1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hướng tới xây dựng quan hệ đối tác chiến lược việt nam hoa kỳ phần 2

230 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hướng tới xây dựng quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Hoa Kỳ phần 2
Trường học Học viện Ngoại giao Việt Nam
Chuyên ngành Quan hệ quốc tế
Thể loại Tài liệu học thuật
Định dạng
Số trang 230
Dung lượng 5,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ quan hệ đổi tác toàn diện..Ba là, trước đây, khi xây dựng và triển khai đối tác chiến lược, các chủ thể thường coi trọng hợp tác về chính trị, an ninh và quốc phòng, nhưng hiện nay x

Trang 1

PH Ẩ N II

T ừ QUAN HỆ ĐỐI TÁC TOÀN DIỆN HƯỚNG TỚI XÂY D ựNG QUAN HỆ Đ ố i TÁC CHIẾN LƯỢC

VIỆT NAM - HOA KỲ

Kể từ khi chính thức bình thường hóa quan hệ đến nay, Việt Nam và Hoa Kỳ đã chia sẻ lợi ích chung trong việc duy trì hòa bình và an ninh trong khu vực Đông Nam Á Vì lợi ích của mình, cà Việt Nam và Hoa Kỳ đều có quan điểm hợp tác song phương rõ ràng và tích cực, và xem đó là điều kiện để đưa hai dân tộc hướng tới một tương lai tươi sáng và tốt đẹp hơn Và đến nay, thay vì một cuộc chiến, hai bên đều tích cực xây dựng mối quan hệ bình thường hóa trên hầu hết các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, quân sự 1 Cả Việt Nam và Hoa

Kỳ đều cần và xác định phải nâng cấp mối quan hệ sone phương theo hướng xây dựng quan hệ đối tác chiến lược Điều này phù họp với lợi ích chiến lược của hai nước và góp phần thúc

1 Theo ôn g N guyên Tàm Chiến, nguyên Đ ạ i sứ Việt Nam tạ i H oa KỸ việc hiên biết c ơ ch ế ra quyết định cùa nhau đóng g ó p thiêt thực cho tiến trình thúc đ ẩ y quan hệ Việt Nam - Hoa K ỳ (hội thào khoa học

"Nhìn lạ i quan hệ Việt Nam - H oa K ỳ sau 15 năm bình thướng hóa"

d o Viện N ghiên cini Châu Mỹ, Viện Khoa học x ã hội Việt Xam tô chứ c n g à y 12/7/2010 tạ i Hà Nội).

Trang 2

Phẩn II Từ quan hê đối tác toàn diện

đẩy xu thế hòa bình, hợp tác, ổn định và phát triển ờ Châu Á - Thái Bình Dưcme nói riêne và trên thế giới nói chung

Việc xây dựng quan hệ đổi tác chiến lược Việt Nam - Hoa

Kỳ được nhận diện trên cơ sở phân tích và đánh giá hiện trạng quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ kể từ khi hai nước bình thường hóa quan hệ naoại giao cho tới nay trên tẩt cả các lĩnh vực Đây có thể coi là "cốt vật chất" của quan hệ đối tác chiến lược nếu nó được đảm bảo bàng một cam kết chiến lược (Hiệp định) của hai quốc eia Các lĩnh vực được tập trung nahiên cứu bao eồm quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ trên lĩnh vực chính trị - neoại eiao kinh tế - thương mại an ninh - quốc phòng, văn hóa, giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực khoa học còne nehệ và môi trường Neoài ra phần này cũng đề cập đến sự hợp tác giữa hai bên trong việc 2Ìải quyết các vấn đề nhân quvền dân chủ tôn eiáo

và các vấn đề khác như hoạt độne nhân đạo khắc phục hậu quả chiến tranh

Trước khi phàn tích và đánh 2Ìá hiện ưạna quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ phần nàv cũns sẽ tìm hiêu nhận thức của Việt Xam và Hoa Kỳ về việc xây dựne quan hệ đổi tác chiến lược

2.1 Nhận thức cùa Việt Nam và Hoa Kỳ về việc xây dựng quan bệ đối tác chiến lược

2.1.1 Nhận thức về khái niệm đối tác chiến lược

Trên thế siớ i hiện nav chưa có quổc sia nào đề cập chính thức đèn khái niệm chuns vè khuôn khô nội hàm mục đích.

* Các ý kiến trons tiều mục nàv phan lớn là của PGS.TS Khoa học Trần Khánh phát biêu tại tọa đàm khoa học cùn» chủ đẽ do đề tài tổ chức.

145

Trang 3

HƯỚNG TỚI XÂY DỰNG QUAN HỆ ĐỐI TÁC

ý nghĩa của đối tác chiến lược Xuất phát từ lợi ích quốc gia, các chủ thể trong quan hệ quốc tế tìm cách thiết lập và triển khai đối tác chiến lược phù hợp với thực lực quốc gia, bối cảnh quốc tế và không tự bó hẹp mình ưong những khuôn khổ quan hệ cứng nhắc Bởi người ta đều cho rằng quan hệ đối lác chiến lược có tầm quan trọng lớn và cao hơn quan hệ đối lác toàn diện thông thường, chỉ khi các quốc gia có quan hệ hữu nghị và hợp tác ở một mức độ nhất định thì mới cân nhẩc việc xây dựng, thiết lập quan hệ đối tác chiến lược

N hiều người cho rằng, đối tác chiến lược là một dạng thức của quan hệ quốc tế, phản ánh mong muốn của các chủ thể khi tham gia khuôn khổ quan hệ này Đối tác chiến lược thể hiện

sự cam kết cao hơn mức độ quan hệ song phương thông thường nhưng chưa cao bằng các liên minh chiến lược Nói cách khác, đối tác chiến lược còn là một thước đo sự gắn kết, đan xen về lợi ích giữa các chủ thể trong quan hệ quốc tế, vượt lên trên mức hữu nghị và hợp tác, nhưng chưa đến mức ràng buộc về trách nhiệm pháp lý theo kiểu liên minh chiến lược Nhìn chung, các cặp quan hệ đối tác chiến lược trên thế giới có năm đặc trưng cơ bản như sau:

M ột là, phải có một khuôn khổ quan hệ với những nội hàm

hợp tác rộng lớn tùy thuộc vào ý chí chính trị và nguyện vọng hợp tác của các bên, được chính thức hóa thông qua các tuyên

bố cấp cao, thông cáo chính thức

H ai là, phải có các cơ chế vận hành thông qua các cuộc

gặp gỡ, giao lư u nhất là ở cấp cao, kể cả định kỳ và đột xuất,

để xây dụng lòng tin chiến lược, tăng cường hữu nghị, sự hợp tác toàn diện;

Trang 4

Phẩn II Từ quan hệ đổi tác toàn diện

Ba là, trước đây, khi xây dựng và triển khai đối tác chiến

lược, các chủ thể thường coi trọng hợp tác về chính trị, an ninh và quốc phòng, nhưng hiện nay xu thế chi chọn một hoặc một vài lĩnh vực hẹp hoặc đa dạng hóa nội hàm để xây dựng đối tác chiến lược đang trở nên ngày càng phổ biến, miễn là

có lợi cho cả hai phía và không đi tới liên minh về quân sự;

Bốn là, có sự hợp tác kinh tế sâu rộng, mật thiết hơn mức

thông thường, tạo ra sự khác biệt rõ ràng giữa hợp tác và đối tác, tạo ra sự đan xen và gắn kết lợi ích tương đối bền vững trong một thời gian nhất định

Năm là, có cùng quan điểm hoặc chia sẻ quan điểm về nhiều

vấn đề quan trọng trên các diễn đàn hợp tác quốc tế song phương

và đa phương

Ngoài ra, đối tác chiến lược phải có giao lưu, hợp tác ở nhiều cấp, ngành, địa phương và giao lưu nhân dân Mục tiêu của đối tác chiến lược là hướng tới các lợi ích quốc gia dân tộc cơ bản, lâu dài giữa các bên tham gia Quan hệ đối tác chiến lược có tính linh hoạt, không phải là bất biến, phát triển và thay đổi tùy vào từng đối tác, thời điểm, lĩnh vực và cách vận dụng của từng chủ thể Nhưng nhìn chung, trong quan hệ đối tác chiến lược, cả hai bên đều phải tuân thủ

những điều kiện sau: không tẩn công lẫn nhau, không liên

minh chong lại một nước thứ ba, không can thiệp vào nội bộ công việc của nhau và tin cậy lẫn nhau, trong đó yếu tố tin cậy lan nhau là vô cùng quan trọng vì nó dựa trên sự hiểu biết

và dự đoản vê nhau'.

* Theo PGS.TS Trần Khánh

147

Trang 5

HƯỚNG TỚI XÂY DỰNG QUAN HỆ ĐỐI TÁC

N hư vậy, có thể nói bản chất của quan hệ đối tác chiến lược

là mối quan hệ hợp tác bình đẳng cùng có lợi, chia sẻ các lại ích mang tính chiến lược, ở đó hai bên mong muốn biển đổi cả

về lượng và chất của sự hợp tác thông thường để hướne tới những mục tiêu vĩ mô và trọng yếu, đặc biệt là tăng cường hợp tác an ninh, phát triển kinh tế và nâng tầm vị thế cùa chù thể trong khu vực

đối tác chiến lược với Hoa Kỳ

Trước hết, có thể thấy Hoa Kỳ không phải là đối tác chiến lược đầu tiên của Việt Nam nếu quan hệ này được xác lập Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa,

đa dạng hóa quan hệ; đưa quan hệ quốc tế đi vào chiều sáu, từ năm 2001, Việt Nam bắt đầu thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với Nga và đến tháng 7 - 2012 đã nâng lên thành quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt - Nga Năm 2007, Việt Nam thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với Án Độ, năm 2008 lập quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện với Trung Quốc, năm 2009 với Nhật Bản và Hàn Quốc, năm 2010 với Anh và

2011 với Đức, năm 2013 với Italy, Indonesia, Thái Lan và Pháp Ở mức độ thấp hon, chúng ta đã lập đối tác chiến lược

về đối phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâne với Hà Lan (2010) quan hệ đối tác chiến lược trong lĩnh vực biến đổi khí hậu, môi trường, năng lượng và tăng trưcme xanh

vớ i Đ an Mạch Gần đây nhất, trong chuyến thăm Hoa Ký tháns

7 - 2013 của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang V iệt Nam

và H oa K ỳ đã xác lập quan hệ đối tác toàn diện, đánh dảu

Trang 6

Phần II Từ quan hệ đối tác toàn diện

m ột bước phát triển mới trong quan hệ giữa hai nước Như vậy, quan hệ đối tác toàn diện Việt Nam - Hoa Kỳ được thiết lập tương đối muộn so với nhiều nước khác Nhưng có thể nói đây là bước quan trọng để nâng tầm thành quan hệ đối tác chiến lược trong tương lai

