1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của phim truyện việt nam đối với sinh viên thành phố hồ chí minh (trường hợp sinh viên trường đại học khoa học xã hội và nhân văn, đại học quốc gia tp hồ chí minh)

199 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh hưởng của phim truyện Việt Nam đối với sinh viên thành phố Hồ Chí Minh (trường hợp sinh viên trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn, đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh)
Tác giả Mai Đức Sang
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn, Đại Học Quốc Gia TP Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Vật lý
Thể loại Luận văn thạc sĩ chuyên ngành: Việt Nam học
Năm xuất bản 2013
Thành phố TP Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 199
Dung lượng 2,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài – Mục đích nghiên cứu (7)
  • 2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu (9)
  • 3. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu (10)
  • 4. Lịch sử nghiên cứu vấn đề (12)
  • 5. Đóng góp của luận văn (17)
  • 6. Cấu trúc luận văn (17)
  • CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI (19)
    • 1.1. Các khái niệm (19)
    • 1.2. Lịch sử hình thành và phát triển của điện ảnh thế giới (21)
      • 1.2.1. Ngày khai sinh của ngành điện ảnh thế giới và thể loại phim đầu tiên đƣợc trình chiếu (22)
      • 1.2.2. Điện ảnh: sự hấp dẫn của phim ảnh (26)
      • 1.2.3. Sơ nét về phim ảnh của một số nước trên thế giới (27)
    • 1.3. Tính chất của phim truyện (37)
      • 1.3.1. Phim truyện thời kỳ đầu (38)
      • 1.3.2. Tính xác thực trong phim truyện (39)
      • 1.3.3. Ngôn từ đƣợc dùng trong phim truyện (40)
      • 1.3.4. Phim truyện và tính đại chúng của phim truyện (40)
      • 1.3.5. Phim truyện và tính thương mại của phim truyện (41)
    • 1.4. Phân loại phim truyện (Feature-film) (43)
      • 1.4.1. Phim truyện bạo lực (Violence films) (43)
      • 1.4.2. Phim truyện tâm lý xã hội (Drama films) (44)
      • 1.4.3. Phim hài (Coedy films) (0)
      • 1.4.4. Một số thể loại phim truyện Việt Nam khác (45)
  • CHƯƠNG 2: ĐIỆN ẢNH VÀ PHIM TRUYỆN VIỆT NAM (48)
    • 2.1. Lịch sử hình thành nền điện ảnh Việt Nam (48)
      • 2.1.1. Các Hãng phim của người Pháp tại Việt Nam (49)
      • 2.1.2. Các Hãng phim và nhóm làm phim của người Việt (49)
      • 2.1.3. Những rạp chiếu phim đầu tiên ở Việt Nam (53)
      • 2.1.4. Công luận với phim ảnh Việt Nam thời kỳ đầu (55)
    • 2.2. Sự hình thành và phát triển của điện ảnh Cách mạng Việt Nam (56)
      • 2.2.1. Sự khởi đầu gian khó và phim truyện đầu tiên của điện ảnh Cách mạng Việt Nam (56)
      • 2.2.2. Sự phát triển của điện ảnh cách mạng Việt Nam trước 1975 (59)
    • 2.3. Sơ lược điện ảnh tại miền Nam trước 1975 (61)
    • 2.4. Phim truyện Việt Nam trong và sau thời kỳ Đổi Mới (62)
      • 2.4.1. Giai đoạn 1986-2002 (62)
      • 2.4.2. Phim truyện Việt Nam từ 2002 đến hiện nay (68)
  • CHƯƠNG 3: PHIM TRUYỆN VIỆT NAM ĐỐI VỚI SINH VIÊN (82)
    • 3.1. Phim truyện Việt Nam – Nhận định từ sinh viên TP. HCM (82)
      • 3.1.1. Tình hình hưởng thụ phim truyện chiếu rạp của sinh viên TP. HCM (83)
      • 3.1.2. Rạp chiếu phim – Nơi gặp gỡ lý tưởng (87)
    • 3.2. Sinh viên xem phim truyện trên các kênh truyền hình và trên internet (89)
    • 3.3. Mục đích và tiêu chí chọn phim để xem của sinh viên ở TP. HCM (94)
      • 3.3.1. Mục đích xem phim của sinh viên ở TP. HCM (94)
      • 3.3.2. Các tiêu chí chọn lựa phim truyện của sinh viên ở TP. HCM (95)
      • 3.3.3. Những quan tâm của sinh viên TP. HCM khi xem phim truyện (100)
      • 3.3.4. Tiêu chí để chọn xem một phim truyện của sinh viên TP. HCM (102)
    • 3.4. Điện ảnh Việt Nam – Nhu cầu và thực tế (105)
      • 3.4.1. Phim truyện Việt Nam chưa đáp ứng được nhu cầu người xem (105)
      • 3.4.2. Ảnh hưởng diễn viên ngôi sao trong công chúng (110)
      • 3.4.3. Phim ảnh với nguyện vọng của sinh viên (115)
    • 3.5. Nhận định của một số nhà chuyên môn về phim truyện Việt Nam (123)
      • 3.5.1. Phim truyện Việt Nam: món ăn tinh thần của công chúng (124)
      • 3.5.2. Âm nhạc là “nhân vật” không thể thiếu trong phim truyện (126)
      • 3.5.3. Công chúng khán giả - Giá trị bền vững (126)
    • 3.6. Phim bạo lực và tác động của nó đối với xã hội (128)
      • 3.6.1. Ảnh hưởng từ phim truyện bạo lực (130)
      • 3.6.2. Phim ảnh bạo lực và phim truyện bạo lực trên truyền hình (132)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (142)
  • PHỤ LỤC (158)

Nội dung

Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Trong luận văn tốt nghiệp bậc cao học, chúng tôi tiến hành khảo sát sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là sinh viên của Trường Đại học Khoa học Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh (ĐHKHXH&NVTPHCM) Thành phố Hồ Chí Minh, với vai trò là một trong những trung tâm kinh tế và văn hóa lớn nhất Việt Nam, có hoạt động văn hóa nghệ thuật phong phú, ảnh hưởng đến nhiều tỉnh phía Nam, do đó, khảo sát tại đây có thể đại diện cho khán giả sinh viên của khu vực này Đề tài luận văn tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của dòng "Phim truyện Việt Nam" đối với sinh viên hai khoa, nhằm phân tích các điểm mạnh và điểm yếu trong các khâu kịch bản, diễn viên và kỹ thuật.

Bài viết này nghiên cứu các thuật ngữ và lời thoại trong dòng phim truyện Việt Nam, đồng thời thu thập thông tin để so sánh mức độ ảnh hưởng của phim truyện Việt Nam với phim truyện của một số quốc gia khác đối với sinh viên được khảo sát.

Luận văn khảo sát ảnh hưởng của các phim truyện từ năm 1986 đến nay, bao gồm cả phim điện ảnh và phim truyền hình, trong đó có các phim hợp tác quốc tế, đối với sinh viên trường ĐHKHXH&NV, ĐHQG – TP.HCM, tại hai khoa Nhân học và Xã hội học.

Về mặt nội dung, đề tài luận văn này sẽ tập trung vào các vấn đề sau:

+ Nhu cầu thưởng thức phim truyện của sinh viên được khảo sát;

+ Đánh giá của sinh viên khảo sát đối với phim truyện Việt Nam ;

Sinh viên được khảo sát thể hiện sự ưa thích đối với phim truyện Việt Nam so với phim truyện từ một số quốc gia như Mỹ, Hàn Quốc và Trung Quốc Nghiên cứu này bao gồm cả phim truyền hình nhiều tập và phim chiếu rạp.

+ Ghi nhận những ý kiến của sinh viên khảo sát về việc nâng cao chất lƣợng phim truyện Việt Nam trong thời gian tới.

Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện nghiên cứu cho luận văn, chúng tôi áp dụng cả hai phương pháp định lượng và định tính Dữ liệu định lượng được thu thập thông qua phiếu thăm dò ý kiến của sinh viên tại Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, nơi có hơn 11 ngàn sinh viên Do hạn chế về thời gian và kinh phí, chúng tôi chỉ khảo sát 150 sinh viên, được chọn từ khoa Nhân học và khoa Xã hội học, mỗi khoa 75 sinh viên, bao gồm sinh viên năm thứ hai.

Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã thực hiện khảo sát trên 150 sinh viên trong năm thứ ba Do số lượng mẫu tương đối nhỏ, phương pháp chọn mẫu được áp dụng là phương pháp chọn mẫu theo hạn ngạch (quota sampling).

Bài khảo sát được thực hiện với 150 sinh viên, bao gồm 75 sinh viên từ khoa Nhân học và 75 sinh viên từ khoa Xã hội học, trong đó tỷ lệ giới tính là 50% nam và 50% nữ Mẫu khảo sát phản ánh các đặc trưng về ngành học, giới tính, năm học và nơi ở của đối tượng khảo sát, được trình bày cụ thể trong bảng 1.

