cho giới cầm quyền thực dân Pháp ở Đông Dương nhiều lúc bối rối, làm cho “uy tín của nước Pháp bị tổn hại”, như họ đã thú nhận” [137]

Phong trào N’Trang Lơng đã gây cho thực dân Pháp nhiều thiệt hại to lớn Thực dân Pháp nhiều lần đem quân đến đàn áp cuộc khởi nghĩa nhưng đều bị thất bại, ngược lại lực lượng nghĩa quân ngày càng được củng cố và phát triển và kéo dài hơn 20 năm cho đến khi thủ lĩnh N’Trang Lơng hi sinh Cuộc khởi nghĩa của N’Trang Lơng một lần nữa đã củng cố thêm truyền thống chống ngoại xâm của đồng bào các dân tộc trên địa bàn quân khu 10 nói riêng và đồng bào Tây Nguyên - Nam Bộ nói chung

Ngoài ra, lợi dụng những hạn chế về trình độ, nhận thức và những tập tục lạc hậu của đồng bào dân tộc thiểu số, thực dân Pháp còn dùng nhiều thủ đoạn chia rẽ, oán thù giữa cộng đồng các dân tộc nhưng không phá nổi tình đoàn kết giữa các dân tộc vốn đã được hình thành và hun đúc trong lịch sử… Nhiều cuộc khởi nghĩa của đồng bào các dân tộc vẫn liên tiếp nỗ

ra, bất chấp sự đàn áp của thực dân Pháp…

Do hoàn cảnh lịch sử chi phối nên cũng như số phận của các phong trào chống Pháp đầu thế kỷ XX nói chung, các phong trào chống Pháp của nhân dân ở Quân khu 10 vào những năm đầu thế kỷ XX đã bị thực dân Pháp đàn áp và dập tắt Nhưng qua đó đã thể hiện truyền thống bất khuất, đoàn kết chống giặc của nhân dân, khơi dậy tinh thần yêu nước và ý chí chống ngoại xâm Các cuộc nổi dậy trên đã làm cho bọn thống trị thực dân

và tay sai của chúng vô cùng lo ngại [200]

1.2.2.2 Giai đoạn 1930 - 1945

Từ những năm 1925-1926, trên vùng đất Quân khu 10, đặc biệt là Phước Long và Bình Long, phong trào có nhiều lợi thế Cụ thể là, tháng 6 năm 1924, tổ chức “Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên” được thành lập tại Quảng Châu, Trung Quốc và các hội viên được cử về các đồn điền vận động và xây dựng tổ chức cách mạng Đồng chí Nguyễn Văn Vĩnh (tức

Trang 30

Nguyễn Xuân Cừ) được cử đi “vô sản hóa” ở đồn điền cao su Phú Riềng Tháng 4 năm 1928, Chi bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đồn điền Phú Riềng được thành lập do đồng chí Nguyễn Văn Cừ làm Bí thư

Tháng 10 năm 1929, trên cơ sở Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, chi bộ Đông Dương Cộng sản đồn điền Phú Riềng được thành lập tại làng

3 Chi bộ tập hợp những đồng chí cách mạng kiên cường (sau này đều là những cốt cán của Đảng) như: Nguyễn Văn Vĩnh (Nguyễn Xuân Cừ) - Bí thư, Trần Tử Bình, Phạm Thư Hồng, Tạ Hòa và Doanh Đây là Chi bộ Cộng sản đầu tiên của ngành cao su Việt Nam Cũng trong tháng 10 năm 1929,

Xứ ủy Đông Dương Cộng sản Đảng đã “cắm” xong một tổ chức “đỏ” ở Phú Riềng, hình thành bộ khung tổ chức Đảng ở ba nơi: Ba Son - Phú Riềng - Vĩnh Kim

Ngày 30 tháng 1 năm 1930, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của chi bộ Đảng Phú Riềng, lần đầu tiên Công hội đỏ tổ chức một cuộc biểu tình thị uy kết hợp bãi công của gần 5.000 công nhân ở Phú Riềng gây chấn động lớn trên toàn vùng đồn điền miền Đông Nam Bộ Ánh sáng “Phú Riềng đỏ” - ánh sáng của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã soi rọi cho phong trào của công nhân

và phong trào của các dân tộc “Phú Riềng đỏ” xuất hiện từ thắng lợi của cuộc đấu tranh này Và tiếng vọng “Phú Riềng đỏ” còn là tiếng pháo mừng Hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc triệu tập

ở Cửu Long (Trung Quốc) đánh dấu sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam Đây là một bước ngoặt trong lịch sử cách mạng Việt Nam Các chi bộ của ba tổ chức cộng sản trước đó chuyển thành chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam trong đó có chi bộ Phú Riềng… [9,23-25]

