TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Trên thế giới
1.1.1 Thực vật học và hình thái
Cronquist (1981)[23] phân chia họ Dầu (Dipterocarpaceae) thành 3 phân họ như sau:
Dipterocarpoideae Bumett là nhóm thực vật có mặt ở khu vực nhiệt đới Châu Á và Malaysia, nổi bật với đặc điểm bao phấn đính gốc (basifixed) Các loài trong nhóm này có lá đài cùng phát triển thành cánh và quả thường có 2 hoặc 3 ngăn, mỗi ngăn chứa 2 hạt.
Monotoideae là nhóm thực vật bao gồm các loài nhiệt đới từ châu Phi và Madagascar, đặc trưng bởi bao phấn lắc lư và lá đài phát triển kém, thường chỉ hình thành cánh một cách hiếm hoi Quả của chúng thường có 2 ngăn, thỉnh thoảng có 4 ngăn, với mỗi ngăn chứa từ 1 đến 2 noãn.
Pakaraimoideae là một họ thực vật đặc hữu của vùng cao Guayana, nằm trong khu vực nhiệt đới Nam Mỹ Họ này có mối quan hệ gần gũi với họ Phụ Monotoideae, nhưng điểm khác biệt là cánh hoa của Pakaraimoideae ngắn hơn lá đài Ngoài ra, hoa của chúng không có cuống và có cấu trúc lưỡng tính, với quả có từ 4 đến 5 ngăn và chứa từ 2 đến 4 noãn.
Một số nhà nghiên cứu hiện nay phân chia họ Dầu thành hai họ khác biệt: họ Dầu (Dipterocarpaceae BI) với 13 chi và khoảng 600 loài, và họ Monotaceae với 4 chi và khoảng 40 loài Theo Takhtajan (1997), họ Dầu được chia thành ba phân họ: Monotoideae (bao gồm Monotes và Maquesia), Pakaraimaeoideae (chứa Pakaraimaea) và Pseudomonotoideae (gồm Pseudomonotes).
Theo Curtet (1998), họ Dầu (Dipterocarpaceae) thuộc phân họ Dipterocarpoideae được coi là thuần nhất ở Châu Á, trong khi họ này còn có ba phân họ khác: Dipterocarpoideae ở Châu Á, Pakaraimaeoideae ở Nam Mỹ, và Monotoideae ở Châu Phi và Nam Mỹ.
Cây họ Dầu Châu Á, theo Ashton (1982) và Maury – Lecon cùng Curtet (1998), là loại cây có nhựa, kích thước từ nhỏ đến lớn, thường có bạnh vè Đặc điểm hình thái của cây bao gồm lá đơn mọc cách, với lá kèm phát triển bảo vệ chồi và lớp lông che phủ toàn bộ cây Hoa của cây có hình chùy với nhiều chùm, cánh hoa dài hơn lá đài và có lông tơ ở các mức độ khác nhau Đài hoa có 3 hoặc 5 lá đài lớn, tạo thành cánh quả bao quanh quả, thường xếp chồng lên nhau Bao phấn thường có hai túi phấn, hiếm khi có 4, trong khi buồng trứng có 3 (hoặc 2) ngăn, mỗi ngăn chứa 2 noãn.
De Candolle (1968) nhấn mạnh vai trò quan trọng của số nhị và vị trí của chúng trong cánh hoa để phân loại các chi họ Dầu Woon và Keng (1979) đã nghiên cứu hình thái nhị của 42 loài thuộc 13 chi cây họ Dầu châu Á, cho thấy rằng hình dáng và kích thước của phần phụ trong nhiều nhóm có đặc điểm rất riêng biệt, đóng vai trò quan trọng trong việc phân loại.
Tewary và Sarkar (1987) đã nghiên cứu giải phẫu biểu bì lá cây họ Dầu ở Ấn Độ và không phát hiện biến động có ý nghĩa nào về hình dạng và kích thước của các tế bào biểu bì, ngoại trừ các loại Dipterocarpus và Shorea Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng có các kiểu ống nhựa khác nhau trong các chi khác nhau và các loài cây họ Dầu ở Ấn Độ có giá trị phân loại ở mức chi Whitmore (1962, 1963) đã nghiên cứu hình thái của vỏ 130 loài cây họ Dầu và mô tả 7 kiểu vỏ, bao gồm: nhẵn, dippled, nứt nông, nứt sâu, có vảy, thối hỏng bề mặt và mỏng lớp.
Maury-lecon Curtet (1998) đã cung cấp thông tin chi tiết về phân loại họ Dầu, cho rằng có thể có từ 15 đến 19 chi với khoảng 470-480 loài ở châu Á và châu Phi, mặc dù số liệu này vẫn chưa chắc chắn Họ cũng đã đưa ra kết luận về các thay đổi liên quan đến họ Dầu.
+ Thiết lập các phân chi Shorea, Anthoshorea, Richetia, và Rubroshorea + Thiết lập 11 nhóm trong Shorea bao gồm cả chi Doona và Pentacme trước đây + Lập lại chi Vateriopsis
+ Phát hiện Pakaraimaea ở Nam Mỹ + Phát hiện ra loài Pseudomonotes tropenbosii trong phân họ Monotoidaea gần gũi với Monotes và Marquesia châu Phi
- Ashton (1979) đã đưa ra các tiêu chí cho việc xác định các nhóm phân loại trên loài đó là:
Có ít nhất một cặp tính trạng không có mối quan hệ chức năng nào với nhau.
Các tính trạng này cần phải chung cho mọi loài trong nhóm và cũng phản ánh sự gián đoạn về biến dị giữa các taxon Mục tiêu quan trọng nhất của phân loại là đạt được sự ổn định về tên gọi Kết hợp với kết quả của Maury-Lecon (1979), cây họ Dầu châu Á có thể được phân chia thành hai nhóm lớn dựa vào sắp xếp cơ bản của lá đài trên quả và số nhiễm sắc thể.
+ Nhóm Valvate-Dipterocarpi: Vateria, Vateriopsis, Stemonoporus, Vatica, Upuna, Anisoptera, Dipterocarpus với số lượng nhiễm sắc thể cơ bản n = 11
+ Nhóm Imbricate-Shoreae: Shorea, Parashorea, Hopea, Balanocarpus với số lượng nhiễm sắc thể cơ bản n = 7
* Nghiên cứu về nguồn gốc phát sinh:
Theo nghiên cứu của Roy và Jha (1965), các loài cây họ Dầu có hai số thể nhiễm sắc thể cơ bản: n với 2n như ở Dầu nước (Dipterocarpus alatus) và n=7 với 2n như Shorea sobusta, Shorea roxburghii (Sến mủ) và Hopea odorata (Sao đen) Nghiên cứu giải phẫu gỗ của Desch (1941) đã chỉ ra tông (Tribe) của các loài này.
Dipterocarpeae được coi là nguyên thủy hơn so với chi Shorea Nghiên cứu tế bào học đã chỉ ra rằng chi Dầu có nguồn gốc phát sinh chủng loài gần gũi với Magnoliales và Myrtales (FAO, 1985).
Nghiên cứu về AND đã chỉ ra rằng mọi nhóm phân loài thực vật có hạt đều được đại diện, trong đó có hai loài thực vật họ Dầu là Shorea stipularis và Shorea zeynanica Theo Chase et al (1993), họ Dầu có mối liên hệ gần gũi với bộ Malvales, bao gồm các họ Bombacaceae, Tiliaceae, Sterculiaceae và Malvaceae, nhưng không thuộc về bộ này.
Nghiên cứu của Tsumura et al (1993) đã phân chia các chi thành ba nhóm: nhóm cổ gồm Upuna, Cotylelobium và Vatica; nhóm trung gian bao gồm Dryobalanops và Dipterocarpus; và nhóm tiên tiến gồm Shorea, Hopea và Neobalannocarpus.
Ở Việt Nam
Tại Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu về họ Dầu, bao gồm "Báo cáo tổng quát về họ Dầu Việt Nam" của Thái Văn Trừng (1986), nghiên cứu về họ Dầu khu vực Lào, Campuchia và Việt Nam của Smitinand và Phạm Hoàng Hộ (1990), cùng với "Cây làm thuốc trong Họ Dầu của Việt Nam" của Võ Văn Chi (1985) Những công trình này chủ yếu tập trung vào việc mô tả và khám phá giá trị sử dụng của các loài trong họ Dầu tại Việt Nam.
- Trong cuốn Phân loại học thực vật bậc cao của tác giả Võ Văn Chi và Dương Đức Tiến,1977[8] : Họ Dầu (Dipterocarpaceae) thuộc Bộ chè – Phân lớp Sổ
Lớp Ngọc Lan bao gồm các loài cây trong họ Dầu, là những cây gỗ lớn chỉ phân bố tại vùng cổ nhiệt đới, đặc biệt là Đông Nam Á Đây là một trong ba họ cây đặc hữu của khu vực này, cùng với Dipterocarpaceae và Nephethaceae.
Trong thân cây có ống tiết nhựa dầu, lá mọc cách, đơn và lá kèm thường rụng sớm Hoa lưỡng tính, mẫu 5 với đế hoa có thể phẳng, lồi hoặc lõm Đài hoa gồm 5 lá đài, có thể rời hoặc dính ở phần dưới, trong khi phần trên tự do và một số mảnh lớn lên cùng quả tạo thành cánh Tràng hoa có 5 cánh, với bộ nhị từ 10-15 nhị (10 ở Hopea, 15 ở Pentacme, Vatica) hoặc nhiều hơn (20-35 ở Dipterocarpus Anisoptera và hơn nữa ở Shorea) Chỉ nhị có thể rời hoặc dính lại ở dưới, bầu trên 3 ô với mỗi ô chứa 2 noãn đảo, đôi khi dính với ống đài tạo thành bầu dưới Quả nang có cánh do lá đài lớn lên, với 2 cánh ở Dipterocarpus, Anisoptera, Hopea; 3 cánh ở Shorea, Vatica; và 5 cánh ở Parashorea.