Bảng 1: Mẫu khảo sát chia theo ngành học, giới tính, năm học, nơi ở hiện nay

Giới tính Năm học Nơi ở hiện nay

Các tỉnh ngoài TP.HCM Nhân học

Nguồn: Số liệu khảo sát bằng phiếu câu hỏi của tác giả luận văn, tháng 12/2012 Ghi chú: N= Số sinh viên khảo sát

Dữ liệu định lượng từ nghiên cứu [176:2010] được phân tích bằng phần mềm SPSS, giúp tác giả luận văn tổng hợp tình hình thưởng thức phim truyện Việt Nam và ảnh hưởng của phim đến một số khía cạnh trong đời sống sinh viên.

Tài liệu định tính [176:2010], đƣợc thu thập từ các cuộc phỏng vấn các

Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn sâu với các chuyên gia và sinh viên trong lĩnh vực điện ảnh Các chuyên gia được chọn bao gồm ông Lê Dân, NSƯT, đạo diễn và Giám đốc Trung tâm UNESCO Điện ảnh Đa truyền thông Việt Nam; PGS TS Trần Trọng Đăng Đàn, nhà nghiên cứu văn hóa, nghệ thuật và điện ảnh; và nhà biên kịch Diệu Như Trang, tác giả của nhiều kịch bản phim truyện Việt Nam Đối với sinh viên, chúng tôi đã phỏng vấn tám sinh viên, trong đó có năm sinh viên khoa Nhân học và ba sinh viên khoa Xã hội học Ý kiến của các chuyên gia sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về ngành điện ảnh Việt Nam.

Nghiên cứu của chúng tôi tập trung vào 6 lĩnh vực chính, giúp làm rõ sự phát triển của điện ảnh và phim truyện tại Việt Nam trong gần 30 năm qua, cũng như vai trò của điện ảnh trong đời sống nghệ thuật của TP HCM sau Đổi mới Ý kiến từ các sinh viên qua các cuộc phỏng vấn sâu đã hỗ trợ chúng tôi phân tích kết quả thu thập từ dữ liệu định lượng, với 150 sinh viên tham gia khảo sát.

Phương pháp nghiên cứu lịch sử giúp phân tích nội dung tác phẩm điện ảnh theo chiều lịch đại, từ bối cảnh hình thành đến nguyên nhân và sự kiện mà nó miêu tả Qua đó, chúng ta nhận biết được sự khúc xạ sâu sắc của nghệ thuật điện ảnh dưới ảnh hưởng của lịch sử và ngược lại.

Phương pháp liên ngành trong nghiên cứu Việt Nam học cho phép áp dụng kiến thức đã tiếp thu từ quá trình học tập, đồng thời khai thác các kết quả từ các lĩnh vực liên quan như Xã hội học, Văn hóa học, Đông phương học và Nhân học.

Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu và phân tích về điện ảnh trên toàn cầu và tại Việt Nam, nhưng hiệu quả của các công trình này vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu cấp thiết của nền điện ảnh phim truyện hiện nay Trong số các sách chuyên khảo về điện ảnh, hai công trình nổi bật của Iecgi Teplix và Georges Sadoul đã đóng góp quan trọng vào việc hiểu biết về nghệ thuật điện ảnh, đặc biệt trong lĩnh vực phim truyện.

Trong cuốn "Lịch sử điện ảnh thế giới" do Nxb Văn hóa phát hành năm 1979, tác giả Iecgi Teplix nhấn mạnh rằng người sản xuất điện ảnh cần thể hiện tư tưởng và tình cảm qua những hình tượng nghệ thuật mạnh mẽ Ông cũng tập trung vào việc hoàn thiện ngôn từ điện ảnh, đặc biệt là vai trò quan trọng của điện ảnh Mỹ trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế toàn diện năm 1929 và những năm tiếp theo Bên cạnh đó, Iecgi Teplix còn chỉ ra bản chất và những hiện tượng góc khuất của ngành điện ảnh.

Lịch sử điện ảnh thế giới là một nghiên cứu toàn diện về sự phát triển của điện ảnh, phản ánh sự hào nhoáng của Hollywood và những ảnh hưởng của nó đến nền điện ảnh toàn cầu.

Trong cuốn "Lịch sử điện ảnh Cách mạng Việt Nam" do Nguyễn Duy Cần chủ biên (1983), tác giả nêu bật những khó khăn và thiếu thốn mà con người Việt Nam đã vượt qua để sáng tạo ra ngành phim ảnh, góp phần quan trọng vào công cuộc thống nhất đất nước Nghiên cứu này cũng nhấn mạnh vẻ đẹp trong nghệ thuật điện ảnh Xã hội chủ nghĩa, cho rằng mỗi hình tượng người chiến sĩ trên màn ảnh Việt Nam, từ phim truyện đến phim tài liệu, đều phản ánh cuộc đời và tâm tư của những người sáng tạo, đồng thời đáp ứng mong ước và trí tưởng tượng của khán giả.

Nghiên cứu này đã mô tả quá trình hình thành ngành nghệ thuật phim truyện Việt Nam, đồng thời phân tích những điểm mạnh và điểm yếu của các bộ phim từ giai đoạn đầu cho đến những tác phẩm được sản xuất trong những năm gần đây.

Năm 1980, tác phẩm này đã khẳng định bộ phim "Chung một dòng sông" là sự khởi đầu ấn tượng của ngành phim truyện Việt Nam Đặc biệt, trong lĩnh vực phim đề tài chiến tranh, nổi bật với các tác phẩm tiêu biểu như "Vĩ tuyến 17 ngày và đêm", "Nổi gió" và "Cánh đồng hoang".

Mùa gió chướng mang đến những thành công, thể hiện qua các tác phẩm như "Bức tường không xây", "Bản đồ án bị bỏ quên", và "Chuyến xe bão táp", phản ánh sinh động sự cần cù và chăm chỉ của con người Việt Nam.

Sách "Lịch sử điện ảnh thế giới" của Georges Sadoul, xuất bản năm 1985 bởi Nxb Ngoại văn, không chỉ phác họa lịch sử điện ảnh toàn cầu mà còn tập trung vào nền điện ảnh Mỹ qua các chương như “Sự cất cánh đầu tiên của Mỹ”, “Sự đi lên của Mỹ”, “Xây dựng Hollywood”, “Mười lăm năm phim Mỹ” và “Hollywood những năm 1945 - 1962” Tác giả đã nêu bật những đóng góp quan trọng của điện ảnh Mỹ trong sự phát triển chung của điện ảnh thế giới Ngoài ra, Sadoul cũng đề cập đến các nền điện ảnh mới nổi như “Thế giới Ả Rập và Châu Phi đen” và “Vùng Viễn Đông”.

Georges Sadoul đã nghiên cứu lịch sử điện ảnh Việt Nam cùng với các nền điện ảnh lân cận như Nhật Bản, Philippines, Indonesia, Trung Quốc, Hồng Kông và Đài Loan Ông đã đề cập đến một đề tài nghiên cứu rộng lớn, đó là lịch sử điện ảnh thế giới.

Georges Sadoul thật sự mở ra một cái nhìn mới về điện ảnh thế giới

Trong cuốn Tiểu luận phê bình điện ảnh (Nxb Trẻ, 1996), tác giả Đức Kôn đã thể hiện cái nhìn sắc sảo về điện ảnh Việt Nam, chỉ trích những bộ phim “mì ăn liền” của các hãng phim tư nhân Ông nhận định rằng những bộ phim “cúng cụ” thường cũ kỹ, nhàm chán và không đạt yêu cầu về thể loại, khiến ngay cả khán giả nghiêm túc cũng cảm thấy chán nản Tuy nhiên, Đức Kôn cũng không ngần ngại ca ngợi những thành tựu của điện ảnh Việt Nam sau hai mươi năm giải phóng, nhấn mạnh sự phát triển và thành công của các bộ phim truyện trong quá khứ.

Tư Hậu”, “Cánh đồng hoang”, “Chung một dòng sông”, “Con chim vành khuyên”,

“Người chiến sĩ trẻ”, “Nổi gió”, “Đến hẹn lại lên”, “Đường về quê mẹ” v.v,…

Trong tác phẩm "Đồng hành cùng màn ảnh" (Nxb Văn hóa - Thông tin, 1998), nhà lý luận, phê bình điện ảnh Ngô Phương Lan trình bày hai tiểu luận về điện ảnh Việt Nam trong thời kỳ chống Thực dân – Đế quốc và thời kỳ thống nhất đất nước Tác giả đặc biệt nhấn mạnh phần phê bình phim, bắt đầu từ tác phẩm "Ngõ hẹp" viết năm 1988 cho đến "Cây bạch đàn vô danh", phim đạt giải Bông sen bạc tại Liên hoan Phim Việt Nam lần thứ 11 năm 1996.