Như vậy, vùng đất Quân khu 10 là nơi ánh sáng của Đảng đến rất sớm nhất cũng là nơi vinh dự với tiếng vang “Phú Riềng đỏ” của thời kỳ lịch sử bước sang trang mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

Từ “Phú Riềng đỏ”, phong trào đấu tranh lan nhanh trong vùng đồng bào các dân tộc và các đồn điền cao su, với những cuộc bãi công, biểu tình ngày một quyết liệt:

- Tiêu biểu là cuộc đấu tranh của công nhân cao su ở Bình Long, Phước Long: công nhân cao su An Tiên năm 1928, của công nhân cao su Dầu Tiếng năm 1936; công nhân trong các đồn điền quản Lợi, Xa Cam, Xa Trạch, Bình Sơn, Phú Hưng thuộc công ty Đất đỏ lần lượt nổi dậy đấu tranh giáp mặt với chủ đồn điền đòi quyền dân sinh, dân chủ, buộc chúng

Trang 31

phải giải quyết yêu sách không được phát gạo mục, cá thối cho công nhân [4, 47] Hòa cùng phong trào đấu tranh của công nhân cao su, những cuộc nổi dậy của đồng bào S’Tiêng vùng Bà Rá - Phú Riềng do Điểu Sơn, Điểu Giang, Điểu Sung, Điểu Mốt, Điểu Môn lãnh đạo cũng liên tiếp diễn ra vào năm 1933

- Ở Quảng Đức: công nhân đồn điền Rôsi, đồn điền cao su C.H.P.I chống cúp lương (1933)… Đặc biệt là cuộc đấu tranh của tù cộng sản ở nhà đày Buôn Ma Thuột và trại giam Đắc Min (Quảng Đức);

- Ở Lâm Đồng, phong trào đấu tranh của công nhân làm đường hầm xe lửa Cầu Đất (ngày 4 tháng 5 năm 1930) [205,125]

Do hoàn cảnh địa lý và lịch sử chi phối, thời kỳ này ở Tây Nguyên chưa

có sự lãnh đạo của Đảng và các tổ chức Đảng chưa đến được với vùng đất này Nhưng phong trào N’Trang Lơng vẫn tiếp tục phát triển mạnh mẽ thu hút hàng ngàn đông bào các dân tộc tham gia…

Cùng với cuộc khởi nghĩa của N’Trang Lơng, phong trào đấu tranh chống bắt phu, bắt xâu, chống nột thuế nộp sản vật… của đồng bào các dân tộc số diễn ra ở nhiều nơi Năm 1933, phong trào đấu tranh của đồng bào Ê

đê đòi được tự do đi mua muối, chống nộp lúa, chống đi phu làm đường, không nộp trâu, phá đồn điền… làm cho chính quyền thực dân Pháp hết sức

lo ngại

Ngày 2 tháng 1 năm 1934, 300 nghĩa quân S’Tiêng, M’Nông với vũ khí thô sơ đã hạ đồn Bù Koh của Pháp, sau trận này nghĩa quân và đồng bào các dân tộc ra sức lập làng chiến đấu, hình thành những vành đai uy hiếp quân Pháp, bảo vệ nương rẫy và buôn làng mình [8,22,23]

Từ cuối năm 1936, dưới ánh sáng của đường lối mới của Đảng, kết hợp các hình thức đấu tranh bí mật, công khai và bán công khai, mở rộng việc xây dựng các tổ chức quần chúng, thành lập Mặt trận Dân chủ Đông Dương, đấu tranh đòi các quyền dân sinh dân chủ…ởû các đồn điền cao su

ở Bình Long, Phước Long cũng như các địa phương khác, các tổ chức cơ

sở cũ của công nhân được củng cố, một số tổ chức cơ sở mới được hình thành Những tổ chức cơ sở này đều đóng vai trò nòng cốt trong cuộc đấu tranh

Không thuận lợi như những địa phương, địa bàn trong cả nước, ảnh hưởng và sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đến với phong trào đấu tranh của các dân tộc Tây Nguyên, đến với nhân dân Quảng Đức bằng con

Trang 32

đường riêng, qua nhà đày Buôn Ma Thuột và ngục Đắk Min Hoạt động của các tổ chức và phong trào đấu tranh cách mạng trong tù vượt qua sự ngăn chặn, bưng bít của kẻ thù đến với đồng bào dân tộc

