1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài tập nhóm môn quản trị sản xuất và điều hành

29 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài tập nhóm môn quản trị sản xuất và điều hành
Người hướng dẫn PGS.TS Hồ Tiến Tiến
Trường học Trường Đại Học Công Nghiệp Thực Phẩm Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Quản trị sản xuất và điều hành
Thể loại Bài tập nhóm
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 671,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT CHUNG VỀ ĐỘ TIN CẬY VÀ BẢO TRÌ 1.1 ĐỘ TIN CẬY 1.1.1 Phương pháp xác định độ tin cậy của toàn hệ thống Hệ thống điều hành sản xuất bao gồm một chuỗi các thành phần có mốì quan hệ riêng biệt nhau, cho mỗi thành phần thực hiện một công việc cụ thể. Nếu có bất kỳ một trong các thành phần bị hỏng với bất kỳ lý do gì thì toàn bộ hệ thống có thể hỏng theo, ví dụ như một động cơ ô tô hoặc một dây chuyền xay xát. Các sự cố hư hỏng xảy ra có liên quan đến độ tin cậy. Theo tính toán cho thấy rằng một hệ thống có n=50 bộ phận liên quan nhau và mỗi một bộ phận có độ tin cậy 99,5%, thì toàn bộ hệ thông đó sẽ có độ tin cậy là 78%. Nếu một hệ thống hoặc máy móc có 100 bộ phận liên quan nhau và mỗi một bộ phận có độ tin cậy 99,5% thì toàn bộ hệ thống hoặc máy móc đó có độ tin cậy là chỉ khoảng 60%. Mối quan hệ này được biểu diễn qua biểu đồ sau đây:

Trang 1

CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT CHUNG VỀ ĐỘ TIN CẬY VÀ BẢO TRÌ

1.1 ĐỘ TIN CẬY

1.1.1 Phương pháp xác định độ tin cậy của toàn hệ thống

Hệ thống điều hành sản xuất bao gồm một chuỗi các thành phần có mốì quan hệ riêngbiệt nhau, cho mỗi thành phần thực hiện một công việc cụ thể Nếu có bất kỳ một trongcác thành phần bị hỏng với bất kỳ lý do gì thì toàn bộ hệ thống có thể hỏng theo, ví dụnhư một động cơ ô tô hoặc một dây chuyền xay xát

Các sự cố hư hỏng xảy ra có liên quan đến độ tin cậy Theo tính toán cho thấy rằngmột hệ thống có n=50 bộ phận liên quan nhau và mỗi một bộ phận có độ tin cậy 99,5%,thì toàn bộ hệ thông đó sẽ có độ tin cậy là 78% Nếu một hệ thống hoặc máy móc có 100

bộ phận liên quan nhau và mỗi một bộ phận có độ tin cậy 99,5% thì toàn bộ hệ thốnghoặc máy móc đó có độ tin cậy là chỉ khoảng 60%

Mối quan hệ này được biểu diễn qua biểu đồ sau đây:

Biểu đồ 1.1: Độ tin cậy của toàn hệ thống là tổng hợp chức năng của số lượng các thành

Trang 2

phần và độ tin cậy cấu thành của các thành phần trong dây chuỵền .

Cũng từ biểu đồ 1.1 chúng ta cũng nhận thấy rằng nếu con số các bộ phận trong mộtchuỗi càng nhiều (như được biểu hiện qua các đường cong có tên n=50, n=100, n=200 )thì sự tin cậy của toàn bộ hệ thống sẽ giảm xuống rất nhanh (như được chứng minh bởithước đo trên trục thẳng đứng)

Để đo lường sự tin cậy của hệ thống trong từng bộ phận hoặc thành phần riêng biệt có

tỷ lệ tin cậy duy nhất của chính nó, chúng ta không thể sử dụng đường cong sự tin cậy.Phương pháp tính toán độ tin cậy của hệ thống (Rs) bao gồm tích số của các độ tin cậyriêng là như sau:

RS= R1 X R2 X R3 X X Rn

Trong đó: R1 là độ tin cậy của thành phần 1

R2 là độ tin cậy của thành phần 2

Phương trình này cho thấy độ tin cậy của một bộ phận riêng lẻ không phụ thuộc vào