- Văn hóa nghe nhìn & Giới trẻ (Nxb Khoa học Xã hội, 2005), do Đỗ Nam

Liên chủ biên nhấn mạnh giá trị và ảnh hưởng của truyền thông đại chúng đối với giới trẻ Công trình này đặc biệt tập trung vào vấn đề bạo lực trong phim truyện truyền hình, dựa trên những khảo sát có giá trị mà tác giả thực hiện.

Bài viết cung cấp 9 đề tài nghiên cứu quan trọng liên quan đến đánh giá chất lượng chương trình truyền hình Tác giả đã đưa ra nhiều số liệu thống kê hữu ích, bao gồm các khía cạnh như: đánh giá chất lượng chương trình giải trí, loại phim ưa thích, mục đích khi xem truyền hình, và đánh giá chất lượng chương trình khoa học, giáo dục Ngoài ra, bài viết cũng đề cập đến đánh giá của giới trẻ về chất lượng chương trình truyền hình và mục đích xem TV của học sinh, sinh viên.

Tác phẩm “Văn học nghệ thuật truyền thống với phim truyện Việt Nam” của Phan Bích Hà (Nxb Văn hóa - Thông tin, 2007) nghiên cứu trên ba bình diện: cấu trúc văn bản nghệ thuật điện ảnh, bình diện thẩm mỹ và đạo lý-xã hội trong văn học nghệ thuật truyền thống, cùng mối liên hệ giữa các đặc điểm này với phim truyện Tác giả nhấn mạnh rằng phim truyện Việt Nam tiếp thu tính khuyến giáo, nhưng cần tránh thiên lệch về nội dung giáo dục mà coi nhẹ hình thức biểu hiện Nghệ thuật không chỉ là những bài huấn ca về đạo đức, mà còn là tấm gương phản chiếu xã hội và lịch sử với những vấn đề triết lý, nhân sinh mang ý nghĩa thời đại.

Hoàng Trần Doãn (2009) trong tác phẩm “Họ muốn gì…?” đã phân tích đặc điểm của điện ảnh và khán giả điện ảnh Việt Nam, đồng thời cung cấp cái nhìn tổng quan về nghiên cứu khán giả phim ảnh trong và ngoài nước Đặc biệt, tác giả đã thu hút sự chú ý khi nghiên cứu nhóm khán giả chuyên biệt là sinh viên, với các tiểu mục như nhu cầu điện ảnh của sinh viên, các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu này, và những đặc điểm tâm lý cơ bản của sinh viên, mang lại giá trị cho các nghiên cứu liên quan và luận văn này.

Đóng góp của luận văn

Hội nhập kinh tế đã ảnh hưởng sâu sắc đến hội nhập văn hóa, đặc biệt là trong lĩnh vực phim ảnh Các hoạt động sáng tác, sản xuất và phát hành phim hiện nay gặp nhiều thuận lợi nhưng cũng đối mặt với không ít thách thức do yêu cầu hội nhập và cạnh tranh khốc liệt Khán giả ngày càng có nhiều lựa chọn và dễ dàng tiếp cận với nhiều thể loại phim khác nhau, dẫn đến yêu cầu cao hơn về chất lượng, phong cách độc đáo và sự phản ánh bản sắc văn hóa Việt Nam Ngành điện ảnh Việt Nam đã đáp ứng nhu cầu này đến đâu? Luận văn này mong muốn cung cấp cho các nhà chuyên môn và cơ quan chức năng những đánh giá từ một bộ phận khán giả là sinh viên, những người có tri thức và khả năng phân tích ưu nhược điểm của phim truyện Việt Nam, bao gồm kịch bản, đào tạo diễn viên, đạo diễn và kỹ thuật.

Cấu trúc luận văn

Ngoài phần dẫn luận, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣợc chia thành 3 chương được phân bổ như sau:

Chương 1 giới thiệu tổng quan về lịch sử điện ảnh thế giới, bao gồm ngày khai sinh và quá trình phát triển của ngành Bài viết nêu bật những thành tựu nổi bật của các quốc gia có nền điện ảnh mạnh, đặc biệt là Hàn Quốc và Hoa Kỳ, và tác động sâu sắc của chúng đến điện ảnh Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Chương 2: Nền điện ảnh Việt Nam, đặc biệt là phim truyện, đã trải qua sự hình thành và phát triển mạnh mẽ từ giai đoạn Đổi mới (1986) đến nay Sự phát triển này chịu ảnh hưởng lớn từ những biến đổi kinh tế, văn hóa và xã hội trong nước, cũng như bối cảnh hội nhập quốc tế Đặc biệt, kỹ thuật và kỹ xảo điện ảnh nước ngoài đã góp phần quan trọng trong việc định hình và nâng cao chất lượng sản phẩm điện ảnh Việt Nam.

Chương 3 tập trung vào nhu cầu của sinh viên đối với phim truyện điện ảnh và truyền hình từ các nguồn như internet, TV và rạp chiếu phim Bài viết đánh giá quan điểm của sinh viên về phim truyện Việt Nam và tác động của chúng đối với thanh niên Đồng thời, chương cũng đưa ra một số kiến nghị nhằm thúc đẩy sự phát triển của ngành phim ảnh và phim truyện tại Việt Nam trong tương lai.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

Các khái niệm

- Khái niệm về “điện ảnh”

Theo “Từ điển tiếng Việt” của Xuân Huy và Đỗ Công Hữu, từ “điện” có nghĩa là một dạng năng lượng truyền đi trên dây dẫn, trong khi “ảnh” chỉ hình được chụp bằng máy ảnh Kết hợp lại, “điện ảnh” được hiểu là ngành nghệ thuật phản ánh hiện thực thông qua những hình ảnh hoạt động được thu vào phim và chiếu lên màn ảnh, như trong ngành điện ảnh Việt Nam.

- Khái niệm “phim điện ảnh” (phim nhựa)

Theo "Từ điển tiếng Việt" của Xuân Huy và Đỗ Công Hữu, "phim điện ảnh" hay "phim nhựa" được định nghĩa là hình ảnh ghi trên cuộn phim bằng chất dẻo, quay bằng các phương tiện kỹ thuật điện ảnh và chiếu tại rạp Điều này khác với điện ảnh nói chung, bao gồm các thể loại như phim tài liệu, phim tài liệu khoa học, phim giáo dục và phim truyền hình Do sự phát triển ban đầu chưa có truyền hình và ảnh hưởng mạnh mẽ của thể loại phim truyện, khi nhắc đến điện ảnh, người ta thường chỉ nghĩ đến phim truyện, và thuật ngữ "phim truyện" thường được hiểu là "phim điện ảnh" hay "phim nhựa".

Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh giải thích: “Giải trí là khi làm việc rỗi

Giải trí không chỉ đơn thuần là vui chơi mà còn giúp làm cho trí não được thư giãn, giảm bớt căng thẳng và mệt mỏi do công việc và suy nghĩ Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Hương (2008), Richard Schichel đã nhấn mạnh tầm quan trọng của giải trí trong việc cải thiện sức khỏe tinh thần.

Chiếu bóng là một hình thức nghệ thuật cao và cũng là một loại giải trí phong phú, thường thì một bộ phim kết hợp cả hai yếu tố này Do đó, nghệ thuật chiếu bóng được phát triển mạnh mẽ nhờ vào truyền thống giải trí.

- Khái niệm về ảnh hưởng

Theo từ điển Bách khoa – Tâm lý học Giáo dục học, "ảnh hưởng xã hội" được định nghĩa là tất cả những yếu tố có khả năng thay đổi hành vi của cá nhân hoặc nhóm do tác động từ một tác nhân khác trong một bối cảnh xã hội cụ thể.

[49:13] Trần Thanh Tùng định nghĩa về ảnh hưởng như sau: “Theo từ điển tiếng

Ảnh hưởng giữa các vật thể là một loại tương tác phổ biến trong thế giới thực, thể hiện sự chi phối của vật này đối với vật khác Tương tác này tồn tại trong mọi khía cạnh của cuộc sống và trong tư duy của con người.

- Khái niệm phim thương mại

Theo Bách khoa toàn thư Việt Nam, phim thương mại là loại phim được sản xuất chủ yếu để kiếm lợi nhuận, thường sử dụng nhiều thủ pháp câu khách mà có thể không quan tâm đến tư tưởng, đạo đức hay thẩm mỹ Thể loại phim này thường tập trung vào các thể loại như phiêu lưu mạo hiểm, phim kinh dị, và bi kịch cá nhân sướt mướt.

Ngô Phương Lan trong tác phẩm “Đồng hành với màn ảnh” đã chỉ ra rằng mặc dù dòng phim thương mại có nhiều mặt trái, nhưng nó cũng mang lại những giá trị tích cực Cụ thể, loại phim này đã thu hút người xem trở lại với điện ảnh Việt Nam, tạo ra sự cạnh tranh và dần dần làm giảm bớt sự tràn lan của các loại phim và băng hình không chất lượng Sự sàng lọc từ thị trường cũng thúc đẩy các nhà làm phim nâng cao chất lượng sản phẩm của mình.