Nhìn lại việc thiết lập và triển khai quan hệ đối tác chiến lược của Việt Nam trong thời gian qua, các đối tác chiến lược của Việt Nam, ở những mức độ khác nhau, đều đã có những đóng góp tích cực cho quan hệ song phương với đối tác cũng như tới "bàn cờ" đối ngoại chung của Việt Nam Các đối tác chiến lược đã giúp (i) xây dựng và củng cố lòng tin chiến lược giữa Việt Nam và các đối tác, đặc biệt, khuôn khổ đối tác chiến lược mở ra nhiều kênh đối thoại quan trọng đặc biệt ở cấp chiến lược và thực hiện chính sách vừa giúp thúc đẩy quan

hệ vừa giúp xử lý các bất đồng/khác biệt; (ii) đưa quan hệ đối ngoại của Việt Nam đi dần vào ổn định, ngày càng có chiều sâu

và bền vững, đồng thời, chúng ta vẫn giữ vững được đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ đa dạng hóa, đa phương hóa và ngày càng chủ động trong hội nhập quốc tế; và (iii) góp phần gia tăng cả về số lượng và chất lượng các dự án, các cơ chế họp tác quốc tế, từng bước góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam

ở khu vực và thế giới

Tuy nhiên, v iệc thiết lập khá nhiều quan hệ đối tác chiến lược cũng có những mặt trái, bởi nó cho thấy chúng ta chưa thực sự xác định được những đối tác chiến lược trọng điểm

N hiều đổi tác chiến lược của ta như Tây Ban Nha, Italy là những nước có vị trí địa lý tương đổi xa, họp tác về an ninh quốc phòng không nhiều, giá trị xuất nhập khẩu thương mại

149

Trang 7

HƯỚNG TỚI XÂY DỰNG QUAN HỆ ĐỐI TÁC.

giữa hai nước chỉ ở mức trung bình, do đó hai nước chưa tận dụng được triệt để những lợi ích mà việc thiết lập quan hệ đối tác chiến lược mang lại Mặt khác, chúng ta thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với Trung Quốc khi mà hai nước còn gặp nhiều bất đồng trong vấn đề Biển Đông, chất lượne hợp tác thưcmg mại cũng chưa ổn bởi giá trị xuất nhập khẩu lớn nhưng

tỷ trọng nhập siêu của Việt Nam lại quá cao Như vậy, điều quan trọng nhất hiện nay là phải có một định hướng chiến lược rõ ràng, đặt ra thứ bậc ưu tiên trong việc xác định đối tác chiến lược để không gây phân tán nguồn lực và mất phương hướng cho những nhà hoạch định chính sách của Việt Nam.Trong hoàn cảnh đó, Hoa Kỳ được xác định là một đổi lác quan trọng hàng đầu, là trọng điểm ưu tiên số một để hướng tới xây dựng quan hệ đối tác chiến lược, vì những lý do sau:

Thứ nhất, Hoa Kỳ là nước có nền kinh tế lớn nhất, là thị

trường lớn nhất thế giới và là động cơ thúc đẩy sự tăng trường kinh tế toàn cầu trong một thời gian dài Nhờ phát triển quan

hệ với Hoa Kỳ, Việt Nam có thể tranh thủ thị trường rộns lớn, nguồn vốn đầu tư, kỹ thuật công nghệ và phương thức quàn lý tiên tiến của Hoa Kỳ để phục vụ cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước

Thứ hai, Hoa Kỳ đóng vai trò chi phối trong nhiều tỏ chức

quốc tế và trong quan hệ với các nước trên thế giới nên việc phát triển quan hệ với Hoa Kỳ tạo điều kiện cho Việt Nam hội

nhập vào cộng đồng quốc tế Ngoài ra, việc tạo lập quan hệ tót

với tất cả các quốc gia trên thế giới còn giúp duy tri sự òn định, hòa bình thịnh vượng cho Việt Nam, tạo môi trưởng

Trang 8

Phần II Từ quan hệ đổi tác toàn diện

trong nước và quốc tế tốt đẹp phục vụ cho xây dựng và phát triển kinh tế, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế

Thứ ba, những mâu thuẫn căng thẳng giữa Trung Quốc và

các nước trong khu vực về vấn đề Biển Đông và chủ quyền khiến cho Việt Nam càng cần tranh thủ mối quan hệ và sự ủng

hộ từ cộng đồng quốc tế, đặc biệt là Hoa Kỳ

Vì những lý do trên, Việt Nam luôn cần phải thể hiện sự chủ động trong việc thúc đẩy quan hệ với Hoa Kỳ, xem Hoa

Kỳ là đổi tác quan trọng trong chính sách đối ngoại của mình Việc tập trung vào mối quan hệ với Hoa Kỳ cũng cho thế giới thấy được chúng ta có chiến lược rõ ràng và có sự ưu tiên hợp

lý cho các cường quốc quan trọng

2.1.3 Nhận thức của Hoa Kỳ về việc xây dựng quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam

Trong suốt thời kì Chiến tranh Lạnh, Việt Nam luôn giữ một vai trò trọng tâm, then chốt trong chính sách an ninh của Hoa Kỳ Việt Nam là "tiền đồn" của Hoa Kỳ trong chính sách ngăn chặn toàn cầu của Hoa Kỳ ở Châu Á Do đó, lần lượt các tổng thống Hoa Kỳ từ Truman đến Nixon đều can thiệp vào Việt Nam Mục đích của Hoa Kỳ là biến Việt Nam thành "căn

cứ phương Đông" của Hoa Kỳ để cùng Hoa Kỳ và đồng minh tiến hành cuộc chiến đấu bảo vệ "thế giới tự do"

Năm 1991, Chiến tranh Lạnh kết thúc, Hoa Kỳ đã trở thành

bá chù thế giới khi Liên X ô sụp đổ Tuy nhiên, do nhiều điều kiện khách quan mà Hoa Kỳ chưa có sự quan tâm đúng mức

về vấn đề V iệt Nam Từ đàu thế kỉ XXI, trước sự phát triển và

151

Trang 9

HƯỚNG TỚI XÂY DỰNG QUAN HỆ ĐỐI TÁC

ngày càng lớn mạnh của Việt Nam trong ASEAN, sự ốn định

về chính trị và phát triển nhanh về kinh tế cùa Việt Nam đã chứng tỏ vị trí quan trọng của Việt Nam trong Đông Nam Ả

Do đó, Chính phủ Hoa Kỳ đã có nhiều động thái tích cực trong việc bình thường hóa quan hệ với Việt Nam Vả cùng với Việt Nam, thúc đẩy quan hệ Việt - Mỹ phát triển Cho tới nay, Việt Nam giữ vị trí quan trọng trong chính sách cũa Hoa

Kỳ ở Đông Nam Á

Theo nhận định của các nhà phân tích ở Hoa Kỳ và nước ngoài, Việt N am ngày càng trở lại với "vai trò then chốt" trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ ở Châu Á Hoa Kỳ xem trọng vai trò của Việt Nam vì Việt Nam là một thành viên khá quan trọng của ASEAN với 16% dân số (đứng sau Indonesia) Trong khi đó, chiến lược của Hoa Kỳ ở Châu Á - Thái Bình Dương ít nhất dựa một phần vào sự phát triển manh mẽ của ASEAN "ASEAN có nền móng vững chắc là điểm tựa cản bằng cho kiến trúc vùng kiểu mới trong Thượng đỉnh Đông Á Neu thiếu vắng yếu tố lãnh đạo mạnh mẽ của Việt Nam cũng như của ASEAN thì chiến lược của Hoa Kỳ sẽ rất yếu Do đó, Hoa Kỳ phải xem trọng vị trí của Việt Nam trong chính sách của mình

Mặt khác, Hoa K ỳ đánh giá, Việt Nam đang vươn lên thành một quốc gia quan trọng, đóng góp vào việc duy trì hòa bình

an ninh cho khu vực Đông Nam Á , đặc biệt trong khối ASEAN, cũng như cho quốc tể thông qua Liên hợp quốc và các tổ chức đa phương khác Chính sách tái cân bans lực lượng của H oa K ỳ (tại Châu Á ) bao gồm cả hai khía cạnh kinh

tế, an ninh tập trung vào khu vực Đông Nam Ả D o đó

Trang 10

Phân II Từ quan hệ đồi tác toãn diện

Hoa Kỳ cần có Việt Nam trong chính sách cân bằng quyền lực

ở Châu Á Phát biểu tại cuộc gặp gỡ báo chí hôm 25/7/2013, Tổng thống Obama đã xác định "quan hệ đối tác toàn diện giữa hai nước sẽ cho phép hợp tác hơn nữa trên một loạt các vấn đề từ thương mại đến họp tác giữa hai quân đội, đến hoạt động đa phương trong các lãnh vực như cứu trợ thiên tai, đến trao đổi khoa học và giáo dục" Vì vậy, Hoa Kỳ và Việt Nam cần phải thúc đẩy hơn nữa hợp tác toàn diện giữa hai nước.Ngoài ra, Việt Nam lại có vị trí địa chính trị cực kỳ quan trọng tại Biển Đông và Đông Nam Á Biển Đông hiện đã trở thành nơi tìm kiếm, tranh giành ảnh hường của các cường quốc trên thế giới, mà nổi bật là Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nhật

B ản , những nước công khai tuyên bố họ có lợi ích, lợi ích cốt lõi và mối quan tâm đặc biệt ở Biển Đông

Hơn nữa, Việt Nam với một nền kinh tế năng động, thị trường lớn nhiều tiềm năng cùng nhiều cơ hội chưa được khai phá, cũng cần được Hoa Kỳ coi là một đối tác quan trọng về kinh tế Việc Hoa Kỳ phát triển hơn nữa quan hệ kinh tế với Việt Nam cũng sẽ thúc đẩy quá trình phát triển nền kinh tế thị trường ở đây Điều này phù hợp với chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế thị trường và mở rộng các giá trị tự do, dán chủ của Hoa Kỳ trên toàn cầu

Tuy nhiên, để thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với V iệt Nam , Hoa Kỳ còn rất nhiều điều phải cân nhắc Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ luôn hướng tới ba mục tiêu khác nhau:

quyền lợi chiến lược, quyền lợi kinh tế và quyền lợi về giá trị

Quyền lợi về giá trị chính là "tự do, dân chủ và nhân quyền"

