1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn) nghiên cứu hiện trạng tài nguyên cây thuốc tại khu bảo tồn thiên nhiên pù luông, huyện bá thước, tỉnh thanh hóa

143 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu Hiện Trạng Tài Nguyên Cây Thuốc Tại Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Pù Luông, Huyện Bá Thước, Tỉnh Thanh Hóa
Tác giả Nguyễn Bá Tâm
Người hướng dẫn TS. Vương Duy Hưng
Trường học Trường Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam
Chuyên ngành Bảo tồn và phát triển tài nguyên cây thuốc
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 143
Dung lượng 2,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (10)
    • 1.1. Tình hình nghiên cứu và bảo tồn cây thuốc ở trên Thế giới (10)
    • 1.2. Tình hình nghiên cứu và bảo tồn cây thuốc ở Việt Nam (17)
    • 1.3. Tình hình nghiên cứu về cây thuốc tại Khu BTTN Pù Luông (22)
  • Chương 2. MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (24)
    • 2.1. Mục tiêu nghiên cứu (24)
      • 2.1.1. Mục tiêu tổng quát (24)
      • 2.1.2. Mục tiêu cụ thể (24)
    • 2.2. Nội dung nghiên cứu (24)
    • 2.3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu (24)
      • 2.3.1. Đối tƣợng nghiên cứu (0)
      • 2.3.2. Phạm vi nghiên cứu (24)
    • 2.4. Phương pháp nghiên cứu (25)
      • 2.4.1. Phương pháp nghiên cứu đa dạng tài nguyên cây thuốc tại Khu (25)
      • 2.4.2. Phương pháp nghiên cứu hiện trạng sử dụng cây thuốc tại Khu (29)
      • 2.4.3. Phương pháp xây dựng đề xuất các giải pháp quản lý và phát triển tài nguyên cây thuốc cho khu vực nghiên cứu (32)
    • 3.1. Điều kiện tự nhiên (34)
      • 3.1.1. Vị trí địa lý (34)
      • 3.1.2. Đặc điểm địa hình (34)
      • 3.1.3. Khí hậu thuỷ văn (34)
      • 3.1.4. Đặc điểm đất đai (35)
    • 3.2. Điều kiện kinh tế xã hội (36)
      • 3.2.1. Dân số, dân tộc và lao động tại các xã vùng đệm (36)
      • 3.2.2. Tình hình sản xuất, đời sống, thu nhập (36)
      • 3.2.3. Thực trạng cơ sở hạ tầng (39)
  • Chương 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN (34)
    • 4.1. Đa dạng tài nguyên cây thuốc ở khu BTTN Pù Luông (42)
      • 4.1.1. Đa dạng taxon thực vật làm thuốc tại khu vực nghiên cứu (42)
      • 4.1.2. Đa dạng về dạng sống của cây thuốc tại khu vực nghiên cứu (47)
      • 4.1.3. Cây thuốc quý hiếm tại khu vực nghiên cứu (47)
    • 4.2. Hiện trạng sử dụng cây thuốc tại Khu BTTN Pù Luông (66)
      • 4.2.1. Tình hình khai thác cây thuốc trong khu vực nghiên cứu (66)
      • 4.2.2. Đa dạng về bộ phận sử dụng làm thuốc (68)
      • 4.2.3. Công dụng của tài nguyên cây thuốc tại khu vực nghiên cứu (70)
      • 4.3.4. Một số loài và nhóm loài cây thuốc có tiềm năng tại khu vực nghiên cứu (85)
    • 4.3. Đề xuất một số giải pháp quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên cây thuốc ở Khu BTTN Pù Luông (87)
      • 4.3.1. Giải pháp kỹ thuật (87)
      • 4.3.2. Giải pháp xã hội (91)
  • PHỤ LỤC (0)

Nội dung

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tình hình nghiên cứu và bảo tồn cây thuốc ở trên Thế giới

Từ khi con người ra đời, rừng đã là nguồn sống thiết yếu, cung cấp lương thực, thực phẩm và cả dược liệu Trải qua nhiều thế kỷ, kinh nghiệm sử dụng cây thuốc trong dân gian đã phát triển thành các phương thuốc cổ truyền, mang đậm nét đặc trưng của từng châu lục và dân tộc.

Nghiên cứu lịch sử sử dụng cây thuốc của các dân tộc được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và chứng minh bằng các bằng chứng xác thực Charles Pickering đã chỉ ra trong cuốn “Lịch sử liên đại cây cỏ” rằng từ năm 4271 TCN, người dân Trung Cận Đông đã dùng nhiều loại cây làm lương thực và chữa bệnh.

Dựa trên bằng chứng khảo cổ, cây thuốc đã được sử dụng rộng rãi từ khoảng 5.000 năm TCN và trở thành mục tiêu chiếm đoạt trong các cuộc chiến tranh bộ tộc Tầm quan trọng của cây thuốc được loài người nhận thức sớm, dẫn đến việc thu thập và nhập nội các giống cây thuốc quý từ thời cổ đại.