15 tự trọng phải cân nhắc, tìm một sự hài hòa giữa mục tiêu ăn khách và giá trị nghệ thuật, hiệu quả xã hội” [80:80]

Theo Nguyễn Thị Thanh Hương, phim thương mại là thể loại phim truyện có tính chất hàng hóa rõ ràng, với mục đích phục vụ đông đảo khán giả Phim thương mại không chỉ mang giá trị tư tưởng và nghệ thuật nhất định mà còn chú trọng đến chức năng giải trí.

- Khái niệm phim nghệ thuật

Phim nghệ thuật, hay còn gọi là phim độc lập và phim tác giả, là một thể loại điện ảnh có nguồn gốc từ Pháp và đã lan rộng sang các nước Tây Âu và Hoa Kỳ.

Trong thập niên 50 và đầu 60, quan niệm về bộ phim truyện nhấn mạnh rằng nó phải là sản phẩm sáng tạo nghệ thuật của một tác giả duy nhất, cụ thể là nhà đạo diễn kiêm biên kịch, trong khi các thành phần khác chỉ thực hiện nhiệm vụ theo chỉ đạo của đạo diễn.

Phim nghệ thuật là thể loại phim độc lập, không bị ràng buộc bởi sự kiểm soát của nhà sản xuất và không nhắm đến số đông khán giả Điều này cho phép các nhà làm phim tự do thể nghiệm những ý tưởng và phong cách nghệ thuật mới, đồng thời thể hiện bản sắc văn hóa cá nhân của họ.

Lịch sử hình thành và phát triển của điện ảnh thế giới

Nghệ thuật điện ảnh đã có nguồn gốc từ rất xa xưa, với những câu chuyện mang tính điện ảnh xuất hiện từ thời cổ đại ở Hy Lạp, đặc biệt là trong triết học.

Socrate đã rất ngạc nhiên khi nghe Platon, học trò tài năng của mình, bộc lộ khả năng triết học và văn chương khi trình bày về tâm lý của các tù nhân sống trong điều kiện tồi tệ Mặc dù Socrate không chú ý nhiều đến nội dung, nhưng ông bị thuyết phục bởi cách diễn đạt hình tượng của Platon Platon mô tả một nhóm người bị giam giữ trong một hang động tối tăm, buộc phải ngồi gần nhau và nhìn về phía trước, trong khi phía sau họ là ánh lửa chiếu sáng.

Ánh sáng từ đống lửa đã tạo ra những hình bóng sống động của các tù nhân trên vách đá nhà tù, phản ánh sự chuyển động của họ Hình bóng này, theo Platon, không chỉ là biểu tượng của tù nhân mà còn mang tính hình tượng sâu sắc Ngoài Hy Lạp, các nhà khảo cổ đã phát hiện nhiều hiện vật ở vùng Lưỡng Hà và Trung Quốc liên quan đến các trò chơi hình ảnh Một ví dụ điển hình là chiếc đèn chiếu hình Lanterne magique, sử dụng nhiệt để tạo ánh sáng và quay màn vải có hình vẽ Đến thế kỷ XVI – XVII, các loại ảo đăng đã được cải tiến ở châu Âu để phục vụ cho mục đích giải trí.

1.2.1 Ngày khai sinh của ngành điện ảnh thế giới và thể loại phim đầu tiên đƣợc trình chiếu

Vào ngày 6 tháng 11 năm 1889, công ty của nhà phát minh Thomas Edison đã công chiếu một đoạn phim có tiếng nói tại New York, Hoa Kỳ Đoạn phim này ghi lại cảnh Dickson, một cộng sự trẻ người Anh của Edison, trong bộ trang phục chỉnh tề, ngã nón chào và nói: “Kính chào Ngài Edison, tôi rất hân hạnh chào Ngài và hy vọng.” Đây là sự kiện diễn ra sáu năm trước khi anh em nhà Lumière trình diễn máy chiếu phim câm đầu tiên.

Ngài vừa lòng với phát minh mới về chiếc máy thu hình và tiếng” [199:16] Thomas

Thomas Edison là một nhà khoa học vĩ đại, nổi tiếng với các phát minh như điện và máy truyền thanh (radio) Năm 1888, ông đã đưa điện ảnh vào một giai đoạn quyết định bằng việc sản xuất loại phim hiện đại 35mm với 4 đôi lỗ, dẫn đến việc công ty của ông phát minh ra chiếc máy chiếu phim đầu tiên có tiếng nói Tuy nhiên, nhiều người yêu điện ảnh hiện nay thắc mắc tại sao Edison, với những phát minh quan trọng như vậy, lại không ứng dụng chúng vào đời sống xã hội lúc bấy giờ và để chúng bị lãng quên.

Lịch sử điện ảnh thế giới cho thấy Edison đã từ chối công khai các bộ phim của mình, vì ông lo ngại rằng việc này sẽ làm mất đi nguồn lợi nhuận lớn Ông tin rằng công chúng sẽ ít hứng thú hơn với phim câm.

Chiếc máy chiếu của Thomas Edison vẫn chưa hoàn thiện về khả năng phát âm thanh, dẫn đến việc ông vô tình từ chối vinh dự trở thành người khai sinh ra điện ảnh, để lại vị trí này cho anh em nhà Lumière.

Vào ngày 28 tháng 12 năm 1895, tại Paris, anh em nhà Lumière đã giới thiệu chiếc máy "chiếu phim" đầu tiên trên thế giới, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử điện ảnh Mặc dù thiết bị này không hoàn toàn được coi là máy chiếu phim theo nghĩa hiện đại, nhưng nó đã tạo ra một tiếng vang lớn và mở ra kỷ nguyên mới cho ngành công nghiệp giải trí Trần Trọng Đăng Đàn đã nhấn mạnh rằng, mặc dù sau này có nhiều phát minh và cải tiến trong lĩnh vực điện ảnh, nhưng ngày 28 tháng 12 vẫn là một cột mốc không thể quên.

Ngày 28 tháng 12 năm 1895, tại tầng hầm của Grand Café de Paris, buổi chiếu phim đầu tiên của anh em nhà Lumière đã diễn ra thành công, đánh dấu một cột mốc lịch sử quan trọng trong sự ra đời của điện ảnh Sự kiện này không phải là ngẫu nhiên, mà là kết quả của những nỗ lực sáng tạo Như Phạm Ngọc Trương đã viết trong cuốn Lịch sử điện ảnh cách mạng Việt Nam, buổi chiếu phim đầu tiên này đã mang lại cho Pháp vinh dự trở thành quê hương của điện ảnh thế giới.

Ngày 28 tháng 12 năm 1895, anh em nhà Lumière đã tổ chức buổi chiếu phim đầu tiên tại Paris, đánh dấu sự ra đời của điện ảnh, một loại hình nghệ thuật mới Mặc dù nhiều tác giả không cung cấp thông tin chi tiết về nội dung buổi chiếu, nhưng họ đều công nhận đây là một sự kiện trọng đại Iecgi Teplix nhấn mạnh rằng ngay trong những thước phim ngắn ngủi của Lumière đã chứa đựng sức mạnh của nghệ thuật điện ảnh, cho phép người xem cảm nhận cuộc sống qua những biểu hiện phong phú Chỉ sau ba năm, điện ảnh đã được du nhập vào Việt Nam, bắt đầu từ Sài Gòn, theo ghi nhận của Lê Trung Hoa.

Vào ngày 22 tháng 3 năm 1895, Louis Lumière cùng với em trai Auguste Lumière đã thành công trong việc trình diễn "máy chụp động ảnh" trước một hội đồng bác học, dưới sự chủ tọa của chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Tuy nhiên, Trần Trọng Đăng Đàn không nêu rõ nội dung mà anh em nhà Lumière đã trình chiếu trong buổi chiếu lịch sử này.

Iecgi Teplix đã đề cập đến sự khó khăn trong tính độc lập và sáng tạo của điện ảnh ở giai đoạn đầu, nhắc đến nhà phê bình người Anh Rotgie Phrai, người đã nhận ra những đặc điểm của điện ảnh từ năm 1909 Ông chú ý đến cảm xúc của hành khách khi bước ra khỏi tàu hỏa, phản ánh sự tự nhiên và buồn cười trong hành động của họ Rotgie Phrai thừa nhận rằng ông chưa bao giờ nhận ra điều này dù đã đi tàu hàng trăm lần Có thể những thước phim ngắn của anh em nhà Lumière vào ngày 28 tháng 12 năm 1895 chính là cảnh mà Rotgie Phrai đã mô tả Nếu đúng như vậy, bộ phim đầu tiên của điện ảnh có thể được xem là thể loại phim phóng sự ngắn, điều này được Trần Thanh Hiệp khẳng định trong lời giới thiệu cuốn sách “Họ muốn gì…?” của Hoàng Trần Doãn, nhấn mạnh rằng ngày khai sinh điện ảnh không chỉ là ngày phát minh ra máy quay phim hay những thước phim nhựa đầu tiên.