153

Trang 11

HƯỚNG TỚI XÂY DỰNG QUAN HỆ ĐỐI TÁC

mà Hoa Kỳ hay đề cập hay còn là chiêu bài đảm bảo vị tri lãnh đạo của Hoa Kỳ Ba yếu tố này luôn luôn hiện hữu đan xen lẫn nhau trong mối quan hệ với các nước khác nhau Việt Nam chắc chắn sẽ không phải là một ngoại lệ Nhiều ý kiến cho rằng, nếu không chủ động tỏ rõ thiện ý thiết lập quan hệ hợp tác, cũng như chia sẻ giá trị của mình ở ba mục tiêu trên, Việt Nam sẽ không nhận được sự hồi đáp tương xứng từ phía Hoa Kỳ

Nói tóm lại, quan hệ quốc tế đang thay đổi nhanh chóng theo hướng ngày càng đa dạng và phức tạp Trong bối cảnh thế giới toàn cầu hóa và sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng, việc hai nước nỗ lực xây dựng và triển khai quan hệ đối

tác chiến lược là một quyết định có lợi cho cả hai Đây là một

quá trình lâu dài và rất cần thiết để làm sâu sắc hơn quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa Việt Nam và Hoa Kỳ

2.2 Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ trên lĩnh vực chính tri, ngoại giao

Quan hệ song phương Việt Nam - Hoa Kỳ hoàn toàn đi

vào bế tắc sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975 Tuy nhiên, kể từ

khi bình thường hóa quan hệ ngoại giao, đã mở ra giai đoạn phát triển mới cho quan hệ song phương Trong đó, quan hệ chính trị - ngoại giao đã góp phần làm sâu và đa dạn2 hơn quan hệ chung của hai nước Do đó, cho dù nhiều học giả nhận xét quan hệ chính trị - ngoại giao giữa Việt Nam - Hoa KỸ có

sự "tụt hậu" và "độ trễ" hơn so với các điểm sáng về kinh tế

giáo dục nhưng cùng với sự biến động của tinh hình thế eiới

khu vực, quan hệ chính trị - ngoại giao cùa hai nước trẽn

Trang 12

Phần II Từ quan hệ đối tác toàn diện

các diễn đàn song phương, đa phương đang trở thành cẩu nôi quan trọng rút ngắn khoảng cách giữa hai nước cựu thù, là

"công cụ mềm" đưa quan hệ chung của hai nước từng bước xích lại gần nhau hơn

Quan hệ chính trị - ngoại giao cũng là một nội dung quan trọng trong nội hàm quan hệ Đối tác toàn diện mà Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Tổng thống Obama đã quyết định xác lập tại Nhà Trắng ngày 25 tháng 7 năm 2013 Việc hai nước thiết lập quan hệ Đối tác toàn diện "sẽ góp phần nâng quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ vào một khuôn khổ sâu sắc, hiệu quả và thực chất hom"1 Theo GS Carl Thayer từ Học viện Quốc phòng Australia, việc thiết lập quan hệ Đối tác toàn diện giữa Việt Nam và Hoa Kỳ trước hêt là một tuyên bô chính trị, chứng minh ràng quan hệ song phương đã phát triển trên cả bề rộng

và chiều sâu, thúc đẩy quan hệ hai nước phát triển thông qua các cơ chế điều phối song phương đem lại sự hợp tác chặt chẽ hơn Đồng thời, thiết lập một cơ chế đối thoại chính trị - ngoại giao mới ở cấp Bộ trưởng Điều này cho thấy, trong quan hệ quốc tế, quan hệ chính trị - ngoại giao luôn đi trước một bước

và đảm nhận trách nhiệm cầu nối cho phát triển các mối quan

hệ khác

Dưới đây sẽ tập trung đi sâu vào hai phương diện chính

Đó là Quan hệ chính trị - ngoại giao song phương và Quan hệ

chính trị - ngoại giao đa phương.

1 Phát biểu cùa Chú tịch nước Trương Tấn Sang trong chuyến thăm Hoa Kỳ (tháng 7/2013) http://laodong.com.vn/Doi-ngoai/Quan-he- Viet-Nam -Hoa-Kỵ-se-duoc-nang-cap-thuc-chat-hon/129268 bld

155

Trang 13

HƯỚNG TỚI XÂY DỰNG QUAN HỆ ĐỐI TÁC.

2.2.1 Quan hệ chính trị - ngoại giao song phưomg

Lịch sử là nhân chứng cho những sự kiện quan ư ọne mang tính cột mốc trong đó quan hệ Việt Nam - Hoa KỸ là một chặng đường với nhiều ngã rẽ, gấp khúc và đứt gãy Mặc dù

có những giai đoạn, quan hệ giữa hai nước đã có nhữne cơ duyên vô cùng tốt đẹp và thuận lợi Hồ Chí Minh được xem là người đặt nền móng cho quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ Từ những năm đầu khi Việt Nam còn đang đấu tranh chốne thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm kiếm sự ủne hộ từ phía Hoa Kỳ Trong Chiến tranh thế giới lần thứ II, Chù tịch

Hồ Chí M inh đã xác định, "dán tộc ta đứng về phe Đồng Minh

chống chủ nghĩa ph á t xít", quan điểm lớn về giành thắng lợi

cho các lực lượng dân chủ tiến bộ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ trong thời điểm này là thống nhất

Trong Tuyên ngôn độc lập nước Việt Nam Dân chù Cộng

hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viện dẫn Tuyên ngôn độc lập

năm 1776 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ: "Tất cả mọi người

đểu sinh ra có quyển bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sổng, quyền tự do và quyển mưu cầu hạnh phúc"

Điều này thể hiện bản sắc chung trong đường lối phát triển của Việt Nam và Hoa Kỳ, trong đó mục tiêu dân tộc độc lập tự

do, hạnh phúc cho nhân dân là điểm gặp gỡ của bản sắc chung đó

Giai đoạn sau 1945 đến 1995 chúng kiến mối quan hệ bất bình thường trong quan hệ song phương, và chạm đẽn điém thấp nhất khi Hoa Kỳ quay lưng với Việt Nam trong kháng

Trang 14

Phần l i Từ quan hệ đối tác toàn diện

chiến chống thực dân Pháp và từng bước leo thang trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam Nhiều học giả cho ràng "độ vênh" về chế độ chính trị, và đường lối phát triển là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến cuộc chiến tranh Việt Nam - Hoa

Kỳ Một chuyên viên của Hội đồng An ninh quốc gia Hoa Kỳ

đã phát biểu vào "đêm trước" khi Trung Quốc tuyên bố sự ra đời của Nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (1949) rằng,

"việc mở rộng Chủ nghĩa cộng sản ở Trung Quốc thể hiện một thất bại chính trị đau thương của chúng ta, nếu Đông Nam Á được lấp đầy bởi Chủ nghĩa Cộng sản, chúng ta đã và sẽ phải chịu một thất bại chính trị thảm hại và hậu quả nặng nề này sẽ

là áp lực của chúng ta với phần còn lại của thế giới"1 Mâu thuẫn và khác biệt về chế độ chính trị đã cản trở quan hệ hai nước giai đoạn này Lo sợ trước "mối đe dọa cộng sản" ở Châu Á và ngăn chặn Liên Xô ờ Châu Âu, Hoa Kỳ khiến Việt Nam trở thành con tốt trên bàn cờ toàn cầu của mình, biến Việt Nam trở thành một phần của Chiến tranh Lanh và từng bước can thiệp trực tiếp đến Việt Nam Sự kiện này mở ra chương buồn nhất trong quan hệ song phương giữa hai nước Quan hệ chính trị - ngoại giao giữa hai nước trong giai đoạn này thể hiện sự đối kháng về ý thức hệ và mục tiêu chiến lược

Đó là mối quan hệ giữa một nhà nước xã hội chủ nghĩa còn non trẻ với một nhà nước đứng đầu hệ thống tư bản chủ nghĩa Với quá khứ cay đắng và sự khác biệt hệ tư tường, giai đoạn này người ta khó có thể mong đợi một tương lai tươi sáng cho quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ

1 Pentagon Papers 1971, p 37.

157

Trang 15

HƯỚNG TỚI XÂY DỰNG QUAN HỆ ĐỐI TÁC

Tuy nhiên, trong quan hệ chính trị - ngoại giao Việt Nam - Hoa Kỳ, lịch sử đã từng khép lại rồi lại mở ra một chưcme mới cho quan hệ hai nước Đó là ngày 11/7/1995, Tổng thống Hoa

Kỳ Bill Clinton tuyên bố thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam Sự đột phá này trong quan hệ hai nước do sự tác động của bối cảnh quốc tế, khu vực, đặc biệt là sự điều chinh chiến lược, chính sách của Hoa Kỳ kết hợp với đường lối đổi mới chính sách m ở cửa của V iệt Nam Dấu mốc lịch sử này đà khép lại quá khứ bất bình thường hơn 50 năm, mở ra trane sử mới cho hai nước cựu thù Nếu giai đoạn trước ý thức hệ là nhân tố đoạn tuyệt, thì trong thời gian này chỉ còn là nhán tổ hạn chế quan hệ chính trị - ngoại giao hai nước

Kể từ khi bình thường hóa quan hệ, quan hệ chính trị - ngoại giao Việt Nam - Hoa Kỳ đã tiến triển đều đặn mặc dù có

sự khác nhau về mức độ và tốc độ phát triển trong từng giai đoạn lịch sử

Ba năm đầu sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao, người ta chứng kiến những thành tựu quan trọng nhất trong quan hệ chính trị - ngoại giao song phương Việt Nam - Hoa Kỳ Các chuyến trao đổi cấp cao đã diễn ra thường xuyên với mật độ khá dày đặc M ở đầu là chuyến thăm của Ngoại trường Hoa

K ỳ William Christopher đến Việt Nam vào tháng 8/1995 về

phía Việt Nam có các chuyến thăm của Bộ trưởng Bộ Nóne nghiệp, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư đến Hoa Kỳ Tháng 5 năm 1997, lần đầu tiên, hai nước

đã trao đổi Đ ại sứ, theo đó Thượng viện Hoa Kỳ khăn2 định cựu chiến binh trong cuộc chiến tranh Việt Nam D ou alas Pete Peterson làm Đại sứ đầu tiên của Hoa Kỳ tại Việt Xam.

