--- NÔNG DIỆU HUẾ NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC BẢO TỒN TẠI KHU BẢO TỒN LOÀI VÀ SINH CẢNH LOÀI VƯỢN CAO VÍT HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG Chuyên ngành: Quản lý bảo vệ tà
Trang 1-
NÔNG DIỆU HUẾ
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC BẢO TỒN TẠI KHU BẢO TỒN LOÀI VÀ SINH CẢNH LOÀI VƯỢN CAO VÍT
Trang 2-
NÔNG DIỆU HUẾ
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC BẢO TỒN TẠI KHU BẢO TỒN LOÀI VÀ SINH CẢNH LOÀI VƯỢN CAO VÍT
HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG
Chuyên ngành: Quản lý bảo vệ tài nguyên rừng
Mã số: 60.62.68
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS ĐỒNG THANH HẢI
Hà Nô ̣i, 2012
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ
Khu bảo tồn Loài và sinh cảnh Vượn Cao Vít (VCV) thuộc huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng là phần nằm ở phía tây bắc của dãy núi đá vôi khu vực Đông Bắc của Việt Nam, tiếp giáp với huyện Trịnh Tây, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc Mặc dù KBT đã được thành lập và nhiều hoạt động Bảo tồn được triển khai tại đây tuy nhiên, quần thể VCV đã và đang chịu ảnh hưởng bởi các hoạt động của người dân sống tại đây Cụ thể như: lấy củi, lấy
gỗ sửa nhà, sửa guồng nước, chăn thả gia súc…những hoạt động trên đã tác động không nhỏ tới sinh cảnh sống của loài Vượn Cao Vít và ảnh hưởng tới việc phục hồi quần thể loài trong tương lai Một trong những nguyên nhân dẫn tới hiện tượng này là thiếu chương trình giáo dục bảo tồn dài hạn, các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc điều tra cơ bản về tình hành dân sinh kinh
tế, nhu cầu sử dụng tài nguyên, sinh thái dinh dưỡng và sinh cảnh sống của Vượn… Được tiến hành bởi tổ chức Bảo vệ Động, Thực vật hoang dã quốc
tế (FFI) và một số tổ chức khác
Như vậy, việc tiến hành xác định nhu cầu bảo tồn của người dân thuộc các xã nói trên làm cơ sở cho việc thiết kế và tiến hành các chương trình giáo dục bảo tồn là nhu cầu cấp thiết đối với sự thành công của công tác bảo tồn Vượn Cao Vít tại Trùng Khánh trong thời gian dài Vì những lý do trên tôi tiến
hành đề tài “Nghiên cứu đề xuất các chương trình giáo dục bảo tồn tại Khu
bảo tồn loài và sinh cảnh Vượn Cao Vít huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng” Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở cho việc đề xuất các chương
trình giáo dục bảo tồn cho người dân sống tại khu vực trong tương lai
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 4Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Các khái niệm
Khái niệm giáo dục môi trường chính thức được sử dụng lần đầu tiên vào năm 1972, tại Hội nghị toàn cầu lần thứ nhất về Môi trường Nhân văn được tổ chức ở Stockholm (Thụy Điển) (Matarasso, 2004) Từ đó cho đến nay
có rất nhiều định nghĩa và khái niệm liên quan đến cụm từ này, dưới đây là một số định nghĩa được sử dụng rộng rãi
1.1.1 Giáo dục môi trường
- “Giáo dục môi trường là quá trình nhận ra các giá trị và làm rõ khái niệm để xây dựng những kỹ năng và thái độ cần thiết, giúp hiểu biết và đánh giá đúng mối tương quan giữa con người với nền văn hóa và môi trường vật
lý xung quanh, giáo dục môi trường cũng tạo cơ hội cho việc thực hành để ra quyết định và tự hình thành quy tắc ứng xử trước những vấn đề liên quan đến chất lượng môi trường” (IUCN, 1970)
- “Giáo dục môi trường là một quá trình phát triển những tình huống dạy/học hiệu quả giúp người dạy và học tham gia giải quyết những vấn đề môi trường liên quan, đồng thời tìm ra một lối sống có trách nhiệm và được thông tin đầy đủ” (Wigley, 2000)
Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về giáo dục môi trường, tất cả đều có một số đặc điểm cơ bản sau:
+ GDMT là một quá trình diễn ra trong một khoảng thời gian, ở nhiều địa điểm khác nhau, thông qua những kinh nghiệm khác nhau và bằng những phương thức khác nhau
+ GDMT nhằm thay đổi hành vi
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 5+ Môi trường học tập là chính môi trường và những vấn đề có trong thực tế
+ GDMT liên quan đến việc giải quyết vấn đề và ra quyết định về cách sống
+ Trong GDMT, việc học phải tập trung vào người học và lấy hành động làm cơ sở
1.1.2 Cộng đồng
Cộng đồng nói chung thường được hiểu là những nhóm người, được tập hợp dưới nhiều hình thức khác nhau như theo lứa tuổi, theo nghề nghiệp, theo huyết thống, theo khu vực địa lý, theo hệ thống quyền lực, theo tổ chức đoàn thể, theo sở thích,… (Matarasso, 2004) Tuy nhiên, cộng đồng trong đề tài này được xem xét như một đơn vị cấp địa phương của một tổ chức xã hội bao gồm các cá nhân, gia đình, thể chế và các cấu trúc khác đóng góp cho cuộc sống hàng ngày của xã hội, của một nhóm người trong một khu vực địa
lý xác định, có thể được biến đổi bởi quá trình vận động lịch sử (Matarasso, 2004)
Cho đến nay, còn nhiều ý kiến về sự khác nhau giữa giáo dục bảo tồn (GDBT) và giáo dục môi trường (GDMT) Nhiều người cho rằng, GDBT và GDMT là 2 khái niệm tương đồng với nhau, có thể thay khái niệm GDBT bằng GDMT và ngược lại Trong khuôn khổ đề tài, khái niệm GDBT được dùng để chỉ các hoạt động GDMT có sự tham gia của cộng đồng dân địa phương nhằm thay đổi hành vi, hướng tới mục tiêu bảo tồn (Matarasso và cộng sự, 2004) Tuy vậy, một chương trình GDBT không chỉ dừng lại ở các hoạt động giáo dục như: tập huấn nâng cao kỹ năng mà còn có thể là các chương trình truyền thông nhằm cung cấp thông tin, nâng cao nhận thức,… hoặc các chương trình vận động chính sách nhằm xóa bỏ những trở ngại về
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 6mặt chính sách đối với việc thực hiện các hành vi bảo tồn (cả hành vi tích cực hiện tại và các hành vi bảo tồn mới)
Một chương trình GDBT cần làm rõ đâu là các hành vi gây ra các vấn
đề bảo tồn/môi trường Nguyên nhân của các hành vi đó là gì? Do thiếu nhận thức, kiến thức, kỹ năng, không có thái độ đúng đắn, thiếu lựa chọn hay bị cản trở bởi các yếu tố kinh tế, tài chính? Xuất phát từ những quan điểm trên đây, đề tài tiến hành đánh giá nhận thức và thái độ của người dân với vấn đề bảo tồn tại địa phương, xác định những hoạt động ảnh hưởng đến tài nguyên/môi trường của người dân, tìm ra những nguyên nhân của những hành động đó, từ đó tìm hiểu những khó khăn và thuận lợi của người dân khi tham gia công tác bảo tồn dựa vào cộng đồng bên cạnh những cơ hội tiếp cận, làm
cơ sở xây dựng những chương trình giáo dục bảo tồn sau này Những nội dung này của đề tài sẽ xuyên suốt quá trình tổng quan vấn đề nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu của đề tài
1.2 Bảo tồn có sự tham gia của cộng đồng
Để hiểu rõ hơn về bảo tồn có sự tham gia của cộng đồng, chúng tôi muốn làm rõ khái niệm cộng đồng Cộng đồng thường được hiểu là những nhóm người, được tập hợp dưới nhiều hình thức khác nhau như theo lứa tuổi, nghề nghiệp, huyết thống, hệ thống quyền lực, tổ chức đoàn thể [9], … Đối với đề tài này, cộng đồng ở đây là nhân dân địa phương; cộng đồng dân tộc Tày, Nùng, Kinh ở 3 xã Phong Nậm, Ngọc Khê, Ngọc Côn trong việc tham gia bảo tồn Vượn Cao Vít tại Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng
Một trong những tồn tại quan trọng dẫn đến sự kém hiệu quả trong quản lý tài nguyên nói chung và các loài nói riêng thiếu sự tham gia của người dân địa phương Trước đây, các khu bảo tồn được xem như những "ốc đảo" hay như những cái "chai nút kín", đó là sự tách biệt một khu vực tự nhiên ra
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 7khỏi thế giới loài người Cách tiếp cận đó đã biểu hiện những thất bại do những áp bức xã hội và sinh thái, cả trong và ngoài khu bảo tồn Thực tế cho thấy khu bảo tồn vẫn cần có một phần được bảo vệ nghiêm ngặt, được gọi là vùng lõi Bên cạnh đó cần thúc đẩy phát triển kinh tế thân thiện với môi trường, phát triển giáo dục và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống ở các phần xung quanh được gọi là vùng đệm và vùng chuyển tiếp, trong đó người dân địa phương đóng vai trò chủ chốt, đảm bảo cho công tác bảo tồn đạt được hiệu quả lâu dài và bền vững
Việc lôi cuốn các cộng đồng địa phương vào việc quy hoạch và quản lý các khu bảo tồn là yếu tố cực kỳ quan trọng, bởi vì họ là những người hiểu biết tường tận nhất việc sử dụng và quản lý tài nguyên thiên nhiên trong vùng
Vì vậy, họ là người quyết định cuối cùng và cần phải được tham gia vào các quá trình lập kế hoạch và thực hiện quản lý
Cộng đồng dân cư các địa phương ở các vùng rừng núi hầu như rất ít, thậm chí không quan tâm đến công tác quản lý tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên động vật hoang dã kể cả thú linh trưởng Lý do khiến họ chưa quan tâm một phần vì do nhận thức, phần vì kinh tế khó khăn và phần quan trọn hơn là chưa tạo được động lực thúc đẩy họ tham gia
Cho đến nay, đại đa số người dân trên mọi miền đất nước, đặc biệt là đồng bào các dân tộc vùng sâu, vùng xa chưa có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng cũng như sự cần thiết phải bảo tồn thú linh trưởng Họ chỉ quan tâm đến việc tìm kiếm và làm thế nào khai thác nguồn tài nguyên này được nhiều nhất để phục vụ cho cuộc sống thường nhật của mình Hơn nữa, do nền kinh tế tự cung tự cấp, an toàn lương thực chưa được đảm bảo, nên các nhà quản lý địa phương thường có thiên hướng tìm kiếm mọi giải pháp phục hồi
và tăng trưởng kinh tế mà chưa quan tâm đến việc bảo tồn và phát triển tài
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 8nguyên thiên nhiên nói chung và thú linh trưởng nói riêng Chính vì vậy việc
ưu tiên hàng đầu trong kế hoạch của họ là đầu tư phát triển, mở mang nông, lâm trường, phá rừng lấy đất canh tác, tăng nguồn lương thực Các hoạt động này đã dẫn đến việc thu hẹp về diện tích và suy giảm về chất lượng nơi sống của thú linh trưởng.[16]
Do hạn chế về nhận thức nên các hành vi ứng xử của cộng đồng dân cư đối với tài nguyên rừng kể cả tài nguyên linh trưởng chưa tốt Để người dân
có hành vi ứng xử tốt với tài nguyên rừng nói chung và thú linh trưởng nói riêng, việc nâng cao nhận thức và thu hút sự tham gia của cộng đồng trong công tác quản lý tài nguyên là rất cần thiết như sự thay đổi thái độ và tập quán của cộng đồng dân cư, cải thiện chất lượng cuộc sống cho cộng đồng [16]
1.2.1 Bảo tồn có sự tham gia của cộng đồng trên thế giới
Theo một báo cáo của Liên đoàn Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (International Union Conservation of Natural) (IUCN) công bố ngày 5/8/2008
có 48% trong số 634 loài động vật linh trưởng trên toàn cầu đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng, nguyên nhân do nạn phá rừng và săn bắn bừa bãi của con người Bên cạnh những thông tin khá buồn trên, danh sách đỏ cũng ghi nhận một số trường hợp bảo tồn thành công, trong đó có loài đười ươi vàng và đen Brazil được phân loại từ tình trạng bị đe dọa nghiêm trọng xuống mức bị
đe dọa [36]
Dự án bảo tồn dựa vào cộng đồng có mục tiêu hỗ trợ 2 nước Việt Nam
và Trung Quốc xây dựng các lĩnh vực nghiên cứu liên ngành trong sử dụng bền vững và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên bao gồm đa dạng sinh học và các
hệ sinh thái, thông qua việc tăng cường năng lực cho các cơ quan nghiên cứu tham gia trong dự án Thông qua dự án này, một mạng lưới quốc tế về các vấn
đề có liên quan tới quản lý bảo tồn và phát triển bền vững giữa các cơ quan
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 9nghiên cứu ở 3 nước Canada, Trung Quốc và Việt Nam được thiết lập nhằm tìm kiếm các giải pháp nâng cao nhận thức có sự tham gia của cộng đồng Nâng cao nhận thức về vai trò của cộng đồng trong công tác bảo tồn cho cán
bộ địa phương thông qua các chuyến thăm quan nghiên cứu tại Canada.[37]
Liên quan đến quản rừng và tài nguyên rừng cũng nói lên hình thức lâm nghiệp xã hội, vì lâm nghiệp xã hội cũng là một phần trong công tác bảo tồn dựa vào cộng đồng Sau đây là một số mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng trên thế giới
Ở Bănglađét, vấn đề xây dựng chiến lược, thể chế với sự trợ giúp của lâm nghiệp xã hội đã nổi lên từ những năm 1967 Sự phản ứng rất hạn chế của Chính phủ về việc xác định quyền sử dụng đất và tài nguyên thiên nhiên, cái chính là không an toàn một cách phổ biến, đã làm suy yếu quản lý lâm nghiệp cộng đồng Những vấn đề pháp lý không tìm ra được câu trả lời như quyền chiếm hữu không chắc chắn và mâu thuẫn giữa tư nhân và sở hữu công về rừng, đất rừng, quyền quản lý đất đai theo truyền thống xảy ra bởi sự kiện những người sống phụ thuộc vào tài nguyên đất, những người thiếu đất và việc dân chủ hóa là nguyên nhân chính của việc phá hoại nguồn tài nguyên rừng và mất đa dạng sinh học Sự thiếu tin tưởng giữa người dân địa phương với cơ quan lâm nghiệp, thiếu chính sách minh bạch để thực thi quản lý xã hội
và quản lý rừng có người dân tham gia cũng chính là nguyên nhân dẫn đến mất rừng.[21]
Tại Srilanka, từ năm 1982 đến 1988 dự án lâm nghiệp cộng đồng do ADB tài trợ của Cục Lâm nghiệp Srilanka đã tạo ra cơ hội tiếp cận kinh nghiệm có người dân tham gia trong quản lý rừng Năm 1995, chính phủ Srilanka đã đưa ra một kế hoạch tổng quan lâm nghiệp mới, trong đó đề ra tăng độ che phủ rừng, tăng năng suất nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại và
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 10tương lai, nâng cao mức sống, kinh tế của người dân địa phương cũng như toàn dân tộc Rừng thuộc sở hữu nhà nước phải quản lý theo nguyên tắc bền vững về sinh thái Ngày nay các chương trình đồng quản lý rừng thông qua sự tham gia của người dân đang được thực thi.[18]
Tại Philipin, việc chuyển đổi lâm nghiệp cộng đồng của Philipin có thể chia thành 3 giai đoạn Giai đoạn đầu tiên là khai phá (1971 - 1980); giai đoạn thứ 2 là giai đoạn củng cố và hợp nhất (1982 - 1989) và giai đoạn thứ 3 là mở rộng và thể chế hóa Trong giai đoạn khai phá về quản lý lâm nghiệp cộng đồng, trồng rừng và trồng cây công cộng là khuynh hướng chính của lâm nghiệp cộng đồng thông qua sự tham gia của người dân địa phương Việc hợp nhất chương trình lâm nghiệp xã hội và lâm nghiệp cộng đồng là chương trình chủ yếu của giai đoạn thứ 1 và tăng trưởng rừng cộng đồng trong giai đoạn thứ 3 Người dân trở thành đối tác, người quản lý và người chủ của các nguồn tài nguyên rừng Quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng là thông qua hợp đồng thuê quyền sử dụng bằng việc tăng cường bảo vệ, quản lý, phục hồi và phát triển rừng Các tổ chức của người dân đang làm việc trên diện tích này với quyền sử dụng an toàn trong 25 năm Quyền 25 năm với rừng tạo ra cơ hội để bảo vệ, quản lý và bán các sản phẩm rừng ở các rừng cộng đồng của họ.[21]
Ở Thái Lan, Wasi (1997) cho rằng lâm nghiệp cộng đồng là một nhân
tố trợ giúp cho việc phát triển xã hội dân sự ở Thái Lan Các cộng đồng có đòi hỏi rất lớn được tham gia vào quản lý các nguồn tài nguyên địa phương của
họ do một diện tích rừng lớn đã bị mất bởi việc khai thác gỗ hợp pháp trong những thập kỷ trước đây Vandergeets (1996) nhận thấy rằng khai thác rừng ở Thái Lan đã bị cấm từ năm 1989, Cục Lâm nghiệp Hoàng gia Thái Lan đã chuyển các mục tiêu từ quản lý khai thác gỗ sang mở rộng bảo tồn rừng Quyền của các cộng đồng địa phương quản lý các nguồn tài nguyên của họ trở thành mục tiêu chính của nhiều tổ chức phi chính phủ và cơ quan nghiên
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 11cứu Gymour và Fisher (1997) nhận xét rằng các hoạt động quản lý rừng cộng đồng có liên quan đến việc mở rộng trồng rừng trên diện tích rừng đã mất, ở mức độ nào đó khá hơn là việc phối hợp quản lý hoặc chuyển giao việc kiểm soát cho các cộng đồng.[32]
1.2.2 Bảo tồn có sự tham gia của cộng đồng tại Việt Nam
Tại khu Bảo tồn thiên nhiên Phong Điền, Chi cục Kiểm lâm Thừa Thiên Huế đã mạnh dạn xây dựng thí điểm mô hình làng sinh thái lâm nghiệp tại một số xã vùng đệm của Khu bảo tồn thiên nhiên này Kết quả bước đầu rất đáng khích lệ đó là người dân được hưởng quyền lợi về đời sống vật chất
và tinh thần, từ đó người dân đã tự giác tham gia quản lý tốt các hoạt động cua mô hình làng sinh thái Mô hình làng sinh thái lâm nghiệp là một hướng
đi tất yếu và mong muốn của các nhà quản lý cũng như từ chính cộng đồng địa phương Tuy nhiên, để đạt được kết quả như mong muốn còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, mà quan trọng nhất là sự tham gia nhiệt tình của chính cộng đồng địa phương Việc phối hợp các tổ chức cùng đầu tư và thực hiện một cách đồng bộ trong làng sinh thái là vấn đề cần được khắc phục.[35]
Theo Chương trình EC/UNDP (2007) đã thực hiện trên 23 dự án về mô hình quản lý rừng cộng đồng, kết quả nghiên cứu cho thấy mặc dù luật đã công nhận quyền được khai thác, sử dụng lâm sản và các lợi ích khác của rừng một cách lâu dài, ổn định tuy nhiên luật cũng hạn chế một số quyền với cộng đồng được giao rừng như: không được quyền phân chia lại cho thành viên, chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng, cho, thuê, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn kinh doanh bằng quyền sử dụng rừng Song trong thực tế muốn thực hiện được quyền và nghĩa vụ của cộng đồng dân cư thôn khi được giao rừng (kèm theo đất) có hiệu quả phải tiến hành các mô hình thử nghiệm đủ lớn, đủ bao
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 12quát sự khác nhau về điều kiện tự nhiên và kinh tế, xã hội, truyền thống, tập quán cho các loại cộng đồng dân cư.[34]
Theo Vũ Văn Cần và nnk(2007) cho biết việc xây dựng kế hoạch quản
lý, phát triển rừng phải dựa vào chính nguồn lực của cộng đồng và phải phù hợp với điều kiện tự nhiên của địa phương có như vậy người dân địa phương mới thấy kế hoạch đặt ra là vì lợi ích của cộng đồng như vậy họ mới tích cực tham gia Cần phải có sự lồng ghép giữa các chương trình trên địa bàn và tạo nguồn thu cho quỹ phát triển rừng thôn bản.[4]
Việc đánh giá tài nguyên rừng có sự tham gia của cộng đồng còn gặp nhiều khó khăn như tại thôn Nà Sắn xã Bản Sen huyện Vân Đồn tỉnh Quảng Ninh mặc dù tài liệu hướng dẫn đã cải tiến ở mức độ đơn giản, dễ áp dụng cho cộng đồng nhưng do trình độ học vấn của người dân không cao nên cần
có nhiều thời gian giới thiệu lý thuyết và kết hợp thực hành ở hiện trường cho người dân đồng thời chính quyền và các cơ quan chuyên môn có sự hỗ trợ cán
bộ kỹ thuật nhiều hơn cho cộng đồng
1.3 Các nghiên cứu về Vượn cao vít trên thế giới và Việt Nam
1.3.1 Trên thế giới
Vượn đen Hải Nam (Nomascus hainanus) và Vượn Cao Vít (Nomascus nasutus) trước đây được coi là một loài, đó là Vượn đen Đông Bắc Tuy nhiên các nghiên cứu gần đây cho thấy trên thực tế chúng là hai loài riêng biệt.[17]
Brandon Jones (2004) cho rằng quần thể ở đảo Hải Nam và quần thể ở Đông Bắc Việt Nam đều là phân loài của loài vượn chưa định tên N.sp cf.nasutus là N sp cf.nasutus đối với loài trên đất liền và N.sp.cf.n hainanus đối với phân loài trên đảo Hải Nam [25] Tuy nhiên, những nghiên cứu sau này dựa trên sự khác biệt về hình thái màu lông, đặc trưng tiếng hót kết hợp với những nghiên cứu gần đây về sự khác biệt về mặt di truyền đã cho rằng
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 13đây là 2 loài độc lập là N hainanus và N nasutus Dựa trên các nghiên cứu trên, hiện nay các nhà khoa học đã công nhận loài vượn phân bố tại huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng là loài vượn Cao Vít (Nomascus nasutus) [27]
Vùng phân bố tự nhiên trước đây của Vượn đen Đông Bắc ở phía Nam tỉnh Vân Nam và đảo Hải Nam, Trung Quốc (đối với Vượn đen Hải Nam); phía Đông sông Hồng, Việt Nam (đối với Vượn Cao Vít) (Geissmann và cộng
sự, 2000) [17] Hai loài này chỉ phân bố ở khu vực trên không có nơi nào trên thế giới do đó 2 loài linh trưởng này là rất hiếm và đang có nguy cơ tuyệt chủng cao
Năm 1884, Kunckel d’ Herculais đã lần đầu tiên mô tả loài Hylobates nasutus mẫu vật này sống một thời gian ngắn ở Pari và được ghi nhận là bắt giữ ở gần vịnh Hạ Long, vùng ven biển miền Đông Bắc Việt Nam Năm
1892, Thomas mô tả một cá thể vượn đực bắt được ở đảo Hải Nam, Trung Quốc và định loại là loài mới: Hylobates hainanus Đến năm 1893, Matschie đặt lại thành loài H.concolor là loài được mô tả lần đầu tiên bởi Harlan (1826) dựa trên một cá thể vượn sắp trưởng thành được nuôi nhốt có nguồn gốc từ đảo Borneo Năm 1904, Pousargues xếp cả hai loài H.concolor và H.hainanus thành loài H nasutus và kết luận mẫu vật mà Harlan(1826) mô tả không phải
có xuất xứ từ Borneo Năm 1957, Simonetta đặt lại tên thành hai phân loài H.c concolor cho Vượn đen Bắc bộ và H.c.hainanus cho phân loài Hải Nam, sau đó danh pháp này đã được sử dụng bởi hầu hết các tác giả sau này
Trong cuốn “Khảo sát thú ở miền Bắc Việt Nam”, Đào Văn Tiến (1985) cho biết, ngày 11 tháng 6 năm 1965 đã thu được 3 tiêu bản loài Vượn đen Hải Nam (Hylobates concolor hainanus, Thomas, 1892) gồm 1 cá thể đực, 1 cái, 1 con non và ông đã nhận định: sự phân bố của vượn đen Hải Nam
H c hainanus tới Cao Bằng cho phép nghĩ rằng vượn đen ở vùng Quảng Tây
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 14(Hoa Nam) cũng thuộc dạng này Dạng Hylobates concolor hainanus có thể là Nomascus nasutus ngày nay? Từ năm 1965 đến nay, không có bất kỳ thông tin nào về dạng hainanus này [18] Một vài tài liệu có thông báo rằng, sự tồn tại của loài Vượn Cao vít có thể ở Vĩnh Phúc (Tam Đảo), Bắc Kạn (Na Rì), Cao Bằng (Trùng Khánh)
Ở Trung Quốc trước những năm 1940 Vượn đen Hải Nam vẫn còn tìm thấy ở một số địa điểm thuộc phía Bắc tỉnh Quảng Đông và phía Tây Nam của tỉnh Quảng Tây và được coi là tuyệt chủng vào những năm 1950 [17]
Tháng 9 năm 2007 ghi nhận được 6 nhóm với 19 cá thể (Fan Pengfei, Yanlu, 2007) [33]
1.3.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, trước năm 1983 Vượn đen Đông Bắc được ghi nhận tại các tỉnh phía đông sông Hồng, các mẫu đã thu được định loại chắc chắn lưu giữ ở bảo tàng và được thu thập ở Tam Đảo, Na Rì - Bắc Kạn, Trùng Khánh - Cao Bằng Các vùng khác thuộc các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh nằm trong khu vực phân bố giả định của loài [17]
Theo Lê Hiền Hào (1973) thu được 3 cá thể (1 đực lớn, 1 con non bộ lông mầu đen bám bụng mẹ, 1 con cái) [12]
Theo Phạm Nhật (2002) ghi nhận được loài có mặt ở Kim Hỷ, huyện
Na Rì, tỉnh Bắc Kạn, Võ Nhai (Thái Nguyên) và đã bị tiêu diệt ở Cẩm Phả (Quảng Ninh), Tam Đảo (Vĩnh Phúc) [16]
Các cuộc khảo sát nghiên cứu tiến hành tại các xã Phong Nậm, Ngọc Khê, Ngọc Côn, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng từ năm 2002 trở về đây
Tháng 1 năm 2002 Vượn Cao Vít được ghi nhận tại khu rừng 3 xã Phong Nậm, Ngọc Khê, Ngọc Côn huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng có 2
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 15đàn khoảng 8 cá thể, kết quả phỏng vấn có thể có 16 - 20 cá thể [29] (Lã Quang Trung, Trịnh Đình Hoàng)
Tháng 4 năm 2002 ghi nhận trực tiếp được 3 đàn với 17 cá thể (Lã Quang Trung, Trịnh Đình Hoàng, 4/ 2002) [29]
Tháng 8 năm 2002 Tổ chức bảo tồn động thực vật hoang dã quốc tế (FFI) đã phát hiện một quần thể vượn Cao Vít có 5 đàn với khoảng 26 cá thể tại khu vực rừng trên núi đá vôi thuộc các xã Phong Nậm, Ngọc Khê, Ngọc Côn tận cùng phía bắc của huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng, Đông Bắc Việt Nam, giáp với tỉnh biên giới Quảng Tây, Trung Quốc (Geissmann et all, 8/2002 ) [28]
Tháng 11 năm 2005 ghi nhận được 8 đàn với khoảng 40 cá thể (Vũ Ngọc Thành et all, 2005) [19]
Mặc dù đã có khá nhiều các cuộc khảo sát về vượn đã được tiến hành nghiên cứu tại khu vực rừng Phong Nậm, Ngọc Khê, Ngọc Côn song hầu như chưa có một cuộc tổng khảo sát điều tra số lượng của quần thể thực sự nào được tiến hành kể từ khi tái phát hiện ra quần thể này năm 2002
Tháng 4 năm 2007, Lê Trọng Đạt thực hiện nhiệm vụ chuẩn bị cho đợt tổng khảo sát tiến hành vào tháng 9 Công tác này bao gồm tập huấn cho đội ngũ nhân viên của khu bảo tồn và nhóm tuần tra để tiến hành tổng khảo sát Phần lớn những người này đã từng tham gia trong các cuộc khảo sát vượn trước đây Các điểm nghe đã được thiết lập và đánh dấu bằng sơn trên hiện trường và dùng máy định vị ghi lại toạ độ để sử dụng cho các khảo sát về vượn trong tương lai Trong thời gian 5 ngày khảo sát thực địa, đã ghi nhận được có từ 7 - 8 đàn với khoảng 22 – 30 cá thể vượn Số lượng đàn cao nhất
đã được xác nhận là 8 đàn cho thấy thực tế có thể có nhiều đàn hơn các ước lượng trước đây bởi vì một số thung lũng bên cạnh khác đã ghi nhận có vượn
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 16từ các khảo sát trước đó chưa được điều tra lại ở lần khảo sát này (Lê Trọng Đạt, 2007) [11]
Gần đây nhất, nhằm xác định chính xác các thông tin về kích thước số lượng toàn bộ quần thể của loài vượn cực kỳ nguy cấp này, FFI Việt Nam và FFI Trung Quốc tiến hành cuộc tổng khảo sát liên biên giới tổ chức vào tháng
9 năm 2007 Trong đó phía Việt Nam đã thực hiện điều tra từ ngày 7 đến ngày 19 Qua đợt tổng điều tra này đã ghi nhận có 15 nhóm có khoảng 85 (90)
cá thể ghi nhận được cả tiếng hót và quan sát hình thái Phía Trung Quốc đã ghi nhận được 6 nhóm với 19 cá thể Vậy qua đợt tổng khảo sát đã có 110 cá thể [30]
Ngoài ra có hai nghiên cứu về sinh học và sinh thái Vượn Cao Vít đó
là : Nguyễn Thị Hiền thuộc khoa Sinh học, trường Đại học Khoa học Tự nhiên đã làm luận văn thạc sĩ khoa học nghiên cứu về sinh thái dinh dưỡng và sinh cảnh sống của vượn Cao Vít ở khu bảo tồn loài vượn Cao Vít huyện Trùng Khánh [13] và Lưu Tường Bách là học viên cao học khoa Sinh học, trường Đại học Khoa học Tự nhiên cũng làm luận văn thạc sĩ khoa học về nghiên cứu thú linh trưởng và một số đặc điểm sinh thái của loài vượn đen Cao Vít [3]
Về tình trạng bảo tồn Vượn Cao Vít:
Theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP Vượn Cao Vít có tên trong phụ lục IB
Sách Đỏ thế giới (IUCN, 2006): xếp Vượn Cao Vít ở mức cực kỳ nguy cấp (CR)
Sách Đỏ Việt Nam (2000): [1] xếp Vượn Cao Vít ở mức nguy cấp mức (E)
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 171.4 Các dự án bảo tồn Vượn cao vít
Từ khi phát hiện quần thể Vượn Cao Vít vào năm 2002 tại huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng đã ra quyết định thành lập số 2536/QĐ - UBND ngày 15 tháng 11 năm 2006 về việc thành lập khu bảo tồn loài và sinh cảnh Vượn Cao Vít, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng và thực hiện các dự án nhỏ trong dự án này
1.4.1 Dự án phát triển nông thôn
Trong 5 năm trở lại đây nằm trong các chương trình của Chính phủ dành cho các xã vùng biên giới, ba xã Ngọc Khê, Ngọc Côn và Phong Nậm
đã có các dự án như mở rộng hệ thống đường xá, làm kênh mương cung cấp nước phục vụ sản xuất, cải thiện hoạt động chăn nuôi và sản xuất nông nghiệp
Tổ chức EU đã có 1 dự án (2001 - 2003) xây dựng mô hình lúa, ngô lai
và các mô hình chăn nuôi, tập huấn IPM cho 10 xóm của xã Ngọc Khê Trong những năm gần đây, với sự hỗ trợ của Tổ chức Bảo tồn Động Thực vật hoang
dã Quốc tế (FFI), một số hoạt động như xây bếp cải tiến, xây hầm khí sinh học Biogas đã được triển khai, vừa giúp đỡ nhân dân tiết kiệm nhiên liệu, công sức vừa bảo tồn tài nguyên rừng [2]
1.4.2 Dự án xây dựng cơ sở hạ tầng
Xây dựng mốc ranh giới: Nhằm chính thức thông báo việc thành lập khu Bảo tồn Vượn Cao Vít Thiết lập ranh giới Khu bảo tồn và vùng đệm một cách rõ ràng Xây dựng các bảng ghi quy chế quản lý của Khu bảo tồn Ban quản lý khu bảo tồn Vượn Cao Vít sau khi được Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng thành lập đã tiến hành hàng loạt các hoạt động như Hội nghị ranh giới
và xây dựng cột mốc ranh giới phối hợp với cộng đồng địa phương có liên quan
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 18Xây dựng các bảng quy chế: Các bảng được xây dựng để chuyển tải Quy chế quản lý của Khu bảo tồn tại các địa điểm như trụ sở Ban quản lý, các trạm bảo vệ, trung tâm các xã và xóm trong vùng đệm, và ở những nơi đường mòn
đi vào Khu bảo tồn
Các trạm bảo vệ rừng nhằm cung cấp nơi làm việc và nơi ở cho cán bộ bảo
vệ rừng, những người thi hành các quy chế, quản lý và bảo vệ nguồn tài nguyên rừng đồng thời thực hiện các đợt tuần tra, giám sát trong khu bảo tồn [2]
1.4.3 Chương trình bảo và bảo vệ
Với mục đích bảo vệ và quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên của Khu bảo tồn; chương trình này sẽ do các trạm bảo vệ rừng của Khu bảo tồn thực hiện nhằm:
Bảo vệ các nguồn tài nguyên rừng của Khu bảo tồn, đặc biệt là vượn Cao Vít và môi trường sống của chúng
Huy động sự tham gia của cộng đồng địa phương vào các hoạt động bảo tồn Thu thập và ghi nhận các vụ vi phạm Quy chế quản lý Khu bảo tồn, và những ghi nhận thực địa về các loài động vật hoang dã [2]
1.4.4 Chương trình nghiên cứu khoa học và giám sát
Chương trình này đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo quần thể Vượn Cao Vít và môi trường sống của chúng được bảo vệ tốt và nhằm thiết lập các cơ sở khoa học cho công tác phục hồi sinh thái, sinh cảnh của loài vượn đáp ứng các nhu cầu sinh thái của loài vượn này
Giám sát một cách có hệ thống quần thể và sinh cảnh của vượn nhằm đảm bảo tiếp tục cải thiện các điều kiện sống cho loài này
Tăng cường hiểu biết về sinh thái của loài vượn Cao Vít để xây dựng các
kế hoạch quản lý bảo tồn đáp ứng các nhu cầu sinh thái của loài vượn này
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 19Nâng cao hiểu biết về hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi để hỗ trợ cho việc xây dựng kế hoạch quản lý và bảo vệ các loài và sinh cảnh quan trọng khác
Tăng cường kiến thức và năng lực cho cán bộ kỹ thuật trong lĩnh vực lâm nghiệp, sinh học và quản lý tài nguyên thiên nhiên [2]
1.4.5 Chương trình truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng
Chương trình này được xây dựng nhằm tăng cường sự hỗ trợ của cộng đồng địa phương cho các mục tiêu của Khu bảo tồn Đây là chương trình rất quan trọng liên quan mật thiết tới luận văn này vì đây là chương trình hỗ trợ người dân địa phương nâng cao nhận thức cộng đồng, để người dân hiểu và bảo tồn vượn Cao Vít được tốt hơn
Nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của Khu bảo tồn đối với công tác bảo vệ môi trường
Chương trình nâng cao nhận thức nên được thực hiện thông qua các kênh truyền thông và hợp tác hiện có với các đối tác như: Ủy ban nhân dân
xã, Phòng Giáo dục và Đào tạo, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hạt Kiểm lâm và Phòng Văn hóa Thông tin của huyện Trùng Khánh.[2]
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 20CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu tổng quát
Nâng cao nhận thức của người dân nhằm góp phần bảo tồn đa dạng sinh học nói chung và loài Vượn Cao Vít nói riêng
2.1.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá hiện trạng của các hoạt động bảo tồn tại KBT
- Xác định được những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức trong việc triển khai các chương trình giáo dục bảo tồn
- Đề xuất một số chương trình giáo dục bảo tồn phù hợp
2.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Cộng đồng cư dân sống trong vùng đệm Khu bảo tồn
- Học sinh khối tiểu học và Trung học cơ sở (THCS)
- Ban quản lý Khu bảo tồn Loài và Sinh cảnh Vượn Cao vít
Trang 21- Cộng đồng địa phương tại hai xã : xã Ngọc Côn và xã Ngọc Khê, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng
2.3 Nội dung nghiên cứu
1 Điều tra hiện trạng của các hoạt động giáo dục và bảo tồn tại KBT
2 Đánh giá nhận thức bảo tồn của cộng đồng
3 Phân tích những thuận lợi khó khăn, cơ hội và thách thức trong việc xây dựng và thực hiện các chương trình giáo dục bảo tồn
4 Đề xuất các chương trình GDBT phù hợp
2.4 Phương pháp luận
Từ xa xưa, ông cha ta đã có câu sống ở rừng thì nhờ rừng, sống ở biển thì nhờ biển Điều này đã và đang đúng với đa số trường hợp ở nhiều nơi trên thế giới Nhiều người dân sống gần rừng thường có sự phụ thuộc rất lớn vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên Do vậy các áp lực lên nguồn tài nguyên rừng là rất lớn, đặc biệt là đối với những nơi có nhiều nguồn tài nguyên qúy giá như các khu bảo tồn và Vườn quốc gia ở Việt Nam
Để giảm thiểu các tác động lên các khu bảo tồn và Vườn quốc gia đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp bao gồm cả các giải pháp về kỹ thuật, và giải pháp về kinh tế xã hội Tuy nhiên, trong một số trường hợp cụ thể nhất định việc lựa chọn một hay một số giải pháp nào đó sẽ là khả thi và phù hợp hơn
GDBT là một trong những giải pháp kinh tế xã hội có nhiều ưu điểm nổi trội đã nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng rất thành công Ở Việt Nam,
để giải quyết một số vấn đề môi trường lớn của đất nước, trong những năm gần đây, Việt Nam đã tăng cường các hoạt động GDBT, đặc biệt là trong những năm gần đây khi mà các vấn đề về môi trường như biến đổi khí hậu, suy thoái đa dạng sinh học, ô nhiễm nguồn nước, không khí… đang trở nên nghiêm trọng Vấn đề này cũng đã được Đảng, Nhà nước và nhiều tổ chức rất
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 22quan tâm Tại các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn trong nước, nhiều chương trình dự án nghiên cứu thực hiện các hoạt động giáo dục môi trường đã được tiến hành trong những năm gần đây Điển hình là chủ trương đưa giáo dục môi trường vào trường học của Đảng và nhà nước mà theo đó, các tài liệu về giáo dục môi trường trong trường học đã được biên soạn Nhiều chương trình GDBT trong cộng động cũng đã được triển khai có hiệu quả
Do đó, việc nghiên cứu xây dựng các chương trình giáo dục bảo tồn phù hợp cho đặc trưng ở mỗi địa phương, mỗi KBT, Vườn quốc gia là khả thi
và rất cần thiết
2.5 Dụng cụ, thiết bị nghiên cứu
Giấy A0, bút dạ viết giấy, sổ ghi chép, bút viết, bảng câu hỏi
2.6 Phương pháp nghiên cứu
2.6.1 Kế thừa tài liệu
Thu thập tài liệu có sẵn, hoặc số liệu thống kê ở địa phương về các vấn
đề liên quan đến nội dung nghiên cứu bao gồm:
- Các báo cáo về văn hoá, xã hội, kinh tế của địa phương
- Các tài liệu nghiên cứu về Vượn Cao Vít trước đây
Sau khi thu thập các tài liệu, tiến hành phân tích đánh giá và chọn lọc những tài liệu cần thiết phục vụ công tác nghiên cứu
2.6.2 Phương pháp phỏng vấn
Mục đích: Nhằm thu thập các thông tin về nhu cầu, sự hiểu biết và
nhận thức về bảo tồn của người dân ở các lứa tuổi khác nhau làm cơ sở cho việc đánh giá và xây dựng các hoạt động giáo dục bảo tồn đạt hiệu quả cao
Đối tượng phỏng vấn:
- Học sinh: Chia làm hai đối tượng chính là học sinh Tiểu học (từ lớp
3-luan van tot nghiep download 3-luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 235) và học sinh THCS (từ lớp 6-9)
- Người dân địa phương:
+ Theo lứa tuổi: người già > 65 tuổi, trung niên từ 40- 65 tuổi, thanh niên từ 18- dưới 40 tuổi
+ Theo giới: Nam giới và nữ giới
+ Theo phân hóa xã hội: Người giàu, người trung bình, người nghèo (Theo tiêu chuẩn nghèo mới của Việt Nam năm 2010 (chỉ thị 1752 ngày 21 tháng 9 năm 2010))
Nội dung phỏng vấn:
Câu hỏi phỏng vấn được thiết kế theo bộ phiếu câu hỏi phỏng vấn với nội dung về kiến thức (sự hiểu biết) và các câu hỏi về nhận thức (nhận thức về trách nhiệm bản thân, nhận thức về tầm quan trọng của bảo tồn…) (Xem phụ biểu 2.1 và 2.2)
Đối với học sinh, chúng tôi phát ra 59 phiếu cho các em học sinh của cả hai khối Tiểu học và THCS (Chiếm 15% tổng số học sinh trong khu vực) Trong đó, khối tiểu học là 21 phiếu và khối THCS là 38 phiếu Với cộng đồng địa phương, 341 phiếu được phát cho người dân ở các lứa tuổi khác nhau (Chiếm 10% số nhân khẩu trong toàn xã theo từng nhóm đối tượng): 114 phiếu theo lứa tuổi phỏng vấn, 119 phiếu theo tiêu chí giàu nghèo và 108 phiếu theo đối tượng giới tính Để tiện so sánh về trình độ nhận thức của hai
xã, các phiếu phỏng vấn được chia đều cho cả xã Ngọc Côn và Xã Ngọc Khê Sau khi thu các phiếu phỏng vấn, tiến hành nhập số liệu vào excell và
phân tích đánh giá
2.6.3 Phương pháp đánh giá có sự tham gia (PRA)
Chúng tôi sử dụng phương pháp PRA nhằm đánh giá nhận thức và thái
độ, nhận thức của cộng đồng Sử dụng phương pháp PRA để phỏng vấn các
hộ gia đình, cán bộ thôn, cán bộ Ban quản lý dự án, tổ tuần rừng, học sinh…
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 24được lựa chọn phỏng vấn về các vấn đề liên quan đến bảo tồn Vượn Cao Vít Họp bàn với người dân để tranh thủ ý kiến của người dân
Bộ câu hỏi được chuẩn bị và thiết kế sẵn Sử dụng phương pháp PRA để phỏng vấn các hộ gia đình, cán bộ xã, cán bộ Ban quản lý KBT được lựa chọn phỏng vấn các vấn đề như: các hoạt động sử dụng Tài nguyên thiên nhiên của người dân cũng như các vấn đề liên quan đến bảo tồn Vượn Cao Vít (Theo bảng hỏi phần phụ lục)
Các xóm được lựa chọn là các xóm nằm tiếp giáp với KBT Vượn Cao Vít và được đánh giá là tác động đến TNR trong KBT nhiều nhất Số lượng điều tra như sau:
- Với người dân + Xã Ngọc Khê có 10 xóm chọn 6 xóm để điều tra (Giộc Sâu, Lũng Hoài, Đoỏng Ỏi, Pác Thay - Đoỏng Doạ, Giộc Sung)
+ Xã Ngọc Côn có 9 xóm chọn 5 xóm để điều tra (Đông Si - Nà Dào, Phia Siểm, Pác Ngà - Bó Hay)
- Nội dung phỏng vấn đối với cán bộ xem phụ lục 2.1, đối với người dân xem phụ lục 2.2
2.6.4 Phương pháp phân tích SWOT
Mục đích: Nhằm phân tích những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách
thức cho việc thực hiện các hoạt động GDBT tại Khu bảo tồn Loài Vượn Cao Vít
Cách thực hiện: Thiết lập một bảng gồm bốn ô, tương ứng với bốn yếu
tố của mô hình SWOT là Thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức
Trong mỗi ô, nhìn nhận lại từ các phân tích ở các nội dung khác của đề
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 25tài, từ tài liệu, tình hình thực tế tại khu vực nghiên cứu đưa ra các đánh giá dưới dạng gạch đầu dòng một cách rõ ràng, không bỏ sót trong quá trình
thống kê
2.7 Phân tích và xử lý số liệu
Số liệu thu thập qua bảng phỏng vấn bán định hướng được xử lý và phân tích định lượng bằng phần mềm Excel Kết quả xử lý được thể hiện theo dạng phân tích, mô tả, bảng và biểu đồ Ngoài ra, các kết quả thảo luận như nhu cầu bảo tồn, tổ chức cộng đồng được phân tích theo phương pháp định tính
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 26Chương 3 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý
Khu Bảo tồn Loài và Sinh cảnh Vượn đen Cao Vít nằm trong địa phận
ba xã Phong Nậm, Ngọc Khê và Ngọc Côn thuộc huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng; cách thị xã Cao Bằng khoảng 70km và cách Hà Nội khoảng 300km về phía Đông- Bắc Có tọa độ địa lý:
Từ 22o53’đến 22o56.4’Vĩ độ Bắc
Từ 106o30’ đến 106o33’ Kinh độ Đông
KBT nằm ở phía Tây Bắc của dãy núi đá vôi khu vực Đông Bắc của Việt Nam, tiếp giáp với huyện Trịnh Tây, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc Dải rừng trong khu bảo tồn chạy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam và là khu vực đầu nguồn với ranh giới tự nhiên là hai nhánh của con sông Quây Sơn
Khu Bảo tồn được thành lập theo quyết định số 2536/QĐ-UBND ngày
15 tháng 11 năm 2006 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Cao Bằng với tổng diện tích vùng lõi là 1.656,8 ha thuộc trạng thái rừng phục hồi sau khai thác kiệt, trong
đó khu vực hiện có VCV phân bố là 881,59 ha và khu vực còn lại là 774,41
ha, trong đó khu vực được người dân sử dụng vào mục đích nông nghiệp là 21ha và vùng đệm là phần diện tích còn lại thuộc địa bàn hai xã Phong Nậm, Ngọc Khê là 5723 ha
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 27Hình 3.1: Vị trí và ranh giới KBT Loài và sinh cảnh VCV (nguồn FFI)
3.1.2 Địa hình, địa chất, thổ nhưỡng
Địa hình Khu bảo tồn gồm một loạt các dãy núi đá vôi xen lẫn các thung lũng Các dãy núi đá vôi bị chia cắt mạnh, hình thành các dốc đứng và tháp nhọn riêng biệt nằm rải rác ở một số nơi tại các thung lũng bằng và nhỏ
Độ cao so với mặt nước biển trung bình của khu vực từ 500 đến 800m, cao nhất là 921m
Địa chất Khu bảo tồn bao gồm các loại đất chính sau:
- Đất phù sa không bồi đắp
- Đất Các bon nát
- Đất đỏ nâu trên núi đá vôi
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 28- Đất thung lũng
- Đất đỏ nâu vàng trên núi đá vôi
- Đất đỏ vàng trên phiến sét
- Đất vàng nhạt trên sa thạch Cảnh quan đặc biệt nhất của vùng là các dãy núi đá vôi cổ, cứng, kiểu
đá nham thạch bị bào mòn mạnh, chủ yếu tuổi Paleozone muộn và Meozoi sớm Đó là kết quả của sự bào mòn sâu đến hơn 900m của lớp đất bồi tích, lắng đọng phủ lên các khối đá vôi Cảnh quan này chiếm một diện tích rất lớn của vùng và về mặt địa lý là phần kéo dài của Cao nguyên Quý Châu, Trung Quốc Cảnh quan hiện đại của vùng được hình thành bởi nhiều đợt nâng địa chất mạnh mẽ vào kỷ Trung sinh (Meozoi), kết quả đã nâng các lớp bồi tích biển cổ biến chất lên đến độ cao lớn so với mực nước biển Khối đá cứng đã
bị xẻ do quá trình bào mòn thành nhiều đỉnh và đường đỉnh biệt lập Những dãy núi đá vôi đó có nhiều vách dựng đứng và sườn dốc Các đỉnh và đường đỉnh núi đá vôi cao nhất của vùng thường có độ cao 800 – 900m
3.1.3 Khí hậu, thuỷ văn
Khí hậu
Khí hậu chung của khu vực Trùng Khánh là á nhiệt đới ẩm với nhiệt độ trung bình năm 16-20oC, mùa lạnh dài trên 4 tháng, lượng mưa trung bình năm vừa phải từ 1.500 - 2.500mm, mùa khô ngắn, thường dưới 2 tháng
Nhiệt độ trung bình năm thay đổi từ 19,8oC ở độ cao 500m đến 18oC ở
độ cao 800m Trên các đỉnh cao trên 800m, nhiệt độ hạ thấp hơn một chút Biên độ nhiệt năm lớn 14,5oC Mùa lạnh kéo dài 5 tháng từ tháng 11 đến tháng 3 tại độ cao 500m và kéo dài đến 7 tháng từ tháng 10 đến tháng 4 ở độ cao trên 800m Lượng mưa trung bình năm vào loại vừa (1.665,5mm), không
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 29có tháng khô Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10 Các tháng 11 đến tháng 3 mưa ít nhưng vẫn lớn hơn hai lần trị số của nhiệt độ Độ ẩm tương đối trung bình thấp nhất của không khí thấp, chỉ đạt 62%
Thuỷ văn
Gồm có hai nhánh sông chính của sông Quây Sơn bắt nguồn từ Trung Quốc tách ra chảy theo hai hướng là qua các xã Ngọc Côn, Ngọc Khê và Phong Nậm Nhánh thứ nhất (Ngọc Côn - Ngọc Khê) chảy qua Đông Si – Nà Giào - Tử Bản – Pác Ngà – Bó Hay thuộc xã Ngọc Côn - Ngọc Khê với chiều dài 18km, rộng trung bình 9m Nhánh thứ hai (Phong Nậm) chảy qua Đá Bè –
Nà Hâu – Nà Chang - Giộc Rùng của xã Phong Nậm rồi chảy về xã Ngọc Khê qua Giộc Sung – Pác Thay - Đổng Đoạ với chiều dài 14m, rộng trung bình 8m Hai nhánh này chảy qua ba xã và bao quanh KBT rồi gặp nhau tại Giàng Nốc
3.1.4 Khu hệ thực vật
Hệ thống phân loại các kiểu thảm thực vật chính của Khu Bảo tồn Loài
và sinh cảnh Vượn đen Cao Vít gồm có bốn dạng sau:
Trang 30Theo kết quả điều tra của Vũ Anh Tài và Nguyễn Hữu Tứ (2007) [23], tại Khu Bảo tồn Loài và Sinh Cảnh Vượn đen Cao Vít đã ghi nhận được 543 loài thuộc 356 chi và 16 họ của 4 ngành thực vật bậc cao có mạch Trong đó
có 27 loài có giá trị về mặt bảo tồn bao gồm 11 loài được ghi nhận trong Sách
Đỏ Việt Nam, 4 loài trong Sách Đỏ IUCN, 19 loài trong Nghị định 32 của chính phủ
3.1.5 Khu hệ động vật
Từ kết quả điều tra sơ bộ khu hệ động vật ghi nhận tại KBT bao gồm
23 loài thú thuộc 14 họ, 61 loài chim, 11 loài lưỡng cư bò sát Khu vực còn là nơi phân bố của nhiều loài thú quý hiếm như gấu, báo lửa, báo gấm, hươu xạ, sơn dương, tê tê, khỉ vàng, khỉ mặt đỏ, khỉ mốc và đặc biệt là loài Vượn Cao
Vít (Nomascus nasutus)
3.2 Điều kiện dân sinh kinh tế - xã hội
Kết quả điều tra về điều kiện kinh tế - xã hội và sử dụng tài nguyên tại
xã Phong Nậm, Ngọc Khê, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng cho thấy: Bên trong Khu bảo tồn Loài và Sinh cảnh Vượn Cao Vít không có xóm nào nằm trong vùng lõi, có 28 xóm nằm trong vùng đệm bao gồm 9 xóm thuộc xã Phong Nậm và 19 xóm thuộc xã Ngọc Khê và Ngọc Côn Hầu hết các xóm đều nằm gần ranh giới phía Đông Bắc và Tây Nam của Khu Bảo tồn
3.2.1 Dân số và dân tộc
Tổng số dân cư là 6.434 nhân khẩu thuộc 1325 hộ gia đình sinh sống tại 22 xóm trong và gần Khu bảo tồn với trung bình 4,84 người/hộ gia đình Mật độ dân số cao nhất tập trung tại phía Đông Nam và Tây Nam khu bảo tồn
Xã Ngọc Khê – Ngọc Côn có 5.132 người chiếm 80% tổng số dân của
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 31ba xã Cộng đồng dân cư ở đây bao gồm người Tày và Nùng Xã Phong Nậm
có 1.302 người chiếm 20% tổng số dân gồm thành phần là người Tày và Nùng
3.2.2 Canh tác nông nghiệp
Có rất ít đất nông nghiệp trong Khu bảo tồn Loài và Sinh cảnh Vượn Cao vít và hoạt động nông nghiệp bị hạn chế ở các thung lũng nhỏ Hầu hết các cộng đồng dân cư địa phương đều có nghề canh tác là trồng lúa, ngô, khoai sọ và nuôi gia súc gia cầm (lợn, bò, trâu, gà, vịt) Một số hộ còn nuôi thêm dê hoặc ngựa Tại khu vực Ngọc Khê – Phong Nậm, các hoạt động nông nghiệp chủ yếu là trồng lúa và ngô (mỗi loại chỉ có 1 vụ/năm), ngoài ra dân còn trồng lúa mì, đậu tương, sắn, khoai lang Sản xuất nông nghiệp tại hai xã này bị hạn chế bởi thời tiết, địa hình núi đá vôi dốc, trình độ văn hoá thấp và thả rông gia súc làm chi phí sản xuất cao
Cộng đồng dân cư sống bên ngoài Khu bảo tồn của một số xóm vẫn thường xuyên vào thung lũng bên trong ranh giới Khu bảo tồn canh tác trồng trọt ngô và chăn thả gia súc như trâu, bò, dê
3.2.3 Tình hình sử dụng tài nguyên rừng
Người dân sinh sống tại các xóm trong hai xã có truyền thống gần gũi
và phụ thuộc vào rừng và các tài nguyên rừng Do đó, người dân địa phương còn sử dụng tài nguyên rừng như khai thác lâm sản (củi, gỗ, cây thuốc ), canh tác nông nghiệp và chăn thả gia súc trong Khu bảo tồn
3.2.4 Xã Ngọc Khê
Tổng diện tích của xã là 2.810,37 ha đất tự nhiên Xã có 10 xóm gồm: Giộc Sung, Nà Lỏng - Nà Gạch, Pác Phiao - Pác Thay - Đỏng Dọa, Ta Nay, Đỏng Ỏi, Giộc Sâu, Lũng Hoài, Nhom, Nà Bai - Kha Muông
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 32Số lượng (hộ)
Tỷ lệ (%)
Số lượng (khẩu)
Tỷ lệ (%)
(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu của ban dân số KHHGĐ xã Ngọc Khê, 2011)
Qua bảng 3.1 Cho thấy dân tộc Tày 495 hộ chiếm 82.2% với 2014 khẩu chiếm 82.44%, dân tộc Nùng có 107 hộ chiếm 17.8% với 428 khẩu chiếm 17.52%, dân tộc Kinh có 1 người chiếm 0.04%, dân tộc Kinh là người từ dưới xuôi lên lấy vợ (chồng) người Tày con cái của họ khai sinh lấy dân tộc Tày và sinh hoạt theo phong tục Tày
Văn hóa xã hội
- Giáo dục: Xã Ngọc Khê có 02 trường tiểu học là Trường tiểu học An
hỷ và Tiểu học Ngọc Khê và 01 trường THCS Ngọc Khê Trong năm học 2009-2010 Giáo viên và học sinh đã có nhiều cố gắng trong dạy và học Xã có
09 giáo viên đạt giáo viên dạy giỏi cấp huyện, 35 giáo viên đạt giáo viên dạy giỏi cấp trường, 2 giáo viên chưa đạt chỉ tiêu Xã có 23 học sinh giỏi, 118 học sinh khá, 278 học sinh trung bình, 50 học sinh yếu Qua đánh giá việc thực
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 33hiện, công tác giáo dục đã đạt được nhiều kết quả tích cực Luôn duy trì nâng cao chất lượng dạy và học kiểm tra thường xuyên hệ thống thành tích đảm bảo sĩ số học sinh trong các trường
- Về y tế: Trạm xã có 3 cán bộ trong đó 1 y sỹ; 1 y học cổ truyền và 2
nữ hộ sinh, 1 nữ hộ sinh kiên dược tá Có 10 y tế thôn bản trong đó đã qua đào tạo 9 tháng là: 7, qua đào tạo 3 tháng là 2, chưa qua đào tạo 1 Chăm sóc khám chữa bệnh cho nhân dân duy trì được thường xuyên 4033 lượt người Nhìn chung đội ngũ cán bộ làm công tác Y tế dân số KHHGD hoạt động đều
đã tuyên truyền trực tiếp được 33 lần, 1615 lượt người nghe, thăm hộ 2314 lần, tạp san 298 quyển, mặc dù gặp không ít khó khăn nhưng với sự cố gắng của tập thể cán bộ từ xóm đến xã làm tốt công tác tuyên truyền vận động
- Hệ thống điện lưới: Trên địa bàn toàn xã Ngọc Khê đã có điện, nhờ có điện mà mọi sinh hoạt của người dân được thuận lợi hơn
- Về hệ thống đường giao thông: Các xóm được hỗ trợ làm đường bê tông nông thôn, hiện nay hoàn thành và nghiệm thu đưa vào sử dụng tại các xóm như: Xóm Pác Phiao, Nà Bai - Khả Mong, Ta Nay, Pác Thay, Đỏng Ỏi, Lũng Hoài Đường giao thông liên xóm tuyến Pác Thay - Giộc sung- Nà lỏng khởi công từ tháng 8 năm 2009 đến 30 tháng 11 năm 2010 hiện nay đã hoàn thành và bàn giao đưa vào sử dụng.Tuyến đường giao thông Giộc Sâu - Hang Ngườm Hoài, Bản Nhom đã giải phóng mặt bằng và hiện nay đang thi công
- Thông tin liên lạc: Việc liên lạc của người dân phụ thuộc vào bưu điện văn hóa xã, đồng thời là thư viện để bà con trong xã đến đọc và tìm hiểu
kỹ thuật phục vụ sản xuất, cuộc sống Hiện nay khoảng 95% số hộ được xem truyền hình, 80% số hộ có điện thoại Đặc biệt là có thể hiểu được những chính sách của Đảng và nhà nước trong phát triển kinh tế xã hội
- Hệ thống thủy lợi: Xã có hệ thống kênh mương Bắc Trùng Khánh chạy
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 34dọc hai bên bờ sông Quây Sơn, hiện nay đang thi công xây dựng tuyến mương nội đồng, xã hỗ trợ 8 giếng khoan tại 5 xóm cung cấp nước sạch cho người dân
Số lượng (hộ)
Tỷ lệ (%)
Số lượng (khẩu)
Tỷ lệ (%)
(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu của ban dân số KHHGĐ xã Ngọc Côn, 2011)
Bảng 3.2 cho thấy dân tộc Tày có 533 hộ, chiếm 99.63% với 2509 khẩu
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 35chiếm 99.45%; dân tộc Nùng có 2 hộ chiếm 0.37 % với 10 khẩu chiếm 0.4 %; dân tộc Kinh có 4 người chiếm 0.15%, dân tộc Kinh là người từ dưới xuôi lên lấy vợ (chồng) người Tày Con cái của họ khai sinh lấy dân tộc Tày và sinh hoạt theo phong tục dân tộc Tày
Văn hóa xã hội
- Về giáo dục: Công tác xã hội hoá giáo dục được đẩy mạnh, tỉ lệ con
em đến trường đạt 100%, phát động phong trào thi đua dạy tốt, học tốt, nói không với tiêu cực trong thi cử Xã có 01 trường mầm non, 02 trường tiểu học Trong đó có 163 học sinh tiểu học với 20 giáo viên giảng dạy, số trẻ mẫu giáo 119 em với 08 giáo viên Theo kết quả kiểm tra của phòng Giáo dục các trường đều đạt loại khá Cơ sơ vật chất trường học được nhà nước quan tâm đầu tư, nhà trường đã chăm lo bán trú được cả lớp 1, 2 Bên cạnh đó xã còn nhiều khó khăn như thiếu trang thiết bị dạy và học, nơi vui chơi cho các cháu mầm non…
- Về y tế: Hàng tháng có tổ chức tiêm phòng thực hiện đầy đủ chương trình mục tiêu quốc gia như chăm sóc sức khoẻ cho bà mẹ mang thai, cân trẻ hàng tháng phòng chống suy dinh dưỡng, tổ chức tuyên truyền vận động bà
mẹ trẻ em khám sức khoẻ định kỳ, cấp thuốc bảo hiểm cho nhân dân theo đúng quy định Tuy nhiên, hiện nay Trạm y tế xã Ngọc Côn chưa được xây dựng nên công tác khám chữa bệnh còn phụ thuộc vào trạm y tế xã Ngọc Khê
do đó vẫn còn nhiều khó khăn trong việc chăm sóc sức khoẻ của người dân
- Giao thông: Các xóm đã có đường bê tông nông thôn với chiều dài 3030m Công trình đường cầu ngầm Phia Siểm - Keo Giáo đang được tiếp tục thi công Trụ sở UBND, mở rộng trụ sở Trạm y tế xã với diện tích 659.2m2đang được khởi công xây dựng
- Hệ thống điện lưới: 100% các xóm trong xã đã có điện để phục phụ
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 36cho sinh hoạt hàng ngày cũng như trong sản xuất
- Hệ thống thủy lợi được xã quan tâm chú trọng Trong năm qua xã đã chỉ đạo các xóm chủ động tu sửa, nạo vét mương phai, đảm bảo nguồn nước tưới cho sản xuất được 3000m kênh mương
- Thông tin liên lạc: Việc liên lạc của người dân phụ thuộc vào bưu điện văn hóa xã, đồng thời là thư viện để bà con trong xã đến đọc và tìm hiểu
kỹ thuật phục vụ sản xuất, cuộc sống Hiện nay khoảng 95% số hộ được xem truyền hình, 80% số hộ có điện thoại
Nhận xét
+/ Thuận lợi
- Địa bàn hai xã Ngọc Khê, Ngọc Côn được thiên nhiên ưu đãi với khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm mưa nhiều và hệ thống sông Quây Sơn chạy xung quanh địa bàn hai xã rất thuận lợi cho việc gây trồng các loại cây nông nghiệp, địa hình
bị chia cắt bởi các dãy núi và thung lũng thảm thực vật phong phú có nhiều loài đặc hữu, đây cũng là tiềm năng cho phát triển ngành lâm nghiệp và sinh kế cho người dân vùng đệm KBT
- Là các xã vùng sâu, vùng xa, giáp biên giới nhưng nhân dân hai xã luôn nhận được sự quan tâm, ưu ái của nhà nước Cơ sở hạ tầng đang dần hoàn thiện, công tác giáo dục, y tế luôn được quan tâm phát triển, 100% các xóm có điện, phần lớn các xóm đã có đường bê tông thôn bản tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại, giao lưu buôn bán của người dân, đồng thời là các xã giáp biên giới nên có nhiều thuận lợi trong việc giao lưu, buôn bán trao đổi hàng hóa với nước bạn
- Thông tin liên lạc phát triển, người dân được tiếp thu với nhiều nền văn hóa mới qua các phương tiện báo chí, truyền hình, điện thoại
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 37- Cơ sở vật chất còn nhiều khó khăn và thiếu thốn đặc biệt là về y tế và trường học, chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân
- Trình độ nhận thức của người dân còn nhiều hạn chế việc tiếp thu với nền văn hóa mới, chuyển dịch cơ cấu vật nuôi, cây trồng còn gặp nhiều khó khăn
- Các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm về tập huấn chuyển giao kỹ thuật cho người dân còn ít và không đồng đều
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 38Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Hiện trạng hoạt động giáo dục bảo tồn tại KBT Loài và Sinh cảnh
VCV
Kết quả điều tra tại Khu bảo tồn Loài và sinh cảnh VCV, đề tài đã xác định được 2 chương trình GDBT chủ yếu là: Chương trình GDMT trong trường học và Chương trình GDMT cho cộng đồng (Bảng 4.1)
Bảng 4.1: Các chương trình giáo dục bảo tồn đã thực hiện tại KBT
vị tổ chức
Thời gian
I
Chương trình GDMT trong trường học
1 Các hoạt động ngoại khóa
Học sinh THCS
Cung cấp các kiến thức về môi trường, về loài Vượn cao vít, về Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Vượn cao vít và kêu gọi trách nhiệm của học sinh
FFI và Phòng GDĐT
2008
2
Festival ”chúng
em bảo vệ Vượn cao vít”
Học sinh tiểu học
và THCS
Kêu gọi trách nhiệm Bảo vệ
Học sinh tiểu học
và THCS
Kêu gọi trách Bảo vệ vượn cao
2005-2006
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 39vệ Vượn cao vít
và thiên nhiên”
II
Chương trình GDMT cho cộng đồng
1 Phát hành lịch tranh
Người dân địa
phương xã Ngọc Côn, Ngọc Khê
và Phong Nậm
Tuyền truyền bảo vệ Vượn cao vít và bảo vệ rừng Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Vượn cao vít
phương xã Ngọc Côn
và xã Ngọc Khê
Tuyền truyền bảo vệ Vượn cao vít và bảo vệ rừng Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Vượn cao vít
phương xã Ngọc Côn
và xã Ngọc Khê
Tuyền truyền bảo vệ Vượn cao vít và bảo vệ rừng Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Vượn cao vít