Châu Úc, cái nôi của nền văn minh cổ xưa, có lịch sử định cư của thổ dân từ hơn 60.000 năm trước, với kiến thức bản địa về cây thuốc, đặc biệt là cây Bạch đàn xanh (Eucalyptus globulus) Phần lớn kiến thức này đã mất đi khi người châu Âu đến, và ngày nay, dược thảo ở châu Úc chủ yếu có nguồn gốc từ phương Tây, Ấn Độ, Trung Quốc và các nước ven Thái Bình Dương.

Dược thảo ở châu Âu có nền tảng từ y học truyền thống cổ điển, với Galen (131-200 SCN), thầy thuốc của Hoàng đế La Mã Marcus Aurelius, có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của các vị thuốc bào chế từ thảo mộc Dioscorides, một thầy thuốc Hy Lạp ở thế kỷ I SCN, đã viết cuốn sách dược thảo "De material Medica".

Cuốn sách về 600 loại thảo mộc có ảnh hưởng lớn đến y học phương Tây và được sử dụng rộng rãi ở châu Âu đến thế kỷ XVII, đồng thời được dịch ra nhiều thứ tiếng Trong thời Trung cổ, học thuyết "Dấu hiệu" cho rằng hình dáng bên ngoài của cây có liên hệ với công dụng chữa bệnh của nó, ví dụ như cây Cỏ phổi có lá lốm đốm giống mô phổi nên chữa bệnh phổi rất hiệu quả.

Vào khoảng thế kỷ XI SCN, tại Scotland, các thầy tu đã sử dụng cây thuốc phiện (Papaver somniferum) và cây cần sa (Cannabis sativa) để làm thuốc giảm đau và gây mê.

Dược thảo "The English Physitian" của Nicholas Culpeper (1616-1654) đã trở thành cuốn sách bán chạy nhất nhờ kế thừa kiến thức từ Dioscorides, Paracelsus và kinh nghiệm địa phương Ở châu Phi, liệu pháp cây thuốc đã có từ thời Ai Cập cổ đại (1950 TCN), với bản giấy cói Ebers (1500 TCN) ghi lại hơn 870 toa thuốc và 700 loài dược thảo Việc buôn bán dược thảo đã diễn ra giữa Trung Đông, Ấn Độ và Đông Bắc Phi từ 3000 năm trước Các thầy thuốc Ả Rập có công lớn trong sự tiến bộ của y học từ thế kỷ V đến XIII, và Ibn El Beitar đã thống kê cây thuốc ở Bắc Phi trong cuốn "Các vấn đề y khoa" vào thế kỷ XIII.

Các nhà thực vật học người Pháp tiên phong trong việc khám phá thực vật Đông Nam Á, mở đường cho các nghiên cứu sâu rộng về giá trị tiềm ẩn của rừng nhiệt đới Đầu thế kỷ XX, Perry công bố 1.000 loài cây và dược liệu đã được kiểm chứng trong chương trình nghiên cứu thực vật Đông Dương, sau đó tổng hợp thành cuốn sách "Medicinal Plants of Eats and Southeast Asia" năm 1985.

Y học cổ truyền Trung Quốc và Ấn Độ nổi tiếng với việc sử dụng dược thảo Từ đầu thế kỷ thứ II, người Trung Quốc đã biết dùng cây cỏ chữa bệnh, ví dụ như dùng nước chè đặc để rửa vết thương Sách "Cây thuốc Trung Quốc" (1985) liệt kê nhiều cây thuốc như rễ gấc, hạt gấc, cải soong để chữa các bệnh khác nhau Các nhà khoa học đã nghiên cứu và đúc rút kinh nghiệm dân gian thành các cuốn sách có giá trị.

"Thủ hậu bị cấp phương" ghi lại 52 đơn thuốc từ cây cỏ, trong khi Lý Thời Trân thống kê 12000 vị thuốc trong "Bản thảo cương mục" (NXB Y học, 1963) Sách "Cây thuốc Trung Quốc" (1985) liệt kê hầu hết các loài cây cỏ chữa bệnh được biết đến ở Trung Quốc.

Nền văn minh Ấn Độ cổ đại, phát triển từ 5.000 năm trƣớc dọc theo sông Indus, đã ghi dấu ấn kiến thức dƣợc thảo phong phú trong bộ sử thi Vedas (1500 TCN) Nhiều loài cây đƣợc tôn kính nhƣ "cây thiêng" dành cho các vị thần, ví dụ nhƣ cây Trái nấm (Aegle marmelos) gắn liền với các thánh Lakshmi và Samhita, thƣờng đƣợc trồng gần đền thờ Công dụng của các cây thuốc này đƣợc ghi chép trong "Charaka Samhita" (400 TCN), và đến khoảng năm 100 SCN, một học giả Ấn Độ đã mô tả chi tiết 341 loại dƣợc thảo cùng các loại thuốc từ khoáng chất và động vật.

Y học dân tộc Bungari từ lâu đã sử dụng hoa hồng như một vị thuốc chữa trị nhiều bệnh, từ hoa, lá đến rễ, nhờ vào các thành phần tanin, glycosid và tinh dầu có trong cánh hoa, tinh dầu hoa hồng không chỉ dùng trong công nghiệp nước hoa mà còn có giá trị trong điều trị bệnh.