Trang 16

Phần IL Từ quan hệ đối tác toàn diện

Cùng ngày, Việt Nam cử ông Lê Văn Bàng làm Đại sứ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Hoa Kỳ Cuối năm đó, Hoa

Kỳ và V iệt Nam đã thành lập Tổng Lãnh sự tương ứng tại Thành phố Hồ Chí Minh và San Francisco N hư vậy, trụ sở pháp nhân về quan hệ chính trị - ngoại giao đã được thiết lập ở hai nước

Đặc biệt chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton tháng 11 năm 2000 được xem là một biểu hiện

sinh động và là bằng chứng về những tiến bộ mà hai nước đã đạt được trong thập niên cuối thế kỷ XX về khía cạnh chính trị

- ngoại giao Đây thực sự là một sự kiện chính trị có ý nghĩa lịch sử to lớn Bởi đây là chuyến thăm đầu tiên của một Tổng thống Hoa Kỳ đến Việt Nam thống nhất sau một phần tư thế

kỷ kể từ khi binh lính Hoa Kỳ cuối cùng rút khỏi miền Nam Việt Nam Sự kiện này nhấn mạnh cam kết "khép lại quá khứ, hướng tới tương lai" theo hướng thúc đẩy quan hệ hợp tác, hữu nghị của hai nước Trong dịp này, hai bên đã ký kết nhiều thỏa thuận và Nghị định thư như thiết lập Diễn đàn Đối thoại Việt Nam - Hoa Kỳ về kinh tế, ký kết Hiệp định hợp tác Khoa học - Công nghệ Việt Nam - Hoa Kỳ, Bản ghi nhớ về Hợp tác lao động, Nghị định thư về đầu tư, thương mại Giá trị biểu tượng của chuyến thăm cũng như những kết quả trong các

điều khoản mà hai nước ký kết trong chuyến thăm của Tổng

thống Bill Clinton đã tạo động lực phát triển cho mối quan hệ

song phương trong giai đoạn tiếp theo Sự kiện này đã làm nổi

bật hình ảnh của một V iệt Nam "mới" với công chúng Hoa Kỳ

và toàn thể giới Hình ảnh V iệt N am trong quá khứ bị tàn phá

bời xung đột và chiến tranh đã không còn, thay vào đó là một

159

Trang 17

HƯỚNG TỚI XÂY DỰNG QUAN HỆ ĐỐI

TẨC-Việt Nam "mới" đang chuyển mình trong quá trình mớ cửa với thế giới Đối với Clinton, Việt Nam mới là "một quốc gia chứ không phải là một cuộc chiến tranh”1 như nguời ta vẫn thường nhắc đến

Bên cạnh những lợi ích hữu hình của chuyến thăm đối với

cả hai quốc gia, người ta cũng có thể nhận thấy những lợi ich

vô hình đối với quá trình hội nhập quốc tế và khu vực của Việt Nam và sự hiện diện của Hoa Kỳ trong khu vực Châu A - Thái Bình Dương thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh Điều này cho thấy quan hệ chính trị - ngoại giao song phương Việt Nam - Hoa

Kỳ đã từng bước đi vào thực chất hơn, phù hợp với dòng chảy của khu vực và thế giới thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh

Thời kỳ này, sự tương thích về vấn đề giải quyết hậu quả chiến tranh, lợi ích kinh tế, thương mại, cũng như chính trị đả đưa Hoa Kỳ và Việt Nam đến gần nhau hom Điều này chứng

tỏ, sau khi bình thường hóa quan hệ chính trị, quan hệ giữa

H oa Kỳ và Việt Nam ngày càng m ang tính hợp tác và rộng

1 Remarks by President Bill Clinton to Vietnam National University Hanoi, N ovem ber 17, 2000.

Trang 18

Phẩn II Từ quan hệ đối tác toàn diện

quan chức cao cấp nhất Nhà Trắng đến Việt Nam Việc người đứng đầu Lầu Năm góc liên tục có sự hiện diện ờ Hà Nội thể hiện mức độ quan tâm của Hoa Kỳ đến Việt Nam ngày càng gia tăng Đến năm 2010, tiếp nối sau chuyến thăm Hà Nội hai lần trong vòng ba tháng của Ngoại trưởng Hillary Clinton

là chuyến thăm của Cựu Tổng thống Bill Clinton Cựu Tổng thống Hoa Kỳ đã làm "tròn đầy" một cách có ý nghĩa nhân dịp

kỷ niệm 15 năm bình thường hóa quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ

khi một lần nữa nhấn mạnh quan hệ "Đối tác tích cực, hữu

nghị, xây dựng, hợp tác nhiều mặt trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, bình đảng, cùng có lợi" Có thể nói đây là những sự kiện

ngoại giao có ý nghĩa chính trị sâu sắc

về phía Việt Nam, có chuyến thăm Hoa Kỳ của Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải (6/2005) Đây là chuyển thăm chính thức đầu tiên của Thủ tướng Việt Nam đến Hoa Kỳ kể từ sau khi kết thúc chiến tranh Trong dịp này, Tuyên bố chung Việt Nam - Hoa Kỳ đã được ký kết Hai nhà lãnh đạo đã khẳng định

"hai nước có lợi ích chung trong việc tăng cường hơn nữa hợp tác song phương trong khuôn khổ một mối quan hệ đối tác ổn định và bền vững", đồng thời cần "tăng cường hợp tác song phương và đa phương về các vấn đề xuyên quốc gia" "trên cơ

sở bình đẳng, cùng tôn trọng lẫn nhau và hai bên cùng có lợi"1.Đặc biệt, chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ đầu tiên của người đứng đầu Nhà nước Việt Nam, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết (6/2007) đã cho thấy Việt Nam đã gạt bỏ những nghi ngại với Hoa Kỳ trước kia, đồng thời từng bước khẳng định

1 http://vietnam.usembassy.gov/pr210605.html

161

Trang 19

HƯỚNG TỚI XAY dựng quan h ệ đ ố i t á c

sẽ cùng với đối tác tiềm năng Hoa Kỳ "nắm tay nhau hướng đến tương lai" Cái bắt tay ngoại giao giữa người đứng đẩu nhà nước Việt Nam và lãnh đạo N hà Trắng mang đậm màu sắc chính trị, thể hiện quyết tâm cao từ cả hai phía để hướng

tới một mối quan hệ song phương tốt đẹp

Sau đó là chuyến thăm của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn D ũng (6/2008) và tháng 4/2010 với trọng tâm là táng cường quan hệ kinh tế giúp hai nước từng bước đổi thoại cởi

mở và thẳng thắn với nhau hơn Trong bản "Tuyên bố chung

giữa Hợp chủng quốc Hoa K ỳ và Cộng hòa x ã hội chù nghĩa Việt Nam " được ký nhân chuyến thăm Hoa Kỳ của Thủ tuớng

Nguyễn Tấn Dũng tháng 6/2008, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng và Tổng thống Hoa Kỳ G Bush nhất trí đánh giá:

"Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ được xây dựng trên cơ sở mối quan hệ hữu nghị tích cực và đang phát triển, tôn trọng lẫn nhau và cùng cam kết hợp tác nhiều mặt mang tính xâv dựng trên nhiều vấn đề để góp phần làm sâu rộng quan hệ vì lợi ích lâu dài của hai nước Hai nhà lãnh đạo cũng chia sẻ tầm nhìn

và mục tiêu hướng tới một khu vực Châu Á - Thái Bình Dương

ổn định, an ninh, dân chủ, hòa bình"1

Cường độ và mức độ tương tác trong quan hệ chính trị - ngoại giao Hoa Kỳ - Việt Nam đạt đỉnh vào năm 2010 Trong năm đó, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng dự Hội nghị thượng đỉnh An ninh Hạt nhân tại Washington DC, sau đó là chuvến thăm của Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton đến Việt Nam

1 littp://tliutuon2.cliinbpliu.vn/Home/Tuyen-bo-chung-giua-Hop-chun2- quoc-Hoa-Ky-va-Cong-hoa-xa-hoi-chu-nghia-Viet-Nam/20086/11299 vgp

Trang 20

Phần II Từ quan hệ đối tác toàn diện

vào tháng 7 và tháng 10, và chuyến thăm của Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates vào tháng 10 Nhiều ý kiến cho rằng việc Hoa Kỳ gia tăng các chuyến thăm trong thời gian này phần lớn bị chi phối bởi nguyên nhân Việt Nam đang là Chủ tịch ASEAN Và chính quyền Obama xem đây là cơ hội để tăng sự hiện diện của mình trong khu vực Đông Nam Á nói chung Tuy nhiên, nhìn nhận ở góc độ quan hệ song phương, có thể thấy Việt Nam đ ã định vị được chỗ đứng trong chính sách đối ngoại của Washington và đây là tiền đề để Việt Nam - Hoa Kỳ từng bước tiến tới nâng cấp quan hệ chiến lược

Thời gian này, lãnh đạo Hà Nội và Washington luôn tìm kiếm những cách thức mới để nâng cấp quan hệ song phương

Biểu hiện của mục tiêu này là Hoa Kỳ mở rộng Quy chế thương

mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) cho Việt Nam năm 2007

và bốn hội nghị thượng đinh hàng năm từ 2005 - 2008 Cùng các chuyến tham vấn giữa quan chức cấp cao hai nước như ngày 23/5/2011, Bộ trưởng Công thương Vũ Huy Hoàng đồng chủ trì cuộc gặp Hội đồng Thương mại và đầu tư Việt Nam - Hoa Kỳ (TIFA) tại Washington DC; ngày 26/9/2011, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh gặp Bộ trường Ngoại giao Hoa

Kỳ Hillary Clinton bên lề Phiên họp Đại hội đồng Liên hợp quốc tại N ew York; ngày 3 - 6/10/2011, Phó Chủ tịch Quốc hội Huỳnh Ngọc Sơn thăm Hoa Kỳ; ngày 10/11/2011, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang gặp Bộ trường Ngoại giao Hoa

Kỳ Hillary Clinton bên lề Hội nghị thượng đỉnh APEC 2011 tại Hawaii (Hoa Kỳ); Ngày 7-11/2/2012, Phó Thủ tướng Vũ

Văn Ninh thăm và làm việc tại H oa Kỳ; Ngày 12-14/3/2012,

Phó Chủ tịch Quốc hội U ông Chu Lưu thăm và làm việc tại

163

Trang 21

HƯỚNG TỚI XÂY DỰNG QUAN HỆ ĐỐI TÁC

Hoa Kỳ; N gày 3-4/6/2012, Bộ truờng Quốc phòng Hoa Kỳ Leon Panetta thăm Việt Nam; Ngày 24-26/6/2012, Phó Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Nguyễn Thị Kim Ngân thăm và làm việc tại H oa Kỳ; ngày 10-11/7/2012, Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Hillary Clinton thăm Việt Nam