Nghệ thuật thứ bảy, hay điện ảnh, bắt đầu với những tác phẩm thô sơ như “Chuyến tàu đến”, “Người tưới vườn bị tưới” và “Giờ tan ca” Những thước phim ngắn ngủi và ngộ nghĩnh, đặc biệt là trong “Chuyến tàu đến”, đã đánh dấu sự ra đời của thể loại phim “phóng sự” trong lịch sử điện ảnh thế giới.

Trong buổi học của khóa “Đào tạo đạo diễn và biên kịch” năm 2009, do Trung tâm UNESCO Điện ảnh Đa truyền thông Việt Nam tổ chức, NSƯT- Đạo diễn Lê Dân đã nhấn mạnh một sự kiện quan trọng Ông đã đề cập đến ngày 28-12-1895, khi một buổi chiếu phim đầu tiên diễn ra trong không gian sang trọng kiểu Ấn Độ tại cửa hàng Grand Café.

Vào ngày 19 đại lộ Capucines ở Paris, anh em nhà Lumière đã tổ chức buổi chiếu phim công cộng đầu tiên với máy Cinématographe, đánh dấu ngày khai sinh của ngành điện ảnh thế giới Chương trình chiếu tại Grand Café bao gồm nhiều đoạn phim ngắn như "Giờ ra chơi của công nhân nhà máy Lumière", "Tàu vào sân ga", và "Đường Cộng hòa ở Lyon" Những bộ phim đầu tiên này không có kịch bản, diễn viên hay cảnh trí sắp đặt, thể hiện sự đơn giản của điện ảnh thời kỳ đầu Đặc biệt, đoạn phim "Tàu vào sân ga" đã tạo ra một hiện tượng nghệ thuật độc đáo khi máy quay được đặt cố định, ghi lại cảnh đoàn tàu từ xa tiến gần đến ống kính, mang đến cho người xem cảm giác thú vị và mới mẻ, khác hẳn với cảnh trí cố định trên sân khấu.

Tính chất của phim truyện

Khác với văn học, phim truyện mang đến cho khán giả cảm giác run rẩy, khiếp sợ qua hình ảnh và âm thanh mà không cần lời thuyết minh Cảm xúc “thấy” và “nghe” tác động mạnh mẽ đến trí não và lương tâm người xem, với những âm thanh sống động như tiếng gió rít hay tiếng chân bước nặng nề Điện ảnh, với khả năng tái tạo hình ảnh động một cách sinh động, truyền tải chất thơ và tiểu thuyết của văn học lên màn ảnh Mặc dù điện ảnh có thể thay đổi khoảng cách giữa người xem và cảnh trí, sân khấu lại có cự ly cố định Tuy nhiên, khi nói đến hình ảnh động, điện ảnh và sân khấu lại có nhiều điểm tương đồng “Chất truyện” trên sân khấu và màn ảnh đều giống nhau, và tuần tự diễn ra trên cả hai cũng không có gì khác biệt Dù điện ảnh có yếu tố “kể chuyện” thu hút hơn, thì đó cũng là yếu tố sống còn của sân khấu.

1.3.1 Phim truyện thời kỳ đầu

Điện ảnh được sử dụng đa dạng trong nhiều lĩnh vực như phim tài liệu, phim khoa học, và phim ca nhạc, nhưng phim truyện vẫn là thể loại phổ biến nhất trong công chúng Điều này cho thấy sự phổ cập sâu rộng của phim truyện Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng nghệ thuật phim truyện, một phần cốt lõi của điện ảnh, ra đời muộn vào khoảng năm 1915, hơn hai mươi năm sau buổi chiếu phim đầu tiên của anh em nhà Lumière, mặc dù thực tế, phim truyện có thể đã xuất hiện sớm hơn dưới dạng phim câm.

Vào năm 1900, phim Lô-lôt-ta do hãng Hăng-ri Giô-li sản xuất đã thể hiện một câu chuyện đầy đủ với bối cảnh trong một khách sạn, nơi một người phụ nữ trẻ không ngủ được và nghe tiếng chim hót cùng âm thanh từ phố Trong khi đó, người chồng tức giận gây ồn ào, khiến chủ khách sạn phải can thiệp Cùng năm, phim Người nhạc sĩ câm kể về một nhạc sĩ bị nghi ngờ giết người, người đã trả lời các câu hỏi của quan tòa bằng những bản nhạc nổi tiếng mà anh biểu diễn bằng sáo, giúp khán giả hiểu được lời anh nói Ngoài ra, còn có phim Công việc của một lính cứu hỏa Mỹ, cũng sản xuất năm 1900, do đạo diễn Edwin Orter thực hiện Những tác phẩm này cho thấy sự phát triển của điện ảnh trong giai đoạn đầu, mặc dù có thể không đáp ứng đầy đủ các tiêu chí của phim truyện hiện đại.

Vào tháng 5 năm 1896, chỉ sau hơn 5 tháng kể từ khi nghệ thuật thứ bảy ra đời, đạo diễn Georges Méliès đã sản xuất nhiều bộ phim nổi tiếng như "Cờ bạc", "Du hành lên mặt trăng" (1902), "Nghìn dặm dưới đáy biển" (1904) và "Cuộc du hành qua những vùng không đến được" (1904) Những bộ phim này, mặc dù ngắn, nhưng đều có cốt truyện rõ ràng và thể hiện sự sáng tạo trong điện ảnh thời bấy giờ, với "Cuộc du hành qua những vùng không đến được" có độ dài gần 20 phút và chi phí sản xuất lên tới 7.500 đô la, một con số rất lớn vào thời điểm đó.

1.3.2 Tính xác thực trong phim truyện

Nghệ thuật phim truyện thể hiện sự chân thành và tính xác thực, mặc dù nó là sự dàn dựng và tổng hợp nhiều yếu tố hư cấu Sự đặc thù trong cách kể chuyện của phim truyện chính là tính “xác thực” mà không nghệ thuật nào khác có được Đạo diễn Jia Zhang cho rằng tính xác thực và sự chân thành là lý do khiến phim của ông thuyết phục khán giả quốc tế, tạo nên sự khác biệt giữa các nền văn hóa Nghệ sĩ Ưu tú Lê Đình Ấn cũng nhấn mạnh rằng điện ảnh, mặc dù là sự tái hiện, vẫn cần phải cố gắng để mang lại cảm giác thật nhất cho người xem.

Khán giả chấp nhận việc sử dụng các vật tượng trưng như gối ôm hay búp bê để thể hiện một đứa trẻ sơ sinh trên sân khấu, nhưng trong phim, điều này không thể chấp nhận và cần phải có một đứa trẻ thật Trong kịch bản, nếu nhân vật phải mang một vật nặng, diễn viên phải sử dụng vật có trọng lượng tương đương, không thể chỉ là biểu tượng Tính chân thực trong điện ảnh không chỉ nằm ở nội dung mà còn ở cách diễn đạt, với diễn viên cần thể hiện một cách tự nhiên để mang lại cảm giác thực tế cho khán giả Tác giả Phan Thị Bích Hà nhấn mạnh rằng tính chân thực trong tác phẩm điện ảnh được thể hiện qua cả nội dung và cách diễn xuất.

Tính xác thực là yếu tố độc đáo trong nghệ thuật phim truyện, thể hiện qua các khả năng kỹ thuật đặc biệt Điều này tạo ra sức lôi cuốn mạnh mẽ đối với người xem, điều mà sáu loại hình nghệ thuật trước đó không thể đạt được.

1.3.3 Ngôn từ đƣợc dùng trong phim truyện

Phim truyện đã đạt được giá trị miên viễn nhờ vào sự sáng tạo của các nghệ sĩ như kịch tác gia, đạo diễn, diễn viên và họa sĩ thiết kế Sự phong phú của từ ngữ, giọng nói trong sáng và ngữ điệu chất phác đã tạo nên những cảnh trí thật sự ấn tượng Trong khi văn học đã trở thành một thành công vang dội của phim, sân khấu lại sở hữu yếu tố độc tôn là ngôn từ mà phim vẫn khao khát bắt chước Phim Don Juan ra đời năm 1926 đánh dấu một cột mốc quan trọng, đưa phim truyện tiến thêm một bước dài với sự xuất hiện của ngôn từ.

Ngôn từ trong phim lúc bấy giờ chỉ là dấu hiệu cho một kỷ nguyên mới, nhưng với kỹ thuật “Vitafon”, phim của nhà Warner chưa thể đáp ứng được yêu cầu của khán giả Chứng minh là đến năm 1931, năm năm sau khi phim Don Juan ra mắt, phim Ánh đèn đô thị của Charlie Chaplin vẫn chiếm ưu thế trên thị trường Bắc Mỹ Năm 1932, phim Vụ án mạng của Ph Lang-gơ và phim Lịch sử tội lỗi của H Sa-rô năm 1933 vẫn thu hút khán giả với vé bán chạy Điều này cho thấy phim có ngôn từ thời điểm đó chưa đạt được tính nghệ thuật cao và chưa phản ánh chân thực cuộc sống đương đại đang phát triển.