Phát hiện các hóa chất trị ung thư trong cây Thủy tùng Thái Bình Dương đã mang lại lợi nhuận kinh tế cao Ngành công nghiệp chế biến Thủy tùng thành thuốc chữa ung thư đạt doanh thu 500 triệu USD/năm, với các sản phẩm được sử dụng rộng rãi ở Châu Âu và Châu Á Các hãng dược phẩm lớn đang tích cực nghiên cứu sàng lọc các loài cây thuốc trên toàn thế giới.

Cùng với phương thức dùng cây thuốc chữa bệnh theo lối cổ truyền và dân gian, các nhà khoa học trên thế giới đã đi sâu tìm hiểu và nghiên cứu cơ chế cũng như các hợp chất hoá học trong cây cỏ có tác dụng chữa bệnh Một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử y dược học là khi bác sĩ người Anh William Withering khám phá ra công dụng chữa bệnh của cây thuốc Mao địa hoàng (Digitalis purpurea) vào thế kỷ XVIII Từ đó, nhiều loài cây đã được nghiên cứu và chiết xuất để tạo ra các loại thuốc mới, chẳng hạn như cây Ba gạc (Rauwfolia sp.) chứa chất resecpin và serpentin giúp hạ huyết áp, hay cây Dừa cạn (Catharanthus roseus) chứa vinblastin và vincristin vừa giúp hạ huyết áp vừa chống ung thư máu Nhờ ứng dụng các thành tựu nghiên cứu về cấu trúc và hoạt tính của các hợp chất hoá học tự nhiên, nhiều loại thuốc hiện đại có hiệu quả chữa bệnh cao đã được tổng hợp và bán tổng hợp hoá học trong vài chục năm gần đây.

Tình hình nghiên cứu và bảo tồn cây thuốc ở Việt Nam

Y học cổ truyền Việt Nam, với truyền thống lâu đời và sự đa dạng về cây thuốc, bài thuốc, đã hình thành qua 4000 năm lịch sử dựng nước và giữ nước, tích lũy kinh nghiệm sử dụng cây thuốc trong đấu tranh với thiên nhiên và bệnh tật Nền y học này chịu ảnh hưởng sâu sắc từ Y học cổ truyền Trung Quốc do thời kỳ Bắc thuộc kéo dài.

Từ thời Vua Hùng (2900 năm TCN), tổ tiên ta đã biết sử dụng cây cỏ làm gia vị và chữa bệnh, điều này được ghi chép trong các văn tự Hán Nôm và truyền thuyết.

Tài liệu sớm nhất về cây thuốc Việt Nam là “Nam Dƣợc Thần Hiệu” và

Tuệ Tĩnh, được mệnh danh là "Vị thánh thuốc Nam," đã mô tả hơn 630 vị thuốc và nhiều đơn thuốc quý trong "Hồng nghĩa giác tƣ y thƣ," khẳng định vị thế kỳ tài trong lịch sử y học Việt Nam Đến thế kỷ XVIII, Hải Thƣợng Lãn Ông Lê Hữu Trác tiếp nối truyền thống với bộ sách "Y tông Tâm tĩnh" gồm 28 tập, 66 quyển, mô tả chi tiết về thực vật và đặc tính chữa bệnh, đóng góp lớn vào nền y học cổ truyền nước nhà.

Trong thời kỳ Pháp thuộc, các nhà thực vật học và dược học người Pháp như Crévost, Pétélot đã đến Việt Nam nghiên cứu, tiêu biểu là việc xuất bản bộ "Catalogue des produits de L’Indochine" (1928-1929).

Năm 1935, tập V (Produits medicinaux, 1928) của Pétélot mô tả 368 cây thuốc và vị thuốc là các loài thực vật có hoa Đến năm 1952, ông tiếp tục bổ sung và xây dựng thành bộ "Les plantes médicinales du Cambodge, du Laos et du Vietnam".

4 tập đã thống kê 1482 vị thuốc thảo mộc trên ba nước Đông Dương luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Sau Cách mạng Tháng Tám và đặc biệt sau năm 1954, các nhà khoa học Việt Nam có điều kiện thuận lợi để nghiên cứu tài nguyên cây thuốc Đỗ Tất Lợi là một trong những người tiên phong, với công trình nổi bật là bộ "Dược liệu học và các vị thuốc Việt Nam" (1957) và "Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam" (1962-1965), giới thiệu hàng trăm cây thuốc nam và hơn 500 vị thuốc có nguồn gốc thảo mộc, động vật, khoáng vật, được tái bản nhiều lần và bổ sung liên tục.

Năm 2005, công trình nghiên cứu của ông đã thống kê được 792 loài cây thuốc, mô tả chi tiết tên khoa học, phân bố, công dụng và thành phần hóa học, được phân loại theo nhóm bệnh, kết hợp giữa kiến thức dân gian và khoa học hiện đại, tạo nên một bộ sách có giá trị khoa học và thực tiễn to lớn.