Chuỗi sự kiện dày đặc này cho thấy bắt đầu có sự thav đổi

về chất theo hướng tích cực trong quan hệ chính trị - neoại giao V iệt N am - H oa Kỳ Bởi, thực tế đã chứng minh, trong quan hệ chính trị - ngoại giao, sự thay đổi về "lượng" các chuyến thăm sẽ dẫn đến sự biến đổi tích cực về "chất" của mối quan hệ Việc tăng cường tiếp xúc, trao đổi sẽ giúp chính khách hai nước hiểu rõ về "cầu" của nhau hơn Xem xét mức độ của mối quan hệ song phương giữa V iệt Nam và

H oa Kỳ, chúng ta có thể thấy có m ột bước phát triển nhất định khi Tổng thống Hoa Kỳ đến V iệt Nam hai lần trong vòng sáu năm và ba chuyến thăm cấp cao của Việt Nam đến Hoa Kỳ trong bốn năm Điều này là chưa từng có nếu so sánh với các mối quan hệ của V iệt Nam với các đối tác truyền thống khác như N ga và Ấn Độ Sự tương tác giữa hai nước thời gian qua đã chỉ ra rằng V iệt Nam và Hoa Kỳ đã từng bước khắc phục trở lực "lòng tin", mặc dù như đánh giá cùa một số chuyên gia hiện nay đang ở "mức độ trung binh" Hai nước đã phát đi tín hiệu cho thấy sự sẵn sàng để lảm sâu sẳc chặt chẽ hơn m ối quan hệ này trong tươna lai Quan hệ ngoại giao - chính trị song phương được cài thiện

khôn g chi tạo nền tảng vữ ng chắc cho m ối quan hệ chune của hai nư ớc, mà còn đẩy mạnh hợp tác trong các lĩnh vực khác lên tầm cao m ới.

Trang 22

Phận II Từ quan hệ đối tác toàn diện

Chuyến thăm của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đến Hoa Kỳ từ ngày 23 đến 25/7/2013 là một sự kiện chính trị -

ngoại giao có tính định hướng và b\ỊỚc ngoặt, mở ra kỉ nguyên

mới cho mối quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ trong bối cảnh khu vực và thế giới có nhiều biến động phức tạp Động thái này cho thấy sự trưởng thành và bước phát triển tiếp theo trong quan hệ chính trị - ngoại giao V iệt Nam và Hoa Kỳ Xét về khía cạnh quan hệ chính trị - ngoại giao song phương, đây là chuyến thăm có ý nghĩa lịch sử và giá trị biểu tượng sâu sắc

về ý nghĩa lịch sử, đây là lần thứ hai Chủ tịch nước Việt Nam đến thăm Hoa Kỳ về giá trị biểu tượng, "chuyến thăm lần này là hòn đá tảng chính trị và chiến lược, đánh dấu hội nghị thượng đỉnh cấp cao đầu tiên giữa Việt Nam và Hoa Kỳ trong một giai đoạn quan trọng, khi các vẩn đề Châu Á - Thái Bình Dương được quan tâm đặc biệt"1 Việc Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Tổng thống Barack Obama quyết định xác lập quan hệ Đối tác toàn diện Việt Nam - Hoa Kỳ đã tạo ra khuôn khổ mới cho quan hệ chính trị - ngoại giao, kinh tế, văn hóa,

xã hội giữa hai nước

Gần đây là chuyến thăm Hoa Kỳ bắt đầu từ 21/7 của Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị Ông Phạm Quang Nghị bắt đầu chuyến thăm từ thủ đô Washington DC, nơi ông

có các cuộc làm việc với c ố vấn cao cấp của Ngoại trưởng John Kerry, Thomas Shannon; Phó c ố vấn an ninh quốc gia phụ trách đối ngoại Tony Blinken; Chủ tịch thường trực Thượng viện Patrick Leahy Thượng nghị sỹ John McCain Trong các

1 http://dantri.coin.vn/tlie-íỉioi/lioc-gia-nga-danh-gia-cao-chuyen-tham- hoa-ky-cua-chu-tich-nuoc-truong-tan-sang-762252.htm

165

Trang 23

HƯỚNG TỚI XÂY DỤNG QUAN HỆ ĐỐI TẤC

cuộc tiếp xúc, Bí thư Thành ủy Hà Nội đã "thông tin về tình hình Việt Nam, chính sách đối ngoại của Việt Nam; khẩng định Đảng và N hà nước Việt Nam coi trọng và không ngừng thúc đẩy quan hệ hợp tác với Mỹ trong khuôn khổ Đối tác toàn diện"1 M ặt khác, trong bổi cảnh Biển Đông dậy sóng bởi

vụ việc Trung Quốc đặt giàn khoan HD981 trong lãnh hải Việt Nam, chuyến thăm này đã giúp phía Việt Nam điểm lại tình hình diễn biến ở Biển Đông trong thời gian qua, nêu bật quyết tâm, chủ trương, biện pháp đấu tranh đúng đắn, sáng suốt của Đảng, N hà nước và nhân dân ta nhàm bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước; giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp ngoại giao hòa bình, phù hợp luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, đồng thời hết sức coi trọng, gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước; giữ gin và củng cố quan hệ hữu nghị, hợp tác cùng phát triển với các nước, trước hết là các nước láng giềng Không chỉ khẳng định lập trường chính trị kiên định của Việt Nam, chuyến thăm này

đã giúp Việt Nam làm sáng tỏ thái độ của Hoa Kỳ đối với vấn

đề Biển Đông: Hoa Kỳ đã thể hiện thái độ của một cường quốc có trách nhiệm đổi với vấn đề an ninh, ổn định cũng như vấn đề thịnh vượng ở khu vực, kiên quyết lên án hành vi xâm phạm chủ quyền của Trung Quốc Không lâu sau đó, chuvến thăm của Thượng nghị sĩ John McCain đến Việt Nam ngày

8 /8 /2 0 1 4 để bàn thảo sâu về việc dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí

sát thương cho V iệt N am chính là một động thái quan trọng chứng tỏ H oa K ỳ đã có những hành động thiết thực cụ thể để

1 Theo Thông tấn xã Việt Nam

Trang 24

Phần II Từ quan hệ đổi tác toàn diện

ủng hộ cho Việt Nam củng cố tiềm lực an ninh quốc phòng Những hoạt động ngoại giao mới nhất này có thể được đánh giá là một tiến triển về chất trong quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hoa Kỳ

M inh chứng cho nhận định trên, sau đó không lâu, nhận lời mời của Ngoại trưởng H oa Kỳ John Kerry, Phó Thủ tướng,

Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình M inh đã thăm chính thức Hoa Kỳ từ ngày 1-2/10/2014 Trong cuộc gặp gỡ với Bộ trưởng Phạm Bình M inh, Ngoại trưởng John Kerry thông báo Hoa

Kỳ dỡ bỏ một phần lệnh cấm vận vũ khí sát thương đối với

V iệt Nam Hai bên cũng trao đổi về các vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm, trong đó có tình hình ở Biển Đông; cho rằng các bên liên quan cần nghiêm túc thực hiện Tuyên

bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), tránh các hành động có nguy cơ làm leo thang tranh chấp và bất ổn ở khu vực, giải quyết hòa bình các tranh chấp trên cơ sở luật pháp quốc tế và Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982

N goài ra, kênh hợp tác trong lĩnh vực chính trị - ngoại giao

V iệt N am - H oa Kỳ còn thông qua các cuộc đối thoại thường niên giữa hai nước N gà y 6/10/2008, Đ ối thoại V iệt Nam - Hoa Kỳ lần thứ nhất (chính tr ị- a n ninh - quốc phòng) diễn ra tại

Hà N ộ i Sau đó, liên tiếp các cuộc đối thoại đã được hai nước

tổ chức thường niên B ao gồm: Đ ối thoại chính trị - an ninh - quốc phòng V iệt N am - H oa Kỳ lần hai (9/6/2009) diễn ra tại

W ashington DC; Đ ổ i thoại chính trị - an ninh - quốc phòng

V iệt Nam - H oa Kỳ lần ba (8/6/2010) tại Hà Nội; Đ ổi thoại chính trị - an ninh - quốc phòng Việt Nam - Hoa Kỳ lần thứ 4 (17/6/2011) tại Washington; Đ ối thoại chính trị - an ninh - quốc

167

Trang 25

HƯỚNG TỚI XÂY DỰNG QUAN HỆ ĐỐI TÂC.

phòng Việt N am - Hoa Kỳ lần thứ 5 tại Hà Nội và lần thứ 6 tại

H oa Kỳ năm 2013

Đ ối ngoại nhân dân được xem là một trong ba chân kiềng

trong quan hệ chính trị - ngoại giao Việt Nam - Hoa Kỳ cùng diễn đàn song phương và đa phương, là những cách thức ưong

đó m ột nước hoặc một tổ chức phi chính phủ thiết lập quan hệ với các thành phần phi chính phủ của các nước khác Những thành phần này có thể là những cá nhân hoặc tổ chức quần chúng, hoặc tổ chức phi chính phủ1 Đổi ngoại nhân dân ở

H oa Kỳ được gọi là "ngoại giao công chúng", đây là "thành phần hợp nhất trong việc hoạch định và thực thi chính sách đối ngoại của H oa Kỳ"2 Theo đó, mục tiêu chính trị là tuyên truyền chính sách đối ngoại của Chính phủ Hoa Kỳ cũng như

đề cao những giá trị văn hóa - xã hội Hoa Kỳ3

Đối ngoại nhân dân Việt Nam - Hoa Kỳ được thể hiện dưới nhiều dạng thức phong phú

Trước hết là, thông qua các hoạt động trao đổi giảo dục

Ở V iệt Nam, mở đầu là việc thành lập Hội thân hữu Việt Nam

- Hoa Kỳ tháng 10/1945 Năm 1992, ủ y ban Việt Nam đoàn kết với nhân dân H oa Kỳ được đổi tên thành Hội Việt - Hoa Kỳ

1 TS N guyễn Thị Thanh Thủy (2008), N goại gia o nhân dán trong quan hệ Việt - H oa K ỳ, Trường Đại học Khoa học xã hội và N'hán văn,

Đ ại học Q uốc gia Hà N ội.

2 United States Information and Education Exchange Act o f 1948, Public Law 402, in The Unite States Statutes at- Lager, vol 62, Government Printing Office, Washington DC, 1956.

3 N guyễn Thị Thanh Thủy, "Ngoại giao công chúng Hoa Ký và kinh

nghiẹm cho Việt Nam", Tạp chi Châu M ỹ ngày ngay, số tháng 7 2012.