độ tin cậy của các bộ phận khác (có nghĩa là các bộ phận này độc lập nhau) Thêm vào

đó, trong phương trình này như trong hầu hết các yếu tố đều liên quan đến độ tin cậy, các

độ tin cậy được thể hiện như các xác suất xảy ra Độ tin cậy A 90 có nghĩa là đơn vị này

sẽ hoạt động dự kiến là 90% thời gian Nó cũng nghĩa là sẽ có độ hư hỏng là 1 - 0,90 =0,10 tức 10% thời gian

Chúng ta có thể sử dụng công thức này để đánh giá độ tin cậy của một sản phẩm, như

ví dụ 1 như sau:

Ví dụ 1: Một Công ty sản xuất công tắc phản hồi điện tử gồm có 3 thành phần được cài

đặt trong dây chuyền như sau:

Trang 3

viên thiết kế máy phải có trách nhiệm thực hiện Tuy nhiên, nhân viên mua hàng có thểcải thiện các thành phần của hệ thống bằng thay thế hàng cùng loại từ sản phẩm của cácnhà cung cấp và kết quả của nghiên cứu Nhân viên mua hàng cũng có thể góp phần trựctiếp vào việc thẩm định hiệu suất của nhà cung cấp.

Đơn vị đo lường cơ bản đối với sự tin cậy là tỷ lệ hư hỏng sản phẩm Các doanhnghiệp sản xuất trang thiết bị công nghiệp cao thường cung cấp các dữ liệu tỷ lệ hư hỏngcho sản phẩm của họ

Tỷ lệ hư hỏng là tỷ lệ phần trăm giữa lượng sản phẩm hư hỏng với tổng số sản phẩmđược thử nghiệm FR (%) hoặc số lượng hư hỏng trong suốt chu kỳ thời gian FR(N):

FR (%) = Số lượng hư hỏng x 100%

Số lượng sản phẩm được kiểm tra

FR (N) = Số lượng hư hỏng

Số lượng của giờ hoạt động

Điều kiện thông thường nhất trong phân tích sự tin cậy là thời gian trung bình giữacác hư hỏng (MTBF), chỉ tiêu này tỷ lệ nghịch với FR(N):

MTBF = 1 FR(N)

Trong ví dụ 1 chúng ta tính toán tỷ lệ phần trăm hư hỏng FR(%), số lượng hư hỏngFR(N) và thời gian trung bình giữa các hư hỏng (MTBF)

Ví dụ 2: 20 hệ thống thiết bị của một công ty có thời gian hoạt động khoảng 1.000

giờ Hai trong các hệ thống này bị hư hỏng trong quá trình kiểm tra, trong đó một cái bịhỏng sau 200 giờ và một cái bị hỏng sau 600 giờ kiểm tra Ta tính toán được tỷ lệ hưhỏng như sau:

FR (%) = Số lượng hư hỏng = 2*100% /20 = 10%

Số lượng hư hỏng theo tỷ lệ giở hoạt động như sau:

FR (N) = S ố lượng hư hỏng

Trang 4

Trong đó:

Tổng thời gian là 1.000 giờ *20 hệ thống = 20.000 giờ

Thời gian không hoạt động là: 800 giờ của máy hỏng thứ nhất + 400 giờ của máy hỏngthứ 2 = 1.200 giờ

Nếu sau 60 ngày hoạt động, tỷ lệ hỏng là:

Tỷ lệ hỏng = (Số lượng hỏng/giờ đơn vị) * (24giờ/ngày) * (60 ngày)

= 0.00016 * 24 * 60 = 0.152 hư hỏng/ngày

1.1.2 Cung cấp dư thừa

Sự dư thừa sẽ được cung cấp nếu một bộ phận bị hỏng và hệ thống cần sự giúp đỡ tới

hệ thống khác Để tăng thêm sự tin cậy của các hệ thống, sự dư thừa ( “dự phòng” các bộphận) được thêm vào Chẳng hạn như khi nói độ tin cậy của một bộ phận là 0.8 và chúng

ta dự phòng với một bộ phận có độ tin cậy là 0.8 Khi đó, kết quả của sự tin cậy là khảnăng làm việc của bộ phận thứ nhất cộng với khả năng làm việc của bộ phận dự phòngnhân với khả năng cần thiết của bộ phận dự phòng (1- 0.8 = 2) Do vậy độ tin cậy củatoàn hệ thống là :