Năm 1960, Phạm Hoàng Hộ và Nguyễn Văn Dương cho xuất bản bộ

Đỗ Tất Lợi (1965) đã xuất bản bộ sách "Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam", một công trình quan trọng liệt kê gần 800 loài cây thuốc, mô tả chi tiết về phân bố, thu hái, chế biến, thành phần hoá học, công dụng và liều dùng của chúng.

Năm 1966, dƣợc sĩ Vũ Văn Chuyên xuất bản cuốn "Tóm tắt đặc điểm các họ cây thuốc" phục vụ giảng dạy và nghiên cứu Đến năm 1980, "Sổ tay cây thuốc Việt Nam" của Đỗ Huy Bích, Bùi Xuân Chương giới thiệu 519 loài cây thuốc, bao gồm 150 loài mới được phát hiện.

Các nhà khoa học Viện Dược liệu đã tổng kết các công trình nghiên cứu về cây thuốc trong cuốn "Dược điển Việt Nam" Viện Dược liệu, Bộ Y tế đã điều tra ở nhiều địa phương, đóng góp vào việc sưu tầm nguồn tài nguyên cây thuốc và kinh nghiệm sử dụng trong y học cổ truyền dân gian.

Nhiều công trình nghiên cứu về cây thuốc ở Việt Nam đã được công bố, trong đó cuốn "Tài nguyên cây thuốc Việt Nam" (1993) của Đỗ Huy Bích, Bùi Xuân Chương và cộng sự giới thiệu khoảng 300 loài cây thuốc được khai thác và sử dụng rộng rãi Trình Đình Lý (1995) cũng đã xuất bản cuốn "1900 loài cây có ích", thống kê các loài thực vật có giá trị như nhựa thơm, tinh dầu, dầu béo và tanin.

50 loài cây gỗ có giá trị cao, 40 loài tre nứa, 40 loài song mây

Võ Văn Chi (1997) đã biên soạn “Từ điển cây thuốc Việt Nam”, gồm khoảng 3.200 loài cây thuốc, trong đó thực vật có hoa có 2.500 loài thuộc

Hệ thống A L Takhtajan phân loại 1050 chi thuộc 230 họ thực vật, đồng thời cung cấp thông tin sơ bộ về nhận dạng, bộ phận sử dụng, nơi sống, thu hái, thành phần hoá học, tính vị, tác dụng và công dụng của từng loài, hỗ trợ việc nghiên cứu và ứng dụng các loài thực vật này.

Năm 2003, nhóm tác giả Viện Dược liệu đã xuất bản bộ sách "Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam," giới thiệu hơn 1.000 loài, bao gồm 920 cây thuốc và 80 loài động vật được sử dụng làm thuốc, đánh dấu một nguồn tài liệu quan trọng về dược liệu học Việt Nam.

Nghiên cứu từ Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã công bố tài liệu về cây thuốc, đặc biệt là giá trị dược liệu của các loài thực vật có tinh dầu ở Việt Nam, được đề cập trong hai tập sách "Tài nguyên thực vật có tinh dầu ở Việt Nam" của Lã Đình Mỡi và cộng sự (2001; 2002).

Bộ sách "Danh lục các loài thực vật Việt Nam" của Nguyễn Tiến Bân và cộng sự (2003, 2005) là một công trình quan trọng giúp tra cứu hệ thực vật, đặc biệt là thành phần cây thuốc Sách cung cấp thông tin chi tiết về tên khoa học, tên thường gọi, đặc điểm nhận dạng, phân bố, dạng sống, sinh thái và công dụng của các loài thực vật, hỗ trợ đắc lực cho các nhà nghiên cứu về thực vật làm thuốc.

Tình hình nghiên cứu về cây thuốc tại Khu BTTN Pù Luông

Năm 1998, một nghiên cứu đã ghi nhận sự đa dạng sinh học thực vật tại Pù Luông với 552 loài thực vật bậc cao có mạch, thuộc 413 chi và 139 họ, theo "Báo cáo chuyên đề thảm thực vật Khu BTTN Pù Luông, Thanh Hóa".

Nghiên cứu năm 2003 của Hoàng Liên Sơn và cộng sự tập trung điều tra tình hình săn bắt động vật hoang dã và thu hái lâm sản ngoài gỗ tại Khu BTTN Pù Luông, đặc biệt là các loài phong lan và lâm sản phụ có giá trị kinh tế.

Theo kết quả nghiên cứu của L.Averyanov và cộng sự, 2005, về hệ thực vật Khu BTTN Pù Luông đã xác định đƣợc 1.109 loài thuộc 477 chi và

152 họ thực vật bậc cao có mạch

Năm 2013, điều tra tại Khu BTTN Pù Luông ghi nhận 2.487 loài thuộc 476 họ và 1.329 chi, bao gồm 908 loài động vật và 1.579 loài thực vật, theo nghiên cứu của Đậu Bá Thìn (2013).