So với Bình Long, Phước Long, tại Quảng Đức, từ năm 1930 - 1939, trên địa bàn tỉnh Quảng Đức của Quân khu 10, tuy chưa có tổ chức Đảng, nhưng chủ trương, đường lối của Đảng về tuyên truyền vận động đồng bào các dân tộc được những tù nhân cộng sản ở nhà đày Buôn Ma Thuột và nhà ngục Đắk Min, từng bước thực hiện Dưới ánh sáng của Đảng, tinh thần yêu nước, quyết tâm chống thực dân Pháp xâm lược đã làm cho phong trào đấu tranh của đồng bào dân tộc bắt đầu có ý thức cách mạng [6,37]

Tại Lâm Đồng, từ năm 1936 – 1937, công nhân đồn điền chè Cầu Đất liên tục đấu tranh đòi dân sinh dân chủ Mặc dù bị đàn áp dã man, nhưng các cuộc biểu tình đã thể hiện sự đoàn kết của công nhân trong đấu tranh ngày càng phát triển…

Ngày 26 tháng 2 năm 1937, công nhân tại công trường xây dựng nhà thờ Thiên chúa giáo (nay là nhà thờ Con Gà) đình công đòi tăng lương tiếp tục thắng lợi…[205,127] Năm 1938, ở Lâm Đồng, nổi lên có cuộc khởi nghĩa của đồng bào Mạ do Mục Cọ (K’Nhồi) lãnh đạo đã thu hút hơn 10.000 người tham gia Đồng bào đã tổ chức quyên góp tiền bạc để mua sắm vũ khí chuẩn bị cho khởi nghĩa một cách chu đáo Mặc dù, bị thực dân Pháp đàn áp nặng nề, nhưng đây là phong trào chống Pháp có qui mô lớn trong vùng đồng bào dân tộc tỉnh Lâm Đồng

Tại Quảng Đức, từ tháng 7 năm 1937 đến giữa năm 1938, đồng bào các dân tộc hưởng ứng phong trào Mộ Cộ (Bằng Trắng) (Phong trào do hai thủ lĩnh người dân tộc K’ho tên là K’Voai và K’Mòi khởi xướng từ buôn Đông

Đò, xã Đinh Lạ, huyện Di Linh, tỉnh Đồng Nai Thượng) nhằm mục đích thành lập các tổ chức bí mật tới các buôn ấp, vận động đồng bào Thượng, Chăm, Kinh đoàn kết cùng nhau đánh Pháp, đóng góp tiền bạc, sắm vũ khí… thu hút trên 10.000 người tham gia [6]

Tháng 1 năm 1939, chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ Ở Việt Nam, thực dân Pháp thiết lập chế độ quân nhân phát xít tàn bạo và tiến hành khủng bố gắt gao các phong trào đấu tranh Trước tình hình đó, đầu tháng 11 năm 1939, Đảng ta triệu tập Hội nghị Trung ương lần thứ 6 Đồng Chí Nguyễn Văn Cư ø- Bí thư Chi bộ Phú Riềng tham gia dự họp Hội nghị

Trang 33

đã xác định nhiệm vụ cụ thể của con đường đấu tranh cách mạng của dân tộc trong giai đoạn mới

Trên cả nước phong trào đấu tranh cách mạng ngày càng phát triển Tại Nam Bộ Khởi nghĩa Nam Kỳ đã thu hút đông đảo nhân dân tham gia và lần đầu tiên cờ đỏ sao vàng xuất hiện tại một số vùng ở Nam Bộ Tuy thất bại, nhưng khởi nghĩa Nam Kỳ đã nêu tấm gương sáng ngời về tinh thần kiên cường bất khất của nhân dân ta

Ngày 19 tháng 5 năm 1941, Mặt trận Việt Minh ra đời Những chuyển biến trên đã tác động đến tình hình cách mạng Việt Nam, tình hình cách mạng miền Nam nói chung và Quân khu 10 nói riêng

Cuối năm 1941, đầu năm 1942, Chi bộ Cộng sản nhà đày Buôn Ma Thuột thành lập Năm 1943, chi bộ Cộng sản ngục Đắk Min thành lập do đồng chí Nguyễn Tạo làm bí thư Có thể nói, từ đây, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân các dân tộc trên địa bàn tỉnh Quảng Đức của Quân khu 10 chịu ảnh hưởng và dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Các chi bộ cộng sản ra đời trong nhà đày và nhà ngục như Hội tương trợ, đã tổ chức đấu tranh kiên cường chống chế độ lao tù hà khắc, chống đàn áp, giữ vững khí tiết cộng sản Nhiều cuộc đấu tranh có tiếng vang lớn, ảnh hưởng của nó vang dội không chỉ khắp Trung Kỳ, trên toàn cõi Đông Dương mà tới

cả nước Pháp Nhưng quan trọng hơn hết là việc tổ chức cho tù nhân vượt ngục và xây dựng cơ sở cách mạng trong binh lính, trong nhân dân, hướng phong trào cách mạng theo đường lối của Đảng Cộng sản