1.3.4 Phim truyện và tính đại chúng của phim truyện

Từ khi phim truyện có tiếng nói, điện ảnh đã khẳng định vị thế độc tôn của mình trong nhiều lĩnh vực, từ giải trí đến thông tin truyền thống và không truyền thống Khi nhắc đến điện ảnh, người ta thường nghĩ ngay đến phim truyện, vì nó đã trở thành biểu tượng văn hóa thành công của quốc gia Ngôn từ trong phim truyện đã thay đổi nhận thức về điện ảnh, và tính đại chúng của nó đã thúc đẩy các quốc gia phát triển nền điện ảnh riêng.

Mỗi quốc gia đều sử dụng phim ảnh như một phương tiện để truyền bá và ảnh hưởng văn hóa của mình đến người xem, đồng thời nắm bắt các kỹ thuật và nghệ thuật mới mẻ trong lĩnh vực này.

Phim ảnh là yếu tố quan trọng trong việc bảo tồn và quảng bá văn hóa dân tộc hiện tại và tương lai Để thể hiện tính dân tộc, phim truyện cần sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ của địa phương, từ đó tạo ra sự gần gũi và dễ tiếp cận cho khán giả Điều này giúp phim truyện trở nên phổ biến và có sức lan tỏa trong cộng đồng.

1.3.5 Phim truyện và tính thương mại của phim truyện

Người Mỹ, với bản chất thương mại nhạy bén, đã nhanh chóng nhận ra cơ hội kinh doanh từ phim truyện Vào cuối thập niên 30 của thế kỷ XX, khi châu Âu - nơi khai sinh nền điện ảnh thế giới - có rất ít rạp chiếu phim có tiếng nói, Mỹ đã xuất khẩu những bộ phim lồng tiếng sang thị trường này Tuy nhiên, ngoài một vài bộ phim thành công hiếm hoi, phần lớn đều bị tẩy chay một cách không thương tiếc.

Văn hóa là một hình thái độc đáo mà người Mỹ không thể bắt chước, đặc biệt trong các lĩnh vực như phong tục, thói quen và ngôn ngữ Tại các quốc gia như Ý, Tây Ban Nha, Đức và Thụy Điển, tinh thần dân tộc mạnh mẽ đã thúc đẩy nhu cầu sản xuất phim truyện bằng tiếng mẹ đẻ, dẫn đến sự thất bại của các kế hoạch kinh doanh phim toàn cầu của Mỹ Điều này mở ra cơ hội cho các nền điện ảnh nhỏ hơn phát triển, nhưng cũng diễn ra trong bối cảnh kinh tế toàn cầu suy thoái sâu sắc Sau đó, người Mỹ đã khôi phục ngành điện ảnh xuất khẩu nhờ vào việc làm chủ kỹ thuật âm thanh và rút ra bài học từ những thất bại trước đó, từ đó họ đã thống trị ngành công nghiệp điện ảnh trên toàn thế giới.

Từ xưa, con người đã có thói quen “nghe ngóng” để nắm bắt thông tin xung quanh, giúp họ xử lý tình huống một cách hiệu quả Thói quen này dẫn đến sự tò mò về cuộc sống của người khác Phim truyện ra đời đã đáp ứng nhu cầu tò mò này một cách hoàn hảo, thu hút mọi lứa tuổi Do đó, nhu cầu xem phim truyện trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống của mỗi người.

Phân loại phim truyện (Feature-film)

1.4.1 Phim truyện bạo lực (Violence films)

Phim bạo lực, hay còn gọi là phim hành động, là một thể loại phim đặc trưng với những cảnh quay mạnh mẽ và kịch tính Gần đây, sự gia tăng bạo lực trên truyền hình đã khiến nhiều người lo ngại, đặc biệt là trên các phương tiện truyền thông xã hội Điều này đặt ra câu hỏi về ảnh hưởng của phim bạo lực đối với người xem và xã hội.

Phim bạo lực thường có những cuộc đuổi bắt và hành động mạo hiểm, với bối cảnh là các vụ giải cứu, chiến trận, chạy trốn hoặc thảm họa thiên nhiên Hình ảnh trong phim chuyển động nhanh, tạo nên nhịp độ và nhịp điệu ấn tượng Nhân vật chính thường là anh hùng, nam hoặc nữ, bảo vệ lẽ phải và chống lại cái xấu.

Thể loại phim hành động tại Việt Nam thường ít được sản xuất do ảnh hưởng của văn hóa phương Đông, chủ yếu là các bộ phim nhập khẩu từ nước ngoài Tuy nhiên, vẫn có một số phim hành động tương tự được sản xuất trong nước.

Phim "Biên kịch Huỳnh Bá Thành" được chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên, do đạo diễn Lê Hoàng Hoa và Hồ Ngọc Xum thực hiện, được sản xuất bởi Hãng phim trẻ TP HCM và Hãng phim Bến Nghé vào năm 1991 Nội dung phim xoay quanh cuộc truy quét các điệp viên CIA còn lại ở Việt Nam sau ngày giải phóng, hoạt động dưới hình thức các băng cướp Phim không chỉ mang tính chất hành động mà còn đậm chất tâm lý và tình cảm xã hội, thuộc thể loại phim "vụ án".

- Phim Vết thù năm tháng (1992, biên kịch Trần Quang - Triệu Vũ, đạo diễn Lê

Mộng Hoàng) Nội dung phim nói về những mối thù hằn cá nhân giữa những tay anh chị thuộc giới giang hồ Sài Gòn cũ

Thể loại phim này còn rất nhiều phim, tác giả chỉ nêu lên một số phim sau:

- Phim Hồng hải tặc (1996, đạo diễn Trần Chí Hòa – Hồng Kông – Lý Huỳnh)

- Phim Nữ tướng cướp (2004, đạo diễn Lê Hoàng) [169:160,161]

1.4.2 Phim truyện tâm lý xã hội (Drama films) [170:42]

Thể loại phim tâm lý xã hội thường chứa đựng những tình tiết kịch tính và nghiêm túc, tập trung vào việc xây dựng nhân vật và bối cảnh Phim phản ánh chân thực những tình huống trong cuộc sống, với cốt truyện xoay quanh sự phát triển và mối giao tiếp giữa nội tâm nhân vật chính và những tác động từ cuộc sống thực tế cũng như các nhân vật khác Đề tài của thể loại này thường đề cập đến các vấn đề đương đại và những vấn nạn xã hội, đôi khi kết hợp yếu tố hài hước và hành động.

Phim "Nhật thực làng Hạ" do biên kịch và đạo diễn Phạm Lộc thực hiện, được sản xuất bởi Hãng phim Truyện TP HCM và Hãng phim Truyện I vào năm 1995 Nội dung phim xoay quanh bối cảnh nông thôn miền Bắc trong quá khứ, nơi mà những hủ tục đã gây ra sự dày vò trong tình yêu và tình cảm vợ chồng, dẫn đến hận thù kéo dài.

- Phim Vị đắng tình yêu (tập 1): Biên kịch Lê Hoàng - Việt Linh, đạo diễn:

Cố đạo diễn Lê Xuân Hoàng , do hãng phim Giải phóng, sản xuất năm 1991

Nội dung phim khắc họa tâm lý xã hội của giới trẻ, đặc biệt là sinh viên âm nhạc, cùng với những vấn đề liên quan đến nghĩa vụ cầm súng bảo vệ đất nước Đạo diễn khéo léo dẫn dắt người xem vào mối tình trong sáng, thiết tha giữa Quang và Anh Phương, nhưng cũng mang theo vị đắng định mệnh, khiến khán giả cảm động và đồng cảm Phim đã vinh dự nhận giải Bông Sen vàng tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ X năm 1993.

Phim "Vị đắng tình yêu" (tập 2) do biên kịch Lê Hoàng và đạo diễn Lê Hoàng – Đỗ Phú Hải thực hiện, được sản xuất bởi Hãng phim Giải phóng và Hãng phim Aumovisco (Đài Loan) vào năm 1992 Tập 2 tiếp tục khai thác chủ đề về giới âm nhạc, nối tiếp câu chuyện từ tập 1.

39 tạp này giải quyết những rắc rối về tình yêu, về gia đình do hậu quả của chiến trang Phim hợp tác giữa Việt Nam – Đài Loan [36:937]

Thể loại phim này còn rất nhiều phim, chỉ nêu một số phim sau:

- Phim Thương nhớ đồng quê (1995, đạo diễn Đặng Nhật Minh)

- Phim Ai xuôi vạn lý (1996, đạo diễn Lê Hoàng);

- Phim Đời Cát (1999, đạo diễn Nguyễn Thanh Vân);

- Phim Mùa len trâu (2003, đạo diễn Nguyễn Võ Nghiêm Minh);…[169:18]

Thể loại phim truyện hài thường mang đến những câu chuyện tâm lý nhẹ nhàng, cường điệu hóa các tình huống một cách vui nhộn qua cử chỉ, hành động và ngôn ngữ của nhân vật Mục tiêu chính là mang lại niềm vui và tiếng cười cho khán giả Kết thúc của những bộ phim này luôn tràn đầy sự vui vẻ và hài hước.