Hạt thường không có nội nhũ, thùy hạt xoắn lại, ôm lấy rễ mầm 2n, 14,
Họ quả hai cánh có 22 chi và hơn 400 loài, chủ yếu phân bố trong rừng nhiệt đới Nam và Đông Nam châu Á, đặc biệt là ở rừng mưa Tại Việt Nam, các chi thường gặp bao gồm Dipterocarpus, Shorea, Hopea, Vatica, Parashorea và Anisoptera, trong đó chi Dipterocarpus chiếm ưu thế ở miền Nam Nhiều loài trong họ này cung cấp gỗ có giá trị và nhựa được sử dụng trong công nghiệp, trong khi các chi Vatica và Hopea chủ yếu phân bố ở miền Bắc.
- Theo cuốn 1900 loài cây có ích ở Việt Nam (1993)[18], họ Dầu ở Việt Nam có 7 chi, 40 loài như sau:
+) Chi Anisoptera 3 loài: Anisoptera costata Korth, Anisoptera glabra Kurz,
+) Chi Dipterocarpus 6 loài: Dipterocarpus alatus, Dipterocarpus dyeri, Dipterocarpus insularis Hance, Dipterocarpus intricatus, Dipterocarpus obtusifolius, Dipterocarpus punctulatus Pierre
+) Chi Hopea 4 loài : Hopea pierrei Hance, Hopea odorata Roxb, Hopea dealbata Hance, Hopea ferrea Pierre
+) Chi Parashorea 1 loài : Parashorea stallata +) Chi Pentacme 1 loài : Pentacme siamensis luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
+) Chi Shorea 6 loài : Shorea cochinchinensis, Shorea harmandii Pierre,
Shorea hypochrea Hance, Shorea obtusa, Shorea thorelli, Shorea vuglaris Pierre
+) Chi Vatica 4 loài : Vatica astrotricha, Vatica dyeri Pierre ex Laners,
Vatica fleuryana Tardieu, Vatica odorata
Nguyễn Tiến Bân (1997) trong cuốn “cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam” đã mô tả họ Dầu là cây gỗ với lá đơn mọc cách và có lá kèm sớm rụng Hoa của chúng đều, lưỡng tính, với 5 lá đài hợp ở gốc và ống đài thường dính với bầu Cánh hoa có 5 chiếc xếp vặn, nhị thường nhiều hoặc từ 10-15, đôi khi chỉ có 5, thường rời nhau Bộ nhụy gồm 3 lá noãn hợp thành bầu thượng 3 ô Đặc điểm nổi bật của họ này là quả khô không mở, nằm trong đài bền, với số cánh đồng trưởng từ 2, 3 đến 5 Hạt thường không có nội nhũ, lá mầm vặn và ôm lấy rễ mầm, phân bố chủ yếu ở miền rừng mưa nhiệt đới Tại Việt Nam, họ Dầu có 6 chi.
Dipterocarpus, Anisoptera, Shorea (Pentacme), Hopea, Vatica (Perissandra), Parashorea với trên 45 loài
Chi Pentacme với loài duy nhất ở Việt Nam là Pentacme siamensis (Cà chấc), nay đổi thành Shorea siamemsis Chi Perissandra thuộc họ Violaceae theo
Jacobs (1967), nay là tên đồng loại của Vatica Trong hệ thống Takhtajan 1987, họ Dầu được chuyển sang bộ Bông (Malvales)
Trong nghiên cứu "Cây cỏ Việt Nam" của Phạm Hoàng Hộ (1999), tác giả đã thống kê và mô tả 40 loài thuộc 6 chi trong họ Dầu có mặt tại Việt Nam.
Lê Mộng Chân và Lê Thị Huyên (2000) trong cuốn giáo trình Thực vật rừng đã tổng quát về họ Dầu, mô tả các đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái, phân bố, giá trị và khả năng kinh doanh bảo tồn của 12 loài thuộc họ Dầu tại Việt Nam.
- Nguyễn Kim Đào (2003)[9], trong Danh lục thực vật Việt Nam thì tác giả đã thống kê được họ Dầu tại Việt Nam có 42 loài thuộc 6 chi
Nguyễn Hoàng Nghĩa (2005) trong nghiên cứu về Họ Dầu Việt Nam đã chỉ ra rằng nước ta có 38 loài và 02 loài phụ thuộc vào 06 chi Ngoài việc thống kê và mô tả các loài, còn có một số nghiên cứu về khả năng gây trồng của một số loài đơn lẻ trong họ Dầu, nhằm phục vụ cho việc trồng trọt và làm giàu rừng.
Họ Dầu (Dipterocarpaceae) thuộc bộ Bông (Malvales) là một nhóm thực vật quan trọng với nhiều đặc điểm nổi bật Chúng là cây gỗ, có thể thường xanh hoặc rụng lá, với thân chứa nhựa dầu và các bộ phận non được phủ lông hình sao hoặc vẩy nhỏ Lá đơn mọc cách, có hệ gân lông chim với nhiều gân cấp 2 song song, mép lá nguyên và lá kèm thường rụng sớm Hoa của chúng thường mọc thành chùm hoặc bông viên chùy, đều và lưỡng tính, với cấu trúc mẫu 5 Đài hoa có thể hợp gốc và phát triển thành cánh quả, trong khi tràng hoa có thể rời hoặc hợp ở gốc Họ Dầu có khoảng 13 chi và 700 loài, phân bố chủ yếu ở các khu rừng mưa nhiệt đới, đặc biệt là ở Malaysia, trong khi Việt Nam có 6 chi và hơn 40 loài.
Theo cuốn "Tên cây rừng Việt Nam" của Trần Hợp và Nguyễn Tích (1971), trên thế giới có 22 chi và 400 loài họ quả hai cánh, trong đó Việt Nam cũng có sự hiện diện của nhiều loài.
Cuốn sách này trình bày 7 chi và 38 loài cây, trong đó tác giả đã liệt kê và mô tả tóm tắt về dạng sống, nơi mọc, mùa hoa quả và công dụng của các loài Cụ thể, có 13 loài thuộc chi Dipterocarpus, 3 loài thuộc chi Anisoptera, và 9 loài thuộc chi Shorea.
- Theo Báo Nông Nghiệp và phát triển nông thôn, số 10, năm 2013, trang 94
Loài Hopea exalata W.T.Lin, Y.Y.Yang & Q.S.Hsue, được công bố bởi tác giả Hoàng Văn Sâm từ Trung tâm Đa dạng sinh học, trường Đại học Lâm nghiệp, đã được đặt tên là Táu đá phong nha.
Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về họ Dầu tại Việt Nam, nhưng chưa có công trình nào đi sâu vào hệ thống phân loại, chỉ dừng lại ở việc thống kê và mô tả loài Ngoài ra, vẫn tồn tại một số mâu thuẫn trong các nghiên cứu về số lượng loài họ Dầu ở Việt Nam Do đó, nghiên cứu này sẽ đóng góp quan trọng cho việc hiểu biết về họ Dầu tại Việt Nam và trên thế giới, góp phần vào sự nghiệp bảo tồn đa dạng sinh học.
Những nghiên cứu về chi Táu (Vatica) và chi Sao (Hopea)
Châu Á là trung tâm của các loài cây họ Dầu, với sự đa dạng loài phong phú nhất Ba khu vực nổi bật trong khu vực này bao gồm đảo Borneo, Sumatra và bán đảo Malaysia Ngoài ra, Đông Dương, bao gồm Lào, Campuchia và Việt Nam, cũng có số lượng loài đáng kể.
Rath et al (1998)[35] sử dụng RAPD ( Radomly Amplified Polymorphic DNA) nghiên cứu nguồn gốc phát sinh của 12 loài (8 loài Shorea, 3 loài Hopea và
Anisoptera megistocarpa) cho thấy có ít biến dị trong loài đối với loài Sao đen
Tổng hợp các công trình nghiên cứu ở Thái Lan cho thấy ở nước này có cả thảy 65-68 loài thuộc 8 chi trong đó Vatica 8 loài, Hopea 14-15 loài
According to the book "1900 Useful Plant Species in Vietnam" (1993), the Dipterocarpaceae family in Vietnam comprises 7 genera and 40 species Notably, the Hopea genus includes 4 species: Hopea pierrei Hance, Hopea odorata Roxb, Hopea dealbata Hance, and Hopea ferrea Pierre Additionally, the Vatica genus also contains 4 species: Vatica astrotricha, Vatica dyeri Pierre ex Laners, Vatica fleuryana Tardieu, and Vatica odorata.
Theo thông báo của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên hợp quốc (FAO, 1985), khu vực Nam Á có tổng cộng 10 chi với 99 loài cây thuộc họ Dầu, trong đó chi Vatica có 9 loài và chi Hopea có 18 loài.
Nghiên cứu gần đây cho thấy chi Sao – Hopea có 112 loài phân bố từ Ấn Độ, Sri Lanka, Băng La Đéc, Nam Trung Quốc và các nước Đông Nam Á Tại Việt Nam, đã ghi nhận được 12 loài thuộc chi này Bên cạnh đó, chi Táu - Vatica cũng là một chi lớn trong họ Dầu với khoảng 71 loài, phân bố rộng rãi từ Sri Lanka, Ấn Độ, Trung Quốc đến Đông Nam Á Tại Việt Nam, theo hệ thống tiêu bản đã được nghiên cứu, ghi nhận được 9 loài.