Trang 26

Phẩn II Từ quan hệ đối tác toàn diện.

Phía Hoa Kỳ chính thức thực hiện Chương trình học bông Fulbright dành cho sinh viên Việt Nam Mục tiêu của Chương trình Fulbright là "tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân Hoa Kỳ và nhân dân Việt Nam "1 Các chương trình trao đổi giáo dục đã giúp nhân dân hai nước hiểu rõ hơn về truyền thống, văn hóa của nhau Các chương trình này ngày càng phát huy được vai trò tích cực của mình và được phát triển dưới nhiều hình thức phong phú

Thứ hai, thông qua các chương trình trao đổi văn hóa Sự

khác biệt về văn hóa cũng là một trong những nhân tố hạn chế trong quan hệ chính trị - ngoại giao Việt Nam - Hoa Kỳ Các hoạt động trao đổi văn hóa giúp nhân dân hai nước hiểu và xích lại gần nhau hơn Và được diễn ra dưới nhiều hình thức đa dạng như trao đổi các đoàn biểu diễn nghệ thuật, các cuộc triển lãm tranh ảnh, triển lãm sách, hội chợ văn hóa, hỗ trợ bảo tồn di sản vãn hóa, tuần lễ phim, v.v Hai nước đã có nhiều hoạt động lưu diễn văn hóa lẫn nhau

Trao đổi văn hóa trở thành cầu nối hữu nghị làm cho hai dân tộc Việt Nam - Hoa Kỳ ngày càng xích lại gần nhau hơn, rút ngắn khoảng cách và khác biệt về văn hóa, làm sâu sắc hơn quan hệ chính trị - ngoại giao song phương giữa hai nước

Và thứ ba, thông qua các tổ chức ph i chính phủ (NGOs) của Hoa Kỳ tại Việt Nam Trong lịch sử, các NG O Hoa Kỳ đã

hỗ trợ nhân dân Việt Nam từng bước khắc phục hậu quả chiến

1 Fulbright Program in Vietnam, tại địa chi: Vietnam.usembassy

gov/pas.html

169

Trang 27

HƯỚNG TỚI XÂY DỰNG QUAN HỆ DỐI TÁC.

tranh thông qua viện trợ về thuốc men, lương thực, nhu yếu

p hẩm , các hoạt động này đã được thực hiện truớc khi hai nước bình thường hóa quan hệ ngoại giao Và hiện nay, các NGO H oa K ỳ càng phát huy tích cực vai trò của mình, trở thành cầu nối góp phần tăng cường hiểu biết và mở rộng quan

hệ hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân Hoa K ỳ1

N hìn chung, hoạt động của các NGO của Hoa Kv ở Việt Nam là m ột hình thức ngoại giao nhân dân độc đáo, góp phần tăng cường tình hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân H oa K ỳ trên tinh thần tôn trọng độc lập chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, hợp tác bình đẩng và cùng có lợi

2.2.2 Quan hệ chỉnh trị - ngoại giao đa phương

Trong bối cảnh hiện nay, các diễn đàn đa phương và tổ chức đa phương đang trở thành một cầu nối quan trọng trong đối thoại chính trị - ngoại giao Việt Nam - Hoa Kỳ

■ Đ ổi với khu vực Đông Nam Á, trong đó có ASEAN

Cần khẳng định rằng cả Việt Nam và Hoa Kỳ có lợi ích lớn trong m ột khu vực Đông Nam Á ổn định và phát triển2 Tuyên bổ Tầm nhìn chung về Tăng cường quan hệ Đối tác

1 N guyễn Mại (chủ biên, 2008), Quan hệ Việt Nam - H oa K ỳ hướng

về p h ía trước, Nxb Tri thức, Hà Nội.

2 "American trade negotiations with Vietnam", Testimony o f Ambassador

Charlene Barshefsky, us Trade Representative before Senate Foreign Relations Subcommittees on International Economic Policy and Asia Pacific Affairs, August 4th, 1999.

Trang 28

ASEAN - Hoa Kỳ được ký kết vào tháng 11/2005 trở thành cơ

sở và khuôn khổ cho việc phát triển quan hệ toàn diện và lâu dài giữa hai bên sau gần 30 năm thiết lập quan hệ đối thoại1.Sau chiến tranh Việt Nam, sự vắng bóng của Hoa Kỳ trong khu vực Đông Nam Á đã để lại một khoảng trống về địa chính trị, và đây cũng chính là vận hội để Trung Quốc vươn vòi tham vọng của mình mau chóng lấp đầy khu vực giàu tiềm năng này Từ khi Đảng Dân chủ trở lại nắm quyền, sự trở lại Đông Nam Á của Hoa Kỳ mới thể hiện rõ nét, khu vực mà nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đã bị các nhà lập pháp Hoa Kỳ "bỏ quên" trong quá khứ, mở toang cánh cửa cho Trung Quốc bước vào Cải thiện và nâng cấp quan hệ đồng minh với khu vực Đông Nam Á được coi là một trong ba trụ cột lớn trong chiến lược "Tái cân bằng Châu Á - Thái Bình Dương" của Hoa Kỳ thông qua ASEAN Trong đó, việc tăng cường quan hệ với Việt Nam được xem như một bước ngoặt chiến lược của Hoa

Kỳ để tiến tới Đông Á 2

Hoa Kỳ và Việt Nam có những lợi ích và mối quan tâm đan xen trong ASEAN Không có gì đáng ngạc nhiên khi Việt Nam luôn dành ưu tiên cao nhất trong thiết lập quan hệ hữu

nghị và hợp tác với các nước láng giềng Đông Nam Á v ề

phía Việt Nam, việc Việt Nam gia nhập ASEAN năm 1995 là một biểu hiện rõ ràng về các ưu tiên chính sách đối ngoại của

Phần II Từ quan hệ đổi tác toàn diện

1 N ội dung cùa Tuyên bố chung bao hàm các nội dung về hợp tác chính trị - an ninh, họp tác kinh tế và họp tác xã hội và phát triển.

2 "Bước tiến m ới trong quan hệ Việt Nam - H oa Kỳ", Tin kinh tế,

Thông tấn xã Việt Nam , số 1673, ngày 3/8/2013.

171

Trang 29

HƯỚNG TỚI XÂY DỰNG QUAN HỆ ĐỐI TÁC.

Việt Nam đối với khu vực này về phía Hoa Kỳ, hội tụ các yếu

tố lợi ích quan trọng của Hoa Kỳ với những tuyến đườne bién quan trọng ở Đông Nam Á, vị trí chiến lược của Việt Nam trong khu vực, cũng như vai trò tích cực và mức độ ảnh hưởne của Việt Nam trong ASEAN Đặc biệt, những động thái cùa Bấc

Kinh, nói theo ngôn từ tượng hình nhàm "Táy Tạng hóa vùng

biển Đ ô n g "\ đang trực tiếp đe dọa tới những quyền lợi thiết thân

của Hoa Kỳ, đẩy Hoa Kỳ và Trung Quốc vào cuộc "cạnh tranh

mất - còn (zero-sum game) "2 Do vậy, một chiến lược trờ lại với

khu vực Đông Nam Á, đặc biệt là mở rộng mổi quan hệ chính tri

- ngoại giao đa phương với các quốc gia ASEAN của Hoa Kỳ là một tiến trình tất yếu chứ không phải là ngẫu nhiên Nhữne nhân

tố trên trở thành "chất keo" kết dính Việt Nam và Hoa‘Kỳ đến gần nhau hơn về cái gọi là lợi ích chung chiến lược Đâv cũng là đòn bẩy đưa Việt Nam và Hoa Kỳ cùng chia sẻ lợi ích chung trong một ASEAN mạnh, thống nhất3, trở thành đổi tác quan trọng của nhau trên các diễn đàn đa phương

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) là tổ chức

đa phương chính của Đông Nam Á Được thành lập vào năm

1 Dan lời B.A Hamzak, thuộc Viện Hàng hải Mã Lai (Malaysian Institute

o f Maritime Affairs).

2 China Sees u s as Competitor and Declining Power, Insider Says;

By Jane Perlez, April 2, 2012; http://www.nytimes.com/2012 04/03/ world/asia/chinese-insider-offers-rare-glimpse-of-us-china-frictions html?_r=l& hp

nổi lên, xem thêm http://nghiencuubiendong.xn/ngliien-cuu-a%ean!

884 -quan-he-my-asean-trong-boi-canh-tq-noi-len

Trang 30

Phẩn II Từ quan hệ đổi tác toàn diện

1967, tổ chức này đã từng bước phát triển thành một trong những diễn đàn khu vực lớn trên thế giới, bao gồm 10 quốc gia trải rộng trên các tuyến đường biển quan trọng ở Biển Đông

và chiếm 5% thương mại của Hoa Kỳ ASEAN là tổ chức có khả năng duy trì được thế cân bằng liên quan đến quyền lợi của các nước lớn trong vùng, điển hình là ASEAN+3 (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc), là nước cờ thiết yếu trên bàn cờ chiến lược Châu Á của Hoa Kỳ Nhiều ý kiến cho ràng, chính

quyền George w Bush, do bận tâm với các vùng khác trên

thế giới (vấn đề Iraq, tình hình Trung Đông ), nên đã phần nào lơi là quan hệ với ASEAN Nhưng kể từ khi lên nắm chính quyền, Tổng thống Obama đã bày tỏ ý định phối hợp chặt chẽ hơn với các tổ chức đa phương, đặc biệt là ASEAN.Xuất phát từ nhóm lợi ích về kinh tế, địa chính trị và an ninh hàng hải, từ lâu Hoa Kỳ đã có mối quan hệ song phương chặt chẽ với nhiều quốc gia Đông Nam Á Thái Lan và Philippines là đồng minh hiệp ước, Singapore là một đối tác an ninh chặt chẽ, Indonesia và Malaysia từ lâu đã có mối quan hệ mạnh mẽ với Washington và các chương trình đào tạo quân sự ở Việt Nam, Campuchia và Lào Việc Việt Nam ngày càng có tiếng nói quan trọng trong khu vực và có chỗ đứng vững chắc trong ASEAN nên Hoa Kỳ đã từng bước làm sâu sắc thêm mối quan

hệ với kẻ thù trong quá khứ của mình thông qua ASEAN cũng

là một điều dễ hiểu Luận điểm này được cụ thể hóa trong Báo cáo Quốc phòng 2010 của Hoa Kỳ khi Lầu Năm góc chia các

quốc gia Đ ông Nam Á thành ba nhóm: đồng minh thân thiết

(cồm Thái Lan Philippines), đối tác chiến lược (Singapore)

