Lịch sử vấn đề
Dân tộc Việt Nam, với lịch sử ngàn năm dựng nước và giữ nước, đã tạo ra một kho tàng văn học dân gian phong phú, trong đó ca dao dân ca chiếm một tỉ lệ lớn Thể loại này không chỉ có giá trị sâu sắc về nội dung và nghệ thuật mà còn thể hiện tiếng nói tình cảm và đời sống tâm hồn của người dân Do đó, ca dao dân ca đã được sưu tầm và nghiên cứu từ rất sớm, với nhiều công trình khoa học công phu và hệ thống.
Trước Cách mạng tháng Tám, đã có nhiều công trình sưu tầm ca dao dân ca Việt Nam, tiêu biểu như cuốn "Nam phong giải trào" của Trần Danh Án và Ngô Đình Thái, cùng với "Tục ngữ phong dao" của Nguyễn Văn Ngọc, tập hợp 6.500 câu tục ngữ và hơn 850 bài ca dao, góp phần bảo tồn văn học dân gian Sau Cách mạng tháng Tám, công trình "Tục ngữ ca dao dân ca" của Vũ Ngọc Phan, xuất bản lần đầu năm 1956, đã tái bản nhiều lần và thu thập nhiều câu ca dao của các dân tộc Việt Nam Nhiều tập ca dao dân ca từ các vùng miền như Dân ca quan họ Bắc Ninh, Hát Xoan Phú Thọ, và Dân ca Nam Trung Bộ cũng đã được công bố và xuất bản.
So với các công trình sưu tầm và nghiên cứu ca dao dân ca của người Việt, số lượng các công trình nghiên cứu dân ca của các dân tộc thiểu số, đặc biệt là dân ca của người Tày, vẫn còn khá hạn chế Tuy nhiên, đã có một số công trình đáng chú ý về dân ca của các dân tộc thiểu số như Dân ca Mường, Dân ca Mèo, và Dân ca Thái được giới thiệu và nghiên cứu.
Trong những thập kỷ gần đây, công tác sưu tầm và nghiên cứu văn học dân gian của các dân tộc thiểu số đã nhận được sự quan tâm đáng kể, dẫn đến việc xuất hiện nhiều công trình sưu tập, chuyên luận và bài viết Đặc biệt, văn học dân gian Tày đã có nhiều nghiên cứu và sưu tập được công bố.
Các công trình nghiên cứu của nhà nghiên cứu Vi Hồng về ca dao – dân ca Tày Nùng, đặc biệt là tác phẩm "Sli lượn dân ca trữ tình Tày, Nùng" (Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1979), đã giới thiệu sâu sắc về đời sống văn hóa và tinh thần của hai dân tộc này Tác giả phân tích các làn điệu Sli, Lượn, hệ đề tài, nội dung tư tưởng và nghệ thuật xây dựng hình tượng, đồng thời nhấn mạnh vai trò quan trọng của Sli, Lượn trong đời sống tinh thần của người Tày - Nùng Những câu hát không chỉ giúp xoa dịu nỗi đau mà còn thể hiện tình yêu thương giữa bạn bè và đồng bào, tạo nên một không gian văn hóa phong phú Ngoài ra, tác phẩm "Dân ca đám cưới Tày – Nùng" của Nông Minh Châu cũng góp phần làm phong phú thêm kho tàng dân ca của hai dân tộc này.
Bài viết giới thiệu 100 bài hát đám cưới của dân tộc Tày – Nùng, đặc biệt là những nét đặc trưng của dân ca Tày – Nùng xứ Lạng do Lộc Bích Kiệm nghiên cứu Ngoài ra, tác phẩm "Rọi" của Trương Lạc Dương, Nông Đình Tuấn và Võ Quang Nhơn, được biên soạn và xuất bản bởi Nxb Văn hóa Dân tộc vào năm 1970, cũng là một nguồn tư liệu quý giá về dân ca Tày – Nùng.
Trong những năm gần đây, nhiều nghiên cứu và luận văn khoa học đã được thực hiện để tìm hiểu và giới thiệu về dân ca Tày Một trong những công trình tiêu biểu là luận văn "Yếu tố tự sự trong dân ca Tày" của Vũ Ánh Tuyết tại Đại học Thái Nguyên.