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu
Cung cấp cở sở khoa học trong nghiên cứu phân loại các loài thuộc chi Táu
(Vatica) và chi Sao (Hopea) nói riêng và chi trong họ Dầu (Dipterocarpaceae) nói chung
+ Xây dựng được bộ cơ sở dữ liệu các loài thuộc chi Táu (Vatica) và chi Sao (Hopea) - Họ Dầu (Dipterocarpacece) ở Việt Nam
+ Xây dựng được khóa phân loại các loài thuộc 2 chi Táu (Vatica) và chi Sao (Hopea) - Họ Dầu (Dipterocarpacece) ở Việt Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Những công trình nghiên cứu về họ Dầu (Dipterocarpaceae), đặc biệt là chi Táu (Vatica) và chi Sao (Hopea) trên thế giới và Việt Nam
- Các tiêu bản khô của hai chi Táu (Vatica) và chi Sao (Hopea) - Họ Dầu
Dipterocarpacece ở Việt Nam được bảo tồn tại các phòng tiêu bản của nhiều viện nghiên cứu và trường đại học, bao gồm Viện Sinh thái & Tài nguyên Sinh vật (HN), Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội (HNU), Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam (VNMN), Viện Điều tra Quy hoạch rừng (FIPI) và Trung tâm Đa dạng sinh học - Trường đại học Lâm Nghiệp (VNF).
Nghiên cứu thực địa đã được tiến hành tại các khu vực bảo tồn thiên nhiên quan trọng như VQG Cúc Phương, VQG Bến En, VQG Bình Châu - Phước Biểu, Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, Khu BTTN Văn Hóa Đồng Nai, và Khu BTTN Đồng Sơn Kỳ Thượng.
Nội dung nghiên cứu
Bài viết tổng kết các quan điểm phân loại họ Dầu, đặc biệt là hai chi Táu (Vatica) và chi Sao (Hopea) Nội dung này cung cấp cái nhìn tổng quát về sự phân loại và đặc điểm của các chi trong họ Dầu, giúp người đọc hiểu rõ hơn về sự đa dạng và vai trò của chúng trong hệ sinh thái.
- Nghiên cứu thành phần loài thực vật thuộc chi Táu (Vatica) và chi Sao
- Xây dựng cơ sở dữ liệu cho các loài thuộc chi Táu (Vatica) và chi Sao
- Xây dựng khóa tra các loài thuộc chi Táu (Vatica) và chi Sao (Hopea) tại Việt Nam.
Phương pháp nghiên cứu
Để phân loại hai chi Táu (Vatica) và chi Sao (Hopea) thuộc họ Dầu (Dipterocarpacece) ở Việt Nam, chúng tôi áp dụng phương pháp hình thái so sánh, một phương pháp kinh điển và phổ biến trong nghiên cứu phân loại thực vật Mặc dù đơn giản, phương pháp này dễ sử dụng và cho kết quả đáng tin cậy nhờ vào việc nghiên cứu đặc điểm hình thái của cơ quan sinh dưỡng và sinh sản Đặc biệt, chúng tôi tập trung vào đặc điểm của cơ quan sinh sản, vì nó ít biến đổi và không phụ thuộc nhiều vào điều kiện môi trường Phương pháp này đã giúp nhiều tác giả xây dựng thành công các hệ thống phân loại và phát sinh của thực vật.
Khi so sánh hình thái của các mẫu vật, chúng tôi chỉ so sánh các cơ quan tương ứng có chung nguồn gốc, mặc dù có thể có sự khác biệt nhỏ về cấu tạo và chức phận Để đảm bảo tính chính xác, chúng tôi chỉ so sánh các cơ quan trong cùng một giai đoạn phát triển Đôi khi, hình thái có thể phức tạp do hiện tượng tiêu giảm một số cơ quan để thích nghi với điều kiện bên ngoài, vì vậy có thể cần sử dụng các phương pháp hỗ trợ khác.
Như vậy việc nghiên cứu phân loại của hai chi Táu (Vatica) và chi Sao (Hopea) - Họ Dầu (Dipterocarpacece) - ở Việt Nam được tiến hành theo các bước sau:
Bước 1: Tập hợp, kế thừa, phân tích các tư liệu trong và ngoài nước về chi
Chi Táu (Vatica) và chi Sao (Hopea) thuộc họ Dầu (Dipterocarpacece) là hai nhóm thực vật quan trọng tại Việt Nam Bài viết này tập trung vào việc phân loại thống nhất cho hai chi này, đồng thời cung cấp thông tin về hệ thống phân loại phù hợp Để tìm hiểu thêm, bạn có thể tải luận văn tốt nghiệp mới nhất qua email luanvanfull@gmail.com.
Tham gia các chuyến đi thực địa là bước quan trọng để thu thập mẫu vật và ghi chép các đặc điểm như dạng sống, màu sắc hoa, quả mà không thể quan sát khi ở trạng thái khô Chúng tôi cũng xác định phân bố, môi trường sống và các đặc điểm khác của mẫu vật Ngoài ra, việc phân tích sơ bộ trong trạng thái tươi giúp dễ dàng quan sát và định loại hơn.
Bước 3: Chúng tôi tiến hành nghiên cứu và phân tích các mẫu vật của hai chi Táu (Vatica) và chi Sao (Hopea) thuộc họ Dầu (Dipterocarpacece), được thu thập và lưu giữ bởi các nhà thực vật trong và ngoài nước Trong quá trình này, việc phân tích, so sánh và định loại chủ yếu dựa vào các bản mô tả gốc, sách chuyên khảo, cũng như các bộ thực vật chí của Việt Nam và các nước lân cận.
Bước 4: Tổng hợp kết quả nghiên cứu và hoàn chỉnh các nội dung khoa học của luận văn
Sau khi quan sát các phòng tiêu bản và thực hiện điều tra thực tế, chúng tôi đã xác định được thành phần các loài thuộc chi Táu và chi Sao Dựa trên kết quả này, chúng tôi tiến hành lập danh mục các loài theo mẫu biểu đã định sẵn.
Chi - Loài Nguồn thông tin
Tên khoa học Quan sát Tiêu bản Tài liệu
Chúng tôi đã xây dựng một khóa định loại hai chi các loài ở Việt Nam theo kiểu lưỡng phân, dựa trên những đặc điểm cơ bản giống nhau và khác nhau của cơ quan sinh dưỡng và cơ quan sinh sản.
- Mô tả các phân các chi và loài ở Việt Nam
Mô tả các chi theo trình tự: Danh pháp, Đặc điểm và Typus của chi luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Loài được mô tả bao gồm các thông tin quan trọng như danh pháp (tên khoa học, tên Việt Nam, tác giả, năm công bố, tài liệu dẫn), đặc điểm loài (thân, lá, lá kèm, hoa, quả, hạt), typus, sinh học và sinh thái, phân bố, cùng với giá trị sử dụng nếu có Ngoài ra, mẫu nghiên cứu cũng là một phần không thể thiếu trong việc hiểu rõ về loài này.
Lập khóa tra cho các loài hai chi Táu (Vatica) và chi Sao (Hopea) theo phương pháp của Greesink et al (1995) và các nghiên cứu của Nguyễn Nghĩa Thìn (1997), Nguyễn Tiến Bân (1997), Hoàng Văn Sâm et al (2004) là một bước quan trọng trong việc phân loại và nghiên cứu các loài thực vật này.
KHU VỰC NGHIÊN CỨU
Vườn quốc gia Cúc Phương
Vào năm 1960, rừng Cúc Phương được công nhận là khu bảo tồn rừng, chính thức thành lập theo Quyết định 72/TTg ngày 7 tháng 7 năm 1962 với diện tích 20.000 ha, đánh dấu khu bảo vệ đầu tiên của Việt Nam Đến năm 1966, lâm trường Cúc Phương được chuyển thành Vườn quốc gia Cúc Phương theo Quyết định số 18/QĐ-LN Quyết định số 333/QĐ-LN ngày 23 tháng 5 năm 1966 quy định chức năng và trách nhiệm của Ban quản lý rừng Ngày 9 tháng 8 năm 1986, Cúc Phương được công nhận là khu rừng đặc dụng theo Quyết định số 194/CT của Chính phủ Việt Nam với diện tích 25.000 ha Luận chứng kinh tế-kỹ thuật của vườn quốc gia được phê duyệt vào ngày 9 tháng 5 năm 1988 theo Quyết định số 139/CT, xác định lại ranh giới với tổng diện tích 22.200 ha, bao gồm 11.350 ha thuộc tỉnh Ninh Bình, 5.850 ha thuộc tỉnh Thanh Hóa và 5.000 ha thuộc tỉnh Hòa Bình Rừng Cúc Phương có tọa độ từ 20°14' đến 20°24' vĩ bắc và từ 105°29' đến 105°44' kinh đông.
Vườn quốc gia Cúc Phương có hệ thực vật phong phú với 31 họ, 57 chi và 149 loài thuộc ngành quyết thực vật; 3 họ, 3 chi và 3 loài thuộc ngành hạt trần; và 154 họ, 747 chi cùng 1588 loài thuộc ngành hạt kín Mặc dù diện tích chỉ bằng 1/700 diện tích miền Bắc và gần 1/1500 diện tích cả nước, nhưng Cúc Phương chiếm 76% số họ, 48,6% số chi và 30% số loài của miền Bắc, cũng như 68,9% số họ, 43,6% số chi và 24,6% số loài của Việt Nam Thảm thực vật chủ yếu là rừng trên núi đá vôi với nhiều tầng tán rõ rệt, có thể đạt độ cao trên 40 m Vườn quốc gia hiện có nhiều loài cây gỗ lớn như chò xanh, chò chỉ và đăng, cùng với sự phong phú về cây thuốc Các nhà khoa học đã thống kê gần 2.000 loài thực vật có mạch thuộc 887 chi trong 221 họ, với các họ giàu loài nhất như Đại kích, Hòa thảo, Đậu, và Lan Cúc Phương là một trong 7 trung tâm đa dạng thực vật của Việt Nam, với diện tích 22.000 ha, trong đó 3/4 là núi đá vôi cao từ 300 đến 600 m so với mặt biển, bao gồm đỉnh Mây Bạc cao 648,2 m.
Cúc Phương có khí hậu nhiệt đới gió mùa với nhiệt độ trung bình năm khoảng 24,7°C Địa hình nơi đây phức tạp, rừng nguyên sinh chứa đựng nhiều bí ẩn và cảnh quan độc đáo Nơi này nổi bật với nhiều hang động kỳ thú, mang trong mình những chứng tích văn hóa lịch sử lâu đời như động Trăng Khuyết, động Chúa, động Thuỷ Tiên, động Người Xưa, hang Con Moong và động San Hô.