đối tác chiến lược tiềm năno (Indonesia Malaysia và Việt Nam)

173

Trang 31

HƯỚNG TỚI XÂY DỰNG QUAN HỆ ĐỐI TÁC

Trong đó, Indonesia và Việt Nam được xem như "con đê" ngăn chặn sự bành trướng của Trung Quốc và là những nhàn tố chiến lược tiềm năng đảm bảo lợi ích của Hoa Kỳ ở khu vực này1 Theo m ột số quan điểm không chính thống ưong chính giới H oa Kỳ, việc H oa Kỳ thắt chặt quan hệ chính trị - ngoại giao song phương với các quốc gia trong ASEAN chính là điều kiện đủ để đảm bảo chỗ đứng và vai trò của Hoa Kỳ trong khu vực này Tuy nhiên, với nguyên tắc tham vấn và đồng thuận bao trùm lên các cuộc họp và hoạt động của ASEAN, thì đòi hỏi Hoa Kỳ phải có một sự cố kết đa phương với ASEAN, ngoài kênh song phương với một số nước thành viên quan trọng Và đây là điều kiện cần để Hoa Kỳ từng bước làm sâu sắc thêm mối quan hệ chính trị - ngoại giao với khu vực Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng Nếu không nguy cơ suy giảm ảnh hưởng và mờ nhạt trong cấu trúc chính trị, ngoại giao và kinh tế ở Châu Á là rất lớn

H oa K ỳ đã liên tục mở rộng và làm sâu sắc hơn quan hệ với ASEAN kể từ giữa thập kỷ này Mục tiêu và chính sách của chính quyền Obama là mở rộng quan hệ chính trị - ngoại giao đa phương ở Đông Nam Á, bổ sung cho con đường song phương truyền thống Một số nhà phân tích cho rằng khu vực này đã trở thành địa bàn của sự cạnh tranh "quyền lực mềm", trong đó vai trò lãnh đạo lâu đời của Hoa Kỳ đang bị thừ thách bởi một Trung Quốc đang lên Đồng thời, các cường quốc khác cũng tăng cường sự quan tâm và gia tăng anh hưởng đên

1 Trần Thị Vinh, Việt Nam trong chiến lược cùa H oa K ỳ ở khu rực Châu Ả - Thải Bình Dương: Luận g iả i từ lịch s ứ và hiện tại Báo

cáo Hội thảo Khoa học tại VASS, Hà Nội, tháng 9/2013.

Trang 32

Phan II TCr quan he doi tac toan dien

khu vực này như Nhật Bản, EU, Án Độ Các hành động gần đây của chính quyền Obama cho thấy Hoa Kỳ đang thực thi chính sách này

Người ta thấy, tò năm 2009, đánh dấu sự trở lại và can dự

sâu sắc của Hoa Kỳ đối với ASEAN Trước hết, vào tháng

2/2009, Ngoại trường Hoa Kỳ H Clinton đã đến thăm Ban Thư ký ASEAN ở Jakarta, đây là sự kiện chưa có trong tiền lệ

của một ngoại trưởng Hoa Kỳ Thứ hai, ngày 22/7/2009, Ngoại

trưởng Hoa Kỳ H Clinton thay mặt Chính phủ Hoa Kỳ đã ký kết Hiệp ước Thân thiện và hợp tác (TAC) với ASEAN, và tuyên bố "Hoa Kỳ đã trở lại Đông Nam Á" Mục tiêu của TAC

là thúc đẩy việc giải quyết các khác biệt địa phương và các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình1 Đây được xem là dấu mốc quan trọng cho sự phát triển quan hệ chính trị - ngoại giao ASEAN - Hoa Kỳ Là một sự kiện có giá trị về mặt biểu tượng về cách tiếp cận đa phương đối với các vấn đề an ninh khu vực Đông Nam Á của Hoa Kỳ2 TAC sẽ là công cụ để Hoa Kỳ từng bước tiếp cận gần hơn nữa đối với các quốc gia Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam Từng bước mở đường cho việc tham dự vào Hội nghị thượng đỉnh Đông Á (EAS)

cũng như ASEAN+6 Và ba là, việc Tổng thống Barack Obama

trở thành Tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên tham dự cuộc họp thượng

l S e e CRS Report R 40583, US A ccession to the A ssociation of

Southeast Asian N a tio n s’ Treaty o f A m ity and C ooperation (TAC),

by Mark E Manyin, Michael John Garcia, and Wayne M Morrison.

2 Stanley Foundation, "New Power Dynamics in Southeast Asia: Changing Security Cooperation and Competition", Policy Dialogua Brief, October 2007.

175

Trang 33

HƯỚNG TỚI XÂY DỰNG QUAN HỆ ĐỐI TÁC

đỉnh ASEAN (APEC - tháng 11/2009) Tại hội nghị, Tone thống Obama khẳng định Hoa Kỳ coi ASEAN là một "đối lác chủ chốt" ở Châu Á - Thái Bình Dương và cam kết hỗ trợ xây dựng cộng đồng ASEAN, thu hẹp khoảng cách phát triẻn và thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ Động thái này cho thấy

sự tăng cường can dự ngày càng sâu của chính quyển Obama đối với khu vực Đông Nam Á, cho thấy Hoa Kỳ đang nhìn về ASEAN với thái độ nghiêm túc hơn

Năm 2010, Tuyên bố chung Hoa Kỳ - ASEAN tại Hội nghị Thượng đỉnh Hoa Kỳ - ASEAN lần 2 tại New York đã được đưa ra, trong đó đề ra phương hướng và biện pháp đẩy mạnh quan hệ Đối tác trong thời gian tới Điều này cho thấy đang dần có sự chuyển biến về chất trong quan hệ Hoa Kỳ - ASEAN Đây là một thành công lớn của sự họp tác, tăng cường quan hệ của ASEAN và Hoa Kỳ Hội nghị Thượng đỉnh Hoa Kỳ - ASEAN cũng là một kênh đối thoại chính trị - ngoại giao quan trọng của Hoa Kỳ và ASEAN

Việc V iệt Nam là thành viên và Hoa Kỳ tham dự ARF và APEC, diễn đàn đối thoại quan trọng về các vấn đề an ninh truyền thống và phi truyền thống ở khu vực Châu Á đã bổ sung thêm diễn đàn cho quan hệ chính trị - ngoại giao đa phương V iệt Nam - Hoa Kỳ Đây là diễn đàn cho phép các nước thành viên dù lớn hay nhỏ trao đổi thẳng thắn, cời mở, tạo sự bình đẳng trong quan hệ quốc tế

Cùng với các đổi tác bên ngoài khu vực Châu Á khác, nội dung hợp tác của Hoa Kỳ và ARF bao gồm các biện pháp ngoại giao phòng ngừa và xây dựng cơ chế giải quyết xung đột và

Trang 34

Phần II Từ quan hệ đổi tác toàn diện

cuối cùng là các biện pháp xây dựng lòng tin Phương châm hoạt động là xúc tiến hòa bình và an ninh qua đối thoại và hợp tác ở Châu Á - Thái Bình Dương Mục tiêu của Hoa Kỳ tại Diễn đàn ARF nhấn mạnh sự can dự về kinh tế, xoa dịu sự chú ý của các nước trong khu vực Đông Nam Á về cuộc tranh giành ảnh hưởng Trung Quốc - Hoa Kỳ, từng bước thi hành chiến lược của Tổng thống Obama về "tái cân bằng Châu Á" trên khía cạnh an ninh, và từng bước giải quyết lo ngại về chỗ đứng bền vững của Hoa Kỳ ở khu vực này

Năm 2010, trong một chuyến thăm của mình, Ngoại trưởng Hillary Clinton đã nhấn mạnh mối quan tâm với Việt Nam trong chiến lược "xoay trục Châu Á" khi phát biểu rằng "chính quyền Obama đang chuẩn bị để thúc đẩy mối quan hệ Hoa Kỳ

- Việt Nam lên tầm cao mới Chúng ta thấy mối quan hệ này không chỉ quan trọng về giá trị riêng của nó, mà còn là một phần của chiến lược tăng cường sự tham gia của Hoa Kỳ trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương và đặc biệt là Đông Nam Á "1

Thời gian gần đây, trên mặt trận chính trị - ngoại giao đa phương, H oa Kỳ đã để lại khá nhiều ấn tượng ở khu vực ASEAN, điển hình là tại Hội nghị Thượng đình Đông Á, Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), Đối thoại An ninh Shangri-la và Hội nghị Bộ trường Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM +)

Từ góc độ này cho thấy, Hoa Kỳ ngày càng đề cao cách tiếp

1 US Department o f State, "Secretary o f State Hillary Rodham Clinton Remarks With Vietnam Deputy Prime Minister And Foreig?i Minister Pham G ia K /iiem ," Government Guest House, Hanoi, Vietnam, July 22

2 0 1 0.

177

Trang 35

HƯỚNG TỚI XÂY DỰNG QUAN HỆ ĐỐI TÁC.

cận đa phương với khu vực Đông Nam Á, trong bối cành đang

có sự tranh giành ảnh hưởng của các nước lớn ở khu vục giàu tiềm năng này Đây chính là sự vận dụng triết lý "quyền lực thông minh", giảm bớt các hoạt động đơn phương theo hướng

"đa phương khi có thể, đom phương khi cần thiết"1 trong chinh sách đổi ngoậi của Hoa Kỳ đối với khu vực Đông Nam Ả nói riêng và Châu Á nói chung Với sự biến động phức tạp về bối cảnh và sự chuyển hướng chiến lược của Hoa Kỳ ờ khu vục Châu Á, chắc chắn Hoa Kỳ sẽ nhấn mạnh tầm quan ưọne của Việt Nam như "nhân tố độc lập" trong các tính toán chiến lược của H oa Kỳ ở khu vực này N hư vậy, thông qua diễn đàn ASEAN, quan hệ chính trị - ngoại giao Việt Nam - Hoa Kỷ đã được mở rộng và nâng tầm

■ Sáng kiến hạ lưu sông Mê K ông (LMI)

Lưu vực sông Mê Kông là điểm nhấn địa chính trị - kinh tế

- văn hóa - xã hội rất quan trọng của Châu Á Tại hội nghị ASEAN tổ chức hồi tháng 7/2009 tại Phuket, Thái Lan, Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton đã công bố một sáng kiến mới - Sáng kiến hạ lưu sông Mê Kông - nâng tầm mức mối quan hệ hợp tác giữa Hoa Kỳ đối với các quốc gia thuộc lưu vực Mê Kông Đây được xem là một trong những hạt nhân trong mối quan hệ Hoa Kỳ - Đông Nam Á Ngoại trưởng Hoa Kỳ đâ nhấn manh tầm quan trọng của vùng Hạ lưu sông Mê Kông và mói quốc gia đổi với Hoa Kỳ, cùng với cam kết hỗ trợ nhăm tiên đên

1 Quỳnh Mai, "về sự can dự cùa Hoa Kỳ vào cấu trúc an ninh đa

phương khu vực Châu Á - Thái Bình Dương", Tạp chí Cháu Mỹ

n gày nay, sổ 08/2012.