Cuối năm 1944, những chiến sĩ cộng sản vận động xây dựng được những cơ sở cách mạng trong hàng ngũ lính khố xanh, giác ngộ tinh thần cách mạng cho họ, để rồi sau này đến Cách mạng tháng Tám, họ là lực lượng đứng về phía cách mạng, theo tiếng gọi chính nghĩa, đứng lên làm chủ vận mệnh của mình [6]

Từ năm 1941 đến 1943, ở Lâm Đồng, mặc dù không có sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng ở địa phương, nhưng giai cấp công nhân và nhân dân lao động Lâm Viên và Đồng Nai Thượng vẫn tiến hành nhiều cuộc đấu tranh chống bọn tiểu tư sản thực dân Pháp: công nhân người dân tộc nổi dậy đốt đồn điền B’Lao (năm 1941), công nhân làm việc ở sân bay Liên Khàng (nay gọi là Liên Khương) đốt phá kho sân bay (năm 1942), công nhân đồn điền Soát-nen (Choisnel) ở B’Lao đấu tranh, đánh chết một tên cai tay sai của

Trang 34

chủ (ngày 19-6-1943); công nhân xưởng chè Đờ-phít (Dephis) ở Phi Nôm đốt phá kho của chủ rồi bỏ về quê (cuối năm 1943) [205,130-131]

Ở Bình Long và Phước Long, phong trào cách mạng có nhiều biến chuyển mới: tại trại Côlông, tổ chức “Hội người cùng quê” để làm công tác binh vận, liên lạc với người nhà để nhận sách báo và tin tức đấu tranh ở các tỉnh; tại đồn điền Lộc Ninh, hàng trăm công nhân các làng 4,9,10 đã biểu tình thị uy đòi chủ sở phải giảm giờ làm việc, thực hiện những điều mà toàn quyền Đông Dương đã ký trước đây (lúc này đồng chí Lê Đức Anh đang hoạt động hợp pháp ở Lộc Ninh, lập ra nhóm “công nhân nòng cốt” để củng

cố và phát triển phong trào đấu tranh sắp tới cuối năm 1942)

Các tổ chức quần chúng nửa công khai, nửa hợp pháp trong công nhân, thợ thủ công, các tầng lớp công chức, tiểu chủ được tái lập Gánh hát cải lương do đồng chí Văn Công Khai sáng lập đi nhiều nơi biểu diễn đã thu hút mạnh mẽ tình cảm và sự hưởng ứng của đông đảo quần chúng vào phong trào đấu tranh cách mạng Mặt trận Việt Minh trong tỉnh đã có cơ sở vững chắc trong quần chúng Bên cạnh các tổ chức quần chúng được xây dựng và phát triển ngày càng mạnh, lực lượng vũ trang cách mạng bước đầu được nhen nhóm và hình thành

Tháng 2 năm 1944, Chi bộ Lộc Ninh được thành lập gồm 3 đảng viên

do đồng chí Lê Đức Anh làm Bí thư Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, điều

lệ Việt Minh đã được phổ biến sâu rộng trong công nhân và nhân dân vùng này [9,33 -35]

Ở Lâm Đồng, sau một thời gian tuyên truyền, vận động, tháng 5 năm

1945, các đồng chí đã thành lập Tỉnh bộ Việt minh Lâm thời tỉnh Lâm Viên

do đồng chí Ngô Huy Diễn làm Thư ký và Ủy ban Mặt trận Việt Minh Đà Lạt

do đồng chí Nguyễn Thế Tính làm Thư ký Sau đó, các đoàn thể cứu quốc được thành lập, tập hợp được đông đảo Đoàn viên, hội viên tham gia [3] Ngày 7 tháng 6 năm 1944, Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị sửa soạn khởi nghĩa Đầu năm 1945 các Hội cứu quốc lần lượt ra đời ở nhiều nơi trong đó

có Hớn Quản, Lộc Ninh (Bình Long)…(tại Quảng Đức, do những khó khăn

có tính đặc thù địa phương, nên đến giữa tháng 8 năm 1945, vẫn chưa xây dựng được cơ sở Đảng)

Ngày 12 tháng 3 năm 1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ra Chỉ thị Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng

ta, phát động cao trào kháng Nhật trên cả nước

Trang 35

Ở Quân khu 10, các tỉnh quán triệt các chỉ thị, Nghị quyết của Trung ương và Xứ ủy Nam Kỳ về Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, lãnh đạo nhân dân chuẩn bị và tham gia Tổng khởi nghĩa:

Tại Lộc Ninh ngày 24 tháng 8 năm 1945, đội tự vệ do đồng chí Lê Đức Anh chỉ huy cùng với công nhân cao su và quần chúng tiến vào thị trấn cướp chính quyền Lộc Ninh cũng là một trong những nơi cướp chính quyền sớm nhất trong tỉnh Bình Long (Thủ Dầu Một cũ); Tại Hớn Quản (Bình Long), sáng 25 tháng 8 năm 1945, nhân dân và công nhân các đồn điền Quản Lợi, Xa Trạch, Xa Cam, Bình Sơn tổ chức mít tinh, biểu tình có trang

bị vũ khí chiếm nơi làm việc của bọn chủ, giành quyền làm chủ các đồn điền, sau đó cướp chính quyền quận lỵ;

Tại thị xã Thủ Dầu Một, rạng ngày 25 tháng 8, hàng chục ngàn đồng bào các nơi trong tỉnh kéo về thị xã Đồng chí Văn Công Khai - Bí thư tỉnh ủy- Trưởng ban khởi nghĩa thay mặt Ủy ban khởi nghĩa tuyên bố xóa bỏ chính quyền phản động, thành lập chính quyền cách mạng

Ngày 23 tháng 8 năm 1945, tại huyện Đắk Mil (Đức Lập cũ) của tỉnh Quảng Đức đồng bào phối hợp với các quận lỵ trong tỉnh Đắk Lắk kéo về sân vận động thị xã mít tinh biểu tình, góp phần vào thắng lợi của cuộc khởi nghĩa giành chính quyền

Sáng ngày 24-8-1945, nhân dân Đà Lạt tiếp tục biểu tình kéo đến dinh Tổng đốc Lâm Đồng, Bình - Ninh buộc Tổng đốc Trần Văn Lý nộp ấn tín cho Uûy ban khởi nghĩa Tuy vậy, quân Nhật vẫn còn chiếm giữ một số công sở như nhà bưu điện, sở địa dư, ngân hàng, nhà đèn, viện Pasteur [205,131-132]

Nhân dân khu vực vùng Ba Biên Giới nổi dậy tham gia mít tinh lớn tại

Bu Prăng, do đồng chí Nguyễn Trịnh Ba tổ chức chào cờ đỏ sao vàng và rước ảnh Bác Hồ, mừng cách mạng thành công Sau đó, lần lượt mít tinh thành lập chính quyền cách mạng ở các tổng, đập phá tượng đài Hăng ri mét và dựng bia kỷ niệm N’Trang Lơng tại ngã Ba Biên Giới

Tóm lại, Quân khu 10 giữ một vị trí địa lý quân sự quan trọng ở vùng đất này Dân cư số đông là nông dân, công nhân cao su, đồng bào dân tộc thiểu số bị áp bức bóc lột nặng nề, có tinh thần yêu nước và đấu tranh chống ngoại xâm bất khuất Từ trong phong trào công nhân, tổ chức Đảng Cộng sản ra đời rất sớm (Bình Long) và nhanh chóng trở thành tổ chức chính trị duy nhất lãnh đạo nhân dân đấu tranh cách mạng trong suốt giai

Trang 36

đoạn từ 1930 - 1945, góp phần to lớn làm nên cuộc Cách mạng tháng Tám

Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Tỉnh ủy các tỉnh, quân dân Quân khu 10 thực hiện công cuộc thiết lập, bảo vệ, củng cố chính quyền cách mạng, xây dựng đời sống mới Truyền thống đấu tranh cách mạng của nhân dân Quân khu 10 ngày càng phát triển trong những năm tiếp theo của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và

đế quốc Mỹ

1.2.2.3 Giai đoạn 1945-1954

Cách mạng tháng Tám thành công chưa được bao lâu, chính quyền mới còn gặp muôn vàn khó khăn về mọi mặt kinh tế, chính trị, quân sự… thì đêm 22 rạng ngày 23 tháng 9 năm 1945 với trên 5000 lính Nhật được sự hỗ trợ của quân Đồng minh Anh, thực dân Pháp bất ngờ nỗ súng tấn công vào các cơ quan hành chính Nam Bộ và những cứ điểm quan trọng trong thành phố Sài Gòn, chính thức mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta một lần nữa…