Vườn quốc gia Bến En - Thanh Hóa
Vườn quốc gia Bến En, tọa lạc tại tỉnh Thanh Hóa, Việt Nam, được thành lập theo quyết định số 33 ngày 27 tháng 1 năm 1992 Vườn quốc gia này nằm trong địa phận huyện Như Thanh và huyện Như Xuân, cách thành phố Thanh Hóa khoảng 36 km về phía tây nam, với tọa độ từ 19°31′ đến 19°43′ vĩ bắc và 105°25′ đến 105°38′ kinh đông.
Vườn quốc gia Bến En có tổng diện tích 14.735 ha, trong đó rừng nguyên sinh chiếm 8.544 ha Nơi đây sở hữu địa hình đồi núi phong phú, cùng với nhiều sông, suối và hồ Mực trên núi có diện tích 3.000 ha, với 21 đảo nổi Đây là một trong những vườn quốc gia đẹp nhất Việt Nam, được nghiên cứu và điều tra từ năm 1997 đến 2000, cùng với các nghiên cứu bổ sung từ năm 2003.
Vườn quốc gia Bến En đã được thống kê có 1.389 loài thực vật bậc cao thuộc 6 ngành, 902 chi và 196 họ Trong số đó, có 29 loài nằm trong danh sách đỏ IUCN 2007 và 42 loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam năm 2007.
Có 3 loài thực vật mới của Việt nam được phát hiện ở Bến En là: Xâm cánh bến en (Glyptoetalum sclerocarpum (Kurz) M.A Lawson), Đậu khấu bến en (Myristica yunanensis Y.H Li) và Đẻn bến en (Timonius arborea Elmer).
Vườn quốc gia Bình Châu Phước Bửu
Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu, thuộc hệ thống các khu rừng đặc dụng của Việt Nam, đã được công nhận theo Quyết định số 194/CT ngày 9 tháng 8 năm 1986 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (hiện nay là Thủ tướng Chính phủ).
Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu, với diện tích hơn 10.537 ha, là khu rừng nguyên sinh duy nhất còn lại ở Việt Nam, nổi bật với rừng cây họ Dầu ven biển Đây là nơi cư trú của nhiều loài sinh vật quý hiếm đang có nguy cơ tuyệt chủng Khu bảo tồn không chỉ có chức năng bảo vệ môi trường ven biển mà còn phục vụ cho nghiên cứu khoa học, giáo dục bảo tồn và phát triển du lịch sinh thái Được xếp vào kiểu thực vật rừng kín, nửa rụng lá ẩm nhiệt đới, khu bảo tồn sở hữu đa dạng thực vật với 750 loài thuộc 123 họ, trong đó có nhiều loài quý hiếm như Cẩm lai Bà Rịa, Gõ đỏ, và đặc biệt là loài Dầu cát (Dipterocarpus costatus), loài cây đặc hữu của khu vực này.
Khu bảo tồn tại thiên nhiên Pù Luông
Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, tọa lạc ở phía Tây Bắc tỉnh Thanh Hóa, trải dài qua hai huyện Bá Thước và Quan Hóa, có diện tích 17.662 ha Nơi đây nổi bật với cảnh quan thiên nhiên kỳ thú và hệ động vật đa dạng, phong phú, trở thành điểm đến lý tưởng cho những ai yêu thích du lịch sinh thái và khám phá thiên nhiên.
Khu BTTN Pù Luông hiện có 1.109 loài cây có mạch thuộc 447 chi và 152 họ, trong đó có 42 loài đặc hữu Việt Nam và 4 loài nằm trong sách đỏ thế giới Ngoài ra, khu vực này còn có gần 600 loài động vật, bao gồm thú, chim và lưỡng cư, với 51 loài quý hiếm và đặc hữu được ghi trong sách đỏ Việt Nam và sách đỏ thế giới Đặc biệt, Pù Luông là nơi sinh sống của quần thể linh trưởng Voọc mông trắng, loài đặc hữu lớn thứ hai tại Việt Nam, chỉ sau Khu BTTN Vân Long ở Ninh Bình.
Khu BTTN Văn Hóa Đồng Nai
Khu Bảo tồn Thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai được thành lập vào đầu năm 2004, là đơn vị sự nghiệp khoa học có thu trực thuộc UBND tỉnh Đồng Nai, nằm trong hệ thống rừng đặc dụng và di sản văn hóa của Việt Nam Với vị trí nằm trong tiểu vùng bảo tồn sinh thái khẩn cấp (khu vực SA5 - lưu vực sông Đồng Nai) thuộc hệ sinh thái Trường Sơn, một trong 200 vùng sinh thái quan trọng thế giới được xác định trong "Global 200 Ecoregions", khu bảo tồn này còn là sinh cảnh ưu tiên được Quỹ Bảo tồn Việt Nam (VCF 2003-2004) xác định.
Khu Bảo tồn thiên nhiên (KBT) có tổng diện tích tự nhiên trên 100.303 ha, bao gồm 67.903 ha đất lâm nghiệp và 32.400 ha mặt nước (hồ Trị An) KBT nằm trên địa bàn các xã Phú Lý, Mã Đà, Hiếu Liêm, thị trấn Vĩnh An thuộc huyện Vĩnh Cửu, xã Thanh Sơn thuộc huyện Tân Phú, và các xã Phú Cường, Phú Ngọc, La Ngà, Ngọc Định thuộc huyện Định Quán, cùng xã Thanh Bình thuộc huyện Trảng Bom, xã Gia Tân thuộc huyện Thống Nhất - tỉnh Đồng Nai KBT tọa lạc phía Bắc tỉnh Đồng Nai, giáp tỉnh Bình Dương ở phía Tây và tỉnh Bình Phước ở phía Bắc, cách thành phố Hồ Chí Minh 70 km và thành phố Biên Hòa khoảng 40 km, gần nhà máy Thủy điện Trị An Ngoài giá trị đa dạng sinh học, khu vực này còn có ý nghĩa lịch sử với địa danh nổi tiếng Chiến khu Đ Theo điều tra của các viện nghiên cứu, KBT sở hữu nguồn tài nguyên động thực vật phong phú với 1.401 loài thực vật thuộc 589 chi và 156 họ.
Khu bảo tồn (KBT) có 92 bộ và 10 lớp thuộc 06 ngành thực vật khác nhau Trong số đó, có 06 loài thực vật đặc hữu của Đồng Nai như Cù đèn Đồng Nai, Lát hoa Đồng Nai, Ngâu Biên Hòa, Bướm bạc Biên Hòa, Hạ đệ và Xú hương Biên Hòa Đặc biệt, KBT còn phát hiện 02 loài hiếm là cây Vấp thuộc họ Bứa và Thông tre thuộc họ Kim giao Ngoài ra, khu vực này còn có 103 loài cây dược liệu Thảm thực vật rừng trong KBT bao gồm các kiểu rừng như rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới, rừng kín nửa rụng lá ẩm nhiệt đới và rừng kín rụng lá hơi ẩm nhiệt đới.
Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng
Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng được thành lập theo Quyết định số 440/QĐ-UB ngày 12 tháng 02 năm 2003 của UBND tỉnh Quảng Ninh, nằm trên địa phận huyện Hoành Bồ và các xã Đồng Sơn, Kỳ Thượng, Đồng Lâm, Vũ Oai, Hoà Bình Khu bảo tồn có diện tích 17.792 ha, trong đó có 14.432 ha là phân khu vực bảo vệ nghiêm ngặt, 3.325 ha phục hồi sinh thái và 35 ha dịch vụ hành chính Khu bảo tồn trực thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Ninh, bao gồm Ban giám đốc, Phòng kế hoạch kỹ thuật, Phòng tài chính - tổ chức và Hạt kiểm lâm Về thực vật, khu bảo tồn có 485 loài thực vật bậc cao, trong đó có 5 loài quý hiếm được xếp trong Sách đỏ Việt Nam như Trầm hương Trung hoa, Vù hương, Lát hoa, Đại hải và Ba kích, có giá trị cao trên thị trường trong nước và thế giới.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Tổng kết về phân loại họ Dầu (Dipterocarpaceae) cũng như chi Táu (Vatica) và
(Vatica ) và chi Sao (Hopea)
4.1.1 Phân loại họ Dầu (Dipterocarpaceae)
Theo hệ thống phân loại của Takhtajan, họ Dầu (Dipterocarpaceae) thuộc bộ Chè (Theales) và được xếp cùng với các họ quen thuộc ở Việt Nam như Họ Chè (Theaceae), Họ Măng cụt (Clusiaceae), và Họ Ban (Hypericaceae) Tuy nhiên, trong các hệ thống phân loại năm 1997 và 2009, họ Dầu đã được chuyển sang bộ Bông (Malvales).
Cùng quan điểm với hệ thống phân loại mới của Takhtajan năm 1997 và
Năm 2009, hệ thống phân loại APG III đã xếp họ Dầu vào bộ Bông Malvales do có nhiều đặc điểm tương đồng với họ Bông (Malvaceae), Họ Đay (Tiliaceae) và Họ Trôm (Sterculiaceae) Nhiều nghiên cứu về phân loại họ Dầu đã được thực hiện, trong đó có công trình của Maury-Lechon.
Theo Curter (1998) và Ashton (1999), họ Dầu được chia thành 3 họ phụ, trong đó Dipteroparpoideae có 13 chi và khoảng 470 loài, chủ yếu phân bố ở Đông Nam Á Các chi lớn trong họ phụ này bao gồm Shorea với 194 loài, Hopea với 102 loài, và Dipterocarpus.
Họ phụ thứ hai là Monotoideae gồm 3 chi và 34 loài phân bố chủ yếu ở Châu Phi và 1 loài ở Nam Mỹ (Pseudomonotes tropinbossii)
Họ phụ Pakaraimaeoideae chỉ bao gồm một loài duy nhất là Pakaraimaea dipterocarpaeae, được tìm thấy ở Nam Mỹ.