“Nghiên cứu đa dạng thực vật bậc cao có mạch ở Khu BTTN Pù Luông, Thanh Hóa” trong đó tác giả có đề cập tới nhóm tài nguyên cây thuốc

Các nghiên cứu hiện tại chưa có công trình điều tra tổng thể và chi tiết về nhóm tài nguyên cây thuốc tại khu vực này, mặc dù vùng "Son Bá Mười" được đánh giá là có tiềm năng lớn về cây thuốc tự nhiên và cây thuốc trồng ở tỉnh Thanh Hóa Khảo sát sơ bộ cho thấy có khoảng 48 loài cây thuốc đang bị thu mua bởi thương lái tại cộng đồng địa phương.

Khu BTTN Pù Luông sở hữu số lượng lớn các loài cây thuốc quý hiếm, bao gồm khoảng 33 loài có tên trong các văn bản pháp quy quan trọng như Nghị định số 32/2006/NĐ-CP, Sách Đỏ Việt Nam và Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam.

Khai thác cây thuốc quá mức tại Khu BTTN Pù Luông năm 2007 là một thách thức lớn cho công tác bảo tồn Tình trạng này dẫn đến suy giảm số lượng và sự phong phú của các loài cây thuốc, thậm chí đe dọa tuyệt chủng một số loài trong tự nhiên.

MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mục tiêu nghiên cứu

Xây dựng cơ sở dữ liệu nhằm quản lý, bảo tồn và phát triển tài nguyên cây thuốc tại Khu BTTN Pù Luông

Nghiên cứu đã xác định hiện trạng nguồn tài nguyên cây thuốc tại khu vực, bao gồm thành phần loài, dạng sống và công dụng, đồng thời đánh giá mức độ quý hiếm và các tác động đến cây thuốc, giúp bảo tồn và phát triển bền vững nguồn tài nguyên này.

Đề xuất các giải pháp quản lý và phát triển cây thuốc, đóng góp vào việc nâng cao đời sống cho cộng đồng dân cư sống quanh Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, là một mục tiêu quan trọng.

Nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu tập trung vào đa dạng tài nguyên cây thuốc tại Khu BTTN Pù Luông, đồng thời khảo sát hiện trạng sử dụng các loại cây này Từ đó, đề xuất các giải pháp quản lý và phát triển bền vững nguồn tài nguyên cây thuốc quý giá cho khu vực nghiên cứu, góp phần bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển kinh tế địa phương.

Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

2.3.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là các loài cây có công dụng làm thuốc, thuộc các ngành thực vật bậc cao có mạch, mọc tự nhiên ở cả vùng đệm lẫn vùng lõi của Khu BTTN Pù Luông, tỉnh Thanh Hóa

Nghiên cứu tập trung vào ba nội dung chính: đánh giá hiện trạng tài nguyên cây thuốc, phân tích tình hình khai thác và sử dụng, đồng thời đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên này tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Luông, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa.

- Phạm vi về không gian: vùng lõi và vùng đệm Khu BTTN Pù Luông, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa

- Phạm vi về thời gian: Từ ngày 20/10/2016 đến 30/4/2017.

Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp nghiên cứu đa dạng tài nguyên cây thuốc tại Khu

Trong tự nhiên, thực vật nói chung và cây lâm sản ngoài gỗ nói riêng có mối quan hệ tương hỗ với môi trường và tiến hóa Mối quan hệ này thể hiện qua sự tương đồng về hình thái, cấu tạo và nguồn gen hữu ích, giúp các taxon cùng bậc có giá trị sử dụng tương tự Dựa vào đặc tính này, con người tìm kiếm các loài cây thay thế, đáp ứng nhu cầu nguyên liệu công nghiệp, y dược và thực phẩm, đặc biệt khi các loài cây truyền thống đã cạn kiệt.

Nghiên cứu phân loại và đánh giá tính đa dạng của các loài thực vật làm thuốc là bước đi quan trọng, từ đó đề xuất các biện pháp bảo tồn hiệu quả Bước đầu tiên cần thực hiện là chuẩn bị kỹ lưỡng.

- Chuẩn bị các tài liệu có liên quan đã và đang nghiên cứu về nhóm tài nguyên cây thuốc

- Chuẩn bị đầy đủ các loại bảng biểu, sổ ghi chép để ghi lại những kết quả điều tra đƣợc

- Chuẩn bị các dụng cụ cần thiết như: Thước dây, máy GPS, Máy ảnh, địa bàn

Để phục vụ cho quá trình điều tra ngoài thực địa, cần chuẩn bị đầy đủ các tư trang cá nhân cần thiết Quá trình điều tra bao gồm việc thu thập số liệu một cách cẩn thận và có hệ thống.

Kế thừa và chọn lọc các số liệu, tài liệu, kết quả nghiên cứu liên quan đến điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tài nguyên rừng của khu vực nghiên cứu, các kết quả nghiên cứu đã có và các báo cáo khoa học là bước quan trọng để xây dựng nền tảng vững chắc cho nghiên cứu.

- Phương pháp điều tra ngoại nghiệp:

Trước khi thực hiện điều tra chi tiết, chúng tôi tiến hành điều tra sơ bộ khu vực nghiên cứu dựa trên bản đồ để đánh giá nhanh hiện trạng rừng và xác định các tuyến điều tra tiềm năng, từ đó lập kế hoạch điều tra cụ thể và hiệu quả.

