1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn) nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng keo lưỡi liềm (acacia crassicarpa a cunn ex benth) trên vùng đất cát cố định, bán ngập bình trị thiên

109 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu Một Số Biện Pháp Kỹ Thuật Trồng Rừng Keo Lưỡi Liềm (Acacia Crassicarpa A. Cunn. Ex. Benth) Trên Vùng Đất Cát Cố Định, Bán Ngập Bình Trị Thiên
Tác giả Nguyễn Thị Liệu
Người hướng dẫn TS. Võ Đại Hải
Trường học Trường Đại học Lâm Nghiệp
Chuyên ngành Lâm Nghiệp
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Tây
Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Trên thế giới (5)
    • 1.1.1. Nghiên cứu về động thái cát bay ven biển (5)
    • 1.1.2. Nghiên cứu về trồng rừng trên đất cát ven biển (5)
    • 1.1.3. ảnh hưởng của các biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng rừng trồng phòng hộ (7)
    • 1.1.4. Nghiên cứu về đặc điểm của Keo lưỡi liềm (9)
  • 1.2. ở Việt Nam (11)
    • 1.2.1. Nghiên cứu về đất cát ven biển (11)
    • 1.2.2. Nghiên cứu về trồng rừng trên vùng cát (13)
    • 1.2.3. ảnh hưởng của các biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng rừng trồng . 14 1.2.4. Nghiên cứu về Keo lưỡi liềm (Acacia crassicarpa) (16)
  • 1.3. Nhận xét và đánh giá chung (20)
  • 2.1. Mục tiêu nghiên cứu (22)
    • 2.1.1. Về khoa học (22)
    • 2.1.2. VÒ thùc tiÔn (22)
  • 2.2. Đối tượng nghiên cứu (22)
  • 2.3. Giới hạn nghiên cứu (22)
  • 2.4. Nội dung nghiên cứu (22)
  • 2.5. Phương pháp nghiên cứu (23)
    • 2.5.1. Quan điểm và cách tiếp cận (23)
    • 2.5.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể (24)
  • 3.1. Điều kiện tự nhiên (32)
    • 3.1.1. Vị trí địa lý (32)
    • 3.1.2. Diện tích, đất đai (32)
    • 3.1.3. Địa hình (34)
    • 3.1.4. KhÝ hËu (34)
    • 3.1.5. Thủy văn (35)
  • 3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội (35)
    • 3.2.1. Dân số, dân tộc, lao động (35)
    • 3.2.2. Kinh tế - xã hội (36)
  • 3.3. Nhận xét và đánh giá chung (37)
    • 3.3.1. Thuận lợi (37)
    • 3.3.2. Khã kh¨n (38)
  • 4.1. Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật làm đất trồng rừng Keo lưỡi liềm trên vùng đất cát cố định bán ngập Bình Trị Thiên (39)
    • 4.1.1. Mô hình thí nghiệm làm đất lên líp tại Triệu Phong - Quảng Trị (39)
    • 4.1.2. Mô hình thí nghiệm lên líp tại Gio Linh - Quảng Trị (55)
  • 4.2. Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật bón phân (bón lót) trồng rừng Keo lưỡi liềm trên vùng đất cát cố định bán ngập Bình Trị Thiên (61)
    • 4.2.1. Mô hình thí nghiệm bón phân tại Triệu Phong - Quảng Trị (61)
    • 4.2.2. Mô hình thí nghiệm bón phân tại Gio Linh - Quảng Trị (70)
  • 4.3. Nghiên cứu mật độ trồng rừng Keo lưỡi liềm trên vùng đất cát cố định bán ngập Bình Trị Thiên (77)
    • 4.3.1. Mô hình thí nghiệm mật độ tại Triệu Phong - Quảng Trị (77)
    • 4.3.2. Mô hình thí nghiệm tại Nhĩ Trung - Gio Linh - Quảng Trị (83)
  • 4.4. Bước đầu đánh giá khả năng phòng hộ môi trường của rừng Keo lưỡi liềm (87)
    • 4.4.1. Đánh giá khả năng cải tạo đất của rừng trồng Keo lưỡi liềm (87)
      • 4.4.1.1. Đánh giá khả năng cải tạo lý hoá tính đất của rừng Keo lưỡi liềm (87)
      • 4.4.1.2. Đánh giá khả năng làm tăng lượng vật rơi rụng trả lại cho đất (89)
    • 4.4.2. Đánh giá khả năng chắn gió của rừng trồng Keo lưỡi liềm (91)
  • 4.5. Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật trong trồng rừng Keo lưỡi liềm trên đất cát cố định bán ngập Bình Trị Thiên (94)
    • 4.5.1. Biện pháp kỹ thuật làm đất (94)
    • 4.5.2. Mật độ trồng rừng (95)
    • 4.5.3. Bãn ph©n (95)
    • 4.5.4. Tiêu chuẩn cây con (95)
    • 4.5.6. Chăm sóc và bảo vệ rừng trồng (96)
  • 5.1. KÕt luËn (98)
  • 5.2. Tồn tại (99)
  • 5.3. Kiến nghị..................................................................................................................................98 Tài liệu tham khảo (100)

Nội dung

Trên thế giới

Nghiên cứu về động thái cát bay ven biển

Hạt cát chỉ di động khi sức gió vượt quá trọng lượng của nó Theo Sô-kô-lốp H.A., hạt cát nhỏ hơn 0,25 mm cần tốc độ gió từ 4,5-6,7 m/s để di chuyển, trong khi hạt cát lớn hơn 1,0 mm cần tốc độ gió từ 11,4-13,0 m/s Khi gió đủ mạnh, hạt cát sẽ tách khỏi bề mặt bãi cát và di chuyển theo ba hình thức: lăn (đối với hạt cát lớn trên bãi cát bằng), nhảy (đối với hạt cát vừa và nhỏ trên bãi cát phẳng), hoặc bay (đối với hạt cát nhỏ trong gió mạnh) Khi gió ngừng hoặc thay đổi tốc độ, hạt cát sẽ rơi xuống đất.

Nghiên cứu về trồng rừng trên đất cát ven biển

Hiện tượng cát bay và khô hạn gây ra nhiều tác hại nghiêm trọng, vì vậy nhiều quốc gia đã triển khai trồng rừng trên đất cát để giảm thiểu những tác động này và cải thiện môi trường Các nghiên cứu về trồng rừng trên đất cát chủ yếu tập trung vào việc phát triển rừng phòng hộ, với nhiều khía cạnh đa dạng như lựa chọn loài cây, biện pháp kỹ thuật trồng, và xây dựng đai rừng.

Cây Phi lao là loài cây chủ đạo trong kỹ thuật trồng rừng phòng hộ chắn cát ven biển ở Trung Quốc và các nước Trung Đông, miền Đông và Tây Châu Phi Các hệ thống đai rừng được trồng với chiều rộng từ 100 - 200 m, có nơi lên đến 2 - 5 km, tùy thuộc vào bề rộng bãi cát và địa hình Khoảng cách trồng cây dao động từ 1m x 2m (5.000 cây/ha) đến 1m x 1m (10.000 cây/ha) Sau đai rừng Phi lao, thường có các đai rừng hỗn giao hoặc thuần loài của Bạch đàn, Keo, và Thông nhựa, trong khi phía trong cùng là các khu vực canh tác nông nghiệp.

- Kết cấu đai rừng và tác dụng phòng hộ của đai rừng

Bố trí thiết kế các đai rừng nhằm đạt hiệu quả phòng hộ cao là vấn đề được nhiều người quan tâm Kết cấu đai rừng, bao gồm hình dạng và cấu tạo bên trong, ảnh hưởng đến đặc điểm, mức độ lọt gió và tốc độ gió Có ba loại kết cấu đai rừng: kết cấu kín, kết cấu thưa và kết cấu hơi kín Theo Nhikitin P.D, tốc độ gió sau đai rừng thưa phục hồi chậm nhất, với phạm vi chắn gió lớn (60 H) và hiệu quả phòng hộ đạt 35 - 40 H, giảm tốc độ gió 35 - 40% Tuy nhiên, Machiakin G.I và Bođrôp V.A cho rằng phạm vi chắn gió của đai thưa hẹp hơn so với đai hơi kín, trong khi Machiakin G.I khẳng định rằng đai rừng hơi kín giảm tốc độ gió nhiều nhất.

Từ năm 1766, các cánh đồng hoang khô hạn ở Ucren, Quibiep và Tây Xibêri đã được cải tạo để phát triển nông nghiệp bền vững thông qua việc xây dựng hệ thống đai rừng phòng hộ môi trường, nhằm cải thiện tiểu khí hậu Các nghiên cứu của V A Lômitcôsku (1809) và Dokuchaep đã đóng góp quan trọng vào công cuộc này.

X A Timiriazep (1893, 1909, 1911) cho rằng để cải thiện tiểu khí hậu và cải tạo đất trên các hoang mạc, cần trồng rừng phòng hộ theo hệ thống đai hoặc mạng lưới ô vuông, với cấu trúc kín và đa tầng.

Hệ thống phòng hộ quy mô lớn tại Trung Quốc được công nhận là một thành công vĩ đại trong việc cải thiện điều kiện môi trường, đặc biệt trong việc chống bão cát và hạn chế xói mòn.

551 hạt thuộc 13 tỉnh phía Bắc từ Sơn Tây, Ninh Hạ, khu vực tự trị Nội Mông đến Bắc Kinh, Liêu Ninh [33].