- Phim Con gái ông thứ trưởng (1987, biên kịch Lê Điệp – Lam Sơn, đạo diễn Lam Sơn - Xí nghiệp phim Tổng hợp Tp HCM) [36:764];

- Phim Khi đàn ông có bầu (2004, kịch bản-đạo diễn Phạm Hoàng Nam);

- Phim Lấy vợ Sài Gòn (2004, đạo diễn Trương Dũng);

- Phim Đẻ mướn (2005, đạo diễn Lê Bảo Trung) [169:161];…

1.4.4 Một số thể loại phim truyện Việt Nam khác

1.4.4.1 Phim sử thi/ lịch sử ( Epics/ Historical films) [170:46, 62], có các phim:

Thăng Long đệ nhất kiếm (1990), biên kịch Ngọc Sơn, đạo diễn Lê Mộng Hoàng,

Xí nghiệp phim Tp HCM đã hợp tác với nhóm nghệ sĩ Lý Huỳnh để sản xuất bộ phim "Ngọc Trản Thần Công", còn được biết đến với tên gọi "Tây Sơn hiệp khách" tập 2, ra mắt vào năm 1991 Kịch bản phim do Lê Hoàng Khải và Lê đảm nhiệm.

Hoàng Hoa, đạo diễn Khôi Nguyên, Hãng phim Giải phóng [36:903]; Phim Long

40 thành cầm giả ca (2010), biên kịch Văn Lê, đạo diễn Đào Bá Sơn, Hãng phim Giải phóng sản xuất [169:163];…

1.4.4.2 Phim kinh dị (Horror films) [170:62] Thể loại phim này gồm có các phim:

Ngôi nhà oan khốc (1992) biên kịch Triệu Vũ – Nguyễn Chánh Tín, đạo diễn Lê

Mộng Hoàng là một tác phẩm nổi bật của Hãng phim Nguyễn Đình Chiểu, với bộ phim Chiếc mặt nạ da người (1992) do biên kịch Triệu Vũ và Nguyễn Chánh Tín chấp bút, cùng sự chỉ đạo của đạo diễn Nguyễn Chánh Tín, được sản xuất bởi Xí nghiệp phim Tp HCM và nhóm sản xuất Phim Thiên Ngân.

1.4.4.3 Phim hình sự (Crime movie) [170:35] Thể loại phim này có các phim:

Tiếng gọi lúc mờ sáng (1988), biên kịch Nhật Tuấn, đạo diễn Lê Mộng Hoàng, Hãng Phim Nguyễn Đình Chiểu [36:912]; phim Cô đơn (Săn bắt cướp, tập 3-

Năm 1989, biên kịch Hoàng Chỉ Tích và đạo diễn Trần Phương đã hợp tác tại Hãng Phim Truyện I Tiếp theo, vào năm 1990, biên kịch Võ Duy Linh và đạo diễn Khôi Nguyên đã cho ra mắt tác phẩm "Đằng sau một số phận" tại Hãng Phim Giải Phóng.

1.4.4.4 Phim chiến tranh (War movie) [170:144] Thể loại phim này có: phim

Dòng sông hoa trắng (1989), biên kịch Nguyễn Thị Kỳ, đạo diễn Trần Phương –

Tất Bình là một tác phẩm nổi bật của Hãng Phim Truyện I, trong khi Đêm Bến Tre (2002) do biên kịch Thanh Giang và đạo diễn Trần Phương thực hiện Phim Tiếng cồng định mệnh (2004) được viết bởi biên kịch Chu Lai và đạo diễn Nguyễn Khắc Lợi – Lê Thi, thuộc Hãng Phim Quân đội Nhân dân Việt Nam.

1.4.4.5 Phim hoạt hình (Animation films) [170:11] Thể loại phim này có: phim

Dòng sông Hơ-mên (1979) với kịch bản của Mai Thúc Luân, đạo diễn Kha Thùy Châu, họa sĩ Trương Kim Sang và nhạc sĩ Ca Lê Thuần; phim Vua Hổ (1980) do Lê Minh Hiền viết kịch bản, Phạm Văn Châu làm đạo diễn và họa sĩ, cùng nhạc sĩ Y Vân; và phim Dế mèn phiêu lưu ký (1979-1980), một tác phẩm hoạt hình dựa trên truyện của Tô Hoài, do Trương Qua đạo diễn, họa sĩ Nguyễn Tài – Trương Qua và nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ thực hiện.

Và còn nhiều thể loại phim truyện nhƣ: phim truyện thiếu nhi (Children‟s films), Phim truyện trinh thám (Whodunit films);… [170:204]

Nhu cầu giải trí và điều kiện sinh học của đôi mắt là yếu tố quan trọng cho sự hình thành điện ảnh Mặc dù hai yếu tố này đã tồn tại từ lâu, nhưng chỉ gần đây mới phát triển nhờ những tiến bộ trong kỹ thuật ghi hình ảnh động bằng phim nhựa Sự sáng tạo không ngừng đã giúp nghệ thuật thứ bảy tiến hóa từ những hình ảnh trắng đen, không âm thanh đến những tác phẩm hoàn thiện với âm thanh, màu sắc và tính đại chúng như hiện nay.