Hiểu rõ tầm quan trọng của các tỉnh Quân khu 10 nói riêng, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ nói chung, thực dân Pháp âm mưu dốc sức tái chiếm địa bàn này để giữ thế trận phòng thủ Tây Nguyên và bảo vệ Nam Đông Dương Chúng biết rằng muốn chiếm được miền Nam thì phải kiểm soát được vùng cao nguyên có tầm chiến lược này Cho nên, sau thất bại trong kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh ở Nam Bộ, ở Sài Gòn - Gia Định, thực dân Pháp vội vã đánh chiếm Hạ Lào, Campuchia và âm mưu đánh chiếm Tây Nguyên, Trung Bộ, hòng chia rẽ nhân dân các dân tộc, chia rẽ ba

Trang 37

nước Đông Dương, tạo thế bao vây Nam Bộ Để thực hiện kế hoạch này, ngày 19 tháng 10 năm 1945, quân Pháp đã tiến đánh Nha Trang, chia cắt các tỉnh miền Trung, khống chế Nam Trung Bộ Ngày 11 tháng 11 năm

1945, quân Pháp đánh chiếm B’Lao - Di Linh (thủ phủ Đồng Nai Thượng) Ngày 15 tháng 11 năm 1945, đánh chiếm Đà Lạt, đồng thời đánh chiếm Đông Bắc Cam pu chia, Hạ Lào

Trên địa bàn Hớn Quản, Bà Rá, Bù Đốp nơi tập trung nhiều đồn điền cao su như: Lộc Ninh, Hớn Quản, Thuận Lợi, Đa Kia, Bù Đốp… thực dân Pháp âm mưu phục hồi sản xuất để cung cấp nhiên liệu Nơi đây còn là vùng có vị trí chiến lược rất lợi hại về quân sự… Mục đích của thực dân Pháp là khai thông và kiểm soát hoàn toàn các địa điểm nằm dọc theo quốc

lộ 13, cùng với các đồn điền cao su rộng lớn ở Hớn Quản và Lộc Ninh Đặc biệt, vùng Ba Biên Giới (Tuy Đức - Quảng Đức) nằm phía tây núi Nam Nung (căn cứ của N’Trang Lơng trước 1935), vị trí tiền tiêu của Quảng Đức, là trọng tâm đánh chiếm của thực dân Pháp Chiếm được vùng này sẽø ngăn chặn được con đường liên lạc và các hoạt động của ta phát triển vào Nam khống chế được vùng Nam Tây Nguyên và vùng rừng núi miền Đông Nam Bộ [6,61]

Trước hành động của thực dân Pháp và cuộc chiến đấu của nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định, Tỉnh ủy các tỉnh thuộc Quân khu 10 chủ trương góp sức người, sức của với Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định để ngăn chặn sự lấn chiếm của địch, chuẩn bị sẵn sàng đánh địch tại chỗ nếu chiến

sự lan đến địa phương

Ngày 26 tháng 9 năm 1945, hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Tôi tin và đồng bào cả nước đều tin vào lòng kiên quyết ái quốc của đồng bào Nam Bộ… Chúng ta nhất định thắng lợi vì chúng ta có lực lượng đoàn kết của cả quốc dân” [64,27] Cùng với nhân dân cả nước, trong những ngày đầu Nam Bộ kháng chiến, tháng 9 năm 1945, hàng trăm con

em các dân tộc ở vùng đất Quân khu 10 đã gia nhập lực lượng “đội quân áo nâu” và một “bộ phận tên ná” trong “đội quân cung tên”, do đồng chí Lê Đức Anh chỉ huy đã tiến về Sài Gòn, chi viện cho trận tuyến Miền Đông, tham gia chiến đấu trên mặt trận cầu Bến Phân (thuộc Hóc Môn, Gia Định) Đồng thời vừa quyên góp nuôi quân, vừa triệt phá giao thông, ngăn chặn quân Pháp đánh ra Sài Gòn Hàng ngàn đồng bào thực hiện lời kêu gọi kháng chiến, rời

bỏ đồn điền về xây dựng làng ấp chiến đấu, tham gia các đơn vị vệ quốc như Chi đội 1, Chi đội 10, Tiểu đoàn 303

Trang 38

Nhân dân, công nhân cao su cùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Phước Long, Bình Long tích cực đêm đêm đi phá đường 13, 14, phá tỉnh lộ 13 và đường sắt Sài Gòn - Lộc Ninh, gây cho địch trong cơ động lực lượng vận chuyển hàng hóa từ Sài Gòn đi Tây Nguyên hoặc sang Campuchia

Ngoài ra, được cán bộ cách mạng giác ngộ, đồng bào các dân tộc đã cùng bộ đội xây dựng căn cứ kháng chiến, góp phần mở rộng căn cứ kháng chiến ở miền Đông, mở rộng căn cứ chiến khu Đ lên tới vùng Thuận Lợi, Bù