0.8 + 0.8 (1-0.8) = 0.96

Ví dụ 3: Điện tử Biên Hòa lo ngại về công tắc điện tử của họ chỉ có độ tin cậy là 0.713

(như ví dụ 1) Do vậy , Công ty quyết định cung cấp thêm tối thiểu hai bộ phận đáng tincậy Kết quả được thể hiện dưới đây:

R1 R2 R3

0.9 0.8

Nhóm th c hi n: Nhóm 2 Page 4

Trang 5

0.9 -> 0.8 -> 0.99 = ((0.9 + 0.9( 1 - 0.9)) * (0.8 + 0.8( 1- 0.8))*0.99

= (0.9+(0.9)(0.1)) * (0.8 + (0.8) (0.2)) * 0.99

= 0.99*0.96*0.99 = 0.94Nhờ sự cung cấp dư thêm 2 bộ phận, công ty đã tăng thêm được độ tin cậy của côngtắc từ 0.713 lên 0.94

1.2 BẢO TRÌ

Bảo trì được chia thành 2 loại là bảo trì phòng ngừa và bảo trì hư hỏng Bảo trì phòngngừa bao gồm thực hiện việc kiểm tra thường kỳ và bảo quản giữ các phương tiện còntốt Các hoạt động bảo trì phòng ngừa là dùng để xây dựng một hệ thống mà tìm ra đượccác hư hỏng tiềm năng và tạo những thay đổi hoặc sửa chữa để ngăn ngừa hư hỏng Sựbảo trì phòng ngừa càng nhiều thì giữ cho máy móc thiết bị hoạt động được liên tục Nócũng bao gồm việc thiết kế các hệ thống kỹ thuật và nhân sự mà giữ cho quá trình sảnxuất được hoạt động trong sự chấp nhận, nó chấp nhận hệ thống hoạt động Điều nhấnmạnh ở việc hiểu được quá trình và sự chấp nhận là làm việc không bị gián đoạn Bảo trì

sự hư hỏng là sửa chữa, nó xảy ra khi thiết bị hư hỏng và như vậy phải được sửa chữakhẩn cấp hoặc hoặc mức độ ưu tiên thiết yếu

1.2.1 Bảo trì phòng ngừa

Hiện nay tại các công ty, các bộ phận chính của một hệ thống bảo trì được vi tính hoá.Lịch sử trang thiết bị bảo trì là một bộ phận quan trọng của hệ thống bảo trì phòng ngừa,như là hồ sơ ghi lại thời gian và giá cả của sửa chữa

Bảo trì phòng ngừa nói lên rằng chúng ta có thể xác định được khi nào hệ thống cầnđược bảo dưỡng hoặc sẽ cần sửa chữa Do vậy, để thực hiện bảo trì phòng ngừa chúng taphải xác định được khi nào hệ thống yêu cầu cần được bảo dưỡng hoặc lúc chúng có thể

hư hỏng Sự hư hỏng xảy ra ở những tỷ lệ khác nhau trong suốt dòng đời sản phẩm, nó cóthể chấp nhận các phân bổ được thống kê khác nhau Một tỷ lệ hư hỏng cao, được biếtnhư là sự hư bỏ ngay từ đầu, tồn tại ngay từ đầu đối với nhiều sản phẩm (Các hư hỏngnày có thể phân phối bởi quy luật Poisson) Đây chính là lý do mà nhiều công ty điện tửvội vã ưu tiên việc gởi hàng của họ

Điều này nói lên rằng, nhiều công ty thực hiện việc kiểm tra đa dạng để tìm ra các

Trang 6

vấn đề ưu tiên bắt đầu việc gởi hàng Các công ty khác cung cấp 90 ngày bảo hành.Chúng ta nên ghi nhớ rằng nhiều hư bỏ ngay từ đầu không phải là hư hỏng của sản phẩm

mà là hư hỏng do sử dụng không đúng Sự thật này chỉ ra điều quan trọng của việc điềuhành xây dựng một hệ thống bảo trì bao gồm huấn luyện các sự lựa chọn nhân sự