Trong khu vực điều tra, các tuyến điều tra được xác định dựa trên đặc điểm địa hình và phải đại diện cho các sinh cảnh khác nhau, với mỗi sinh cảnh đại diện được thiết lập 3 tuyến điều tra dài 1-1,5 km Trên các tuyến này, việc điều tra, thu mẫu và thống kê các loài cây thuốc được thực hiện trong phạm vi 10m dọc hai bên tuyến, đồng thời ghi chép các tác động tự nhiên hoặc do con người gây ra đối với hệ thực vật và sự thay đổi của sinh cảnh.

Mẫu biểu 01 ĐIỀU TRA CÂY THUỐC TRÊN TUYẾN

Tên tuyến: Số hiệu tuyến Người điều tra Tọa độ bắt đầu Tọa độ kết thúc Ngày điều tra

Số cây, nhánh, chồi/bụi, khóm

Chiều cao hoặc độ dài dây leo (theo cấp)

Để phục vụ công tác nghiên cứu chi tiết về cây thuốc, tất cả thông tin liên quan như màu sắc, kích thước, vị trí mọc, mật độ và sinh trưởng đều được ghi lại cẩn thận Bên cạnh phiếu điều tra, máy ảnh cũng được sử dụng để ghi lại những thông tin cần thiết, hỗ trợ quá trình phân tích và đánh giá.

Điều tra và thu mẫu cây thuốc được thực hiện, với các mẫu cây thuốc thu thập được tại khu vực nghiên cứu được làm thành tiêu bản và ghi chép lý lịch mẫu theo mẫu biểu 02.

Mẫu biểu 02: PHIẾU ĐIỀU TRA THU MẪU CÂY THUỐC

1 Số hiệu mẫu: ; Tên địa phương:

2 Thời gian thu mẫu, ngày tháng năm

3 Địa điểm: Thôn xã ; Tọa độ

5 Đặc điểm sinh cảnh (thảm thực vật, đất đai, độ ẩm, độ cao ):

6 Đặc điểm đặc trƣng của cây thu mẫu:

Tiêu bản cần đầy đủ cành, lá, hoa, quả (cho cây lớn) hoặc cả cây (cho cây thân thảo nhỏ, dương xỉ), với 3-5 mẫu/cây lớn hoặc 3-5 cây/mẫu nhỏ Mẫu thu thập nên tương ứng kích thước tiêu bản chuẩn 41x29cm, nhưng khi không đủ tiêu chuẩn, sẽ thu thập tiêu bản nhỏ (20-30cm) để dễ dàng so sánh, đối chiếu trong điều tra.

Ghi chép thông tin mẫu vật tại hiện trường là yếu tố then chốt, bao gồm dạng sống, đặc điểm thân, cành, lá, hoa, quả và đặc biệt là các chi tiết không thể bảo quản trên tiêu bản khô như màu sắc hoa, quả chín, nhựa, dịch, mủ để đảm bảo tính toàn vẹn của dữ liệu khoa học.

Trong quá trình đi thực địa, các mẫu vật được xử lý sơ bộ bằng cách cắt tỉa và kẹp giữa hai tờ báo kích thước 45x30cm, sau đó ngâm trong dung dịch cồn 40-45 độ để bảo quản và sấy khô tại phòng thí nghiệm.

Mẫu thu thập được xử lý tại phòng Khoa học của Ban quản lý Khu BTTN Pù Luông, bao gồm ép và sấy mẫu, sau đó phân loại theo họ và chi.

Phân tích mẫu tuân thủ nguyên tắc từ tổng thể đến chi tiết, kết hợp ghi chép tỉ mỉ Định tên cây theo phương pháp hình thái so sánh, có sự hướng dẫn của chuyên gia phân loại học Các tài liệu chính để giám định loài bao gồm: *Cây cỏ Việt Nam*, *Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam*, *Từ điển cây thuốc Việt Nam*, và *Thực vật chí Việt Nam*.

(11 tập), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Danh lục các loài thực vật Việt Nam (tập 1, 2, 3) … c) Sử lý nội nghiệp

Các loài cây thuốc quý hiếm được bảo tồn ở Việt Nam bao gồm những loài có tên trong Phụ lục IA và IIA của Nghị định số 32/2006/NĐ-CP, quy định về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm.

(2) Sách Đỏ Việt Nam, phần II-Thực vật, 2007 và Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam, 2006 Danh lục loài cây thuốc quý hiếm đƣợc lập theo mẫu biểu

03 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Mẫu biểu 03 Thành phần loài cây thuốc quý hiếm tại Khu vực nghiên cứu

2006 Địa điểm phát hiện tại khu vực nghiên cứu

Nghiên cứu đã lập danh lục cây thuốc dựa trên giám định mẫu vật và phỏng vấn người dân, sử dụng tài liệu "Danh lục các loài thực vật Việt Nam" và các trang web IPNI, Theplantlist để xác định tên khoa học và tên phổ thông, tuân thủ theo mẫu biểu 04.