Bảng 4.1: Hiện trạng họ dầu ( Maury-Lecon and Curtet, 1998)
Họ Phân họ (Họ phụ) Chi
Maguire et al., 1977; Maguire and Ashton, 1980
(Theo: Cây họ dầu Việt Nam, 2005)
4.1.2 Phân loại chi Táu (Vatica) và chi Sao (Hopea)
Châu Á là trung tâm của các loài cây họ Dầu, với sự đa dạng loài phong phú nhất Ba khu vực nổi bật trong khu vực này bao gồm đảo Borneo, Sumatra và bán đảo Malaysia Đông Dương, bao gồm Lào, Campuchia và Việt Nam, cũng có số lượng loài đáng kể.
Rath et al (1998) sử dụng RAPD ( Radomly Amplified Polymorphic DNA) nghiên cứu nguồn gốc phát sinh của 12 loài (8 loài Shorea, 3 loài Hopea và
Anisoptera megistocarpa) cho thấy có ít biến dị trong loài đối với loài Sao đen
Tổng hợp các công trình nghiên cứu ở Thái Lan cho thấy ở nước này có cả thảy 65-68 loài thuộc 8 chi trong đó Vatica 8 loài, Hopea 14-15 loài
According to the book "1900 Useful Plants in Vietnam" (1993), the Dipterocarpaceae family in Vietnam comprises 7 genera and 40 species Among these, the genus Hopea includes 4 species: Hopea pierrei Hance, Hopea odorata Roxb, Hopea dealbata Hance, and Hopea ferrea Pierre The genus Vatica also contains 4 species: Vatica astrotricha, Vatica dyeri Pierre ex Laners, Vatica fleuryana Tardieu, and Vatica odorata.
Theo thông báo của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên hợp quốc (FAO, 1985), khu vực Nam Á có tổng cộng 10 chi với 99 loài cây thuộc họ Dầu, trong đó chi Vatica có 9 loài và chi Hopea có 18 loài.
Nghiên cứu gần đây cho thấy chi Sao – Hopea có 112 loài phân bố từ Ấn Độ, Sri Lanka, Băng La Đéc, Nam Trung Quốc và các nước Đông Nam Á Tại Việt Nam, đã ghi nhận 13 loài thuộc chi này Đồng thời, chi Táu - Vatica cũng là một chi lớn trong họ Dầu với khoảng 71 loài, phân bố rộng rãi từ Sri Lanka, Ấn Độ, Trung Quốc đến Đông Nam Á Tại Việt Nam, theo hệ thống tiêu bản đã được nghiên cứu, ghi nhận được 9 loài của chi Táu.
Bảng 4.2: Hiện trạng về các chi, chi phụ (sg), nhóm (s) và nhóm phụ (ss) họ dàu theo các tác giả khác nhau (Maury-Lecon and Curtet, 1998)
Ashton Meij and Wood Maury-Lecon Kostermans
1 Hopea 1 Hopea 1 Hopea 1 Hopea s Hopea s Hopea ss Hopea ss Hopea ss Pierrea ss Pierrea s Dryobalanoides s Dryobalanoides ss Dryobalanoides ss
Dryobalanoides ss Sphaerocarpae ss Sphaerocarpae
The article discusses various species and classifications within the Shorea and Balanocarpus genera, highlighting specific subgroups such as Eushorea, Anthoshorea, and Rusbroshorea It mentions the diversity of species, including Shorea, Richetia, and Doona, along with their respective subcategories like Barbata, Richetioides, and Maximae The text also references academic resources, suggesting the availability of theses and research materials related to these genera.
7 Anisoptera 6 Anisoptera 12 Anisoptera 9 Anisoptera s Anisoptera s Pilosae s Anisoptera s Glabrae s Glabrae s Glabrae
10 Vatica 9 Vatica 15 Sunaptea 11 Sunaptea (Coty) s Sunaptea sg Sunaptea 16 Vatica 12 Vatica s Vatica sg Lsauxis s Vatica
(Theo: Cây họ dầu Việt Nam, 2005) luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Danh lục các loài thuộc chi Táu, chi Sao tại Việt Nam
Chi - Loài Nguồn thông tin Tình trạng bảo tồn (Sách đỏ 2007)
Tên phổ thông Tên khoa học QS TB TL
1 Táu thị Vatica diospyroides Symington v v v NE
2 Táu mật Vatica cinerea King v v v VU
3 Táu xanh Vatica subglabra Merr v v v EN NE
4 Táu trắng Vatica odorata (Griff) Sym ssp odorata v v EN
5 Táu ngâu Vatica fleuryana Tardieu v v VU
6 Táu nước Vatica philastreana Pierre v v NE
7 Táu duyên hải Vatica mangachapoi Blanco v v EN
8 Táu muối Vatica chevalieri (Gagnep.)
9 Táu ít hoa Vatica pauciflora (Korth) Blume v EN
10 Sao hình tim Hopea cordata J E Vidal v DD CR
11 Sao đen Hopea odorata Roxb v v v VU
12 Sao hòn gai Hopea chinensis (Merr.) Hand
13 Kiền kiền phú quốc Hopea pierrei Hance v v EN EN
14 Sao mặt quỷ Hopea mollisima C.Y.Wu v v v VU CR
15 Săng đào Hopea ferrea Pierre v v EN EN
16 Kiền kiền Hopea siamensis Heim v v CR
17 So chai Hopea recopei Pierre v v v EN
18 Sao mạng Hopea reticulata Tardieu v v CR luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
19 Sao hải nam Hopea hainanensis Merr & Chun v v v EN CR
21 Sao bã mía Hopea helferi (Dyer) Brandis v CR
Các thứ hạng và tiêu chuẩn của IUCN cho Danh lục đỏ và Sách đỏ được thể hiện trong bảng trên, bao gồm các mức độ như VU (Sẽ nguy cấp), EN (Nguy cấp), CR (Rất nguy cấp), DD (Thiếu dẫn liệu) và NE (Chưa đánh giá).
Như vậy ta thấy rằng ở Việt Nam thành phần loài thuộc 2 chi Táu, chi Sao gồm 22 loài Trong đó chi Táu có 9 loài và chi Sao có 13 loài
Tại các địa điểm nghiên cứu, tôi đã thống kê được 16 loài có mẫu tiêu bản thuộc 2 chi, cùng với 5 loài không có mẫu tiêu bản Trong số 5 loài này, có 3 loài thuộc chi Táu, bao gồm Táu ngâu (Vatica fleuryana Tardieu), Táu muối (Vatica chevalieri (Gagnep.) Smitinand), và Táu ít hoa (Vatica pauciflora (Korth) Bl.), cùng với 2 loài thuộc chi Sao, là Sao hình tim (Hopea cordata J E Vidal) và Sao bã mía (Hopea helferi (Dyer) Brandis) Những loài này được ghi nhận trong tài liệu Danh lục các loài thực vật Việt Nam, nhưng không có mẫu tiêu bản tại địa điểm nghiên cứu.
Theo Sách đỏ Việt Nam (2007), trong số 22 loài nghiên cứu, có 6 loài thuộc chi Táu và chi Sao được ghi nhận, chiếm 27,27% Các loài này bao gồm Táu xanh (Vatica subglabra Merr) - EN, Kiền kiền phú quốc (Hopea pierrei Hance) - EN, Sao mặt quỷ (Hopea mollissima C.Y.Wu.) - Vu, Săng đào (Hopea ferrea Pierre) - EN, và Sao hải nam (Hopea hainanensis Merr & Chun) - EN, cùng với 1 loài sao hình tim thiếu dẫn liệu (DD) Điều này cho thấy tầm quan trọng của các loài trong họ Dầu, đặc biệt là các loài trong chi Táu và chi Sao.
Theo IUCN năm 2012, 86,36% trong tổng số 22 loài cây thuộc đối tượng nghiên cứu được bảo tồn, với 7 loài xếp vào cấp CR, 6 loài vào cấp EN, 3 loài vào cấp VU, và 3 loài chưa được đánh giá Điều này cho thấy các loài cây họ Dầu ở Việt Nam có giá trị bảo tồn lớn không chỉ trong nước mà còn trên toàn cầu.
Tính đa dạng tiêu bản các loài thuộc Chi Táu (Vatica) và Chi Sao (Hopea) tại các phòng tiêu bản đã nghiên cứu
Trong quá trình thu thập số liệu, chúng tôi đã tiến hành điều tra tại 5 phòng tiêu bản thực vật thuộc Trung Tâm Đa Dạng Sinh Học và các cơ sở liên quan Để đánh giá tính đa dạng của các loài tiêu bản, chúng tôi xem xét các chỉ tiêu như số lượng tiêu bản, khu vực lấy mẫu và thời gian thu thập Dưới đây là một số nhận xét về tính đa dạng của các loài thuộc chi Táu và chi Sao.
4.3.1 Bảo tàng tài nguyên rừng Việt Nam – Viện điều tra quy hoạch rừng
Tại Bảo tàng tài nguyên rừng Việt Nam - Viện điều tra quy hoạch rừng, tổng số mẫu tiêu bản của chi Táu và chi Sao là 87 mẫu, thuộc 12 loài, chiếm 54,54% tổng số loài phân bố tại Việt Nam Trong đó, chi Sao có 8 loài, chiếm 61,54% và 60 mẫu, chiếm 68,96% tổng số mẫu Chi Táu có 4 loài, chiếm 44,44% và 27 mẫu, chiếm 31,03% tổng số mẫu nghiên cứu, bao gồm các loài như Táu xanh - Vatica subglabra.
Trong nghiên cứu về các loài thực vật, có ba loài chính được đề cập: Táu thị - Vatica diospyroides Symington (1942), Táu trắng - Vatica odorata (Griff) Sym ssp odorata, và Táu mật - Vatica cinerea King (1893) Chi Sao có 60 loài, chiếm 68,97% tổng số mẫu điều tra Trong số 12 loài được nghiên cứu, có đến 8 loài, tương đương 66,67% tổng số loài tại Việt Nam, bao gồm Sao hải nam - Hopea hainanensis Merr & Chun (1940) và Sao đen - Hopea odorata Roxb.