Một khi sản phẩm, máy móc hoặc một qui trình ổn định, một nghiên cứu có thể được

từ phân bổ của thời gian bình quân giữa các hư hỏng (MTBF), các phân bổ này có thể làphân bổ bình thường hoặc xấp xỉ bình thường Khi các phân bổ này có độ lệch chuẩn thấp(nhìn điểm c trong hình 1), khi ấy chúng ta biết chúng ta có một ứng viên cho bảo trìphòng ngừa dù là việc bảo trì rât tốn kém

Hình 1: Thông thường khoảng cách trung bình giữa các lần hư hỏng phải nhỏ hơn độ lệch chuẩn đối với bảo trì phòng ngừa để tiết kiệm

Một khi chúng ta có ứng viên cho bảo trì phòng ngừa, chúng ta muốn xác định khinào bảo trì phòng ngừa là tiết kiệm Có tính đặc thù rằng, càng đắt tiền bảo trì thì mứcphân bổ của thời gian bình quân giữa các hư hỏng càng thấp Hơn nữa, nếu qui trình sửachữa khi máy móc bị hư hỏng không tốn kém hơn bảo trì phòng ngừa thì có lẽ chúng ta

sẽ để qui trình hư hỏng rồi mới sửa chữa Tuy nhiên, hậu quả của việc hư hỏng cần phảiđược xem xét đầy đủ, những hư hỏng phụ có liên quan có các hậu quả tồi tệ Tóm lại, chiphí bảo trì phòng ngừa có thể là rất bất ngờ mà bảo trì phòng ngừa là hợp lý dù rằng mứcNhóm th c hi n: Nhóm 2 Page 6

Trang 7

phân bổ bằng phẳng hơn (đó là nó có độ lệch chuẩn lớn) Trong mọi tình huống, mỗingười điều hành máy móc phải hiểu được trách nhiệm của việc kiểm tra máy móc dụngcụ.

Một sự thay đổi về các dụng cụ hiện có cũng giúp đỡ trong việc xác định khi nào mộtqui trình nên được bảo trì Chẳng hạn như nhiều động cơ máy bay có một cảm biến màchỉ cho biết rằng sự hiện diện của các kim loại trong việc bôi trơn bằng dầu nhớt Cáicảm biến này chỉ định rằng sự hao mòn khác thường và cần bảo trì phòng ngừa trước khi

nó bị hỏng (đó là một ý tưởng tốt, đặc biệt là máy bay) Một sự thay đổi của các bộ phậnkhác, từ cảm biến rung động tới việc ghi nhiệt bằng tia hồng ngoại là có giá trị trong việcgiúp xác định các yêu cầu về bảo trì phòng ngừa Ngoài ra, với những báo cáo về kỹ thuậtcác công ty có thể bảo dưỡng các hồ sơ của các quy trình, máy móc hoặc thiết bị riêng lẻ.Các hồ sơ như thế này có thể cung cấp hai thông tin về yêu cầu bảo trì và thời gian cầnthiết của bảo trì Chúng cũng có thể góp phần cung cấp các thông tin tương tự về giả địnhcủa trang thiết bị Miêu tả về cách nào một công ty trang trọng hóa hệ thống bảo trì phòngngừa của họ được thể hiện trong ví dụ 4 dưới đây:

Ví dụ 4:

Panasonic quan tâm đến việc phát triển một phương pháp chỉ dẫn bảo trì phòngngừa có hiệu quả cho các sản phẩm được kiểm tra của họ Để làm điều này, họ phải thiếtlập một hệ thống trong đó phòng thí nghiệm các chuẩn mực của họ bắt đầu các ghi chépmới cho mỗi mẫu trang thiết bị được kiểm tra Trong chu trình định trước đối với mỗimẫu trang thiết bị kiểm tra có 4 bước sau:

1 Một thông báo được gởi tới các phòng ban liên quan để thiết bị cần được quaylại bảo trì

2 Ngay sau khi nhận được thông báo này, phòng ban có liên quan sẽ quay lại cácthiết bị được kiểm tra với thông báo tới phòng thí nghiệm các chuẩn mực để hiệu chuẩntrở lại

3 Tại phòng thí nghiệm các chuẩn mực thực hiện việc kiểm tra cần thiết, tái chuẩnmực và bảo trì phòng ngừa và trả các trang thiết bị lại cho các phòng ban liên quan

4 Phòng thí nghiệm các chuẩn mực cập nhật các thông tin, trong đó ghi lại ngày,

Trang 8

mức độ tái chuẩn mực và hình thức bảo trì phòng ngừa.