Trang 36

Phan II TCf quan he doi tac toan dien

một khu vực ASEAN hòa bình, ổn định và thống nhất Sáng kiến LMI có sự tham gia của Hoa Kỳ và các nước hạ lưu sông Mê Kông (Myanmar, Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam)

Có thể khẳng định rằng, một trong những nguyên nhân chính thúc đẩy chính quyền Obama từng bước nâng cấp quan

hệ chính trị - ngoại giao với Việt Nam có liên quan đến việc hình thành quan hệ đối tác trong các diễn đàn đa phương Như

Ngoại trưởng Hillary Clinton đã từng khẳng định: "Hoa Kỳ

trở lại Đông Nam A Tong thong Obama và tôi tin rằng khu vực này là thiết yếu cho tiến trình toàn cầu, cho hòa bình và thịnh vượng và chúng tôi m ờ rộng cam kết với các thành viên thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á trên mọi thách đố trong tương lai".

Những năm gần đây, Hoa Kỳ đã có nhiều đóng góp quan trọng tăng cường quan hệ với ASEAN, triển khai các chính sách mang tính xây dựng tại khu vực Mục đích của Chương trình nghị sự rộng lớn LMI là thúc đẩy hợp tác và xây dựng năng lực cho năm nước Đông Nam Á ở hạ lưu Mê Kông dựa trên bốn trụ cột giáo dục, y tể, môi trường và cơ sở hạ tầng

Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ mô tả sáng kiến này là "nền tảng do Hoa Kỳ đứng đầu, mục đích chính là thúc đẩy hội nhập tiểu vùng Mê Kông" và thúc đẩy sự phát triển và gia tăng liên kết giữa các nước Cam puchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam (Myanmar tham gia LMI trong năm 2012)' Mặt khác, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cũng đã thành lập "Nhóm Bạn Mê Kông

(Friends o f the M ekong)" tiến hành hợp tác song phương với

1 "Rebalance to the Asia-Pacific", November 2012 State Department

communication with CRS.

179

Trang 37

HƯỚNG TỚI XÂY DỰNG QUAN HỆ ĐỐI TÁC.

các cơ quan tài trợ như ADB và WB Như vậy, LMI đã bước đầu kết hợp cả hai "quyền lực mềm và quyền lực thông minh”1

Có thể khẳng định đằng sau chính sách này là mục tiêu địa chính trị mà Hoa Kỳ hướng tới nhằm cân bàng ảnh hướne bên ngoài đối với khu vực ASEAN, nơi mà Trung Quốc đã không ngừng gia tăng ảnh hưởng trong thời gian qua

Một động lực nữa cho sự ra đời của LMI là giám sát và phối hợp xây dựng các đập nước, đặc biệt là việc Trune Quốc tiến hành xây dựng một số đập nước và các dự án khác trên phần trên sông Mê Kông đang ảnh hưởng lớn đến các nước hạ lưu2 Tuy nhiên, theo đánh giá của nhiều chuyên gia, sự trờ lại khu vực Đông Nam Á của Hoa Kỳ qua LMI còn mane tính chất rất tượng trưng với một ngân khoản đầu tư chưa tương xứng so với tầm vóc của chính sách và nhu cầu cùa các quốc gia trong lưu vực Lại càng chưa thể nói là có khả năne "đối trọng" đối với áp lực bành trướng ngày càng gia tảng của Trung Quốc, khi mà Bắc Kinh đang ở thế thượng phong ưong Lưu vực Sông Mê Kông3 Do vậy, xét về khía cạnh kinh tế,

1 M ekong, Tipping Point: Hydropower Dams, Human Security and Regional Stability; Richard Cronin, Tim othy Hamlin; The Henry Stimson Center 2010; www.stim son.org

2 Catharin Dalpino, "Bureaucratic Suspense at Phuket", Asia Security

Initiative blog, posted on July 17,2009, http://asiasecurity.macfound.orE.'.

3 Xem thêm: M ekong River Patrols in Full Swing but Challenges Remain Publication: China B rief Volume: 12 Issue: 4 February 21 2012; By: Ian Storey và The Damming o f the Mekong: Major Blow

to an Epic River, Yale Environment 360by fred pearce, June 16 2009 http://e360.yale.edu/feature/thejJamm ing_of_the_mekon2_m ajor_b lovv_to_an_epic_river/2162/

Trang 38

Phần II Từ quan hệ đổi tác toàn diện

LMI còn thiếu thực chất Nhưng xét về khía cạnh chính trị - ngoại giao của các nước trong LMI với Hoa Kỳ thì đây là một bước đi có nhiều tính toán, tạo một "xương sống" mạnh hơn trong trục quan hệ ASEAN - Hoa Kỳ trong bối cảnh khu vực Đông Nam Á đang có những thay đổi mạnh mẽ về môi trường địa chiến lược

Có thể nói là "anh em song sinh" của LMI, sáng kiến Kết

nghĩa giữa hai ủ y H ội sông Mê Kông và sông Mississippi (Sister-River Partnership) cũng tạo ra một diễn đàn chỉnh trị - ngoại giao cho Hoa K ỳ và các nước tiểu vùng Mê Kông Sự đa dạng về hình thức đối thoại chắc chắn sẽ tạo ra sự phong phú

về nội dung hợp tác đa phương trong tương lai.

Quan hệ chính trị - ngoại giao đa phương Việt Nam - Hoa

Kỳ còn được thể hiện qua một kênh nữa là Hiệp ước Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) Trọng tâm trong cam kết của TPP chủ yếu là lĩnh vực kinh tế thương mại và phi thương mại Tuy nhiên, đặt quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ thông qua lăng kính của TPP bên cạnh lợi ích địa kinh tế thì lợi ích địa chính trị là một mục tiêu nổi bật của Hoa Kỳ Việt Nam đang trên đà đàm phán để gia nhập vào TPP, và khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của TPP, thì vì lợi ích chung của hai nước, vì tương lai quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ, "vì một Cộng đồng ASEAN lớn mạnh, tự cường, và vì một Châu Á - Thái Bình Dương thịnh vượng, ngày càng gắn kết"1 là mục tiêu

1 Việt Nam xem H oa K ỳ là đ ố i tác quan trọng hàng đầu, Xem thêm

littp://vtv.vn/Thoi-su-trong-nuoc/Viet-Nam-xem -Hoa-Ky-la-doi-tac- quan-trong-hang-dau/76592.vtv

181

Trang 39

HƯỚNG TỚI XÂY DỰNG QUAN HỆ ĐỐI TÁC

địa chính trị m à cả hai nước cùng hướng đến Bởi trong vấn đề TPP, hai nước Việt Nam và Hoa Kỳ có bước đi thống nhất'

Tờ báo H oa Kỳ Huffington Post đánh giá Việt Nam dự kiến sẻ

là thành viên đầu tiên của TPP - công cụ chính cũa chính quyền Obama nhằm thúc đẩy hội nhập kinh tế trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương Điều này cho thấy, sự định hình, định hướng trong quan hệ chính trị - ngoại giao đa phương Việt Nam - H oa Kỳ ngày càng rõ nét, làm cho bức tranh quan hệ chung giữa hai nước ngày càng sáng sủa hơn

N hư vậy, thời gian qua đã chứng kiến một thời kỳ sôi động

về hoạt động chính trị - ngoại giao Việt Nam - Hoa Kỳ trên diễn đàn đa phương Chúng ta có thể khẳng định một giai đoạn mới, một tầm mức mới trong tương lai giữa hai nước là có cơ

sở Thông qua đó, quan hệ chính trị - ngoại giao đa phưcmg sẽ được định hình theo hướng "xây dựng thói quen hợp tác các thể chế và cơ chế hợp tác, thúc đẩy quan hệ và sự hiểu biết"2 Giống như quan điểm của Obama trước khi quyết định Hoa

Kỳ gia nhập EAS, "nếu tham gia, chúng ta có thể định hình được mọi việc hơn là đứng ở bên ngoài"3 Đối thoại chính trị - ngoại giao đa phương tạo thêm một diễn đàn để Hoa Kỳ và Việt Nam xử lý và điều phối quan hệ chính trị - ngoại giao song phương

1 Quan hệ Việt - H oa K ỳ và cấu trúc an ninh đang nối lên tại Đủng Nam Ả, Tài liệu tham khảo đặc biệt, tr 3, số 218 ngày 14/8/2013.

2 Susan Glasser, Head o f State: Hillary Clinton, the Blind Dissident, and the Art o f Diplomacy in the Twitter Era, p.80.

3 Jeff Bader Obama and China’s Rise: An Insider’s Account o f America's Asia Strategy.

Trang 40

Phần II Từ quan hệ đổi tác toàn diện

Trong chuyến thăm của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tới Hoa Kỳ, lãnh đạo hai quốc gia đã nhất trí tăng cường hợp tác tại các diễn đàn khu vực và quốc tế, trong đó có Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị thượng đỉnh Đông Á (EAS), và Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+) nhằm thúc đẩy hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương Điều này cho thấy tiếng nói chung sẽ là nền tảng trờ thành sức mạnh chung cho quan hệ hai nước trong tương lai

Hai nhà Lãnh đạo tái khẳng định ủng hộ giải quyết tranh chấp trên biển bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có những quy định của Công ước Luật Biển của Liên hợp quốc (ƯNCLOS) Tổng thống Obama và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nhấn mạnh giá trị của việc tuân thủ đầy đủ Tuyên bố về ứng xử của các bên tại Biển Đông (DOC), và tầm quan trọng của việc khởi động đàm phán

để hoàn tất một bộ Quy tắc ứng xử (COC) có hiệu quả1

N hân tố Trung Quốc cũng là một lực hút giúp hai nước cựu thù xích lại gần nhau Nhiều ý kiến cho rằng, cạnh tranh Hoa Kỳ - Trung Quốc càng lớn thì mức độ liên kết của Hoa

Kỳ với các diễn đàn đa phương ở Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng càng chặt chẽ Đây chính là một hình thức

1 Tuyên bố chung của Tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ Barack Obama và Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trương Tấn Sang, http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/joint- statem ent-us-vietnam -2013 html

183

Ngày đăng: 21/07/2023, 16:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w