Đai rừng đóng vai trò quan trọng trong việc phòng hộ và cải thiện điều kiện canh tác Nghiên cứu của Zheng Haishui (1996) cho thấy, một đai rừng rộng 100 m có khả năng cố định từ 124 đến 223 m³ cát mỗi năm Tại thành phố Zhanjiang, 20.000 ha đụn cát di động và bán di động đã được cố định nhờ các đai rừng, dẫn đến việc phục hồi hàng ngàn ha đất nông nghiệp.

Theo nghiên cứu của Trạm Nông Lâm Daodông tại đảo Hải Nam, rừng phi lao 10 tuổi đã hình thành lớp thảm mục dày từ 4 đến 9 cm, với tổng lượng cành rơi và lá rụng đạt 15 đến 21 tấn/ha trong suốt 10 năm Đặc biệt, thu nhập từ việc khai thác gỗ củi ở tuổi 15 có thể đạt từ 2.500 đến 4.000 USD/ha.

ảnh hưởng của các biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng rừng trồng phòng hộ

-ảnh hưởng của điều kiện lập địa đến khả năng sinh trưởng của rừng trồng

Theo nghiên cứu của FAO (1984), khả năng sinh trưởng của rừng trồng ở các nước vùng nhiệt đới phụ thuộc vào bốn yếu tố chính: khí hậu, địa hình, loại đất và hiện trạng thực bì.

Laurie (1974) chỉ ra rằng đất đai ở vùng nhiệt đới có nguồn gốc lịch sử phát triển đa dạng, dẫn đến sự khác biệt trong đặc điểm phẫu diện đất như độ dày tầng đất, cấu trúc vật lý, hàm lượng dinh dưỡng khoáng, độ pH và nồng độ muối Điều này ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của rừng trồng trên các loại đất khác nhau.

Theo nghiên cứu của Evans, J (1992), khí hậu có tác động rõ rệt đến năng suất rừng trồng ở vùng nhiệt đới, đặc biệt là tổng lượng mưa bình quân hàng năm, sự phân bố lượng mưa trong năm, lượng bốc hơi và nhiệt độ không khí.

Việc xác định vùng trồng và điều kiện lập địa phù hợp cho từng loài cây trồng là rất quan trọng, vì đây là yếu tố quyết định đến năng suất và chất lượng của rừng trồng.

-ảnh hưởng của phân bón đến năng suất rừng trồng

Nghiên cứu của Schonau (1985) cho thấy bón 150g NPK/gốc với tỷ lệ N:P:K = 3:2:1 có thể làm tăng chiều cao trung bình của rừng Bạch đàn E grandis ở Nam Phi gấp 2 lần sau năm đầu Tại Brazil, Mello H (1976) kết luận rằng Bạch đàn (Eucalyptus) phát triển tốt ngay cả khi không bón phân, nhưng việc bón NPK có thể tăng năng suất rừng lên 50% Ở Cuba, Herrero G và cộng sự (1988) đã chỉ ra rằng bón phân Lân đã nâng sản lượng rừng từ 56 lên 69 m³/ha sau 13 năm trồng.

- ảnh hưởng của mật độ đến năng suất rừng trồng

Mật độ trồng rừng ban đầu là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến năng suất rừng, phụ thuộc vào điều kiện lập địa, mục đích trồng và đặc tính sinh thái của loài cây Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện trên các loài cây khác nhau và các dạng lập địa khác nhau để làm rõ vấn đề này.

Evans, J (1992) đã thực hiện nghiên cứu với 4 công thức mật độ trồng khác nhau cho Bạch đàn E deglupta tại Papua New Guinea, bao gồm 2.985, 1.680, 1.075 và 750 cây/ha Sau 5 năm, kết quả cho thấy đường kính bình quân của cây tăng khi mật độ giảm, trong khi tổng tiết diện ngang (m²/ha) lại tăng khi mật độ tăng.

Trong một nghiên cứu ở Queensland (Australia) với thông P caribaea

Evans (1992) đã thực hiện thí nghiệm với 5 công thức mật độ cây trồng khác nhau (2.200, 1.680, 1.330, 1.075 và 750 cây/ha) Sau hơn 9 năm, ông nhận thấy rằng các công thức mật độ thấp có đường kính 1,3m lớn hơn 10cm chiếm tỷ lệ cao hơn so với các công thức mật độ cao Tuy nhiên, tổng tiết diện ngang của các công thức mật độ cao lại lớn hơn Điều này cho thấy rằng, trong thí nghiệm này, các công thức mật độ cao mang lại trữ lượng gỗ cao hơn nhưng tỷ lệ gỗ thành phẩm lại thấp hơn.

Nghiên cứu về đặc điểm của Keo lưỡi liềm

Keo lưỡi liềm (Acacia crassicarpa) là loài cây thuộc họ đậu

The Fabaceae family, commonly known as the Leguminosae, includes species such as the crescent leaf wattle and spear leaf wattle In English, it is referred to as Northern Wattle, while in Papua New Guinea, it is known as Red Wattle Additionally, it is called Akasia in the Cook Islands.

Keo lưỡi liềm là cây lớn, có chiều cao từ 9 đến 12 mét Lá cây có màu xanh bạc, hình lưỡi liềm, dài từ 11 đến 20 cm và rộng từ 2,5 đến 5,0 cm Hoa của cây thường có 5 cánh mỏng Quả của keo lưỡi liềm lớn, hình chữ nhật, hơi cong, phẳng, cứng và dày, với chiều dài từ 5,0 đến 7,5 cm và chiều rộng từ 2 đến 2,5 cm.

Keo lưỡi liềm phân bố tự nhiên tại Bắc Queensland, Australia, Nam Papua New Guinea và Irian Jaya, Indonesia, với vĩ độ từ 8°N đến 20°N Loài cây này phát triển ở độ cao từ 0 đến 200m, thậm chí có thể lên đến 700m Keo lưỡi liềm thích nghi với các loại đất có độ pH từ 4 đến 8 và có khả năng chịu đựng mùa khô kéo dài lên đến 6 tháng Lượng mưa phù hợp cho sự phát triển của cây là rất quan trọng.

1000 - 3500 mm Nhiệt độ tối đa đạt tới 32 - 34 0 C, tối thiểu đạt 15 - 22 0 C [34].

Keo lưỡi liềm là loài cây sinh trưởng nhanh, có khả năng cố định đạm tự nhiên và phát triển trên nhiều loại đất khác nhau, bao gồm cả đất nghèo dinh dưỡng Tại Australia, loài cây này thường xuất hiện ở các đồi cát, sườn dốc của đụn cát cố định, và các chân đồi, trên nhiều loại đất như cát biển, đất cát vàng, đất đỏ núi lửa, và đất phù sa Ở Papua New Guinea và Indonesia, Keo lưỡi liềm phát triển trên địa hình không ổn định của phù sa cổ Mặc dù thường thấy trên đất thoát nước tốt và có tính axit mạnh, loài cây này cũng có khả năng sinh trưởng ở những vùng không thoát nước và bị ngập úng trong mùa mưa.

Nghiên cứu tại Thái Lan cho thấy rừng trồng Acacia crassicarpa có nguồn gốc từ Papua New Guinea đạt 207 tấn sinh khối khô/ha sau 3 năm (Visaranata 1989) Tại Ratchaburi, vùng khô hơn, năng suất của nó tương đương với Keo lá tràm, đạt 40 tấn sinh khối khô/ha ở tuổi 3 Ở Sarah, Malaysia, Acacia crassicarpa được trồng trên đất đá có tầng mặt mỏng và đất cát, cho kết quả chiều cao từ 15 - 23m và đường kính 1,3 từ 10 - 16cm sau 4 năm, vượt trội hơn cả A auriculiformis và A mangium (Sim và Gan 1991).

Nhiều nghiên cứu trong khu vực cho thấy A crassicarpa có tốc độ sinh trưởng ngang bằng hoặc vượt trội so với A auriculiformis và A mangium, với các số liệu từ Thái Lan, Myanmar, Trung Quốc và Lào Cụ thể, nghiên cứu tại Myanmar cho thấy A crassicarpa sinh trưởng nhanh, với tỷ lệ sống của cây 2 tuổi đạt 95 - 100%, chiều cao từ 7 đến 9,4m và đường kính thân từ 7 đến 9,6cm Tại Papua New Guinea, A crassicarpa được sử dụng để sản xuất đồ gia dụng, thuyền, ván sàn, gỗ củi và bột giấy.

Trọng lượng khô trong không khí của A crassicarpa là 710 kg/m 3 , sấy khô là 620 kg/m 3 (Clak và cộng sự, 1991 - 1994) [40].

A crassicarpa được trồng 40.000 ha ở Sumatra Indonesia trên đất ẩm, có pH thấp và thỉnh thoảng bị ngập nước Trong khi A crassicarpa trên đất ẩm này cho sinh trưởng bình quân hàng năm thấp hơn A mangium trên đất khô nhưng do tỷ trọng A crassicarpa lớn hơn so với A mangium nên sản lượng bột giấy vẫn bằng nhau, do đó sản lượng bột giấy/ha vẫn chấp nhận được Từ 40.000 ha A crassicarpa cung cấp nguyên liệu cho nhà máy bột giấy thu được trên 1 tỷ USD tương đương > 25.000 USD/ha (Stephen Midgley

A crassicarpa là một trong ba loài cây cố định đạm tốt nhất thuộc Bộ đậu Legumimosa(A crassicarpa, A magium và A mearnsii), chúng đóng vai trò quan trọng trong vùng nhiệt đới nhằm bảo vệ và khôi phục đất thoái hoá do canh tác quá mức hoặc khai thác rừng quá mức Những cây này cung cấp gỗ nguyên liệu giấy, gỗ củi, thức ăn gia súc, Tanin và gỗ lớn Chúng cũng được sử dụng rộng rãi để chống xói mòn và phục hồi đất [40].