Na, Thọ Sơn, Đắk Nhau … vùng căn cứ kháng chiến có ý nghĩa chiến lược của miền Đông Nam Bộ

Ngày 9 và 10 tháng 11 năm 1945, quân Nhật theo đường 20 tiến lên đèo B’Lao (Lâm Đồng) bị ta đánh lui Chiều ngày 11 tháng 11 năm 1945, một đoàn xe quân sự Nhật với hơn 40 chiếc, có xe bọc thép hộ tống tiếp tục tiến lên Cuộc chiến đấu diễn ra căng thẳng, ác liệt kéo dài đến sáng 12 tháng 11, ta đã tiêu diệt và làm bị thương trên 50 tên địch, một xe quân sự

bị cháy Lực lượng cách mạng có 20 người bị thương và hy sinh….[205,134]

Tuy nhiên do lực lượng chênh lệch nên tháng 6 năm 1946, hầu hết các địa phương, các đồn điền ở vùng đất Quân khu 10 đều bị quân Pháp đã đánh chiếm

Thực dân Pháp lại giở thủ đoạn đốt sạch, phá sạch các buôn làng, tăng cường bóc lột đồng bào, khoét sâu mâu thuẫn Kinh - Thượng Thâm hiểm hơn, thực dân Pháp kích động đồng bào thiểu số bắn giết cán bộ người Kinh, lấy đầu cán bộ đem nộp cho đồn Pháp đổi lấy muối, vải… Ban đầu quân Pháp treo giá 3 lít muối và 1 lít vải (xấu) cho mỗi cán bộ bị giết, sau nâng lên thành 20 lít, rồi cả bao muối và vải Cuối cùng thì chỉ cần cắt được tai cán bộ cách mạng nộp cho Pháp thì vẫn được thưởng một bao muối và vải vóc…

Tất cả các hành động trên đã gây cho ta không ít khó khăn trong năm

1946 Song dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ các tỉnh, nhân dân các tỉnh đã kiên cường từng bước vượt qua mọi khó khăn, duy trì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược

Tại Quảng Đức (lúc này thuộc tỉnh Đắk Lắk), đầu năm 1947, Ban cán

sự tỉnh đã được và chuẩn bị lực lượng cùng mọi điều kiện để trở lại chiến trường… Lãnh đạo tỉnh Đắk Lắk quyết định đưa lực lượng trở lại bám đất, bám dân, các cơ quan lãnh đạo các huyện được tái lập lại Vì vậy, mặc dù

Trang 39

trước sự khủng bố ác liệt của thực dân Pháp và tay sai, công tác xây dựng chính quyền vẫn được củng cố, phong trào cách mạng ở một số nơi được duy trì…

Tháng 8 năm 1946, tại Hớn Quản, trung đội 1 thuộc đại đội 3 - đại đội Hớn Quản, Lộc Ninh, có cơ sở nội ứng hỗ trợ, đã tổ chức đánh trận đầu tiên Kết quả đã phá trụ sở tề, nhà ga, nhà bưu điện, diệt một tên việt gian

có nợ máu với nhân dân cùng 3 tên lính khác…

Truyền thống đấu tranh của quân và dân trên địa bàn Quân khu 10, thể hiện khá rõ nét trong việc xây dựng căn cứ địa kháng chiến Dựa vào địa thế hiểm trở, thuận lợi cho việc huấn luyện, trú đóng quân, xây dựng bảo vệ

và nuôi dưỡng phát triển các lực lượng vũ trang, là nơi tạo điều kiện cho lực lượng kháng chiến tổ chức phòng thủ cũng như tiêu diệt địch bằng lối đánh

du kích Nơi đây còn là địa bàn khá quan trọng, có tính chất yết hầu nối liền

từ biên giới Tây Nam giáp Campuchia đến các tỉnh cực Nam Trung Bộ, từ chiến khu Đ đến các căn cứ Tây Nguyên như: căn cứ Thuận Lợi, là nơi thông thương tiếp viện giữa Sài Gòn và Tây Nguyên; căn cứ Truông Ba Trường nằm trên địa phận ba xã Tân Khai, Tân Thành, Minh Thạnh ở Bình Long; căn cứ kháng chiến nổi tiếng ở núi Nam Ramay và núi R’Cáp ở Lâm Đồng Đặc biệt, nhiều buôn, sóc người dân tộc thiểu số trở thành căn cứ kháng chiến: sóc Tó, buôn Xa Quất, Thủ Bổn, Sóc Ruộng (Bình Long); buôn