Mẫu biểu 04 DANH LỤC CÂY THUỐC TẠI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

Tên Việt Nam Dạng sống Công dụng chữa bệnh

Điều kiện tự nhiên

Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, tọa lạc giữa hai huyện Quan Hóa và Bá Thước của tỉnh Thanh Hóa (20°21’–20°34’ vĩ độ Bắc, 105°02’–105°20’ kinh độ Đông), bao gồm các xã Phú Lệ, Phú Xuân, Thanh Xuân, Hồi Xuân, Phú Nghiêm (huyện Quan Hóa) và Thành Sơn (huyện Bá Thước).

Thành Lâm, Cổ Lũng, Lũng Cao

Phía Đông giáp huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình;

Phía Bắc giáp huyện Mai Châu, Tân Lạc; tỉnh Hoà Bình;

Phía Tây giáp với phần đất còn lại của các xã Phú Lệ, Phú Xuân, Thanh Xuân, Hồi Xuân;

Phía Nam giáp với phần đất còn lại của các xã Thành Lâm, Phú Nghiêm

3.1.2 Đặc điểm địa hình Địa hình của Khu BTTN bao gồm 2 dãy núi chạy song song theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, đƣợc “ngăn cách” với nhau bởi một thung lũng ở giữa Địa hình của KBT cao dốc, mức độ chia cắt mạnh, có nhiều đỉnh cao trên 1000m, cao nhất là đỉnh Pù Luông có độ cao 1.700m Thấp nhất là khu vực xã Cổ Lũng có độ cao 60 m Địa thế khu vực nghiêng dần từ Tây Bắc sang Đông Nam Độ dốc bình quân 30 0 , nhiều nơi độ dốc trên 45 0 Với đặc điểm địa hình nhƣ vậy rất khó khăn cho công tác PCCCR nếu xảy ra

Khu BTTN Pù Luông mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, đồng thời chịu ảnh hưởng từ vùng Tây Bắc và gió Lào.

Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình năm 23 0 C; nhiệt độ trung bình cao nhất 38 0 C; nhiệt độ tối thấp trung bình: 0 0 C

Lƣợng mƣa bình quân năm biến động từ 1.500 mm đến 1.600 mm

Khu vực này chịu ảnh hưởng của hai loại gió chính là gió mùa Đông Nam và Đông Bắc, cùng với gió Lào, tạo nên sự phân hóa thời tiết rõ rệt Mùa hè, từ tháng 5 đến tháng 10, gió Đông Nam và Tây Nam mang lại mưa, trong khi mùa đông, từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, gió mùa Đông Bắc chiếm ưu thế Lượng mưa thấp và bốc hơi cao vào mùa khô kết hợp với gió Lào gây ra tình trạng khô nóng kéo dài, làm tăng nguy cơ cháy rừng và ảnh hưởng tiêu cực đến nguồn nước cho các loài động vật lớn.

Hệ thống thủy văn của Khu BTTN Pù Luông đặc trưng bởi đường yên ngựa tại biên giới Phú Lệ và Thành Sơn, tạo nên đường phân thủy giữa phụ lưu Pung và Cham trước khi đổ vào sông Mã Sông Mã bao quanh khu vực, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển giao thông đường thủy và du lịch, cho phép du khách du thuyền khám phá Pù Luông.

Do đặc điểm địa chất và địa mạo đa dạng, Khu BTTN Pù Luông có lớp đất phủ phong phú Các loại đất chính bao gồm: Đất Renzit phát triển trên đá vôi, Đất Luvisol phát triển trên đá vôi, Đất Leptosol phát triển trên sườn đá vôi, và Đất Cabisol phát triển trên đá macma.

Acrisol xám nâu hình thành trên đá macma, trong khi Acrisol vàng xám và xám nâu phát triển trên đá lục nguyên Fluvisol và Gleysol màu vàng sẫm đến nâu sẫm được tìm thấy dọc theo các thung lũng (Trần Tân Văn và cộng sự, 2003).