A crassicarpa được xác định là cây có khả năng hấp thụ CO 2 tốt, chính phủ Australia đã đầu tư một dự án lớn để trồng các loài cây có khả năng hấp thụ khí CO 2 tốt trên 9 nước khác nhau, trong đó ở Việt Nam được sự hợp tác của chính phủ Australia thông qua Viện CSIRO và Trung tâm Giống cây rừng thuộc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam thiết lập 05 vườn giống gồm 02 loài A crassicarpa và Eucalyptus tereticornis Những vườn giống này nhằm cung cấp giống có chất lượng cao và có khả năng hấp thụ khí CO 2 tốt phục vụ trồng rừng tại Việt Nam (Stephen Midgley) [49].

ở Việt Nam

Nghiên cứu về đất cát ven biển

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

-Diện tích, phân bố của đất cát biển Việt Nam

Hiện nay, các số liệu về diện tích đất cát ven biển ở nước ta do nhiều tác giả công bố có sự khác biệt rõ rệt, điều này được thể hiện qua bảng 1.1 dưới đây.

Bảng 1.1 Số liệu diện tích đất cát ven biển Việt Nam

TT Tác giả Thời gian Diện tích (ha)

1 Viện Quy hoạch & Thiết kế NN 1980 502.045

4 Viện KH Lâm nghiệp Việt Nam 1997 502.045

5 Nguyễn Thị Dần, Trần Trúc Sơn 1999 462.700

Mặc dù số liệu diện tích có sự biến động, nhưng các thông tin trên phản ánh diện tích đất cát của nước ta Cụ thể, diện tích đất cát ven biển ước tính khoảng 500.000 - 600.000 ha.

- Phân loại đất cát biển Việt Nam

Theo nghiên cứu của Phan Liêu (1981), đất cát biển Việt Nam được phân chia thành 6 loại phụ, bao gồm: cát bờ biển, cồn cát biển (di động và cố định), đất cát biển điển hình, đất cát biển ngập nước, đất cát biển xen phù sa, và đất cát biển có sò, hến, điệp.

Theo tài liệu “Hiện trạng và hướng sử dụng đất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” do Tổng cục Quản lý ruộng đất công bố, dựa trên số liệu thống kê từ năm 1980-1982, đất cồn cát và đất cát được phân loại thành 5 loại phụ: cồn cát trắng vàng, cồn cát đỏ, đất cát biển, đất cát Glây và đất cát san hô.

Theo phân loại của Nguyễn Ngọc Bình, đất cát trong ngành Lâm nghiệp được chia thành hai loại chính: cồn cát ven biển và đất cát ven biển.

Đỗ Đình Sâm và Nguyễn Ngọc Bình (2001) đã đánh giá tiềm năng sản xuất lâm nghiệp của đất cát biển Việt Nam dựa trên các yếu tố đất đai và tự nhiên như địa mạo, khả năng thoát nước và mức độ di động của cát Họ đề xuất 4 tiêu chí chính để đánh giá tiềm năng sản xuất của đất cát biển, bao gồm loại phụ đất cát, mức độ di động của cát, khả năng thoát nước và khoảng cách từ đất đến biển Ngoài ra, các tác giả cũng cung cấp bảng đánh giá mức độ thích hợp cho việc sử dụng đất cát lâm nghiệp của ba loại đất: đất cát và cồn cát đỏ, đất cát và cồn cát vàng, cùng với đất cát và cồn cát trắng.

Nghiên cứu về trồng rừng trên vùng cát

Việc chọn loài cây trồng phù hợp là yếu tố quyết định cho sự thành công trong trồng rừng trên đất cát ven biển, nơi có điều kiện khắc nghiệt và chỉ một số ít loài cây có thể sống sót Trước đây, Phi lao được xem là loài cây chủ yếu, nhưng nhiều nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng còn nhiều loài cây khác cũng có thể phát triển trên vùng đất này Đỗ Đình Sâm và Nguyễn Ngọc Bình (2001) đã đề xuất các tiêu chuẩn cho cây trồng phòng hộ ở vùng cát, bao gồm khả năng mọc nhanh, chịu gió mạnh, có hệ rễ phát triển tốt, thích nghi với điều kiện đất cát nghèo dinh dưỡng và có tác dụng cải tạo độ phì của đất.

Phi lao (Casuarina equisetifolia L) đã được trồng ở Việt Nam hơn một thế kỷ và chứng tỏ là loài cây chiến lược trong việc chống cát bay tại vùng ven biển Loài cây này sinh trưởng nhanh trong điều kiện thích hợp và đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ đồng ruộng, đồng thời cung cấp gỗ củi cho người dân sống trên vùng cát Nhiều nghiên cứu đã khẳng định Phi lao là cây trồng phòng hộ hiệu quả trên vùng cát Gần đây, các dòng Phi lao hom Trung Quốc 601 và 701 đã được thử nghiệm trồng tại Quảng Bình và Bình Thuận, cho thấy triển vọng cao trong việc phát triển trên cát di động.

Nghiên cứu hợp tác giữa ATSC thuộc khoa Lâm học của CSIRO (Australia), Trung tâm Nghiên cứu Giống cây rừng (Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam) và Trung tâm Giống cây rừng tỉnh Bình Thuận về các loài Keo chịu hạn tại huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận vào năm 1993 đã chỉ ra rằng 11 loài Keo chịu hạn từ Australia, cùng với giống địa phương Muồng Đen (Cassia Siamea) làm đối chứng, đều có tỷ lệ sống cao (74-94,5%) sau 6 tháng trồng Tuy nhiên, sau 56 tháng, tỷ lệ sống của các loài cây đã có sự khác biệt đáng kể, trong đó A torulosa là một trong những loài có tỷ lệ sống cao nhất.

Tỷ lệ sống của các loài cây như A Tumida (47,9%), A holosericea (40,3%), A difficilis (36%) cho thấy sự phát triển mạnh mẽ, trong khi Muồng Đen chỉ còn 16% và Keo lá tràm 5,3% Ba loài A difficilis, A tumida, A torulosa có sinh trưởng về đường kính và chiều cao lớn nhất Theo Đặng Văn Thuyết (2000), ba loài Keo chịu hạn này đã được trồng thử nghiệm trên cồn cát trắng di động ở Quảng Bình và bước đầu cho thấy khả năng tồn tại và phát triển tốt.

Keo lá tràm (A auriculiformis) có tỷ lệ sống thấp và sinh trưởng kém hơn so với ba loài Keo chịu hạn khác khi trồng trên vùng cát trắng Trên bãi cát bán ngập, cây chỉ phát triển nhanh trong ba năm đầu, sau đó sinh trưởng chậm lại và gần như dừng hẳn, dẫn đến khó khăn trong việc trồng thành công.

Keo lưỡi liềm (A crassicarpa) có khả năng sinh trưởng nhanh và thích ứng tốt với điều kiện cát nội đồng, bao gồm cả vùng úng ngập và khô hạn, mang lại triển vọng lớn cho các tỉnh miền Trung, theo Lê Đình Khả từ Viện Khoa học Lâm Nghiệp Việt Nam.

Cây Xoan chịu hạn (Azadiracta indica Juss.F) đã được thử nghiệm trồng trên bãi cát đỏ cố định tại tỉnh Ninh Thuận Sau 2 năm, cây Xoan có chiều cao và đường kính phát triển kém hơn từ 1,5 đến 2 lần so với cây Keo lá tràm cùng tuổi trong cùng điều kiện lập địa.

Các loài cây như Bạch đàn trắng (E camandulensis) và Bạch đàn liễu (E exserta) thường được trồng kết hợp với cây Phi lao trong các khu rừng phòng hộ nông nghiệp Cây Điều (Anacardium occidentale), một loài cây thân gỗ cho quả, cũng thích hợp trồng trên đất cát ven biển, nhưng chỉ từ Quảng Ngãi trở vào Nam Bộ mới đạt sản lượng cao Hiện nay, giống Điều ghép đang được phát triển và trở thành cây trồng lý tưởng cho mô hình vườn hộ trên đất cát ven biển tại Bình Thuận, Ninh Thuận, Phú Yên.

* Kỹ thuật trồng rừng phòng hộ trên đất cát ven biển

Phương thức và mật độ trồng rừng phòng hộ ở Việt Nam rất đa dạng, với các mô hình được áp dụng tại những khu vực có dân cư sinh sống Theo Cao Quang Nghĩa (2003), các loài cây như Phi lao, Keo lá tràm, Keo tai tượng và Bạch đàn thường được trồng thuần loài hoặc xen kẽ, tạo thành hàng hoặc giải 2 - 3 hàng xung quanh vườn hộ và trên các bờ vùng nhằm mục đích cản gió và bảo vệ nhà cửa, ruộng vườn của người dân.