1819, Săng đào - Hopea ferrea Pierre, 1886, Sao mặt quy - Hopea mollisima
C.Y.Wu, 1957, Sao mang - Hopea reticulata TarditooiTTDDSHVVK Kền kền phú quốc - Hopea pierrei Hance, 1876, Kền kền - Hopea siamensis Heim, Sao hòn gai -
Hopea hainanensis Merr & Chun luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Các mẫu tiêu bản được thu thập từ nhiều khu vực khác nhau trên cả nước, bao gồm Tiên Yên (Quảng Ninh), Văn Chấn, Chạm Chu (Tuyên Quang), Nghệ An, Lạng Sơn, Gia Lai, Kon Tum, và phố Tăng Bạt Hổ (Hà Nội) Ngoài ra, một số mẫu cũng được lấy từ các nước láng giềng như Khen Hỉu (Lào) và Hải Nam (Trung Quốc).
Về thời gian lấy mẫu tiêu bản: Tất cả các mẫu tiêu bản hầu hết là được lấy từ rất lâu từ những năm 1956, 1960, 1963, năm 1964 và các năm 1975, 1976, 1980,
1985 Tôi thấy rằng chất lượng các mẫu tiêu bản ở đây không được tốt, ở mức trung bình có rất nhiều mẫu lấy từ những năm 60, 64 đã bị hỏng
Bên cạnh các mẫu tiêu bản đã được phân loại đến loài với đầy đủ số hiệu và etiket rõ ràng, còn tồn tại nhiều mẫu tiêu bản chỉ được phân loại đến chi mà chưa có etiket.
4.3.2 Bảo tàng thực vật – Trường đại học Khoa học tự nhiên
Bảo tàng thực vật thuộc Trường đại học Khoa học Tự nhiên đã tiến hành điều tra và thu thập được 70 mẫu thuộc 3 loài của chi Sao, chiếm 23,07% tổng số loài nghiên cứu Các loài bao gồm Sao đen - Hopea odorata Roxb (63 mẫu), Sao hải nam - Hopea hainanensis Merr & Chun (1 mẫu) và Kền kền Phú Quốc - Hopea pierrei Hance (6 mẫu) Hiện tại, chi Táu chưa có mẫu nào được ghi nhận.
4.3.3 Phòng thực vật rừng - Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật
Tại Phòng thực vật rừng - Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật, có 52 mẫu tiêu bản của 9 loài, chiếm 40,91% tổng số loài phân bố tại Việt Nam Trong đó, chi Táu có 4 loài, chiếm 44,44% và 18 mẫu, tương đương 15,38% tổng số mẫu nghiên cứu Chi Sao có 13 loài, nhưng tại đây có tới 5 loài, chiếm 38,46% và 34 mẫu, tương đương 65,38% tổng số lượng mẫu nghiên cứu Các loài tiêu biểu bao gồm Táu xanh - Vatica subglabra Merr và Táu thị.
Vatica diospyroides Symington, còn được gọi là Táu trắng, cùng với Vatica odorata (Griff) Sym ssp odorata và Táu mật - Vatica cinerea King, là những loài quan trọng trong nghiên cứu Chi Sao có 34 mẫu, chiếm 65.38% tổng số lượng mẫu Trong số 21 loài được nghiên cứu, có tới 5 loài chiếm 23.81% tổng số loài tại Việt Nam, bao gồm Sao hải nam - Hopea hainanensis Merr.
& Chun, Sao đen - Hopea odorata Roxb 1819, Săng đào - Hopea ferrea Pierre, Sao mặt quỷ - Hopea mollisima C.Y.Wu và Sao mang - Hopea reticulata Tardieu
Các mẫu tiêu bản được thu thập từ nhiều khu vực khác nhau trên cả nước, bao gồm Tiên Yên (Quảng Ninh), Văn Chấn, Chạm Chu (Tuyên Quang), Nghệ An, Lạng Sơn, Gia Lai, Kon Tum và phố Tăng Bạt.
Hổ - Hà Nội và một số mẫu được lấy từ những nước bạn như ở Khen Hỉu – Lào, Hải Nam – Trung Quốc
Thời gian lấy mẫu tiêu bản chủ yếu từ những năm 1960, 1963, 1975, 1976, 1980, 1985 và 2003 Chất lượng các mẫu tiêu bản ở đây không cao, chủ yếu ở mức trung bình, với nhiều mẫu đã xuống cấp Bên cạnh đó, một số mẫu tiêu bản vẫn chưa được giám định loài.
4.3.4 Trung tâm đa dạng sinh học – Trường đại học lâm nghiệp
Tại Trung tâm đa dạng sinh học, phòng tiêu bản thực vật lưu giữ 66 mẫu tiêu bản thuộc hai chi Táu và chi Sao, đại diện cho 9 loài khác nhau.
Tại Trung tâm Đa dạng sinh học của Trường đại học Lâm nghiệp, số lượng mẫu nghiên cứu rất phong phú với tổng cộng 66 mẫu thuộc 9 loài, chiếm hơn 40,91% tổng số loài phân bố tại Việt Nam Trong đó, chi Sao có 6 loài, chiếm 46,15% và 49 mẫu, tương đương 74,24% tổng số mẫu nghiên cứu, trong khi chi Táu có 3 loài, chiếm 33,33% và 17 mẫu, tương đương 25,76% tổng số mẫu nghiên cứu.
Các mẫu được thu thập từ nhiều địa điểm khác nhau, bao gồm VQG Cúc Phương, Miếu Trắng ở Quảng Ninh, VQG Phong Nha, và các tỉnh như Hải Dương, Đà Nẵng, Hà Nội, Bình Định, Kom Tum, Kiên Giang, cùng với khu thực nghiệm Núi Luốt thuộc Trường Đại học Lâm nghiệp Ngoài ra, mẫu cũng được lấy từ Vườn thực vật Hoa Nam, Trung Quốc Thời gian thu thập mẫu diễn ra trong các năm 1958, 1962, 1997, 1998, 1999, 2000, 2002, 2003, 2011 và 2012.
Các mẫu trong Trung tâm được thiết kế chất lượng cao, có đầy đủ etiket và rõ ràng Tất cả các mẫu đều được cán bộ Trung tâm làm mới để đạt tiêu chuẩn Nếu bạn cần tải luận văn tốt nghiệp hoặc luận văn thạc sĩ mới nhất, hãy liên hệ qua email luanvanfull@gmail.com.
4.3.5 Phòng tiêu bản Thực vật Quốc Gia thành phố Hồ Chí Minh
Phòng tiêu bản thực vật Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh hiện đang lưu giữ 24 mẫu tiêu bản thuộc 5 loài trong chi Sao - Hopea Tuy nhiên, số lượng tiêu bản còn hạn chế, đặc biệt là chi Táu, hiện không có mẫu nào.
Kết quả điều tra ngoài thực địa của các địa điểm nghiên cữu về Chi Táu (Vatica) và Chi Sao (Hopea)
4.4.1 Kết quả Điều tra thực địa tại VQG Cúc Phương – Ninh Bình
Trong quá trình điều tra các tuyến và OTC tại các dạng sinh cảnh với các trạng thái thực vật khác nhau, kết hợp với việc tham khảo tài liệu, chúng tôi đã xác định được các loài thực vật có mặt trong khu vực nghiên cứu.
- Vatica chevalieri (Gagnep.) Smitinand - Táu muối
- Vatica odorata (Griff) Sym ssp odorata - Táu trắng
- Vatica subglabra Merr - Táu xanh
* Táu xanh Tên khoa học: Vatica subglabra Merr
Tên khác: Táu nước, Táu muối
Kết quả nghiên cứu về 7 cây Táu nước trưởng thành trên tuyến 3 được trình bày trong bảng dưới đây.
Bảng 4.3: Một số chỉ tiêu sinh thái thân cây Táu xanh trưởng thành STT Giá trị D 1.3 (cm) D t (m) H vn (m) H dc (m)
Tên khoa học: Vatica odorata (Griff) Sym ssp odorata
Tên khác: Táu mật, làu táu trắng, làu táu xanh
Kết quả nghiên cứu về hai cây Sao hải nam trưởng thành được thực hiện trên Tuyến 4, từ trung tâm Bống đi sâu theo hướng Tây Nam vào các dạng sinh cảnh rừng bị tác động trên núi đá và rừng trên núi đất, được trình bày trong bảng dưới đây.
Bảng 4.4: Một số chỉ tiêu sinh thái thân cây Táu trắng trưởng thành STT Giá trị D 1.3 (cm) D t (m) H vn (m) H dc (m)
Tên khoa học: Vatica chevalieri (Gagnep.) Smitinand Tên khác: Táu
Kết quả nghiên cứu về ba cây táu muối trưởng thành trên tuyến 2, từ khu du lịch Hồ Mạc vào sâu trong rừng bị tác động trên núi đá, được trình bày trong bảng dưới đây.
Bảng 4.5: Một số chỉ tiêu sinh thái thân cây Táu muối trưởng thành STT Giá trị D 1.3 (cm) D t (m) H vn (m) H dc (m)
3 Trung bình 15 2,83 10 7 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
4.4.2 Kết quả Điều tra thực địa tại VQG Bến En - Thanh Hóa
Trong quá trình điều tra các tuyến và ÔTC ở các dạng sinh cảnh khác nhau, kết hợp với việc tham khảo tài liệu, chúng tôi đã xác định được các loài cây có mặt tại khu vực nghiên cứu.
- Hopea hainamensis Merr & Chun - Sao hải nam
- Hopea chinensis (Merr.) Hand.-Mazz - Sao hòn gai
- Vatica subglabra Merr - Táu xanh
- Hopea molissima C.Y.Wu - Sao mặt quỷ
Tên khoa học : Hopea hainanensis Merr & Chun
Tên khác : Sao lá to, Kiền kiền, Cả Sát, Kiền kiền nghệ an
Nghiên cứu về 8 cây Sao hải nam trưởng thành tại khu vực tuyến số 01, kéo dài 4,9 km từ Ngã Ba Khe đến đường tuần tra theo hướng Nam - Tây Nam, Sông Chàng, đã được trình bày trong bảng dưới đây.