Luận văn năm 2008 đã hệ thống hóa các dạng thức biểu hiện và vai trò của yếu tố tự sự trong dân ca Tày, nhấn mạnh rằng yếu tố tự sự là phương tiện hiệu quả để phản ánh hiện thực và kể lại những câu chuyện tình cảm Yếu tố này cũng góp phần cá thể hóa nhân vật trữ tình Ngoài ra, luận văn của Đỗ Vân Nga tại Đại học khảo sát ý nghĩa hình ảnh trong ca dao và dân ca Tày, Nùng, cung cấp cái nhìn sâu sắc về văn hóa dân gian.
Luận văn năm 2013 đã khảo sát và phân loại hình ảnh trong ca dao - dân ca Tày, Nùng thành ba nhóm: hình ảnh thiên nhiên, vật dụng trong sinh hoạt và hình ảnh con người Nghiên cứu này làm rõ ý nghĩa xã hội và thẩm mỹ của các hình ảnh tiêu biểu, cho thấy sự quan tâm ngày càng tăng của các nhà nghiên cứu đối với dân ca các dân tộc thiểu số, đặc biệt là dân ca Tày Nhà thơ Hoàng Hạc đã giới thiệu khúc then Khảm Hải (Vượt biển) của người Tày tại Yên Bái, giúp tác phẩm trở nên nổi tiếng Hoàng Tương Lai cũng đã sưu tầm hơn 100 bài hát Quan làng trong đám cưới của người Tày, nhưng chưa có nghiên cứu nào về Cắm Nôm - dân ca Tày ở huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái, đặc biệt là nhân vật trữ tình trong Cắm Nôm Điều này thúc đẩy chúng tôi thực hiện đề tài “Nhân vật trữ tình trong Cắm Nôm – dân ca Tày, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái.”
Chúng tôi hy vọng rằng việc giới thiệu về Cắm Nôm sẽ góp phần quảng bá kho tàng văn học dân gian phong phú của người dân Tày tại địa phương này.
3 Đối tƣợng và mục tiêu nghiên cứu 3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các bài Cắm Nôm, một thể loại dân ca đặc trưng của người Tày tại Văn Chấn, Yên Bái Những bài dân ca này đã được tập hợp và sưu tầm tại địa phương, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống.
Đề tài nghiên cứu hệ thống nhân vật trữ tình trong Cắm Nôm, bao gồm nhân vật trữ tình nam, nhân vật trữ tình nữ và nhân vật trữ tình biểu tượng.
Đề tài này nghiên cứu các yếu tố quan trọng trong sinh hoạt Cắm Nôm, bao gồm diễn xướng Cắm Nôm, người trình diễn, hát Cắm Nôm và môi trường diễn xướng Cắm Nôm.
- Đi sâu tìm hiểu về nguồn tư liệu dân ca Cắm Nôm ở địa phương Văn Chấn - Yên Bái qua khảo sát, điền dã
Nghiên cứu nhân vật trữ tình trong dân ca Cắm Nôm của người Tày ở Văn Chấn giúp khám phá thế giới tâm hồn, ước mơ, tình cảm và nguyện vọng của họ, đồng thời phản ánh đời sống văn hóa tinh thần phong phú của cộng đồng này.
- Qua tìm hiểu, nghiên cứu, nhằm giới thiệu những giá trị của dân ca Cắm Nôm người Tày ở Văn Chấn – Yên Bái
4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu 4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
-Tìm hiểu những vấn đề lý luận và thực tế liên quan đến đề tài: (Tộc người Tày, Cắm Nôm Tày, văn hoá, xã hội Tày )
Khảo sát và phân tích Cắm Nôm Tày nhằm chỉ ra những đặc điểm nổi bật của nhân vật trữ tình trong thể loại dân ca Tày tại huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Thông qua việc thống kê và lý giải, bài viết sẽ làm rõ những yếu tố văn hóa và tâm tư của nhân vật, từ đó góp phần làm phong phú thêm hiểu biết về di sản văn hóa dân gian của người Tày.