Bù Tôn, Bù Rinh (Phước Long); … Từ đây, các lực lượng vũ trang chính quy ra đời và trưởng thành qua các chiến dịch đem lại những chiến thắng vang dội như Bến Cát, Dầu Tiếng, Hớn Quản, quốc lộ 14…

Trong công cuộc kháng chiến của quân và dân ta, Hớn Quản, Bà Rá,

Bù Đốp còn giữ vai trò làm nơi tiếp nhận các nguồn chi viện, tiếp tế từ các vùng tạm bị chiếm, sự chi viện tiếp tế của Trung ương từ đây được phân phối đến các chiến trường Song song đó, mối liên kết mật thiết giữa phong trào kháng chiến của nhân dân ở vùng tạm bị chiếm với các căn cứ và với phong trào công nhân tại các đồn điền cao su đã tạo sự đồng bộ nhịp nhàng, làm cho phong trào kháng chiến ngày càng phát triển mạnh mẽ Trong thời gian cuối năm 1945 đầu năm 1946, quân dân các quận Bà

Rá, Hớn Quản, Bù Đốp phải chiến đấu sinh hoạt trong điều kiện hết sức khó khăn… Nhân dân Quân khu 10 tổ chức phong trào quyên góp tiền, gạo, thuốc men cho bộ đội … Hoạt động lấy tài sản của tư bản Pháp gửi vào chiến khu phát triển thành phong trào rộng rãi khắp các đồn điền, mỗi đồn

Trang 40

điền đều thành lập Ban vận động tiếp tế làm nhiệm vụ quyên góp và vận chuyển ra căn cứ

Phong trào ủng hộ kháng chiến kiến quốc do các tổ chức đoàn thể cứu quốc (Nông - Thanh - Phụ) cùng “Hội mẹ chiến sĩ” phát động đã vận động được đông đảo đồng bào vùng căn cứ, vùng tạm chiến đóng góp tiền bạc, lương thực, thực phẩm cho cách mạng Trong năm 1949, nhân dân các vùng đồng bào căn cứ của tỉnh Phước Long, Bình Long đã ủng hộ kháng chiến 890.000 giạ lúa, 295.203 giạ gạo, 121.000 giạ muối, 675 tấn đường… hàng ngàn đồng bào tham gia vận chuyển lương thực, thực phẩm từ miền Tây về miền Đông và miền Trung Nam Bộ suốt những năm 1949-1954 [9,88-89]

Về hoạt động vũ trang, thời kỳ này nhiều trận đánh của lực lượng vũ trang địa phương các tỉnh Bình Long, Phước Long đã gây tổn thất lớn cho địch: trận từ Thủ Dầu Một đến Phú Riềng (tháng 12 năm 1947); trận Bù Koh (tháng 5 năm 1948); Đặc biệt, lực lượng vũ trang huyện Lộc Ninh đánh chiếm Bù Đốp (tháng 3 năm 1949) phá nhà tù Bà Rá, giải thoát cho 60 đồng bào, chiến sĩ bị địch bắt giam, tiêu diệt toàn bộ trung đội địch, thu 41 súng các loại

Tại Đồng Nai Thượng, từ năm 1948, tỉnh đưa các ban xung phong và các đội vũ trang tuyên truyền xuống hoạt động ở cơ sở Đến tháng 4 năm

1949 đã xây dựng được cơ sở chính trị ở 95 buôn trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, thành lập chính quyền cách mạng và các tổ chức quần chúng ở

5 xã thuộc huyện Djiring gồm Trường Sơn, Nam Sơn, Trung Sơn, Bắc Sơn, Đông Thuận…Thanh niên địa phương hăng hái tham gia dân quân du kích, chỉ tính trong 6 xã đã có trên 1.000 đội viên [205,136-137]

Lập thành tích kỷ niệm ngày sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 11 tháng 5 năm 1951, tổ cảm tử gồm 7 đồng chí đã diệt tên Haz - Phó thanh tra mật thám Đông Dương tại biệt thự Hoa Hồng (nay là nhà số 17 đường Huỳnh Thúc Kháng, Đà Lạt) Để trả thù và trấn an tinh thần binh lính, lúc 19 giờ cùng ngày, địch đưa 20 người đang bị giam tại nhà lao Đà Lạt đi xử bắn tại khu rừng Cam Ly, 19 người đã anh dũng hy sinh, chị Nguyễn Thị Lan bị thương nặng còn sống sót

Ở Bình Phước đại đội 290 pháo binh tập trung các chiến sĩ là chị em người dân tộc thiểu số, chủ yếu là X’Tiêng đã chiến đấu lập được thành tích vang dội ở khu vực Đông Nam Bộ

Ngày đăng: 21/07/2023, 17:38

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w