Bảng 4.6: Một số chỉ tiêu sinh thái thân cây Sao hải nam trưởng thành STT Giá trị D 1.3 (cm) D t (m) H vn (m) H dc (m)
* Táu xanh Tên khoa học: Vatica subglabra Merr
Nghiên cứu đã xác định có 4 cây Táu nước trưởng thành nằm dọc theo tuyến số 02, kéo dài 5,7 km từ Ngã Ba Đường Tuần Tra đến khu Bãi Chội, theo hướng Đông - Đông Nam.
Bảng 4.7: Một số chỉ tiêu sinh thái thân cây Táu xanh trưởng thành STT Giá trị D 1.3 (cm) D t (m) H vn (m) H dc (m)
* Sao hòn gai Tên khoa học: Hopea chinensis (Merr.) Hand Mazz
Tên đồng nghĩa: Hopea hongayensis Tardieu Tên khác: Táu vu, Mạy Chi
Nghiên cứu cho thấy có 6 cây Sao hòn gai trưởng thành phân bố dọc theo tuyến số 02, kéo dài 5,7 km từ Ngã Ba Đường Tuần Tra đến khu Bãi Chội, theo hướng Đông - Đông Nam.
Bảng 4.8: Một số chỉ tiêu sinh thái thân cây Sao hòn gai trưởng thành STT Giá trị D 1.3 (cm) D t (m) H vn (m) H dc (m)
Tên khoa học: Hopea mollisima C.Y.Wu
Tên khác: Táu mặt quỷ, Gù táu
Nghiên cứu đã xác định được 4 cây Sao mặt quỷ trưởng thành tại khu vực tuyến số 01, kéo dài 4,9 km từ Ngã Ba Khe đến đường tuần tra, theo hướng Nam - Tây Nam, Sông Chàng Thông tin chi tiết được trình bày trong bảng dưới đây.
Bảng 4.9: Một số chỉ tiêu sinh thái thân cây Sao mặt quỷ trưởng thành STT Giá trị D 1.3 (cm) D t (m) H vn (m) H dc (m)
4.4.3 Kết quả Điều tra thực địa tại KBTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng – Quảng Ninh
Trong quá trình điều tra các tuyến và ÔTC ở các dạng sinh cảnh khác nhau, kết hợp với việc tham khảo tài liệu, chúng tôi đã xác định được nhiều loài cây có mặt tại khu vực nghiên cứu.
- Hopea chinensis (Merr.) Hand Mazz - Sao hòn gai
- Vatica cinerea King - Táu mật
* Sao hòn gai Tên khoa học: Hopea chinensis (Merr.) Hand Mazz
Tên đồng nghĩa: Hopea hongayensis Tardieu Tên khác: Táu vu, Mạy Chi
Kết quả nghiên cứu có 5 cây Sao hòn gai trưởng thành phân bố ở Tiểu Khu
Tuyến III dài 5 km, bắt đầu từ Khe Nước đến suối Khe Lương, bao gồm các khu vực 60, 52B, Kỳ Thượng Trong khi đó, Tuyến IV dài 7 km, chạy dọc suối Vũ Oai lên đỉnh Thiên Sơn, bao gồm Tiểu khu 71 và 79, Vũ Oai.
Bảng 4.10: Một số chỉ tiêu sinh thái thân cây Sao hòn gai trưởng thành STT Giá trị D 1.3 (cm) D t (m) H vn (m) H dc (m)
3 Trung bình 19,4 6,8 10,2 7 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
*Táu mật Tên khoa học: Vatica cinerea King Tên đồng nghĩa: Synaptea odorata Griff Tên khác: Làu táu trắng, làu táu vàng, làu táu xanh
Kết quả nghiên cứu có 8 cây Táu mật trưởng thành phân bố ở Tiểu khu 56,
Tuyến I dài 6 km từ Khe Rìa đến Thác Khe Rìa tại 58, Đồng Sơn và Tuyến II dài 5 km từ đỉnh Đèo Dài tới bản Khe Táo tại Tiểu khu 59, Đồng Sơn được trình bày trong bảng dưới đây.
Bảng 4.11: Một số chỉ tiêu sinh thái thân cây Táu mật trưởng thành STT Giá trị D 1.3 (cm) D t (m) H vn (m) H dc (m)
4.4.4 Kết quả Điều tra thực địa tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông - Thanh Hóa
Trong quá trình điều tra các tuyến và ÔTC ở các dạng sinh cảnh với các trạng thái thực vật khác nhau, kết hợp với việc tham khảo tài liệu, chúng tôi đã xác định được các loài cây có mặt tại khu vực nghiên cứu.
- Vatica subglabra Merr - Táu xanh
* Táu xanh Tên khoa học: Vatica subglabra Merr
Kết quả nghiên cứu 5 cây Táu xanh trưởng thành phân bố trên tuyến VI (Bản Hang- Bản Kịt) được trình bày ở bảng sau:
Bảng 4.12: Một số chỉ tiêu sinh thái thân cây Táu xanh trưởng thành
STT Giá trị D 1.3 (cm) D t (m) H vn (m) H dc (m)
3 Trung bình 19,52 3,4 11,6 8,1 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
4.4.5 Kết quả điều tra thực địa tại Khu Bảo tồn Văn Hóa Đồng Nai
Trong quá trình điều tra các tuyến và ÔTC ở các dạng sinh cảnh khác nhau, kết hợp với việc tham khảo tài liệu và phỏng vấn cán bộ Khu Bảo tồn, chúng tôi đã xác định được nhiều loài cây có mặt trong khu vực nghiên cứu.
1 Hopea odorata Roxb - Sao đen
2 Hopea recopei Pierre - Chò chai
3 Vatica chevalieri (Gagn.) Smitin - Táu muối
4 Vatica cinerea King - Táu mật
5 Vatica diospyroides Symington - Táu thị
6 Vatica odorata (Griff.) Sym.subsp odorata - Táu trắng
7 Vatica philastreana Pierre - Táu nước
* Sao đen Tên khoa học: Hopea odorata Roxb
Kết quả nghiên cứu 9 cây Sao đen trưởng thành phân bố trên tuyến trong khu vực nghiên cứu được trình bày ở bảng sau:
Bảng 4.13: Một số chỉ tiêu sinh thái thân cây Sao đen trưởng thành STT Giá trị D 1.3 (cm) D t (m) H vn (m) H dc (m)
* So chai Tên khoa học: Hopea recopei Pierre Tên khác: Chò chai, Chò chỉ
Kết quả nghiên cứu 5 cây Chò chai trưởng thành phân bố trên tuyến trong khu vực nghiên cứu được trình bày ở bảng sau:
Bảng 4.14: Một số chỉ tiêu sinh thái thân cây So chai trưởng thành STT Giá trị D 1.3 (cm) D t (m) H vn (m) H dc (m)
3 Trung bình 17,5 4,5 15,5 10,5 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
* Táu muối Tên khoa học: Vatica chevalieri (Gagn.) Smitinand Tên khác: Táu lá nhãn
Kết quả nghiên cứu 6 cây Táu muối trưởng thành phân bố trên tuyến trong khu vực nghiên cứu được trình bày ở bảng sau:
Bảng 4.15: Một số chỉ tiêu sinh thái thân cây Táu muối trưởng thành STT Giá trị D 1.3 (cm) D t (m) H vn (m) H dc (m)
* Táu mật Tên khoa học: Vatica cinerea King Tên khác: Vu
Kết quả nghiên cứu 9 cây Táu mật trưởng thành phân bố trên tuyến trong khu vực nghiên cứu được trình bày ở bảng sau:
Bảng 4.16: Một số chỉ tiêu sinh thái thân cây Táu mật trưởng thành STT Giá trị D 1.3 (cm) D t (m) H vn (m) H dc (m)
* Táu thị Tên khoa học: Vatica diospyroides Symington Tên khác: Táu muối, Làu táu thị
Kết quả nghiên cứu về 4 cây Táu thị trưởng thành trong khu vực nghiên cứu được trình bày chi tiết trong bảng dưới đây.
Bảng 4.17: Một số chỉ tiêu sinh thái thân cây Táu thị trưởng thành STT Giá trị D 1.3 (cm) D t (m) H vn (m) H dc (m)
* Táu trắng Tên khoa học: Vatica odorata (Griff.) Sym.subsp odorata
Kết quả nghiên cứu 7 cây Táu trắng trưởng thành phân bố trên tuyến trong khu vực nghiên cứu được trình bày ở bảng sau:
Bảng 4.18: Một số chỉ tiêu sinh thái thân cây Táu trắng trưởng thành STT Giá trị D 1.3 (cm) D t (m) H vn (m) H dc (m)
* Táu nước Tên khoa học: Vatica philastreana Pierre Tên khác: Lầu táu nước, Táu thị
Kết quả nghiên cứu 8 cây Táu nước trưởng thành phân bố trên tuyến trong khu vực nghiên cứu được trình bày ở bảng sau:
Bảng 4.19: Một số chỉ tiêu sinh thái thân cây Táu nước trưởng thành STT Giá trị D 1.3 (cm) D t (m) H vn (m) H dc (m)
4.4.6 Kết quả điều tra thực địa tại Khu Bảo TN Bình Châu, Phước Bửu
Bô ̣ cơ sở dữ liê ̣u về hình thái, sinh thái, phân bố, giá tri ̣ sử du ̣ng và tình tra ̣ng
Sau khi nghiên cứu và thu thập tài liệu, tôi đã xây dựng một cơ sở dữ liệu chi tiết về đặc điểm hình thái, sinh thái, phân bố, giá trị sử dụng và tình trạng bảo tồn của các loài thuộc hai chi đã đề cập Dữ liệu này được thu thập từ các mẫu tiêu bản và qua điều tra thực địa tại các địa điểm nghiên cứu, đồng thời kế thừa từ các tài liệu có sẵn.