Nếu bộ phận đo lường các chuẩn mực ghi lại trang thiết bị đã vượt khỏi các đặcđiểm kỹ thuật thì vòng tròn chu kỳ thời gian được phép là một tháng Mặt khác, nếu táichuẩn mực trang thiết bị còn trong các đặc điểm kỹ thuật thì chu kỳ bảo trì được kéo dàimột tuần nhưng tối đa chỉ một năm Tất cả các hồ sơ này xem xét định kỳ, và các mẫutrang thiết bị được kiểm tra này với sự đo lường chuẩn mực quay vòng một độ lệch chuẩnngắn hơn Thiết bị được kiểm tra riêng biệt và được hoặc đại tu hoặc thanh lý

Các thống kê được tính toán định kỳ để xác định độ lệch chuẩn là độ lệch trungbình cho các họ hàng sản phẩm khác nhau, do vậy việc thực hiện của các nhà cung cấp,chất lượng bảo trì và các tiêu chuẩn cho trang thiết bị mới có thể được thiết lập

Ví dụ này chỉ ra sự quan trọng của công việc điều hành chức năng bảo trì Cácnhân viên bảo trì nên thiết kế các hệ thống để ngăn chặn sự gián đoạn và thay đổi trongqui trình sản xuất

Hình 2.2 cho thấy được mối quan hệ giữa bảo trì phòng ngừa và bảo trì hư hỏng.Các nhà điều hành hoạt động cần xem xét cán cân thanh toán giữa hai chi phí này Việcchỉ định nhiều tiền và nhân lực vào bảo trì phòng ngừa sẽ giảm được số lượng hư hỏng.Nhưng ở vài điểm nào đó, việc giảm chi phí bảo trì hư hỏng sẽ ít hơn trong việc tăng chiphí bảo trì phòng ngừa, và tổng đường cong chi phí sẽ hướng lên Xung quanh điểm tối

ưu này, công ty sẽ chờ đợi xảy ra hư hỏng rồi mới sửa chữa chúng

Nhóm th c hi n: Nhóm 2 Page 8

Trang 9

Hình 2: Chi phí bảo trì

Sự phân tích này là ở chỗ chi phí toàn bộ cho hư hỏng hiếm khi được xem đến.Nhiều chi phí được bỏ qua do chúng không có liên quan trực tiếp đến việc hư hỏng trướcmắt Điều đó không làm giảm giá trị của thiết bị Ví dụ, chi phí được duy trì để bồithường cho thời gian chết của máy móc không được xem xét như đặc thù; hoặc cũngkhông phải do tác động của việc hạn chế thời gian chết của máy móc mà có thể ảnhhưởng đến chi phí, vì người lao động tin tưởng rằng việc thực hiện các tiêu chuẩn và bảotrì trang thiết bị là không quan trọng

Tất cả các chi phí kết hợp với thời gian chết của máy móc đã được xác định, nhânviên kế hoạch có thể tính toán được mức tối ưu của các hoạt động bảo trì trên cơ sở lýthuyết Và việc phân tích này yêu cầu dữ liệu thống kê xác thực về chi phí bảo trì, cáckhả năng hư hỏng và số lần sửa chữa

Ví dụ 5 dưới đây chỉ ra được làm so sánh chi phí bảo trì hư hỏng và bảo trì phòngngừa để lựa chọn chính sách bảo trì tốn kém nhất

Ví dụ 5:

Một công ty HỮU NGHỊ (HN) chuyên về soạn bảng tính lương.Các kế toán viên đã thành công việc tự động rất nhiều trong côngviệc của họ khi sử dụng máy tính của công ty TÂN TÂN cho việc xử

lý và soạn thảo báo cáo Tuy nhiên, phép gần đúng trong vi tính

Tổng chi phí

Chi phí bảo trì phòng ngừa

Chi phí bảo trì khi hư hỏng

Cam kết bảo trì

Điểm tối ưu (chính sách bảo trì với chi phí thấp

Trang 10

hoá có vấn đề Hơn 20 tháng trôi qua, hệ thống vi tính hư hỏngnhư được thể hiện dưới đây:

0123

4862

Mỗi lần máy tính bị hư hỏng, ước tính rằng công ty HN mất trung bình 300.000đồng về phí tổn dịch vụ một lựa chọn cho công ty là chấp nhận lời đề nghị của TÂNTÂN để hợp đồng bảo trì phòng ngừa nếu họ chấp nhận bảo trì phòng ngừa, họ mongchờ mức trung bình là chỉ có một máy hư hỏng trong mỗi tháng Mức chi phí mà TÂNTÂN thu cho dịch vụ này là 220.000 đồng/tháng Chúng ta sẽ theo 4 bước tiếp xúc để trảlời câu hỏi công ty HN có nên hợp đồng với TÂN TÂN để bảo trì phòng ngừa hay không

Bước 1: Tính toán số lượng hư hỏng kỳ vọng (căn cứ vào lịch sử quá khứ), nếu

công ty tiếp tục duy trì được như vậy thì sẽ không cần hợp đồng bảo trì

Bước 2: Tính toán chi phí hư hỏng kỳ vọng cho mỗi tháng khi không có hợp đồng

bảo trì phòng ngừa

Bước 3: Tính toán chi phí bảo trì phòng ngừa.

Bước 4: So sánh hai lựa chọn và chọn một cách mà có chi phí thấp hơn.

Theo các bước trên có thể tính được:

Bước 1:

Số lượng

hư hỏng

Tần số xuất hiện

Số lượng

hư hỏng

Tần số xuất hiện0

1

4/20=0,28/20=0,4

23

6/20=0,32/20=0,1

Nhóm th c hi n: Nhóm 2 Page10

Trang 11

= (0)(0,2) + (1)(0,4) + (2)(0,3) + (3)(0,1) = 0 + 0,4 + 0,6 + 0,3

= 1,3 hư hỏng / tháng

Bước 2:

= (1,3)(300.000) = 390.000 đồng/ tháng

Bước 3:

= (1 hư hỏng/tháng)(300.000) + 220.000/tháng = 520.000 đồng / tháng

Bước 4:

Chi phí từ việc hư hỏng không có hợp đồng bảo trì thấp hơn chi phí có hợp đồngbảo trì, do vậy công ty nên tiếp tục duy trì chính sách không có hợp đồng bảo trì

Bảo trì phòng ngừa thường là vấn đề kiểm tra để loại bỏ nhóm máy móc hay toàn

bộ phương tiện hơn là hoạt động liên tục cho đến khi nó bị hỏng Ví dụ 6 bên dưới liênquan đến việc xác định chính sách bảo trì Chúng ta nên sửa chữa trang thiết bị khi nó đã

hư hay chúng ta nên chấp nhận chính sách kiểm tra định kỳ hàng tuần, hàng tháng, hanghai tháng hoặc các chu kỳ khác?

Ví dụ 6:

Công ty LIKSIN có năm máy sấy giấy mà có khuynh hướng hư hỏng từngthời điểm Phòng dịch vụ của phân xưởng đồng ý tu bổ năm máy sấy

Trang 12

này với mức chi phí bảo trì phòng ngừa cơ bản là 100.000 đồng chomỗi lần Nếu một máy sấy bị hư hỏng thì tổn thất trung bình vềsản xuất và sửa chữa là 250.000 đồng Số liệu cho thấy các khảnăng hư hỏng sau khi bảo trì như sau:

Số lượng tháng sau khi tu bổ cho đến khi

hư hỏng

Khả năng hư hỏng

1234

0,20,10,30,4

Qua bảng trên, chúng ta có thể thấy rằng khả năng hư hỏng cao sau 1 tháng hơn là

2 tháng

Việc điều hành phải đối mặt với những câu hỏi này là có chấp nhận chính sách bảotrì phòng ngừa hay không Và nếu chấp nhận, bao lâu máy sấy này được bảo trì một lần?bước đầu tiên là tính toán mức chi phí cho sửa chữa khi hư hỏng là bao nhiêu Việc tínhtoán này căn cứ vào độ dài thời gian kỳ vọng máy sấy này có thể hoạt động mà không cần