Giai đoạn 1986-1990, Vũ Văn Mễ đã phát triển mô hình trồng rừng phòng hộ trên đất cát trắng tại Tuy Phong - Thuận Hải Các đai rừng được thiết kế theo lưới ô vuông khép kín, với đai chính rộng từ 30 đến 50m, trồng từ 9 đến 15 hàng cây Đai chính được bố trí vuông góc hoặc gần vuông góc với hướng gió hại, trong khi đai phụ rộng 15m trồng 4 hàng cây và cũng vuông góc với đai chính.

Biện pháp làm đất trồng rừng tại huyện Tuy Phong - Bình Thuận từ 1986 đến 1990 cho thấy cày đất cát một lần hoặc hai lần không ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây trồng, nhưng không cày sẽ dẫn đến sự phát triển kém hơn rõ rệt Đối với cây Keo lá tràm và Phi lao, ở vùng thấp có thể trồng Phi lao hoặc Keo bằng cách lên líp để đảm bảo rễ cây nằm trên mực nước cao nhất trong mùa mưa.

Hiện nay, một số chương trình trồng rừng trên đất cát ven biển Việt Nam như dự án PAM và dự án Việt Đức đã áp dụng các phương pháp bón phân cho cây trồng, bao gồm phân chuồng kết hợp với phân NPK, phân khoáng tổng hợp, và hỗn hợp phân hữu cơ vi sinh với NPK Tuy nhiên, chưa có đánh giá cụ thể về hiệu quả bón phân từ các dự án này Theo nghiên cứu của Vũ Văn Mễ, thí nghiệm tại Tuy Phong - Bình Thuận cho thấy ba loài cây Muồng đen, Keo lá tràm và Bạch đàn đều phát triển tốt khi được bón 2 kg phân chuồng/hố trên đất cát được cày toàn diện.

ảnh hưởng của các biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng rừng trồng 14 1.2.4 Nghiên cứu về Keo lưỡi liềm (Acacia crassicarpa)

-ảnh hưởng của điều kiện lập địa đến sinh trưởng rừng trồng:

Trước khi trồng rừng, cần xác định điều kiện lập địa phù hợp cho từng loài cây Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng ba yếu tố chính liên quan đến tiềm năng sản xuất đất lâm nghiệp là đơn vị sử dụng đất, tiềm năng sản xuất của đất và độ thích hợp của cây trồng Đỗ Đình Sâm và Ngô Đình Quế (1994) nhấn mạnh rằng vùng đất cát thường thiếu dinh dưỡng, nhưng vẫn có những mô hình sử dụng đất hiệu quả Cần chú ý đến các vùng cát nội đồng, xa biển, thoát nước kém và những khu vực có tầng tàn tích hữu cơ, vì chúng gặp nhiều khó khăn trong việc sử dụng đất.

-ảnh hưởng các biện pháp làm đất đến năng suất rừng trồng:

Làm đất bằng thiết bị cơ giới, đặc biệt là cầy ngầm, giúp phá vỡ kết cấu đất, làm cho đất tơi xốp và thoáng khí, từ đó hỗ trợ cây trồng sinh trưởng nhanh hơn Phương pháp này hiệu quả nhất trong điều kiện địa hình bằng phẳng Đối với vùng đất trống đồi núi bị thoái hóa, nếu có thể áp dụng làm đất bằng cơ giới, sẽ mang lại kết quả rõ rệt Nghiên cứu của Đỗ Đình Sâm và cộng sự (2001) cho thấy, khi trồng Bạch đàn Eucalyptus urophylla ở Phù Ninh, năng suất rừng Bạch đàn trên đất cày ngầm cao hơn nhiều so với làm đất thủ công, với trữ lượng cây đứng đạt 16 m³/ha/năm sau 8 năm, trong khi nơi làm đất thủ công chỉ đạt 5 m³/ha/năm.

- ảnh hưởng của phân bón đến năng suất rừng trồng:

Bón phân cho cây đã trở thành một biện pháp kỹ thuật Lâm sinh quan trọng tại Việt Nam trong 10 - 15 năm qua, nhằm cung cấp dinh dưỡng cho đất và hỗ trợ sự sinh trưởng của cây trồng trong giai đoạn đầu Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng bón phân cho rừng trồng, đặc biệt là cây Keo lai, mang lại hiệu quả cao Nghiên cứu của Lê Đình Khả và Hồ Quang Vinh (1998) cho thấy công thức bón 2 kg phân chuồng kết hợp với 100g phân Thermophotphat/cây cho sinh trưởng tốt nhất, với sự gia tăng thể tích vượt trội so với công thức đối chứng không bón phân Đỗ Đình Sâm và cộng sự (2001) cũng đã xác định rằng Keo lai sinh trưởng tốt với các công thức bón từ 150-200g NPK kết hợp với 100g vi sinh, đạt trữ lượng cây đứng lên tới 26 m³/ha/năm sau hai năm trồng.

Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về Keo lai, Bạch đàn và Keo tai tượng, nhưng hiện tại vẫn chưa có thí nghiệm tương tự nào được thực hiện cho Keo lưỡi liềm, đối tượng nghiên cứu chính của đề tài này.

-ảnh hưởng của mật độ đến năng suất rừng trồng:

Mật độ cây trồng là yếu tố quan trọng quyết định năng suất rừng trồng Mật độ quá cao có thể ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây và chất lượng sản phẩm, trong khi mật độ quá thấp sẽ dẫn đến lãng phí đất và tăng chi phí chăm sóc, bao gồm việc diệt cỏ dại.

Mật độ trồng rừng phù hợp và hiệu quả phụ thuộc vào mục đích trồng và điều kiện lập địa Nghiên cứu về mật độ trồng rừng ở Việt Nam đã được thực hiện cho một số loài cây, nhưng chưa được chú trọng nhiều Theo kinh nghiệm của các công ty trồng rừng nguyên liệu, mật độ thường được áp dụng là 1.660 cây/ha (cự ly 3x2m) cho các cây mọc nhanh và trung bình Tuy nhiên, vẫn chưa có câu trả lời rõ ràng về việc mật độ này có phù hợp cho tất cả các vùng và điều kiện lập địa khác nhau hay không.

Phạm Thế Dũng và cộng sự (2004) đã tiến hành đánh giá năng suất rừng trồng Keo lai tại vùng Đông Nam Bộ với 4 mô hình mật độ trồng khác nhau: 952, 1.111, 1.428 và 1.666 cây/ha Kết quả cho thấy sau 3 năm, rừng có mật độ 1.666 cây/ha đạt năng suất cao nhất là 21 m³/ha/năm, trong khi rừng với mật độ 925 cây/ha có năng suất thấp nhất là 9,7 m³/ha/năm Tác giả khuyến cáo rằng mật độ trồng 1.666 cây/ha là tối ưu cho Keo lai ở khu vực này.

Mật độ trồng cây lý tưởng cho rừng là từ 1.111 đến 1.666 cây/ha Đối với rừng trồng nguyên liệu, nên áp dụng mật độ 1.428 cây/ha, trong khi rừng gỗ nhỡ và gỗ lớn thích hợp với mật độ 1.111 cây/ha.

1.2.4 Nghiên cứu về Keo lưỡi liềm (Acacia crassicarpa)

Keo lưỡi liềm đã được trồng tại Việt Nam khoảng 25 năm, ban đầu chủ yếu để khảo nghiệm loài và xuất xứ nhập nội Lần đầu tiên, loài cây này được thử nghiệm trồng ở Đá Chông, Ba Vì, Hà Tây với nguồn gốc từ Daintree (Qld), cho thấy triển vọng sinh trưởng tốt hơn so với Keo lá tràm và Keo lá sim (A aulacocarpa).

Khảo nghiệm loài và xuất xứ tại Đá Chông - Hà Tây năm 1990 cho thấy Keo lưỡi liềm là một trong những loài có triển vọng nhất Các nguồn gốc Dimisisi, Gubam, Bimadebun, Mata và Derideri từ Papua New Guinea đã sinh trưởng rất tốt, với Keo lưỡi liềm đạt được sự phát triển ấn tượng sau 54 tháng tuổi.

Khảo nghiệm loài và xuất xứ tại Đông Hà - Quảng Trị (1991) cho thấy Keo lưỡi liềm có khả năng sinh trưởng vượt trội, chỉ đứng sau Keo tai tượng Các xuất xứ tốt của Keo lưỡi liềm bao gồm Derideri, Oriomo, Gubam và Mata.

Kết quả khảo nghiệm tại La Ngà cho thấy Keo lưỡi liềm có mức sinh trưởng vượt trội, tương đương với Keo tai tượng và lớn hơn các loài khác Các xuất xứ tốt của Keo lưỡi liềm bao gồm Dimisi, Oriomo và Derideri.

Khảo nghiệm của Huỳnh Đức Nhân và Nguyễn Quang Đức (1997) tại các địa điểm Hàm Yên - Tuyên Quang, Gia Thanh - Phú Thọ và Tam Đảo - Vĩnh Phúc đã đánh giá 4 loài keo, bao gồm Keo lưỡi liềm, Keo lá tràm, Keo tai tượng, Keo lá sim, và Keo A holosericea Kết quả cho thấy Keo lưỡi liềm có khả năng sinh trưởng tốt nhất, cho thấy triển vọng cao trong việc gây trồng ở khu vực trung du miền Bắc.