4.5.1 Đặc điểm chung về họ Dầu - Dipterocarpaceae
Cây gỗ lớn có thân thẳng, có thể là thường xanh hoặc rụng lá, và thường chứa nhựa dầu trong thân Cành và lá non thường được bao phủ bởi lông hình sao hoặc vảy nhỏ Lá đơn mọc cách, với gân bên và gân nhỏ thường song song, mép lá nguyên Lá kèm lớn thường bao chồi và thường rụng sớm.
Hoa tự chùm hoặc tự bông, thường xếp thành chùy ở nách lá hoặc đầu cành, có đặc điểm lưỡng tính và mùi thơm Đài hoa có thể dài hoặc ngắn, đôi khi liền với bầu, và phát triển thành cánh quả Tràng hoa thường rời hoặc hơi hợp ở gốc, xếp vặn Số nhị dao động từ 5 đến 15, có khi nhiều hơn, với trung đới dài Bầu hoa có 3 ô, mỗi ô chứa 2 noãn, và một số chi có vòi nhị phình to ở gốc Quả thường khô hoặc kiên, chứa 1 hạt, và thường có đài bao quả phát triển thành cánh trên quả.
4.5.2 Đặc điểm chung Chi Táu - Vatica
Cây nhỏ có kích thước trung bình, thường có thân xù xì và vỏ nhẵn bóng màu xanh nhạt Các phần non của cây được phủ lông hình sao, trong khi lá có hình dạng và kích thước thay đổi với gân bậc ba hình mạng Cụm hoa có thể là chùy hoặc chùm không đều, với hoa có cuống và nụ hình con thoi Đài hoa có lông mịn, lá đài xếp van, có thể rời hoặc chỉ đính ở gốc Cánh hoa thuôn, màu kem nhuốm màu hoa cà, trong khi nhị 15 xếp thành 3 vòng, với vòng trong dài hơn Bầu hoa có hình bán cầu hoặc hình trứng, có vòi hình trụ ngắn và đầu nhụy hình nón với 3 thùy.
Quả hình cầu hóa gỗ có thể có bề mặt nhẵn bóng hoặc xù xì, với đài mang quả có thùy không bằng nhau, thường đính ở gốc hoặc nửa dưới của quả Chi Táu gồm khoảng 65 – 80 loài, phân bố từ Ấn Độ - Mã Lai đến Irian Qua quá trình thu thập thông tin tại các phòng mẫu và điều tra thực địa, đã xác định được 9 loài thuộc chi này, và dưới đây là mô tả chi tiết về các loài đó.
4.5.3 Cơ sở dữ liê ̣u về hình thái, sinh thái, phân bố, giá tri ̣ sử dụng và tình trạng ba ̉ o tồn các loài thuộc Chi Táu (Vatica)
1 Táu thị Tên khoa học: Vatica diospyroides Symingt Tên khác: Táu muối, làu táu nước
Cây gỗ lớn, cao 30 - 35m, đường kính 1m Thân tròn, thẳng Vỏ màu trắng xù xì, thịt vỏ màu trắng Cành non phủ nhiều lông hình sao màu gỉ sắt
Lá đơn, mọc cách, có kích thước từ 14 - 19cm chiều dài và 5 - 6,5cm chiều rộng, với đầu và gốc lá thuôn tù hẹp Mặt dưới lá có nhiều lông hình sao màu vàng nhạt và vảy nhỏ trắng như muối, cùng với 19 đôi gân bên dày xếp song song và thẳng Cuống lá dài từ 1 - 1,2cm, màu đen nhạt, và lá kèm sớm rụng để lại vết sẹo dài Cụm hoa chuỳ mọc ở nách lá, dài khoảng 10cm, với cánh hoa bên ngoài có nhiều lông màu vàng, hoa nhỏ có lá đài dạng thuôn hẹp nhọn và lông màu vàng Cánh tràng mềm màu vàng nhạt dài 2cm, trong khi nhị đực có số lượng 15.
Quả hình trái xoan nhọn, dài, lá đài dạng cánh thẳng đứng, cánh quả có 10 -
* Đặc tính sinh học, sinh thái học
Táu thị mọc trong rừng kín thường xanh, trạng thái nguyên sinh ở độ cao từ
300 - 800m Thường mọc lẫn sao mặt quỉ, Sến mật, Giổi, Re, Mít nài
Cây ưa sáng, sinh trưởng chậm và sống lâu năm, thích hợp với đất sét pha, dày và giàu mùn Khả năng tái sinh hạt của cây rất tốt dưới tán rừng có độ che phủ từ 0,7 đến 0,9 Cây non dần chuyển sang ưa sáng, nhưng nếu bị che bóng quá nhiều, cây con sẽ chết hàng loạt Mùa hoa diễn ra từ tháng 5 đến tháng 8, trong khi mùa quả chín từ tháng 11 đến tháng 12.
Trong nước: Loài có phân bố khá rộng ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam Đã gặp ở Yên Bái, Vĩnh Phúc, Lai Châu (Mường Lay), Hoà Bình, Thanh Hoá, Nghệ
An (Quỳ Châu, Cô Ba), Hà Tĩnh (Hương Sơn, Hương Khê)
Gỗ nặng có dầu nhưng kém bền, dễ bị mối mọt nhóm VI, thường dùng trong xây dựng, làm cầu, tà vẹt
- 5216 – FIPI; 204 - FIBI; 5219- FIPI; 6706 – FIPI; Bx1124 (5218 - FIPI); 101
(5220 - FIPI); Bx1155 (37 - FIPI); Bx1006 (5217 - FIPI); 4918 – FIPI; 4919 – FIPI;
* Hình ảnh luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
1, 2 Mẫu tiêu bản; 2 Hình vẽ; 3 Cành mang lá
2 Táu mật Tên khoa học: Vatica cinerea King Tên khác: Làu táu, Táu nước
Táu mật là loài cây gỗ lớn, thường xanh, cao tới 20 – 35 m Thân mập, thẳng
Vỏ thân nứt đều màu nâu xám, đường kính thân 40 - 50 cm, có khi lên tới 100cm,
Tải luận văn tốt nghiệp mới nhất tại luanvanfull qua email z z @gmail.com Luận văn thạc sĩ mô tả cây có nhựa, với các nhánh phân cành mập, thẳng và tán cao Các nhánh non có lông mịn và có hình dạng giống như sao, với màu sắc tương tự như rỉ sắt.
Lá đơn mọc có hình dạng thuôn bầu dục, với đầu lá thuôn nhọn và đuôi lá gần tròn Kích thước lá dài từ 8 đến 11 cm và rộng từ 4 đến 5 cm, có màu xanh lục bóng nhẵn, dày và dai, với gân bên thưa đều Cuống lá dài từ 1 đến 1,5 cm, kèm theo chiều dài từ 0,2 đến 0,8 cm.
Cụm hoa chùy mọc ở nách lá với lông mịn và đều Hoa có kích thước trung bình, cánh đài gồm 5 phần thuôn dài, gần như bằng nhau và hai mặt đều phủ lông Cánh tràng cũng có 5, dài khoảng 1 cm, mềm và dễ rụng Nhị đực có 12, với phần trung đới tù Bầu hoa nằm ở trên, noãn sào có 6 rãnh và phủ lông xám Đầu nhụy chia thành 3 thùy tam gác.
Quả hình cầu có lông, mang 2 cánh phát triển, dài 4 - 5 cm, rộng 1,5 cm và có 5 gân song song, những cánh nhỏ dài 1,5cm, có 4 gân nổi rõ
* Đặc tính sinh học, sinh thái học
Ra hoa vào tháng 5 và quả chín vào tháng 9 - 10 Loài cây thường thấy ở độ cao 300 - 900 m so với mực nước biển
Thế giới: Loài cây có ở các nước Mianma, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaixia
Loài này phân bố chủ yếu ở các tỉnh Hòa Bình, Thừa Thiên Huế, Kiên Giang (Phú Quốc) và tự nhiên ở các tỉnh phía Bắc như Tuyên Quang, Lạng Sơn, Phú Thọ, cùng với một số cây rải rác tại Yên Bái, đặc biệt ở các huyện Văn Yên, Văn Chấn và Lục Yên Ngoài ra, loài cũng có thể được tìm thấy tại Vườn quốc gia Cúc Phương (Ninh Bình) và nhiều khu vực khác trong vườn quốc gia này.
Gỗ cứng, có gỗ giác gỗ lõi phân biệt, giác màu trắng xám, lõi màu nâu nhạt
Gỗ tốt không bị mối mọt, thuộc nhóm tứ thiết (Đinh, Lim, Sến, Táu), được ưa chuộng trong xây dựng, làm tà vẹt, đường tàu hỏa, xây dựng cầu, xẻ làm ván sàn và đóng đồ gỗ.
* Mẫu nghiên cứ u luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
- BC – TV 000431; Bs 39 (5223 - FIPI); Bs 321 (15 - FIPI); 5225 – FIPI
1 Mẫu tiêu bản; 2 Hình vẽ; 3 Tán cây; 4 Lá, quả
1 2 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
3 Táu xanh Tên khoa học: Vatica subglabra Merr Tên khác: Táu muối gân nhẵn
Cây gỗ lớn thường xanh có chiều cao từ 20 đến 30 m, với thân thẳng và phân cành sớm Đường kính thân cây dao động từ 40 đến 60 cm, vỏ cây màu xám đen có nứt dọc nông, trong khi thịt vỏ có màu hồng hoặc vàng nhạt và có xơ Cành cây mảnh, khi khô có màu nâu hồng, còn khi non thì có lông hình sao và sau đó trở nên nhẵn.
Lá đơn mọc cách, có hình trái xoan với kích thước dài từ 4 - 7 cm và rộng từ 1 - 4 cm Lá hơi cong, không đối xứng, với đầu lá thót nhọn và đuôi lá hình nêm hơi lệch, mép lá nguyên Gân lá cấp hai có từ 10 - 13 đôi, trong khi cuống lá mảnh và dài khoảng 0,5 cm.