Ta có số lần hư hỏng kỳ vọng (Bn) sẽ xuất hiện trong suốt khoảng thời gian giữa cácNhóm th c hi n: Nhóm 2 Page12

Trang 13

lần tu bổ là nhìn thấy phức tạp hơn Phương trình đó là:

Bn = N Zpn + B(n-l)p1 + B(n-2)p2 + B(n-3)p3 + + B1p(n-1)

Trong đó:

n: là số lượng tháng (hoặc chu kỳ thời gian) giữa các lần bảo trì;

N: là số lượng máy móc hoặc bộ phận trang thiết bị trong nhóm;

pn: Xác suất hư hỏng máy móc xảy ra trong tháng thứ n sau khi bảo trì (ví dụ nếu bảo trì

đã được thực hiện cho máy 3 trong chu kỳ 3 thì p1 là xác suất các máy tương tự sẽ hưhỏng trong chu kỳ 4, p2 là xác suât nó sẽ hư hỏng trong chu kỳ 5 )

- Theo chính sách tu bổ mỗi tháng một lần:

Số lượng hư hỏng kỳ vọng của bảo trì phòng ngừa hàng tháng được cho là: B1 = Np1=5(0,2) = 1 Theo đó, tổng chi phí của chính sách này là:

Tổng chi phí = Chi phí bảo trì phòng ngừa + Chi phí hư hỏng

= 100.000 + (số lượng hư hỏng kỳ vọng X chí phí mỗi lần hư hỏng)

B2 = N(p1 + P2) + B1 p1 = 5(0,2 + 0,1) + 1(0,2) = 1,5 + 0,2 = 1,7

Số lượng hư hỏng trung bình của mỗi tháng là 1,7/2 = 0,85 Do chí phí bảo trì phòngngừa 100.000 đ bây giờ được kéo dài trong 2 tháng nên chi phí tu bổ của mỗi tháng là50.000 đ

Tổng chi phí = 50.000 + (0,85 lần hư hỏng)(250.00/lần hư hỏng)

= 262.500 đ/tháng

Trang 14

- Theo chính sách tu bổ ba tháng một lần:

B3 = N(p1+ p2 + p3) + B2p1+B1p2

= 5(0,2 + 0,1 + 0,3) + (1,7)(0,2) + (1)(0,1) = 3 + 0,34 + 0,1 =3,44

Tông chi phí = Chi phí phòng ngừa/số tháng + Số lần hư hỏng trung bình mỗi tháng x

Chi phí mỗi hư hỏng

= (100.000/3) + (3,44/3)(250.000) = 33.330 + 285.000 = 318.330 đồng

- Theo chính sách tu bổ bốn tháng một lần:

B4 = N(p1 + p2 + p3 + p4) + B3p1 + B2p2 + B1p3

= 5(0,2 + 0,1 + 0,3 + 0,4) + (3,44)(0,2) + (1,7)(0,1) + (1 )(0,3)A3 = 5 + 0,688 + 0,17 + 0,3 = 6,158

Tổng chi phí = Chi phí bảo trì phòng ngừa trung bình + Chi phí các hư hỏng kỳ vọng

= (100.000/4) + (6,158/4X250.000) = 25.000 + $384.880 = 409.880 đồngTheo bảng sắp xếp dưới đây, ta có bốn chính sách như sau:

Tu bổ mỗi n

tháng một lần

Tổng hư hỏng kỳ vọng trong

n tháng

Số hư hỏng kỳ vọng trong n tháng

Chi phí hư hỏng kỳ vọng mỗi tháng (1.000 đồng)

Chi phí bảo trì phòng ngừa mỗi tháng (1.000 đồng)

Tổng chi phí

kỳ vọng mỗi tháng (1.000 đồng)

Tóm lại, bảo trì phòng ngừa thích hợp khi:

- Ít có biến động trong thời gian hư hỏng, chúng ta biết được khi nào cần bảo trì

- Có một hệ thống khả năng cung cấp dư thừa khi có đề xuất cần bảo trì

Nhóm th c hi n: Nhóm 2 Page14

Ngày đăng: 21/07/2023, 09:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w