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Thủy (2002) tại An Giang cho thấy các loài keo như Keo lưỡi liềm, Keo lá tràm, Keo tai tượng, Keo lá sim và một số loài keo chịu hạn khác Kết quả cho thấy Keo lưỡi liềm có khả năng sinh trưởng tốt, tương đương với Keo tai tượng và vượt trội hơn so với các loài keo khác.

Kết quả khảo nghiệm cho thấy loài A crassicarpa có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn so với A auriculiformis và A mangium Đặc biệt, các xuất xứ từ Papua New Guinea đạt được mức sinh trưởng nhanh nhất.

Manta prov., Gubam, Derideri và Pongaki (Nguyễn Hoàng Nghĩa và Lê Đình

Nhận xét và đánh giá chung

Keo lưỡi liềm đã được nghiên cứu rộng rãi trên toàn thế giới, cho thấy đây là loài cây mọc nhanh, có khả năng sinh trưởng tốt trong nhiều vùng sinh thái, đặc biệt là đất cát Nghiên cứu về Keo lưỡi liềm đã đóng góp vào sự phát triển của loài cây này, đặc biệt trong lĩnh vực trồng rừng Tại Việt Nam, trong 25 năm qua, Keo lưỡi liềm cũng đã được khảo nghiệm về loài và xuất xứ, với các kết quả cho thấy tiềm năng phát triển mạnh mẽ của nó.

Keo lưỡi liềm có khả năng sinh trưởng tốt trên nhiều vùng sinh thái, đặc biệt là đất cát, và cho thấy tiềm năng vượt trội so với các loài Keo khác Tuy nhiên, loài cây này vẫn chưa được đưa vào sản xuất do thiếu hướng dẫn kỹ thuật cụ thể Đất cát cố định bán ngập ở Bình Trị Thiên có điều kiện khắc nghiệt, nghèo dinh dưỡng và khó canh tác, dẫn đến việc nhiều diện tích vẫn bị bỏ hoang Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật trồng rừng Keo lưỡi liềm trên vùng đất này là cần thiết để sử dụng hiệu quả đất cát, nâng cao đời sống người dân địa phương và bảo vệ môi trường sinh thái ven biển.

Luận văn "Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng Keo lưỡi liềm (Acacia crassicarpa) trên vùng đất cát cố định bán ngập Bình Trị Thiên" là một nghiên cứu cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn lớn, nhằm cải thiện kỹ thuật trồng rừng trong khu vực này.

Mục tiêu, Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu

Về khoa học

Nghiên cứu được một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng Keo lưỡi liềm trên vùng đất cát cố định bán ngập Bình - Trị - Thiên.

VÒ thùc tiÔn

Đề xuất được một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng Keo lưỡi liềm trên đất cát cố định bán ngập Bình - Trị - Thiên.

Giới hạn nghiên cứu

Địa điểm nghiên cứu được giới hạn trong vùng đất cát cố định bán ngập Bình Trị Thiên, với các mô hình thí nghiệm được bố trí tại các huyện Triệu Phong và Gio Linh thuộc tỉnh Quảng Trị.

- Loài cây: Keo lưỡi liềm xuất xứ Mata - Papua New Guinea

Nội dung nghiên cứu tập trung vào các biện pháp kỹ thuật trồng rừng Keo lưỡi liềm, bao gồm làm đất, bón phân và mật độ trồng Nghiên cứu cũng đánh giá khả năng phòng hộ của rừng Keo lưỡi liềm đối với các yếu tố như tính chất lý hóa học của đất, khả năng chống cát bay và khả năng chắn gió.

Nội dung nghiên cứu

Để đạt được các mục tiêu trên, luận văn đặt ra các nội dung nghiên cứu sau ®©y:

Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật làm đất trồng rừng trên vùng đất cát cố định bán ngập Bình Trị Thiên nhằm cải thiện hiệu quả trồng rừng và bảo vệ môi trường Các phương pháp này sẽ giúp tối ưu hóa điều kiện đất đai, tăng cường khả năng giữ nước và dinh dưỡng cho cây trồng Tài liệu liên quan có thể được tìm thấy qua việc tải xuống luận văn tốt nghiệp và luận văn thạc sĩ mới nhất.

- Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật bón lót phân trồng rừng Keo lưỡi liềm trên vùng đất cát cố định bán ngập Bình Trị Thiên.

- Nghiên cứu mật độ trồng rừng Keo lưỡi liềm trên vùng đất cát cố định bán ngập Bình Trị Thiên.

- Bước đầu đánh giá khả năng phòng hộ môi trường của rừng Keo lưỡi liềm trên vùng đất cát cố định bán ngập Bình - Trị - Thiên.

- Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật trong trồng rừng Keo lưỡi liềm trên đất cát cố định bán ngập Bình Trị Thiên

Phương pháp nghiên cứu

Quan điểm và cách tiếp cận

Vùng đất cát bán ngập Bình Trị Thiên với đặc điểm nghèo dinh dưỡng và thường xuyên bị ngập úng đòi hỏi các yếu tố làm đất, bón phân và mật độ trồng rừng phải được chú trọng để nâng cao khả năng sinh trưởng và phòng hộ của rừng trồng Nghiên cứu này tập trung vào việc áp dụng ba yếu tố trên để tìm ra các biện pháp kỹ thuật trồng rừng phù hợp cho loài Keo lưỡi liềm Các thí nghiệm sẽ được thiết kế riêng biệt nhằm xác định các chỉ số tối ưu cho từng yếu tố Kết quả sẽ được tổng hợp để đề xuất các biện pháp kỹ thuật trồng rừng Keo lưỡi liềm trên đất cát bán ngập Bình Trị Thiên, dựa trên hiệu quả phòng hộ mà rừng trồng mang lại.

Sơ đồ 2.1 Sơ đồ phương hướng giải quyết vấn đề

Vị trí địa lí, đặc điểm đất cát cố định bán ngập Bình Trị Thiên

Bố trí các công thức thí nghiệm

Lựa chọn các công thức cho kết quả tốt nhÊt

Lựa chọn các nhân tố chủ đạo ảnh hưởng đến sinh trưởng của rừng trồng là rất quan trọng Đề xuất các biện pháp kỹ thuật trồng rừng hiệu quả sẽ giúp nâng cao năng suất và chất lượng rừng Tài liệu liên quan đến luận văn thạc sĩ có thể được tải về để tham khảo thêm.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Các bước tiến hành nghiên cứu được thể hiện qua sơ đồ ở hình 2.2.

Sơ đồ 2.2 Sơ đồ các bước tiến hành nghiên cứu Đề xuất các biện pháp kü thuËt trồng rừng

Thu thËp các tài liệu, số liệu đã có

Khảo sát tổng thể khu vực nghiên cứu

Lựa chọn địa điểm và bố trí thí nghiệm là bước quan trọng trong việc đánh giá kết quả và hiệu quả môi trường của các thí nghiệm Các thí nghiệm liên quan đến làm đất, bón phân và mật độ trồng cần được thực hiện một cách khoa học để đảm bảo tính chính xác Để tìm hiểu thêm, bạn có thể tải luận văn tốt nghiệp mới nhất qua email: z z @gmail.com.

2.5.2.1 Thu thập số liệu đã có áp dụng phương pháp kế thừa tài liệu Những tài liệu được đề tài kế thừa gồm:

- Các công trình nghiên cứu đã có về đất cát ven biển nói chung và đất cát cố định bán ngập Bình Trị Thiên nói riêng.

Nghiên cứu và phát triển cây Keo lưỡi liềm đã được thực hiện trên nhiều vùng sinh thái khác nhau, đặc biệt là tại khu vực đất cát ven biển Bình Trị Thiên.

Các số liệu thống kê hàng năm về trồng rừng trên đất cát tại vùng Bình Trị Thiên, đặc biệt là khu vực cát cố định bán ngập, cho thấy sự phát triển và tiềm năng của hoạt động này trong việc bảo vệ môi trường và cải thiện sinh kế cho cộng đồng địa phương.

- Các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội vùng cát ven biển Bình Trị Thiên.

2.5.2.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm a) Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật làm đất:

Thí nghiệm được bố trí năm 2000 và 2001, cụ thể như sau:

Vào năm 2000, một thí nghiệm được thực hiện tại Triệu Trạch, Triệu Phong, Quảng Trị trên diện tích 1,9 ha Thí nghiệm bao gồm 10 công thức làm đất được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ, lặp lại 3 lần, với mỗi công thức có diện tích 600 m² (25m x 24m) Loài Keo lá tràm được sử dụng trong một số công thức để tiến hành so sánh.

Lần lặp Lặp I Lặp II Lặp III

Sơ đồ 2.3 Sơ đồ bố trí thí nghiệm lên líp năm 2000 - Triệu Phong Q Trị

- CT1: Đối chứng: Không lên líp

- CT2: Líp đơn (trồng 01 hàng) rộng 1,5m; rãnh líp 1,5m; cao 0,2m. luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

- CT3: Líp đơn (trồng 01 hàng) rộng 1,5m; rãnh líp 1,5m; cao 0,4m.

- CT4: Líp đôi (trồng 02 hàng) rộng 4,0m; rãnh líp 2,0m; cao 0,2m.

- CT5: Líp đôi (trồng 02 hàng) rộng 4,0m; rãnh líp 2,0m; cao 0,4m.

- CT6: Líp bốn (trồng 04 hàng) rộng 10,0m; rãnh líp 2,0m; cao 0,2m. Phần đối chứng Keo lá tràm:

- CT8: Líp đơn (trồng 01 hàng) rộng 1,5m; rãnh líp 1,5m; cao 0,2m.

- CT9: Líp đôi (trồng 02 hàng) rộng 4,0m; rãnh líp 1,5m; cao 0,2m.

- CT10: Líp bốn (trồng 04 hàng) rộng 10,0m; rãnh líp 2,0m; cao 0,2m.

Vào năm 2001, một thí nghiệm đã được thực hiện tại Nhĩ Trung, Gio Thành, Gio Linh, Quảng Trị, với diện tích 0,8 ha, bao gồm 03 công thức thí nghiệm dựa trên đánh giá từ năm 2000 Mỗi công thức được bố trí theo ô, với diện tích mỗi ô là 720 m² (30m x 24m), được sắp xếp ngẫu nhiên theo khối và lặp lại 3 lần.

Lần lặp Công thức thí nghiệm lên líp

Lặp I Líp đôi cao 0,4m Líp đơn cao 0,4 m Không lên líp Lặp II Líp đôi cao 0,4m Líp đơn cao 0,4 m Không lên líp Lặp III Líp đôi cao 0,4m Líp đơn cao 0,4 m Không lên líp

Sơ đồ 2.4 Sơ đồ bố trí thí nghiệm lên líp năm 2001 - Gio Linh Q Trị

- CT1: Đối chứng: Không lên líp.

- CT2: Líp đơn (trồng 01 hàng) rộng 1,5m; rãnh líp 1,5m, cao 0,4m.

CT3 là phương pháp trồng líp đôi với 02 hàng cây, có chiều rộng 4,0m, rãnh líp 2,0m và chiều cao 0,4m Nghiên cứu này tập trung vào chế độ bón phân lót cho cây rừng Keo lưỡi liềm trên vùng đất cát cố định bán ngập tại Bình Trị Thiên.

Vào năm 2000, một thí nghiệm đã được thực hiện tại Triệu Trạch, Triệu Phong, Quảng Trị trên diện tích 1,9 ha Thí nghiệm bao gồm 09 công thức bón phân được sắp xếp theo phương pháp khối ngẫu nhiên đầy đủ cho cây Keo lưỡi liềm Mỗi công thức thí nghiệm được bố trí trong ô có diện tích 600 m² (25m x 24m) và được lặp lại 3 lần.

Sử dụng các loại phân Vi sinh, NPK, Lân. luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Lần lặp Lặp I Lặp II Lặp III Công thức bón ph©n

Sơ đồ 2.5 Sơ đồ bố trí thí nghiệm bón phân năm 2000 - Triệu Phong Q Trị

- CT1: Đối chứng: Không bón phân.

- CT2: Bãn lãt NPK: 50 g/gèc.

- CT3: Bãn lãt NPK: 75 g/gèc.

- CT4: Bãn lãt NPK: 100 g/gèc.

- CT5: Bãn lãt Vi sinh: 100 g/gèc.

- CT6: Bãn lãt Vi sinh: 150 g/gèc.

- CT7: Bãn lãt Vi sinh: 200 g/gèc.

- CT8: Bãn lãt L©n Super: 100 g/gèc.

- CT9: Bãn lãt L©n Super: 150 g/gèc.

Vào năm 2001, một thí nghiệm đã được tiến hành tại Nhĩ Trung - Gio Thành - Gio Linh - Quảng Trị trên diện tích 1,4 ha với 05 công thức dựa trên đánh giá từ năm thí nghiệm đầu tiên Mỗi công thức được bố trí theo ô, với kích thước mỗi ô thí nghiệm là 720 m² (30m x 24m), được sắp xếp theo khối ngẫu nhiên đầy đủ và lặp lại 3 lần Mục tiêu của việc bố trí thí nghiệm phân hữu cơ và bùn ao là nhằm giữ ẩm trong mùa hè sau khi trồng và chống lại hiện tượng cát bay cục bộ.

Lần lặp Công thức bón phân

Sơ đồ 2.6 Sơ đồ bố trí thí nghiệm bón phân năm 2001 - Gio Linh Q Trị

- CT1: Đối chứng: Không bón phân.

- CT2: Bón lót vi sinh hữu cơ sông Gianh 200 g/ gốc. luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

- CT3: Bón lót vi sinh hữu cơ sông Gianh 100 g/gốc + Bùn ao 1kg/gốc.

- CT4: Bón lót Bùn ao 2 kg/gốc.

- CT5: Bón lót phân chuồng 2kg/gốc. c) Nghiên cứu mật độ trồng rừng Keo lưỡi liềm trên vùng đất cát cố định bán ngập Bình Trị Thiên

Vào năm 2000, tại Triệu Trạch, Triệu Phong, Quảng Trị, một nghiên cứu đã được thực hiện trên diện tích 1,2 ha với 04 công thức thí nghiệm mật độ Các công thức này được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ cho cây Keo lưỡi liềm, với mỗi công thức được sắp xếp trong các ô riêng biệt.

Lặp I Lặp II Lặp III

Sơ đồ 2.7 Sơ đồ bố trí thí nghiệm mật độ trồng năm 2000 - Triệu Phong

- CT1: Mật độ: 3 x 1m = 3.300 cây/ha.

- CT2: Mật độ 3 x 1.5m = 2.200 cây/ha.

- CT3: Mật độ 3 x 2m = 1.650 cây/ha.

- CT4: Mật độ: 2 x 2m = 2.500 cây/ha.

Vào năm 2001, tại Nhĩ Trung - Gio Thành - Gio Linh - Quảng Trị, một diện tích 0,8 ha đã được sử dụng cho ba công thức thí nghiệm dựa trên kết quả đánh giá từ năm đầu tiên Mỗi công thức thí nghiệm được bố trí trong các ô có diện tích 720 m² (30m x 24m), được sắp xếp theo phương pháp ngẫu nhiên đầy đủ và lặp lại ba lần.

Lần lặp Công thức mật độ

Sơ đồ 2.8 Sơ đồ bố trí thí nghiệm mật độ trồng năm 2001 - Gio Linh luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

- CT1: Mật độ 2 x 2m = 2.500 cây/ha.

- CT2: Mật độ 3x1.5m = 2.200 cây/ha.

- CT3: Mật độ 3 x 2m = 1.650 cây/ha.

2.5.2.3 Phương pháp thu thập số liệu + Đối với các thí nghiệm làm đất, bón phân, mật độ trồng:

- Số liệu thí nghiệm được thu thập trên các ô thí nghiệm, đo 30 cây/ô.

- Các chỉ tiêu sinh trưởng thu thập gồm: D g ; D 1,3 ; H vn ; D t ; tỉ lệ sống; tình hình sâu bệnh hại

Đường kính gốc và đường kính ngang ngực được đo bằng thước kẹp kính, trong khi chiều cao được xác định bằng sào đo cao Đường kính tán được đo bằng thước dây theo hai hướng Đông - Tây và Nam - Bắc, sau đó lấy giá trị trung bình.

+ Tỷ lệ sống tính bằng tỷ lệ % số cây hiện còn và số cây trồng ban đầu.

+ Đối với hiệu quả cải tạo môi trường

Để cải tạo lý hoá tính đất, cần đào phẫu diện và lấy mẫu đất tại ba ô tiêu chuẩn đại diện cho khu vực trồng rừng Kích thước phẫu diện là 40 x 40 x 40 cm, với mẫu đất được lấy ở độ sâu 0-30 cm, mỗi mẫu khoảng 1 kg Mẫu đất sẽ được cho vào túi nylon hoặc hộp nhôm để phân tích tại phòng thí nghiệm Việc lấy mẫu sẽ được thực hiện một lần trước khi trồng rừng và một lần sau khi rừng đạt 4,5 tuổi, nhằm phân tích hàm lượng và thành phần lý, hoá tính của đất trước và sau khi trồng.

Để đánh giá khả năng chắn gió của đai rừng, cần đo gió trước và sau đai bằng máy đo gió cầm tay và địa bàn Máy đo được đặt theo hướng Tây - Nam hoặc Đông - Bắc, vuông góc với đai rừng Tại vị trí trước đai, máy được đặt cách đai 12m và ở độ cao 1,5m Đối với vị trí sau đai, thực hiện đo ở các khoảng cách 20m, 40m, 60m, 80m và 100m, cũng ở độ cao 1,5m Mỗi điểm đo cần lặp lại 3 lần để lấy giá trị trung bình.

Lập 10 ô tiêu chuẩn có diện tích 4m² trong rừng trồng keo lưỡi liềm năm 2000 và 2001, theo tuyến song song Toàn bộ vật rơi rụng trong các ô tiêu chuẩn sẽ được thu thập và cân trọng lượng tươi.

2.5.2.4 Phương pháp phân tích, xử lý số liệu và đánh giá kết quả

* Các chỉ tiêu sinh trưởng:

- Sử dụng phương pháp phân tích thống kê trong Nông Lâm nghiệp bằng phần mềm Excel trên máy Vi tính (Nguyễn Hải Tuất, Ngô Kim Khôi,

1998 [25]) và phần mềm SPSS (Nguyễn Hải Tuất, Nguyễn Trọng Bình [26]).

- Tính các đặc trưng thống kê theo từng mô hình để đánh giá kết quả. + Trung bình mẫu (Xtb) được tính theo công thức:

+ Hệ số biến động (Cv%) được tính theo công thức:

+ Thể tích thân cây được tính theo công thức:

+ Tỷ lệ sống trên ha:

M: Trữ lượng cây đứng trên một ha.

Vtb: Thể tích trung bình của một cây.

Điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý

Khu vực nghiên cứu trải dài qua ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế, với tổng chiều dài khoảng 350 km Chiều rộng trung bình của khu vực này dao động từ 50 đến 80 km, trong đó chỗ rộng nhất đạt 91 km và chỗ hẹp nhất là 46,5 km.

Khu vực nghiên cứu nằm trong tọa độ địa lý từ 16 0 12 ' đến 18 0 06’ vĩ độ Bắc, từ 105 0 37 ' đến 108 0 10 ' độ kinh Đông và được giới hạn như sau (xem sơ đồ 3.1):

- Phía Bắc giáp tỉnh Hà Tĩnh.

- Phía Nam giáp tỉnh Quảng Nam.

- Phía Đông giáp biển Đông.

- Phía Tây giáp nước Lào.

Diện tích, đất đai

Khu vực Bình - Trị - Thiên có tổng diện tích là 17.250 km 2 , được chia làm 4 vùng [27]:

- Vùng núi: Chiếm khoảng 30% diện tích toàn khu vực.

Vùng Trung du chiếm khoảng 50% diện tích, với đặc điểm đất đai chung là đất chua, nghèo dinh dưỡng, tầng đất mỏng và độ dốc lớn, dễ bị xói mòn và rửa trôi Tổng cộng có khoảng 15 loại đất, trong đó đất đỏ vàng trên đá sét và biến chất chiếm ưu thế với diện tích khoảng 515.817 ha, cùng với đất có màu đỏ nâu trên đá bazơ và trung tính khoảng 21.000 ha.

Vùng đồng bằng chiếm khoảng 9% diện tích tổng thể, với 18 loại đất khác nhau Trong số đó, chỉ có 7 loại đất thuộc nhóm đất phù sa, tổng diện tích đạt 129.285 ha, bao gồm khoảng 18.574 ha đất bồi.

Vùng đất cát ven biển chiếm khoảng 5,54% diện tích tự nhiên của khu vực, bao gồm hai loại chính: cồn cát trắng vàng với diện tích 77.720 ha và đất cát biển khoảng 32.756 ha, được phân bố theo dải hẹp sát bờ biển.

Sơ đồ 3.1 Sơ đồ khu vực nghiên cứu

Huyện Gio Linh Huyện Triệu Phong luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Địa hình

Khu vực Bình - Trị - Thiên có địa hình phức tạp, thấp dần từ Tây sang Đông và được chia thành nhiều dải Dãy Trường Sơn là phần cao nhất, kéo dài từ Tây Bắc xuống Đông Nam Đồi núi chiếm 3/4 diện tích tự nhiên, với nhiều dãy núi hướng ra biển Bên cạnh đó, vùng đất cát ven biển có địa hình bằng phẳng, bao gồm bãi cát, cồn cát và đụn cát, với độ cao từ 3 - 30 m.

KhÝ hËu

Theo Phân Viện Điều tra Quy hoạch rừng Trung Trung Bộ (2001) [28],

Khu vực Bình - Trị - Thiên có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhưng do ảnh hưởng của địa lý và ba đèo lớn Hải Vân, Đèo Ngang và Mụ Dạ, khí hậu nơi đây mang những đặc điểm riêng và khắc nghiệt hơn so với các vùng khác ở Việt Nam.

Chế độ nhiệt của khu vực này có nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 24 - 25 độ C, với tổng nhiệt độ năm đạt 9000-9200 độ C Mùa lạnh kéo dài từ cuối tháng 11 năm trước đến đầu tháng 3 năm sau, trong đó tháng 1 là tháng lạnh nhất với nhiệt độ trung bình dưới 20 độ C ở đồng bằng và dưới 10 độ C ở độ cao từ 400 m trở lên Nhiệt độ tối thấp có thể giảm xuống 8-9 độ C, hoặc 5-7 độ C ở vùng rẻo cao Mùa nóng diễn ra từ giữa tháng 4 đến tháng 10, với tháng 6 và tháng 7 là những tháng nóng nhất Biên độ giao động nhiệt độ giữa ngày và đêm khoảng 7 - 8 độ C.

Độ ẩm không khí ở khu vực này rất cao, với mức trung bình năm đạt từ 85% đến 88% Mùa ẩm kéo dài từ tháng 9 đến tháng 4 năm sau, trong đó độ ẩm bình quân thường trên 90% Tháng có độ ẩm cao nhất rơi vào giữa mùa Đông, với mức trung bình từ 90% đến 93% Tuy nhiên, vào mùa Hè, độ ẩm có thể giảm xuống dưới 40-45%, điều này đã gây ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của cây trồng.

Chế độ mưa ở khu vực này rất phong phú, với lượng mưa trung bình hàng năm dao động từ 2.256 đến 3.974 mm Quảng Bình ghi nhận lượng mưa thấp nhất, trong khi Thừa Thiên Huế có lượng mưa cao nhất Trung bình, khu vực này trải qua khoảng 140-150 ngày mưa mỗi năm.

Mùa mưa diễn ra từ tháng 8 đến tháng 1 năm sau, với lượng mưa cao nhất vào tháng 10 và 11, đạt trung bình khoảng 607-922mm Ngược lại, tháng 4 và tháng 7 là thời điểm có lượng mưa thấp nhất, chỉ khoảng 51-73mm mỗi tháng.

Bình Trị Thiên là khu vực chịu ảnh hưởng của gió Tây khô nóng, mạnh nhất vào tháng 6-7, với nhiệt độ có thể vượt quá 38-39°C trong các đợt kéo dài 3-5 ngày, gây ra hiện tượng cát bay vào mùa khô Gió mùa Đông Bắc bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 3-4 năm sau, với tốc độ từ 4-6 m/s và thường kèm theo mưa, góp phần hình thành các dãy cồn cát ven biển Khu vực này cũng là một trong những nơi chịu tác động mạnh nhất của gió bão, thường xảy ra vào tháng 9 và 10.

Thủy văn

Khu vực Bình Trị Thiên có 112 con sông dài từ 10 km trở lên, bao gồm 5 hệ thống sông chính Các sông ở đây thường ngắn, dốc và có nhiều thác ghềnh Từ phía Bắc, nổi bật là các con sông lớn như Sông Gianh, Sông Roòn, Sông Kiến Giang, Sông Bến Hải, Sông Thạch Hãn, Sông Hương, Sông Ô Lâu, Sông Truồi và Sông Nong Hệ thống sông này đã cải thiện đáng kể chế độ nước trong khu vực.

Điều kiện kinh tế - xã hội

Dân số, dân tộc, lao động

Dân số khu vực Bình Trị Thiên hiện nay là 2.480.100 người, chiếm 3,15% tổng dân số cả nước Khu vực này có gần 40 dân tộc sinh sống, trong đó người Kinh chiếm đa số và tập trung chủ yếu ở các thị xã, thị trấn, thành phố Huế và ven các quốc lộ, là nhóm có thu nhập cao nhất trong vùng Các dân tộc thiểu số chủ yếu sinh sống ở các vùng núi xa xôi, chiếm tỷ lệ dưới 10% dân số của các tỉnh.

Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội Bình - Trị -Thiên

Mật độ dân số (người/ km 2 )

Có 24 dân tộc, chủ yếu là người Kinh, Vân kiều và Chứt, các dân tộc khác có dưới 100 người.

Cã 29 d©n téc, d©n téc Kinh chiÕm 90,9%, Bru - Vân Kiều chiếm 7,1% và

Tà Ôi 1,8% còn lại là 26 dân tộc khác.

Có 35 dân tộc, người Kinh chiếm 96,3%, Tà Ôi 2,3%, Cờ Tu 1,2%, Bru - Vân Kiều 0,7%, còn lại là dân tộc khác.

Nguồn nhân lực trong khu vực rất phong phú với tổng số lao động đạt 1.220.200 người, chiếm 49% dân số Tuy nhiên, tỷ lệ sử dụng lao động còn thấp, thể hiện qua tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động lên tới 6,2% Hiện tượng thừa nhân lực thường xảy ra vào những thời điểm nông nhàn.

Kinh tế - xã hội

Sự chênh lệch thu nhập giữa các hộ gia đình trong khu vực rất rõ rệt, đặc biệt là giữa nhóm người thành thị và nông thôn, cũng như giữa người Kinh và các dân tộc thiểu số Theo số liệu của Tổng cục thống kê năm 1999, mức chênh lệch thu nhập giữa nhóm có thu nhập cao và thấp lên tới 7 lần Hiện tại, thu nhập trung bình của người lao động Nhà nước tại Bình Trị Thiên là 600.000 đồng/tháng, trong khi nhóm có thu nhập cao đạt trên 6 triệu đồng/tháng, còn những người nghèo chỉ kiếm được dưới 80.000 đồng/tháng.

Bình Trị Thiên có tiềm năng phát triển thủy sản với hơn 300 km bờ biển và nhiều đầm phá rộng lớn, hàng năm xuất khẩu khoảng 500 tỷ đồng hải sản Ngoài ra, du lịch và dịch vụ cũng là thế mạnh của khu vực, với nhiều di tích văn hóa, lịch sử, khu nghỉ mát ven biển, hang động, chùa chiền và lăng tẩm, đóng góp đáng kể vào thu nhập kinh tế địa phương.

Trong những năm qua, hệ thống cơ sở hạ tầng, đặc biệt là đường bộ, đường sắt, sân bay và bến cảng, đã được cải thiện đáng kể, tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu văn hóa, buôn bán và du lịch, góp phần vào sự phát triển kinh tế địa phương Tuy nhiên, cuộc sống của người dân vùng cát vẫn còn rất nghèo do đất đai kém, năng suất cây trồng thấp và thường xuyên chịu ảnh hưởng từ thiên tai như gió bão và cát bay.

Nhận xét và đánh giá chung

Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật làm đất trồng rừng Keo lưỡi liềm trên vùng đất cát cố định bán ngập Bình Trị Thiên

Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật bón phân (bón lót) trồng rừng Keo lưỡi liềm trên vùng đất cát cố định bán ngập Bình Trị Thiên

Nghiên cứu mật độ trồng rừng Keo lưỡi liềm trên vùng đất cát cố định bán ngập Bình Trị Thiên

Bước đầu đánh giá khả năng phòng hộ môi trường của rừng Keo lưỡi liềm

Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật trong trồng rừng Keo lưỡi liềm trên đất cát cố định bán ngập Bình Trị Thiên

Ngày đăng: 21/07/2023, 09:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Ngọc Bình (1996), Đất rừng Việt Nam, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất rừng Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bình
Nhà XB: Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
Năm: 1996
2. Phạm Thế Dũng, Phạm Viết Tùng, Ngô Văn Ngọc (2004), “Năng suất rừng trồng Keo lai ở vùng Đông Nam Bộ và những vấn đề kỹ thuật - lập địa cần quan t©m", Thông tin Khoa học Kỹ thuật Lâm nghiệp, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam,(2), Tr 15-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin Khoa học Kỹ thuật Lâm nghiệp
Tác giả: Phạm Thế Dũng, Phạm Viết Tùng, Ngô Văn Ngọc
Nhà XB: Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
Năm: 2004
3. Phạm Thế Dũng, Ngô Văn Ngọc, Hồ Văn Phúc và các cộng sự (2005), Nghiên cứu một số kỹ thuật thâm canh rừng cho các dòng Keo lai được tuyển chọn trên đất phù sa cổ tại Tỉnh Bình Phước làm nguyên liệu giấy, Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học 2000-2004, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học 2000-2004
Tác giả: Phạm Thế Dũng, Ngô Văn Ngọc, Hồ Văn Phúc, các cộng sự
Nhà XB: Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
Năm: 2005
4. Đặng Thái Dương (2002), Tình hình sử dụng và cải tạo đất cát ven biển miền Trung, Báo cáo chuyên đề khoa học, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình sử dụng và cải tạo đất cát ven biển miền Trung
Tác giả: Đặng Thái Dương
Nhà XB: Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
Năm: 2002
6. Lê Đình Khả (chủ biên) 1997, Kết quả nghiên cứu khoa học về chọn giống cây rừng, nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu khoa học về chọn giống cây rừng
Tác giả: Lê Đình Khả
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1997
7. Lê Đình Khả (1997), Xác định giống cây rừng cho các tỉnh ven biển miền Trung, Kết quả nghiên cứu khoa học vùng Bắc trung Bộ 1991 - 1996, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định giống cây rừng cho các tỉnh ven biển miền Trung, Kết quả nghiên cứu khoa học vùng Bắc trung Bộ 1991 - 1996
Tác giả: Lê Đình Khả
Nhà XB: Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
Năm: 1997
8.Lê Đình Khả, Hồ Quang Vinh (1998) “Giống Keo lai và vai trò của cải thiện Giống và các biện pháp kỹ thuật thâm canh khác trong tăng năng suất rừng trồng”, tạp chí Lâm nghiệp (9), tr 48 - 51.luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.2. Sơ đồ các bước tiến hành nghiên cứu - (Luận văn) nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng keo lưỡi liềm (acacia crassicarpa a cunn ex benth) trên vùng đất cát cố định, bán ngập bình trị thiên
Sơ đồ 2.2. Sơ đồ các bước tiến hành nghiên cứu (Trang 24)
Sơ đồ 2.6. Sơ đồ bố trí thí nghiệm bón phân năm 2001 - Gio Linh Q. Trị - (Luận văn) nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng keo lưỡi liềm (acacia crassicarpa a cunn ex benth) trên vùng đất cát cố định, bán ngập bình trị thiên
Sơ đồ 2.6. Sơ đồ bố trí thí nghiệm bón phân năm 2001 - Gio Linh Q. Trị (Trang 27)
Sơ đồ 3.1. Sơ đồ khu vực nghiên cứu - (Luận văn) nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng keo lưỡi liềm (acacia crassicarpa a cunn ex benth) trên vùng đất cát cố định, bán ngập bình trị thiên
Sơ đồ 3.1. Sơ đồ khu vực nghiên cứu (Trang 33)
Bảng 4.2: Phân nhóm sinh trưởng D 0 trong các CTTN làm đất ở - (Luận văn) nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng keo lưỡi liềm (acacia crassicarpa a cunn ex benth) trên vùng đất cát cố định, bán ngập bình trị thiên
Bảng 4.2 Phân nhóm sinh trưởng D 0 trong các CTTN làm đất ở (Trang 41)
Bảng 4.8: Phân nhóm sinh trưởng D 1,3 trong các CTTN làm đất ở - (Luận văn) nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng keo lưỡi liềm (acacia crassicarpa a cunn ex benth) trên vùng đất cát cố định, bán ngập bình trị thiên
Bảng 4.8 Phân nhóm sinh trưởng D 1,3 trong các CTTN làm đất ở (Trang 52)
Hình 4.1: Keo lưỡi liềm và Keo lá tràm (đối chứng) tại Triệu Trạch - - (Luận văn) nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng keo lưỡi liềm (acacia crassicarpa a cunn ex benth) trên vùng đất cát cố định, bán ngập bình trị thiên
Hình 4.1 Keo lưỡi liềm và Keo lá tràm (đối chứng) tại Triệu Trạch - (Trang 55)
Bảng 4.12: ảnh hưởng của BPKT lên líp đến tỷ lệ sống, sinh trưởng Keo - (Luận văn) nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng keo lưỡi liềm (acacia crassicarpa a cunn ex benth) trên vùng đất cát cố định, bán ngập bình trị thiên
Bảng 4.12 ảnh hưởng của BPKT lên líp đến tỷ lệ sống, sinh trưởng Keo (Trang 58)
Bảng 4.16: Phân nhóm sinh trưởng D 0 trong các CTTN bón phân ở - (Luận văn) nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng keo lưỡi liềm (acacia crassicarpa a cunn ex benth) trên vùng đất cát cố định, bán ngập bình trị thiên
Bảng 4.16 Phân nhóm sinh trưởng D 0 trong các CTTN bón phân ở (Trang 63)
Bảng 4.20: ảnh hưởng của BPKT bón phân đến tỷ lệ sống, sinh trưởng - (Luận văn) nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng keo lưỡi liềm (acacia crassicarpa a cunn ex benth) trên vùng đất cát cố định, bán ngập bình trị thiên
Bảng 4.20 ảnh hưởng của BPKT bón phân đến tỷ lệ sống, sinh trưởng (Trang 67)
Bảng 4.27: Phân nhóm sinh trưởng Hvn  trong các CTTN bón phân - (Luận văn) nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng keo lưỡi liềm (acacia crassicarpa a cunn ex benth) trên vùng đất cát cố định, bán ngập bình trị thiên
Bảng 4.27 Phân nhóm sinh trưởng Hvn trong các CTTN bón phân (Trang 76)
Bảng 4.35: ảnh hưởng của mật độ đến tỷ lệ sống, sinh trưởng Keo lưỡi - (Luận văn) nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng keo lưỡi liềm (acacia crassicarpa a cunn ex benth) trên vùng đất cát cố định, bán ngập bình trị thiên
Bảng 4.35 ảnh hưởng của mật độ đến tỷ lệ sống, sinh trưởng Keo lưỡi (Trang 85)
Hình 4.2. Lá rụng tại rừng Keo lưỡi liềm (3,5t) - Gio Linh - Quảng trị - (Luận văn) nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng keo lưỡi liềm (acacia crassicarpa a cunn ex benth) trên vùng đất cát cố định, bán ngập bình trị thiên
Hình 4.2. Lá rụng tại rừng Keo lưỡi liềm (3,5t) - Gio Linh - Quảng trị (Trang 91)
Bảng 4.39. ảnh hưởng của rừng trồng Keo lưỡi liềm đến tốc độ gió. - (Luận văn) nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng keo lưỡi liềm (acacia crassicarpa a cunn ex benth) trên vùng đất cát cố định, bán ngập bình trị thiên
Bảng 4.39. ảnh hưởng của rừng trồng Keo lưỡi liềm đến tốc độ gió (Trang 92)
Hình 4.3. Rừng thực nghiệm Keo lưỡi liềm 3,5 tuổi - Gio Linh - Quảng Trị - (Luận văn) nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng keo lưỡi liềm (acacia crassicarpa a cunn ex benth) trên vùng đất cát cố định, bán ngập bình trị thiên
Hình 4.3. Rừng thực nghiệm Keo lưỡi liềm 3,5 tuổi - Gio Linh - Quảng Trị (Trang 93)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm