1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn) nghiên cứu đề xuất một số giải pháp quản lý rừng bền vững ở vùng đệm vườn quốc gia chư yang sin krông bông đắk lắk

102 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp quản lý rừng bền vững ở vùng đệm vườn quốc gia Chư Yang Sin - Krông Bông - Đắk Lắk
Tác giả Lương Hữu Thạnh
Người hướng dẫn PGS.TS. Vũ Nhâm
Trường học Trường Đại học Lâm nghiệp
Chuyên ngành Quản lý rừng bền vững
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2002
Thành phố Tây Nguyên
Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 777,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1 (8)
    • 1.1. Tổng quan về quản lý rừng bền vững (8)
  • Chương 2: (17)
    • 2.3.6 Phương pháp dự báo dân số và hộ gia đình trong tương lai: 20 2.4- Giới hạn, phạm vi nghiên cứu (22)
  • Chương 3 (24)
    • 3.1.1 Lịch sử hình thành Vườn quốc gia Chư Yang Sin và các xã vùng đệm (24)

Nội dung

Tổng quan về quản lý rừng bền vững

Diện tích rừng tự nhiên trên thế giới đang suy giảm nghiêm trọng do tác động của con người như khai thác quá mức và chuyển đổi mục đích sử dụng đất Tỷ lệ che phủ rừng toàn cầu đã giảm từ 60-65% đầu thế kỷ 20 xuống còn khoảng 35% vào năm 1995, tương đương 3.454 triệu ha Việt Nam cũng chứng kiến tình trạng tương tự, với tỷ lệ che phủ rừng giảm từ 43% năm 1943 xuống còn khoảng 33,2% hiện nay, kèm theo đó là sự suy giảm về chất lượng rừng và nguy cơ tuyệt chủng của nhiều loài động vật hoang dã.

Sự suy giảm rừng tự nhiên dẫn đến hậu quả nghiêm trọng như biến đổi khí hậu, mất ổn định nguồn nước và hoang hóa đất đai Mất rừng làm gia tăng thiên tai và gây ra đói nghèo, đe dọa sự tồn tại của con người và thiên nhiên.

Quản lý rừng bền vững trở thành một yêu cầu cấp bách để ngăn chặn tình trạng mất rừng, đảm bảo khai thác kinh tế đi đôi với duy trì diện tích và chất lượng rừng, cũng như các chức năng sinh thái Quản lý rừng bền vững hướng đến việc phát huy đồng thời các giá trị kinh tế, xã hội và môi trường của rừng Mặc dù có sự khác biệt tùy thuộc vào điều kiện địa phương và quốc gia, các khái niệm chung vẫn đang được xây dựng để diễn đạt bản chất của quản lý rừng bền vững.

Quản lý rừng bền vững là quá trình quản lý rừng để đảm bảo sản xuất liên tục các sản phẩm và dịch vụ rừng mong muốn mà không gây tác động tiêu cực đến môi trường và xã hội Mục tiêu chung của quản lý rừng bền vững là đạt được sự ổn định về diện tích, tính đa dạng sinh học, năng suất kinh tế và hiệu quả sinh thái môi trường của rừng Quản lý rừng bền vững cần được thực hiện linh hoạt ở các quy mô từ địa phương, quốc gia đến toàn cầu.

Về mặt kinh tế sinh thái, hiệu quả sinh thái môi trường của rừng có thể quy đổi thành giá trị kinh tế Nâng cao giá trị sinh thái của rừng giúp giảm thiểu chi phí, duy trì năng suất hệ sinh thái và phát triển kinh tế xã hội Quản lý rừng bền vững góp phần sử dụng tối ưu không gian sống ở các cấp độ địa phương, quốc gia và toàn cầu.

Quản lý rừng bền vững đóng vai trò then chốt trong quản lý tài nguyên, mang lại lợi ích kinh tế và sinh thái to lớn Đây là giải pháp cấp bách để đảm bảo sự tồn tại lâu dài của con người và bảo vệ môi trường tự nhiên trên Trái Đất.

Tài nguyên rừng đóng vai trò quan trọng đối với mọi quốc gia, đặc biệt là đối với người dân miền núi có sinh kế phụ thuộc vào lâm sản Môi trường sống của đại bộ phận dân cư cũng dựa vào sự tồn tại của tài nguyên rừng Tuy nhiên, việc tăng cường kiểm soát hành chính đối với rừng quốc gia có thể gây thêm mâu thuẫn và tổn hại đến hệ sinh thái, thay vì bảo tồn và sử dụng bền vững.

Nhiều quốc gia trên thế giới đã kêu gọi các ngành công nghiệp chấm dứt khai thác tài nguyên rừng Từ Surinam đến các đảo Solomon, và ở nhiều quốc gia khác như Ấn Độ, Nepal, Indonesia, Philippines, Ghana, Zimbabwe, Panama, Mỹ, Canada, mối quan tâm về nạn phá rừng đã thúc đẩy các cộng đồng tổ chức biểu tình quần chúng Các hoạt động này bao gồm chặn đường chở gỗ và kêu gọi các đại biểu chính trị cùng hệ thống pháp luật ngăn chặn nạn phá rừng và suy thoái tài nguyên rừng.

Quản lý rừng bền vững bao gồm việc xây dựng, bảo vệ và sử dụng tài nguyên rừng một cách thường xuyên và liên tục Mục tiêu là đáp ứng nhu cầu của con người hiện tại và các thế hệ tương lai một cách ổn định.

Quản lý và sử dụng rừng bền vững là sự kết hợp giữa quy trình công nghệ, chính sách và hoạt động Mục tiêu là tích hợp các nguyên lý kinh tế-xã hội với các vấn đề môi trường Điều này đảm bảo sự cân bằng giữa lợi ích kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường.

- Giảm mức độ nguy cơ cho sản xuất (ổn định)

- Duy trì và nâng cao sự phục vụ sản xuất (sản xuất)

- Có thể đứng vững được kinh tế (kinh tế)

- Có thể chấp nhận được về mặt xã hội.

- Không gây ô nhiễm môi trường.

Sử dụng tài nguyên rừng bền vững đòi hỏi sự cân đối xã hội, cơ sở môi trường vững chắc, sự chấp nhận chính trị, tính khả thi kỹ thuật và phù hợp kinh tế [36].

Những nghiên cứu liên quan đến đề tài :

Đầu thế kỷ 18, các nhà lâm học Đức đã đề xuất nguyên tắc lợi dụng lâu bền đối với rừng thuần loại đồng tuổi, trong khi các nhà lâm nghiệp Pháp và Thụy Sĩ đề ra phương pháp kiểm tra điều chỉnh sản lượng đối với rừng khác tuổi khai thác chọn Các khu đất rừng công cộng chiếm tỷ lệ lớn trong tổng diện tích đất đai của nhiều quốc gia Hiện nay, nhiều Chính phủ vẫn giữ quyền kiểm soát các khu rừng tự nhiên, nhưng các cơ quan lâm nghiệp thường gặp khó khăn về vốn và nhân sự do ngân sách bị giảm.

Từ cuối thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20, quản lý rừng tập trung cao độ, đặc biệt ở các nước đang phát triển, bỏ qua sự tham gia của cộng đồng \$\[15]\$ Mặc dù rừng là tài sản toàn dân trên pháp lý, người dân không được hưởng lợi, dẫn đến việc khai thác quá mức để đáp ứng nhu cầu sống và công nghiệp, gây suy thoái tài nguyên rừng.

Từ giữa thế kỷ 20, khi tài nguyên rừng suy giảm nghiêm trọng, phương thức quản lý tập trung không còn phù hợp Các chính sách khuyến khích người dân tham gia quản lý rừng được ban hành để cứu vãn tình trạng này Quản lý rừng cộng đồng xuất hiện đầu tiên ở Ấn Độ và phát triển thành nhiều hình thức khác Ở các nước đang phát triển, lâm nghiệp xã hội được xem là hình thức quản lý rừng bền vững nhất về kinh tế, xã hội và môi trường.

Nông lâm kết hợp được FAO đánh giá là phương thức sử dụng đất rừng nhiệt đới hợp lý nhất (1967-1969), giúp giải quyết vấn đề lương thực, lao động và cân bằng sinh thái.

1.3- Trong nước : Cơ sở lý luận :

Phương pháp dự báo dân số và hộ gia đình trong tương lai: 20 2.4- Giới hạn, phạm vi nghiên cứu

Để dự bao dân số và hộ gia đình trong tương lai chúng tôi áp dụng các công thức sau:[17]

Trong đó: Nt là dân số trong tương lai.

P là tỷ lệ tăng dân số tự nhiên.

V là tỷ lệ tăng dân số cơ học. n sè n¨m cÇn dù tÝnh.

Dự báo số hộ gia đình:

N o Trong đó : Ht Là số hộ trong tương lai.

Ho Là số hộ hiện tại.

Nt là dân số trong tương lai.

No dân số hiện tại.

2.4- Giới hạn, phạm vi nghiên cứu:

Nghiên cứu tập trung vào quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên rừng, đặc biệt ở vùng đệm, với trọng tâm là xã Yang Mao thuộc huyện Krông Bông Đề tài này nghiên cứu quá trình quản lý sử dụng tài nguyên rừng bền vững và đề xuất các giải pháp phát triển kinh tế xã hội cho xã điển hình này.

Do điều kiện nghiên cứu còn hạn chế, các giải pháp đề xuất mang tính định hướng và tổng thể Đề tài sử dụng phương pháp thu thập số liệu kế thừa có chọn lọc, kết hợp đánh giá nông thôn và quy hoạch đất đai với sự tham gia của người dân, nhằm đảm bảo tính thực tiễn và phù hợp.

Lịch sử hình thành Vườn quốc gia Chư Yang Sin và các xã vùng đệm

Vườn quốc gia Chư Yang Sin, ban đầu là khu bảo tồn, được thành lập năm 1998 và chuyển đổi thành vườn quốc gia năm 2002, với mục tiêu bảo vệ nguồn gen động thực vật quý hiếm, tăng cường phòng hộ rừng đầu nguồn, và cải thiện đời sống người dân địa phương Vườn có diện tích vùng lõi 58.947 ha và vùng đệm 210.000 ha, bao gồm 09 xã, thị trấn thuộc huyện Krông Bông với tổng diện tích 100.022,9 ha.

Trước dãy Chư Yang Sin, các dân tộc M’Nông và Êđê sinh sống tại các thung lũng và bình nguyên hẹp trên sườn núi phía bắc.

12) từ trung tâm huyện đến các xã Cư Drăm, Yang Mao do Thực dân Pháp xây dựng đã bị hư hỏng mà không hề được sửa chữa và có rất ít sự trao đổi hàng hóa và thông tin với bên ngoài Người dân địa phương sinh sống chủ yếu theo phương thức tự cấp tự túc Các buôn làng đều ở các thung lũng gần chân núi Canh tác nông nghiệp theo phương thức du canh, du cư với các loại cây lương thực: Lúa, Sắn và Ngô trên các sườn đồi và thung lũng Hệ thống thủy lợi chưa có, chủ yếu là dựa vào lượng nước mưa tự nhiên trong năm, đời sống người dân vô cùng khổ cực Hàng năm, thiếu đói từ 3 đến 5 tháng Trong thời gian này, họ sống qua ngày nhờ vào các loại lâm sản(củ rừng) và săn bắn động vật rừng.

Krông Bông có lợi thế chiến lược quân sự quan trọng trong chiến tranh, được bộ đội ta tận dụng triệt để Đất đai được sử dụng để sản xuất lương thực cho tiền tuyến, và thú rừng bị săn bắn để cung cấp thực phẩm Bom đạn và chất độc hóa học đã phá hủy 3%-5% diện tích rừng ở Krông Bông.

Sau Hiệp định Paris (1973), người dân bắt đầu canh tác ở các thung lũng thấp và dựng nhà bằng tre, nứa từ năm 1975 sau thời gian lánh nạn trong rừng sâu Đến năm 1979, giao thông được khôi phục và người dân được tiếp cận kỹ thuật nông nghiệp Huyện Krông Bông chính thức thành lập năm 1982, mở ra một giai đoạn phát triển mới.

Năm 1987, làn sóng di dân kinh tế mới đến Krông Bông mang theo kỹ thuật canh tác lúa nước, giúp tăng diện tích trồng lúa Đến năm 1993, người dân bắt đầu trồng cà phê, tuy nhiên hiệu quả kinh tế chưa cao do biến động giá cả thị trường.

Luật Đất đai 1996 giúp hạn chế du canh du cư và phục hồi rừng Tuy nhiên, di dân tự do từ các tỉnh phía Bắc vào Krông Bông gây áp lực lớn lên tài nguyên rừng Diện tích rừng bị lấn chiếm để làm khu dân cư và đất nông nghiệp, cùng với nạn săn bắn, khai thác gỗ quý hiếm khó kiểm soát.

Trong những năm gần đây, hoạt động khuyến nông lâm tại các xã vùng 3 của huyện chưa đạt hiệu quả cao do kỹ thuật canh tác, hệ thống tưới tiêu chưa đảm bảo và cơ cấu cây trồng chưa hợp lý.

Trong quá khứ, người dân khu vực nghiên cứu sống tự cung tự cấp và dựa vào khai thác tài nguyên Hiện nay, họ đang chuyển sang định canh, cơ giới hóa nông nghiệp, phát triển kinh tế thị trường và tăng thu nhập từ mùa màng.

Dù còn nghèo, đời sống của người dân đã có sự thay đổi so với trước đây nhờ quá trình giao đất, giao rừng và đầu tư sản xuất nông nghiệp Tín dụng nông thôn được huy động và hệ thống thủy lợi được xây dựng tại một số xã, tuy nhiên, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư chưa cao.

Khu vực nghiên cứu nằm cách thành phố Buôn Ma Thuột 60km về hướng Đông Nam, tọa lạc giữa các tọa độ địa lý 13°60’ đến 13°90’ vĩ độ Bắc và 108°22’30” đến 108°42’30” kinh độ Đông Huyện Krông Bông đóng vai trò trung tâm của khu vực này, tiếp giáp với nhiều địa phương khác như Krông Ana, Hoà Tân, Cưkty (Krông Bông), Krông Păk ở phía Bắc; Lăk và tỉnh Lâm Đồng ở phía Nam; Lăk và Krông Ana ở phía Tây; M’DRăk và tỉnh Khánh Hoà ở phía Đông.

3.1.2.2 Địa hình, thổ nhưỡng và diện tích :

Vùng tiếp giáp dãy Chư Yang Sin có địa hình phân cắt mạnh, với các đỉnh núi như Yang Rít, Yang Ri, Cưpui và Cư Yang Lak, độ cao dao động từ 450m đến 1800m so với mực nước biển Phần lớn diện tích còn lại thuộc vùng địa hình bằng phẳng đến đồi núi thấp.

Địa chất thổ nhưỡng khu vực nghiên cứu đa số được hình thành từ đá mẹ granit, đá cát kết và đá phiến sắt màu xám hoặc đen, bao gồm các loại đất chính sau.

- Đất feralit vàng nhạt phát triển trên nhóm đá cát, tầng đất mỏng hoặc trung bình, thành phần cơ giới thịt nhẹ đến cát thô.

- Đất vàng đỏ phát triển trên đá granit.

Đất xám vàng phát triển trên đá mẹ sa thạch với tầng đất dày trung bình, thành phần cơ giới trung bình và độ mùn 7-8%, thích hợp cho nhiều loại cây trồng Đất feralit vàng đỏ, một loại đất khác, phát triển trên đá granit và đá cát, tạo nên sự đa dạng về loại đất trong khu vực.

- Đất feralit mùn vàng đỏ trên đá granit loại đất này phân bố chủ yếu ở độ cao từ > 650m ở trong rừng tự nhiên thành phần cơ giới thịt nhẹ.

Đất bồi tụ ven sông suối, đặc biệt dọc theo sông Krông Bông, tạo nên những bãi bồi màu mỡ và các vùng đất bằng dưới chân đồi, rất quan trọng cho nông nghiệp địa phương Sự phân bố này không chỉ cung cấp nguồn tài nguyên đất đai phong phú mà còn đóng vai trò trong việc điều hòa dòng chảy và giảm thiểu xói mòn.

Tổng diện tích tự nhiên của khu vực nghiên cứu gồm 9 xã, thị trấn thuộc huyện Krông Bông :100.022,9ha

Ngày đăng: 21/07/2023, 09:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Cơ cấu đất đai sản xuất nông lâm nghiệp trong khu vực nghiên cứu: - (Luận văn) nghiên cứu đề xuất một số giải pháp quản lý rừng bền vững ở vùng đệm vườn quốc gia chư yang sin   krông bông   đắk lắk
Bảng 3.1 Cơ cấu đất đai sản xuất nông lâm nghiệp trong khu vực nghiên cứu: (Trang 29)
Bảng 3.2: Một số loại đất canh tác trong khu vực. - (Luận văn) nghiên cứu đề xuất một số giải pháp quản lý rừng bền vững ở vùng đệm vườn quốc gia chư yang sin   krông bông   đắk lắk
Bảng 3.2 Một số loại đất canh tác trong khu vực (Trang 31)
Bảng 3.5 : Một số nhu cầu của người dân đối với một số loại lâm sản và một số loại cây trồng - (Luận văn) nghiên cứu đề xuất một số giải pháp quản lý rừng bền vững ở vùng đệm vườn quốc gia chư yang sin   krông bông   đắk lắk
Bảng 3.5 Một số nhu cầu của người dân đối với một số loại lâm sản và một số loại cây trồng (Trang 36)
Bảng 3.8: Phân bố dân cư và lao động theo xã: - (Luận văn) nghiên cứu đề xuất một số giải pháp quản lý rừng bền vững ở vùng đệm vườn quốc gia chư yang sin   krông bông   đắk lắk
Bảng 3.8 Phân bố dân cư và lao động theo xã: (Trang 43)
Bảng 3.15 : Tổng hợp kết quả phân tích lựa chọn loai cây lâm nghiệp: - (Luận văn) nghiên cứu đề xuất một số giải pháp quản lý rừng bền vững ở vùng đệm vườn quốc gia chư yang sin   krông bông   đắk lắk
Bảng 3.15 Tổng hợp kết quả phân tích lựa chọn loai cây lâm nghiệp: (Trang 78)
3.3.1.3- Sơ đồ lát cắt sử dụng đất nông lâm nghiệp: - (Luận văn) nghiên cứu đề xuất một số giải pháp quản lý rừng bền vững ở vùng đệm vườn quốc gia chư yang sin   krông bông   đắk lắk
3.3.1.3 Sơ đồ lát cắt sử dụng đất nông lâm nghiệp: (Trang 78)
Bảng 3.16 : Tổng hợp kết quả phân tích lựa chọn loại cây đặc sản: - (Luận văn) nghiên cứu đề xuất một số giải pháp quản lý rừng bền vững ở vùng đệm vườn quốc gia chư yang sin   krông bông   đắk lắk
Bảng 3.16 Tổng hợp kết quả phân tích lựa chọn loại cây đặc sản: (Trang 79)
Bảng 3.17 : Tổng hợp kết quả phân tích lựa chọn loài cây ăn quả: - (Luận văn) nghiên cứu đề xuất một số giải pháp quản lý rừng bền vững ở vùng đệm vườn quốc gia chư yang sin   krông bông   đắk lắk
Bảng 3.17 Tổng hợp kết quả phân tích lựa chọn loài cây ăn quả: (Trang 80)
Bảng 3.19 : Tổng hợp kết quả phân tích lựa chọn vật nuôi: - (Luận văn) nghiên cứu đề xuất một số giải pháp quản lý rừng bền vững ở vùng đệm vườn quốc gia chư yang sin   krông bông   đắk lắk
Bảng 3.19 Tổng hợp kết quả phân tích lựa chọn vật nuôi: (Trang 81)
Bảng  3.20  : Cơ cấu đất đai theo các lĩnh vực sản xuất sau khi quy hoạch. - (Luận văn) nghiên cứu đề xuất một số giải pháp quản lý rừng bền vững ở vùng đệm vườn quốc gia chư yang sin   krông bông   đắk lắk
ng 3.20 : Cơ cấu đất đai theo các lĩnh vực sản xuất sau khi quy hoạch (Trang 83)
Bảng 21: Cân đối thu chi một số cây nông nghiệp ngắn ngày. - (Luận văn) nghiên cứu đề xuất một số giải pháp quản lý rừng bền vững ở vùng đệm vườn quốc gia chư yang sin   krông bông   đắk lắk
Bảng 21 Cân đối thu chi một số cây nông nghiệp ngắn ngày (Trang 86)
Bảng 3.25: Tổng hợp một số chỉ tiêu hiệu quả kinh tế của một số loài cây trồng lâu năm: - (Luận văn) nghiên cứu đề xuất một số giải pháp quản lý rừng bền vững ở vùng đệm vườn quốc gia chư yang sin   krông bông   đắk lắk
Bảng 3.25 Tổng hợp một số chỉ tiêu hiệu quả kinh tế của một số loài cây trồng lâu năm: (Trang 88)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w