ĐIỆN ẢNH VÀ PHIM TRUYỆN VIỆT NAM

PHIM TRUYỆN VIỆT NAM ĐỐI VỚI SINH VIÊN

Ngày đăng: 21/07/2023, 15:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đào Duy Anh (1941), Trung Hoa sử cương - Từ nguyên thủy đến 1937, Nxb. Bốn Phương. 267 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Hoa sử cương - Từ nguyên thủy đến 1937
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb. Bốn Phương
Năm: 1941
3. Đào Duy Anh (1961), Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb. Bốn Phương tái bản, 342 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb. Bốn Phương tái bản
Năm: 1961
4. Lê Hoàng Anh (1998), Trò chuyện với Văn nghệ sĩ, Nxb. Thanh niên. 185 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trò chuyện với Văn nghệ sĩ
Tác giả: Lê Hoàng Anh
Nhà XB: Nxb. Thanh niên
Năm: 1998
5. Trần Kim Anh - Lưu Thảo (2008), “Đấu thầu sản xuất phim- Bài toán với những đáp án khó”, Thế giới điện ảnh - Hội Điện ảnh Việt Nam, Số 12, ngày 01.7.2008, tr 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đấu thầu sản xuất phim- Bài toán với những đáp án khó
Tác giả: Trần Kim Anh, Lưu Thảo
Nhà XB: Thế giới điện ảnh - Hội Điện ảnh Việt Nam
Năm: 2008
6. Cục Điện Ảnh (2008), Bàn về tính chuyên nghiệp trong điện ảnh (Kỷ yếu hội thảo toàn quốc), Nxb. Văn hóa Thông tin. 233 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về tính chuyên nghiệp trong điện ảnh (Kỷ yếu hội thảo toàn quốc)
Tác giả: Cục Điện Ảnh
Nhà XB: Nxb. Văn hóa Thông tin
Năm: 2008
7. Hội Điện Ảnh - Việt Nam (2010), Tài liệu đại hội cơ sở Hội Điện ảnh Việt Nam. Lần thứ VII - Nhiệm kỳ 2010 - 2015, Hà Nội, tháng 4 năm 2010.120 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu đại hội cơ sở Hội Điện ảnh Việt Nam. Lần thứ VII - Nhiệm kỳ 2010 - 2015
Tác giả: Hội Điện Ảnh - Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2010
9. Phan Kế Bính (2011), Việt Nam Phong tục, Nxb. Văn Học. 474 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam Phong tục
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: Nxb. Văn Học
Năm: 2011
10. Phương Bối (2010), “Điện ảnh thế giới”, Thế giới điện ảnh - Hội Điện ảnh Việt Nam, Số 24, ngày 15.12.2010, tr 39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điện ảnh thế giới
Tác giả: Phương Bối
Nhà XB: Thế giới điện ảnh - Hội Điện ảnh Việt Nam
Năm: 2010
11. Thúy Chi (2009), Một số loại hình nghệ thuật truyền thống ở Việt Nam, Nxb Lao Động. 177 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số loại hình nghệ thuật truyền thống ở Việt Nam
Tác giả: Thúy Chi
Nhà XB: Nxb Lao Động
Năm: 2009
12. Thiều Chửu (2011), Hán Việt tự điển, Nxb. Thanh Niên. 1286 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hán Việt tự điển
Tác giả: Thiều Chửu
Nhà XB: Nxb. Thanh Niên
Năm: 2011
13. Nguyễn Duy Cần (1983), Lịch sử Điện ảnh Cách Mạng Việt Nam Nhiều tác giả (sơ thảo ), Cục Điện Ảnh - Hà Nội xuất bản. 461 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Điện ảnh Cách Mạng Việt Nam Nhiều tác giả (sơ thảo )
Tác giả: Nguyễn Duy Cần, Nhiều tác giả
Nhà XB: Cục Điện Ảnh
Năm: 1983
14. Kính Cận (2012),“Điện ảnh Việt Nam đã xuống đến đáy hay đang đi xuống đáy”, Nghe nhìn Việt Nam, số 106, tháng 10/2012, tr 108, 109 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghe nhìn Việt Nam
Tác giả: Kính Cận
Năm: 2012
15. Lê Văn Chưởng (1999), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb. Trẻ. 296 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hóa Việt Nam
Tác giả: Lê Văn Chưởng
Nhà XB: Nxb. Trẻ
Năm: 1999
17. Trịnh Chuyết (1965), Tự điển Danh nhân thế giới cần biết, Nxb. Xuân Trinh - Sài Gòn. 524 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự điển Danh nhân thế giới cần biết
Tác giả: Trịnh Chuyết
Nhà XB: Nxb. Xuân Trinh - Sài Gòn
Năm: 1965
18. Lê Dân (2002), Nghệ thuật làm phim Diễn viên và Kịch bản, Nxb. Trẻ.277 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật làm phim Diễn viên và Kịch bản
Tác giả: Lê Dân
Nhà XB: Nxb. Trẻ
Năm: 2002
19. Nguyễn Văn Dân (2006), Văn hóa và phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa, Nxb. Khoa học Xã hội. 279 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
Năm: 2006
216. Anh Đức phỏng vấn ( 2009), “Bùi Thạc Chuyên: Việt Nam chưa thật sự có khán giả điện ảnh”. đăng trên đc:www.baodatviet.vn, tháng 11/2009 Link
217. Phan Bích Hà: “Điện ảnh, truyền hình Việt Nam hòa vào dòng chảy hội nhập”. đc:http://vhnt.org.vn Link
224. David Nguyễn - LD ( 2012) “Điểm danh các Điệp Viên 007”, Mực Tím – Online Thứ sáu, ngày 02.11. 2012 Link
225. đc :http//www.hcmussh.edu.vn/3cm?cmd=180&art=131803887391 226. đc:http://vniff.com/, website chính thức của LHP.VN Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3: Sinh viên xem phim tại rạp chia theo tình trạng đi học thêm và đi làm - Ảnh hưởng của phim truyện việt nam đối với sinh viên thành phố hồ chí minh (trường hợp sinh viên trường đại học khoa học xã hội và nhân văn, đại học quốc gia tp  hồ chí minh)
Bảng 3 Sinh viên xem phim tại rạp chia theo tình trạng đi học thêm và đi làm (Trang 86)
Bảng 6: Sinh viên xem phim truyện trên TV, theo ngành học, giới tính, năm học - Ảnh hưởng của phim truyện việt nam đối với sinh viên thành phố hồ chí minh (trường hợp sinh viên trường đại học khoa học xã hội và nhân văn, đại học quốc gia tp  hồ chí minh)
Bảng 6 Sinh viên xem phim truyện trên TV, theo ngành học, giới tính, năm học (Trang 90)
Bảng 8: Kết quả k iểm định Chi-quare về mức độ xem phim trên internet - Ảnh hưởng của phim truyện việt nam đối với sinh viên thành phố hồ chí minh (trường hợp sinh viên trường đại học khoa học xã hội và nhân văn, đại học quốc gia tp  hồ chí minh)
Bảng 8 Kết quả k iểm định Chi-quare về mức độ xem phim trên internet (Trang 93)
Bảng 9: Mục đích xem của SV phim chia theo giới tính, ngành học,  năm học - Ảnh hưởng của phim truyện việt nam đối với sinh viên thành phố hồ chí minh (trường hợp sinh viên trường đại học khoa học xã hội và nhân văn, đại học quốc gia tp  hồ chí minh)
Bảng 9 Mục đích xem của SV phim chia theo giới tính, ngành học, năm học (Trang 95)
Bảng 10: Bạn thường xem phim do nước nào sản xuất? Chia theo giới tính, - Ảnh hưởng của phim truyện việt nam đối với sinh viên thành phố hồ chí minh (trường hợp sinh viên trường đại học khoa học xã hội và nhân văn, đại học quốc gia tp  hồ chí minh)
Bảng 10 Bạn thường xem phim do nước nào sản xuất? Chia theo giới tính, (Trang 96)
Bảng 11: Bạn thích xem phim nước nào? Theo giới tính, ngành học, năm học - Ảnh hưởng của phim truyện việt nam đối với sinh viên thành phố hồ chí minh (trường hợp sinh viên trường đại học khoa học xã hội và nhân văn, đại học quốc gia tp  hồ chí minh)
Bảng 11 Bạn thích xem phim nước nào? Theo giới tính, ngành học, năm học (Trang 97)
Bảng 12: Yếu tố quan tâm trong phim?Theo giới tính, ngành học, năm học - Ảnh hưởng của phim truyện việt nam đối với sinh viên thành phố hồ chí minh (trường hợp sinh viên trường đại học khoa học xã hội và nhân văn, đại học quốc gia tp  hồ chí minh)
Bảng 12 Yếu tố quan tâm trong phim?Theo giới tính, ngành học, năm học (Trang 101)
Bảng 17: Nhận xét về phim bạo lực Việt Nam – Khảo sát theo tuổi và giới tính - Ảnh hưởng của phim truyện việt nam đối với sinh viên thành phố hồ chí minh (trường hợp sinh viên trường đại học khoa học xã hội và nhân văn, đại học quốc gia tp  hồ chí minh)
Bảng 17 Nhận xét về phim bạo lực Việt Nam – Khảo sát theo tuổi và giới tính (Trang 109)
Bảng 18: Khán giả thường làm theo điều  gì mà diễn  viên diễn trong phim? - Ảnh hưởng của phim truyện việt nam đối với sinh viên thành phố hồ chí minh (trường hợp sinh viên trường đại học khoa học xã hội và nhân văn, đại học quốc gia tp  hồ chí minh)
Bảng 18 Khán giả thường làm theo điều gì mà diễn viên diễn trong phim? (Trang 112)
Bảng 19: Tái hiện hành vi - thái độ, nhƣ trong phim vào đời sống hàng ngày? - Ảnh hưởng của phim truyện việt nam đối với sinh viên thành phố hồ chí minh (trường hợp sinh viên trường đại học khoa học xã hội và nhân văn, đại học quốc gia tp  hồ chí minh)
Bảng 19 Tái hiện hành vi - thái độ, nhƣ trong phim vào đời sống hàng ngày? (Trang 113)
Bảng 20: Bạn có mong điều gì cho mình nhƣ trong phim?- Khảo sát theo giới - Ảnh hưởng của phim truyện việt nam đối với sinh viên thành phố hồ chí minh (trường hợp sinh viên trường đại học khoa học xã hội và nhân văn, đại học quốc gia tp  hồ chí minh)
Bảng 20 Bạn có mong điều gì cho mình nhƣ trong phim?- Khảo sát theo giới (Trang 115)
Bảng 21: Bạn mong muốn gì về thị trường phim Việt Nam? – Khảo sát theo - Ảnh hưởng của phim truyện việt nam đối với sinh viên thành phố hồ chí minh (trường hợp sinh viên trường đại học khoa học xã hội và nhân văn, đại học quốc gia tp  hồ chí minh)
Bảng 21 Bạn mong muốn gì về thị trường phim Việt Nam? – Khảo sát theo (Trang 117)
Bảng 22: Bạn muốn học hỏi điều gì từ phim Mỹ chia theo giới tính, ngành học - Ảnh hưởng của phim truyện việt nam đối với sinh viên thành phố hồ chí minh (trường hợp sinh viên trường đại học khoa học xã hội và nhân văn, đại học quốc gia tp  hồ chí minh)
Bảng 22 Bạn muốn học hỏi điều gì từ phim Mỹ chia theo giới tính, ngành học (Trang 118)
Bảng 23: Bạn mong muốn học tập điều gì từ phim Hàn Quốc? - Ảnh hưởng của phim truyện việt nam đối với sinh viên thành phố hồ chí minh (trường hợp sinh viên trường đại học khoa học xã hội và nhân văn, đại học quốc gia tp  hồ chí minh)
Bảng 23 Bạn mong muốn học tập điều gì từ phim Hàn Quốc? (Trang 120)
Bảng 28: Tỷ lệ các loại thông tin trong các bản tin thời sự trên truyền hình và - Ảnh hưởng của phim truyện việt nam đối với sinh viên thành phố hồ chí minh (trường hợp sinh viên trường đại học khoa học xã hội và nhân văn, đại học quốc gia tp  hồ chí minh)
Bảng 28 Tỷ lệ các loại thông tin trong các bản tin thời sự trên truyền hình và (Trang 134)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w