Ngày đăng: 21/07/2023, 09:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Averyanov L.V., Nguyễn Tiến Hiệp, Đỗ Tiến Đoàn, Neil Furey, Jacinto Regarado và Phan Kế Lộc (2005), "Giá trị của Khu BTTN Pù Luông trong việc bảo tồn tính đa dạng thực vật", Những vấn đề nghiên cứu cơ bản trong khoa học sự sống; Nxb. KH & KT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị của Khu BTTN Pù Luông trong việc bảo tồn tính đa dạng thực vật
Tác giả: Averyanov L.V., Nguyễn Tiến Hiệp, Đỗ Tiến Đoàn, Neil Furey, Jacinto Regarado, Phan Kế Lộc
Nhà XB: Nxb. KH & KT
Năm: 2005
2. Andrew Chevallier Fnimh (2006), Dược thảo toàn thư (sách dịch), NXB tổng hợp, Tp.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dược thảo toàn thư (sách dịch)
Tác giả: Andrew Chevallier Fnimh
Nhà XB: NXB tổng hợp
Năm: 2006
3. Ban quản lý Khu BTTN Pù Luông (2014), Các báo cáo về Khu bảo tồn, Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các báo cáo về Khu bảo tồn
Tác giả: Ban quản lý Khu BTTN Pù Luông
Nhà XB: Thanh Hoá
Năm: 2014
4. Nguyễn Tiến Bân (chủ biên) và nhiều đồng tác giả (2007), Sách Đỏ Việt Nam, Phần II - Thực vật , Nxb. Khoa học và Công nghệ Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách Đỏ Việt Nam, Phần II - Thực vật
Tác giả: Nguyễn Tiến Bân
Nhà XB: Nxb. Khoa học và Công nghệ Hà Nội
Năm: 2007
5. Đỗ Huy Bích, Nguyễn Tập, Bùi Xuân Chương, Mai Nghị (1978), Hướng dẫn Khoanh vùng bảo vệ tái sinh và Khai thác dược liệu , Nxb. Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn Khoanh vùng bảo vệ tái sinh và Khai thác dược liệu
Tác giả: Đỗ Huy Bích, Nguyễn Tập, Bùi Xuân Chương, Mai Nghị
Nhà XB: Nxb. Y học
Năm: 1978
6. Đỗ Huy Bích & Bùi Xuân Chương (1980), Sổ tay cây thuốc Việt Nam; tái bản lần 1, Nxb. Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay cây thuốc Việt Nam; tái bản lần 1
Tác giả: Đỗ Huy Bích, Bùi Xuân Chương
Nhà XB: Nxb. Y học
Năm: 1980
7. Đỗ Huy Bích & cộng sự (1993), Tài nguyên cây thuốc Việt Nam, Nxb. Khoa học & Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên cây thuốc Việt Nam
Tác giả: Đỗ Huy Bích, cộng sự
Nhà XB: Nxb. Khoa học & Kỹ thuật
Năm: 1993
8. Đỗ Huy Bích, Đặng Quang Chung, Bùi Xuân Chương, Nguyễn Thượng Dong, Đỗ Trung Đàm, Phạm Văn Hiển, Vũ Ngọc Lộ, Phạm Duy Mai, Phạm Kim Mãn, Đoàn Thị Nhu, Nguyễn Tập, Trần Toàn (2003), Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam, tập 1, tập 2. Nxb Khoa học& Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam
Tác giả: Đỗ Huy Bích, Đặng Quang Chung, Bùi Xuân Chương, Nguyễn Thượng Dong, Đỗ Trung Đàm, Phạm Văn Hiển, Vũ Ngọc Lộ, Phạm Duy Mai, Phạm Kim Mãn, Đoàn Thị Nhu, Nguyễn Tập, Trần Toàn
Nhà XB: Nxb Khoa học& Kỹ thuật
Năm: 2003
9. Đỗ Huy Bích và một số đồng tác giả khác (2004) và (2013), Cây thuốc và Động vật làm thuốc ở Việt Nam, Nxb. KH & KT, Hà Nội; T.I & T.II (2004), T.III (2013).luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây thuốc và Động vật làm thuốc ở Việt Nam
Tác giả: Đỗ Huy Bích, một số đồng tác giả khác
Nhà XB: Nxb. KH & KT
Năm: 2004, 2013

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1. Kết quả tổng hợp về đa dạng các taxon thực vật làm thuốc tại - (Luận văn) nghiên cứu hiện trạng tài nguyên cây thuốc tại khu bảo tồn thiên nhiên pù luông, huyện bá thước, tỉnh thanh hóa
Bảng 4.1. Kết quả tổng hợp về đa dạng các taxon thực vật làm thuốc tại (Trang 42)
Bảng 4.2. Các họ thực vật có nhiều cây thuốc  STT  Họ thực vật  Số - (Luận văn) nghiên cứu hiện trạng tài nguyên cây thuốc tại khu bảo tồn thiên nhiên pù luông, huyện bá thước, tỉnh thanh hóa
Bảng 4.2. Các họ thực vật có nhiều cây thuốc STT Họ thực vật Số (Trang 45)
Bảng 4.3. Cây thuốc quý hiếm tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông - (Luận văn) nghiên cứu hiện trạng tài nguyên cây thuốc tại khu bảo tồn thiên nhiên pù luông, huyện bá thước, tỉnh thanh hóa
Bảng 4.3. Cây thuốc quý hiếm tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông (Trang 48)
Bảng 4.4. Sự đa dạng các bộ phận sử dụng làm thuốc - (Luận văn) nghiên cứu hiện trạng tài nguyên cây thuốc tại khu bảo tồn thiên nhiên pù luông, huyện bá thước, tỉnh thanh hóa
Bảng 4.4. Sự đa dạng các bộ phận sử dụng làm thuốc (Trang 69)
Bảng 4.5. Cây thuốc có nhu cầu khai thác sử dụng ở Việt Nam có ở Khu BTTN Pù Luông - (Luận văn) nghiên cứu hiện trạng tài nguyên cây thuốc tại khu bảo tồn thiên nhiên pù luông, huyện bá thước, tỉnh thanh hóa
Bảng 4.5. Cây thuốc có nhu cầu khai thác sử dụng ở Việt Nam có ở Khu BTTN Pù Luông (Trang 75)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm